Giải pháp nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh yếu kém môn Hóa học tại Trường Trung học Phổ thông huyện Giồng Riềng - Tỉnh Kiên Giang
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Huỳnh Thanh Danh
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC CHO HỌC SINH
YẾU KÉM MÔN HÓA HỌC TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG HUYỆN GIỒNG RIỀNG - TỈNH KIÊN GIANG
THE SOLUTION TO ENHANCE THE EDUCATIONAL QUALITY FOR STUDENTS BAD
AT CHEMICAL AT GIONG RIENG HIGH SCHOOL IN KIEN GIANG PROVINCE
HUỲNH THANH DANH
TÓM TẮT: Trường Trung học phổ thông huyện Giồng Riềng là một trường thuộc vùng
sâu vùng xa, thiết bị dạy học hiện đại còn thiếu thốn, vấn đề chất lượng dạy học và đổi mới
phương pháp dạy học theo định hướng tích cực chưa được giáo viên quan tâm, tỷ lệ học
sinh yếu kém của trường cao. Bài viết cung cấp một số thông tin về thực trạng các nguyên
nhân dẫn tới học sinh yếu kém và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy
học cho học sinh yếu kém môn Hóa học tại trường Trung học phổ thông huyện Giồng
Riềng, tỉnh Kiên Giang.
Từ khóa: học sinh yếu kém, môn Hóa, Trung học phổ thông huyện Giồng Riềng.
ABSTRACT: Giong Rieng High School is located in remote areas, lacking in modern
teaching equipment, the quality of teaching and the innovation of teaching methods in a
positive direction has not been approved by teachers. In the consequences, the weakness
and shortcoming student rate is high. The article studies some root causes led to the facts
and propose some solutions to improve the quality of teaching for underprivileged students
in Chemistry at Giong Rieng High School of Kien Giang Province.
Key words: underprivileged students, chemical, Giong Rieng high school.
khan, phải đi làm phụ thêm gia đình hoặc
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, công nghệ thông tin phát một số gia đình giàu có cưng chiều con
triển nhanh, mạnh, có rất nhiều trò chơi mình,… đây chính là một số nguyên nhân
điện tử thu hút thanh thiếu niên, tệ nạn xã dẫn đến việc học sinh yếu kém trong học
hội cũng ngày càng gia tăng. Một số gia tập. Với mỗi đối tượng học sinh khác nhau,
đình thiếu quan tâm đến việc học tập, vui đòi hỏi cần có những phương pháp dạy học
chơi giải trí và các mối quan hệ xã hội của khác nhau, phù hợp với trình độ nhận thức
con mình đúng mực. Từ đó, dẫn đến việc và tính cách riêng của học sinh để đạt hiệu
một số học sinh bỏ bê học hành để chơi và quả giảng dạy cao nhất. Nhưng nhìn một
nghiện trò chơi điện tử, kết bạn với những cách tổng quát, các nghiên cứu trước chủ
bạn bè xấu sẽ gây nên những tệ nạn xã hội. yếu hướng nghiên cứu về phương pháp dạy
Ngoài ra, một số em có hoàn cảnh khó học dành cho từng đối tượng học sinh là
CN. Trường Trung học phổ thông huyện Giồng Riềng, Tỉnh Kiên Giang
106
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 05/2017
chưa nhiều, nếu có thì chỉ tập trung vào hội thành những nghiệm riêng của mình,
việc nâng cao chất lượng giảng dạy với đối tức là phải học. Vậy học là gì?
tượng học sinh khá, giỏi. Điều đó cho thấy,
Học là quá trình tương tác giữa cá thể
học sinh yếu kém chưa thật sự được quan với môi trường, kết quả là dẫn đến sự biến
tâm trong việc đảm bảo chất lượng học tập. đổi bền vững về nhận thức, thái độ hay
Vì vậy, việc tìm kiếm các giải pháp nâng hành vi của cá thể đó. Học có cả ở người và
cao kết quả học tập cho đối tượng này là động vật. Nó là phương thức để sinh vật có
hữu ích.
khả năng thích ứng với môi trường sống,
qua đó tồn tại và phát triển [4].
2.3. Khái niệm dạy
2. KHÁI NIỆM
2.1. Khái niệm học sinh yếu kém
Theo Quy chế đánh giá, xếp loại học
Mỗi cá nhân, muốn tồn tại và phát triển
sinh trung học cơ sở và học sinh trung học thì phải học. Mặt khác, để tồn tại và phát
phổ thông, ban hành kèm theo Thông tư số triển, xã hội cũng phải truyền lại cho thế hệ
58/2011/TT-BGDĐT [7]: Học sinh xếp loại sau những kinh nghiệm đã được các thế hệ
học lực trung bình là những học sinh có trước sáng tạo và tích lũy, tức là phải dạy
điểm trung bình các môn học từ 5,0 trở lên, [4]. Cùng với sản xuất, để dạy các thế hệ
trong đó điểm trung bình của 1 trong 2 môn sau là hai phương pháp cơ bản để xã hội
Toán, Ngữ văn từ 5,0 trở lên và không có tồn tại và phát triển.
môn học nào điểm trung bình dưới 3,5; Học
Dạy và học là hai mặt không thể tách
sinh loại yếu là học sinh có điểm trung bình rời của phương thức tồn tại và phát triển
các môn học từ 3,5 trở lên và không có của xã hội và cá nhân. Một mặt là sự tiếp
môn học nào điểm trung bình dưới 2,0.
nhận và chuyển hóa những kinh nghiệm đã
Những biểu hiện học sinh yếu: Dựa có của xã hội thành kinh nghiệm của cá
vào kinh nghiệm của bản thân và trao đổi nhân, còn mặt kia là sự chuyển giao những
với đồng nghiệp, chúng tôi xin nêu một số kinh nghiệm đó từ thế hệ trước đến thế hệ
biểu hiện của học sinh yếu như sau: thường sau.
lúng túng khi giáo viên hỏi bài; hay rụt rè,
nhút nhát; dễ bị chi phối, không tập trung;
2.4. Khái niệm phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là cách thức thực
ít khi phát biểu; khả năng diễn đạt kém; hiện phối hợp, thống nhất giữa người dạy
điểm kiểm tra thường thấp hơn so với các và người học nhằm thực hiện tối ưu các
bạn trong lớp; kết quả học tập cuối năm nhiệm vụ dạy học. Đó là sự kết hợp hữu cơ
yếu.
và thống nhất biện chứng giữa hoạt động
dạy và hoạt động học trong quá trình dạy
2.2. Khái niệm học
Tác giả Phan Trọng Ngọ [4] đã nêu học. Phương pháp dạy học bao gồm
một số ý kiến về việc “học” như sau: Để phương pháp dạy và phương pháp học.
tồn tại và phát triển, cá nhân cần có khả Phương pháp dạy và phương pháp học có
năng thích nghi với sự thay đổi của môi ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập [4].
trường sống. Muốn vậy, cá nhân đó phải
Tính chất chung của phương pháp dạy
chuyển hóa được những kinh nghiệm xã học: Phương pháp dạy học gồm hai mặt:
107
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Huỳnh Thanh Danh
mặt khách quan, gắn liền với đối tượng của
Khi tâm sự với một số học sinh yếu
phương pháp và điều kiện dạy học; mặt chủ môn Hóa học tại Trường Trung học phổ
quan, gắn liền với chủ thể sử dụng phương thông huyện Giồng Riềng, chúng tôi thu
pháp; Phương pháp dạy học có điểm đặc nhận được những lời giãi bày dưới đây:
biệt so với các phương pháp khác ở chỗ nó
Em Nguyễn Như Ngọc, học sinh lớp
là một phương pháp kép, là sự tổ hợp của 10B2: “Em không học bài ở nhà, trong lớp
hai phương pháp: phương pháp dạy và không chú ý nghe giảng”. Em Hồ Ngọc
phương pháp học. Hai phương pháp này Thắng, học sinh lớp 10B2: “Em hay bị dồn
tương tác chặt chẽ và thường xuyên với bài, bài tập quá nhiều, phải học các môn
nhau, trong đó học sinh vừa là đối tượng khác, giáo viên hay cho điểm 0 làm em nản,
của hoạt động dạy vừa là chủ thể của hoạt chán học”. Em Đặng Thị Ái Vy, học sinh
động học; Phương pháp dạy học chịu sự chi lớp 10B4: “Do em chậm hiểu, cô giảng
phối của mục đích dạy học và nội dung dạy không hiểu, có quá nhiều lý thuyết, quá
học; Hoạt động sáng tạo của người thầy về nhiều dạng bài tập, học thuộc nhiều nhưng
mặt nội dung là có giới hạn, vì không được lại mau quên, cố học nhưng nhét không
đi quá xa chương trình. Nhưng sự sáng tạo hết”. Em Nguyễn Thị Thùy Dương, học
về phương pháp là vô hạn. Phương pháp sinh lớp 10B5: “Những bài toán nhiều
dạy học thể hiện trình độ nghiệp vụ sư dạng khác nhau, dễ nhầm lẫn, thầy cô
phạm của giáo viên. Phương pháp dạy học giảng có nhiều chỗ khó tiếp thu, không làm
là một nghệ thuật [4].
nhiều bài tập, thiếu chú ý trong giờ học,
học yếu ít được thầy cô kèm cặp”.
3. THỰC TRẠNG MỘT SỐ NGUYÊN
NHÂN DẪN ĐẾN HỌC SINH HỌC
YẾU MÔN HÓA
Một số học sinh khác: Nhiều bài toán
em chưa hiểu, các phương trình nhiều, dễ
lẫn lộn, chưa quen với các dạng bài toán,
chậm hiểu, khó nhớ các phản ứng, hay
3.1. Ý kiến giáo viên giảng dạy môn Hóa
học
Cô Nguyễn Thị Kim Anh: “Các em quên công thức và các phản ứng, áp lực thi
học yếu do không chịu học lý thuyết, bị mất cử, lười học lý thuyết, làm bài tập, ham
căn bản từ cấp 2”. Cô Nguyễn Thị Việt Tú: chơi, hay ngủ trong giờ học, không biết
“Học sinh về nhà không học bài, không ôn phân biệt các chất và điều kiện phản ứng,...
lại các kiến thức đã học trên lớp, do lượng
kiến thức quá nhiều, giờ luyện tập lại ít”.
Cô Cao Trần Kim Thư: “Học sinh lười học
3.3. Nguyên nhân
3.3.1. Về phía bản thân học sinh
Năng lực trí tuệ: nhận thức yếu, chậm
công thức, không chịu học bài ở nhà, không hiểu,…; Phẩm chất nhân cách: lười biếng,
chịu khó giải bài tập”. Thầy Trần Quốc thiếu quyết tâm; Quan điểm sống: phó mặc,
Dũng: “Học sinh mất căn bản từ cấp 2, lên ỷ lại gia đình; Thái độ học tập: Không thích
lớp không tập trung nghe giảng, lười giải và ngại học môn hóa; Kiến thức nền yếu;
lại các bài tập mẫu, không thuộc các công Phương pháp học tập nói chung và phương
thức tính toán”.
pháp học tập môn Hóa học nói riêng yếu;
Học thêm nhiều, không tiếp thu hết kiến
3.2. Ý kiến học sinh yếu môn Hóa học
108
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 05/2017
thức; Sức khỏe không tốt hoặc có các vấn thời xử lý những biểu hiện sa sút của học
đề trục trặc khác.
sinh; Giáo viên còn chạy theo thành tích,
không biết hoặc không quan tâm đến khó
3.3.2. Về điều kiện học tập
Tài liệu thiếu, ít sách tham khảo; Dụng khăn trong học tập của học sinh; Một số
cụ học tập chưa được đáp ứng đầy đủ; giáo viên nhiệt tình, muốn học sinh học tốt,
Chương trình quá tải; Kinh tế gia đình khó nhưng lại thiếu phương pháp, lúng túng
khăn, phải phụ giúp gia đình nên ít thời không biết làm thế nào để học sinh khá
gian học bài.
3.3.3. Ảnh hưởng của môi trường - gia 3.4. Công tác quản lý tổ bộ môn
Phân công giáo viên phụ trách giảng
Thiếu sự quan tâm của gia đình, một số dạy các lớp chưa hợp lý. Chưa có giáo viên
hơn.
đình - xã hội
gia đình có quan tâm nhưng chưa có chuyên quản lí phòng thực hành, những tiết
phương pháp phù hợp; Hoạt động của dạy có thí nghiệm trực quan giáo viên
trường, lớp, đoàn, hội có tính tích cực giảng dạy tự chuẩn bị.
nhưng chưa đủ sức hấp dẫn, thu hút đối với
học sinh yếu; Sự tác động tiêu cực của bạn
bè, học sinh yếu không có khả năng làm
chủ bản thân, dễ bị bạn bè rủ rê, vui
chơi,...; Các ảnh hưởng tiêu cực của xã
hội,...
4. CÁC GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC
SINH YẾU MÔN HÓA 10
4.1. Có kế hoạch bồi dưỡng cho học sinh
định kỳ
Việc bồi dưỡng kiến thức cho học sinh
yếu, không riêng với môn Hóa học mà với
tất cả các bộ môn khác, không thể chỉ tiến
3.3.4. Về phía giáo viên
Một số giáo viên chưa đủ năng lực hành ở một số buổi phụ đạo hay một vài
chuyên môn cũng như năng lực sư phạm; tiết học mà cần phải thực hiện định kỳ học
Giáo viên dạy thiếu trọng tâm, không bám theo một kế hoạch hợp lý. Quá trình dạy
sát chuẩn kiến thức và kĩ năng; Một số giáo học cho học sinh yếu có thể áp dụng theo
viên chưa thật sự tâm huyết với nghề, kế hoạch sau:
buông lỏng việc quản lí học sinh, chưa kịp
Bảng 1. Kế hoạch và nội dung bồi dưỡng học sinh yếu kém khối 10 cơ bản
STT
Chủ đề
Số tiết
Thời gian thực hiện
Cấu tạo nguyên tử và bảng
1
6
Từ tuần 2 tháng 9 đến tuần 2 tháng 11
tuần hoàn
Liên kết hóa học và phản
ứng oxi hoá – khử
2
3
4
11
11
9
Từ tuần 3 tháng 11 đến tuần 1 tháng 01
Từ tuần 2 tháng 01 đến tuần 4 tháng 3
Từ tuần 1 tháng 4 đến tuần 4 tháng 4
Nhóm halozen và nhóm oxi
Tốc độ phản ứng và cân
bằng hóa học
109
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Huỳnh Thanh Danh
biết vận dụng trong giải các bài tập.
4.2. Nhóm giải pháp nâng cao tính giáo
dục cá nhân hóa học sinh
Hoàn cảnh gia đình: hoàn cảnh gia
đình giàu có hay khó khăn đều có học sinh
yếu kém.
4.2.1. Phân tích, xếp loại mức độ học sinh
yếu kém
Phân loại: Xếp loại học sinh được chia
thành các loại: Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu,
Kém. Dựa theo điểm số hoặc theo đạo đức
của học sinh. Thực hiện kế hoạch phụ đạo
theo đặc điểm cá nhân: Phụ đạo cá nhân;
4.3. Nhóm đổi mới phương pháp và
phương tiện dạy học
4.3.1. Sử dụng các phương pháp dạy học
tích cực
Phương pháp dạy học tích cực là các
Đến nhà; Trao đổi với phụ huynh; Tìm hiểu phương pháp dạy học hướng đến việc phát
qua bạn bè học sinh; Mức độ tiến bộ.
4.2.2. Cá nhân học sinh yếu kém, hoàn
cảnh gia đình
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
người học dưới sự tổ chức, điều khiển và
định hướng của người dạy nhằm đạt được
Quan tâm đặc điểm cá nhân và những kết quả tối ưu của quá trình hoạt động nhận
lỗ hổng kiến thức học sinh hay mắc phải có thức. Một số phương pháp dạy học tích cực
thể hiểu khái niệm lỗ hổng kiến thức như giáo viên nên sử dụng khi dạy cho học sinh
sau: Lỗ hổng kiến thức là phần nội dung yếu: dạy học nêu vấn đề, phương pháp
kiến thức căn bản cần thiết mà học sinh nghiên cứu, phương pháp đàm thoại,
không nắm được hoặc hiểu sai lệch, không phương pháp dạy học tình huống, thảo luận
chính xác, từ đó học sinh không thể giải nhóm, sử dụng sách giáo khoa, sử dụng
được các bài tập hoặc học tiếp các kiến phiếu học tập, sử dụng bài tập,...
thức mới có liên quan. Lỗ hổng kiến thức
nếu không được bù đắp, không được sửa
chữa đến một lúc nào đó có thể dẫn đến
4.3.2. Tăng cường sử dụng các phương
tiện dạy học
Phương tiện dạy học có tác dụng rất
mất căn bản trầm trọng và thậm chí không lớn trong việc phát huy tính tích cực của
thể học tiếp môn hóa. Những lỗ hổng kiến học sinh và nâng cao kết quả dạy học. Để
thức học sinh hay mắc ở lớp 10: Không nhớ bồi dưỡng học sinh yếu môn Hóa học, giáo
hóa trị các nguyên tố, không lập được công viên nên tăng cường sử dụng các phương
thức phân tử; Không nắm vững công thức tiện dạy học sau: Sử dụng thí nghiệm trong
tính số mol, số gam, khối lượng mol các bài lên lớp (theo phương pháp nghiên
nguyên tử, phân tử. Không cân bằng được cứu hơn minh họa); Tăng cường các
phản ứng.
phương tiện trực quan, đặc biệt là tranh
Không nắm vững các phương pháp ảnh, hình vẽ, video,...; Sử dụng phiếu học;
giải bài tập cơ bản: phương pháp quy đổi, Sử dụng tài liệu điện tử.
phương pháp bảo toàn nguyên tố, phương
pháp tăng giảm khối lượng, phương pháp
phương trình ion thu gọn, phương pháp ion
4.3.3. Tăng cường sử dụng các quy luật trí
nhớ
Quy luật hướng đích: tạo động cơ, gây
electron, phương pháp sơ đồ đường chéo, chú ý, tập trung tư tưởng. Quy luật ưu tiên:
phương pháp giá trị trung bình và không chú ý các kiến thức nền tảng, trọng tâm. Ví
110
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 05/2017
dụ: Khi dạy bài nguyên tử, giáo viên nên em mau thuộc, dễ nhớ. Phụ đạo tại lớp
dạy học sinh nguyên tử bao gồm những hạt (nhóm); Phụ đạo cá nhân trên lớp; Phụ đạo
nào, hạt nào mang điện dương, hạt nào cá nhân, kiểm tra tại nhà.
mang điện âm, không mang điện, không
nên dạy về số N = 6.023.1023 học sinh sẽ hứng thú học tập giáo viên có thể: Gắn nội
khó hiểu. dung dạy học với thực tế, làm cho học sinh
Gây hứng thú học tập: Để tạo động cơ,
Quy luật liên tưởng: Dùng chữ thần, thấy rõ lợi ích của môn học; Gây sự tò mò,
thơ ca, hệ thống hóa kiến thức. Quy luật lặp mong muốn được khám phá kho tàng tri
lại: Kiểm tra đầu giờ, củng cố từng phần và thức của nhân loại; Đố vui hóa học, trò
củng cố cuối bài. Quy luật kìm hãm: Bám chơi ô chữ.
sát trọng tâm, không mở rộng quá nhiều.
4.3.4. Tăng cường tổ chức phụ đạo, kèm
cặp học sinh yếu kém
Sử dụng bài tập một cách có hiệu quả
Chọn bài tập: Vì thời gian kiểm tra
đầu giờ không nhiều nên khi chọn bài tập
Cách thực hiện giải pháp: Lập sơ đồ để kiểm tra đầu giờ giáo viên cần lưu ý:
hệ thống môn học; Nhấn mạnh các trọng Xác định mục đích của bài tập để việc kiểm
tâm môn học có thể thông qua hình, hoặc tra đầu giờ vừa kiểm tra được kiến thức của
phim ảnh.
học sinh vừa dẫn dắt, liên hệ với bài giảng
Giúp học sinh nắm được kiến thức một mới; Nên chọn những bài tập có bản chất
cách hệ thống: Kiến thức của bất kỳ bộ hóa học, không tính toán dài dòng, phức
môn nào cũng là một hệ thống. Tính hệ tạp; Bài tập phải ngắn gọn, đảm bảo cho
thống thể hiện ở trật tự sắp xếp và mối học sinh giải được trong thời gian ngắn;
quan hệ giữa các kiến thức. Các môn khoa Phạm vi kiến thức của bài tập phải vừa
học tự nhiên thường có tính hệ thống cao phải, không rộng quá, tốt nhất là gắn trực
hơn. Với môn hóa học, nếu không nắm tiếp vào bài vừa học, nếu có liên hệ với các
được các kiến thức cơ bản có tính nền tảng bài cũ thì cũng không nên đi xa quá so với
như kí hiệu, công thức, phương trình phản bài vừa học; Phân tích kĩ tác dụng của từng
ứng hóa học,... học sinh sẽ không thể giải bài tập; Giải bài tập bằng nhiều cách, đánh
đúng các bài toán. Mặt khác, các kiến thức giá từng cách, mặt nào tốt, mặt nào chưa
mới mà học sinh tiếp thu nếu được hòa tốt, cách nào thông minh hơn, cách nào dễ
nhập vào hệ thống các kiến thức có sẵn sẽ hiểu hơn, cách nào kém chất lượng hơn.
giúp học sinh nắm chắc bài hơn, hiểu sâu
và nhớ lâu hơn.
Dự đoán các tình huống mà học sinh
có thể mắc phải khi giải bài tập. Soạn sẵn
Lấp lỗ hổng và hệ thống kiến thức cho các bài tập trong giáo án, ghi cụ thể đáp án,
học sinh yếu qua các bài học và bài ôn thang điểm, hình thức tiến hành kiểm tra.
luyện tập: Thường xuyên nhắc lại các kiến Sau mỗi bài học, rèn cho học sinh thói quen
thức cơ bản có liên quan cho học sinh; làm hết bài tập trong sách giáo khoa, ngoài
Kiểm tra bài đầu giờ tập trung vào các câu ra nên cho thêm một số bài tập theo yêu
hỏi trọng tâm, giúp học sinh nhớ lại; Đưa cầu của giáo viên. Chọn bài tập cần có bài
các câu thơ, câu văn vào bài giảng giúp các khó, bài trung bình, bài dễ xen lẫn nhau để
111
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Huỳnh Thanh Danh
tạo hứng thú cho toàn lớp học.
học tập. Khuyến khích những em học sinh
Sửa bài tập: Sau khi học sinh đã giải kiên nhẫn, độc lập làm bài, tìm ra nhiều
bài tập trên bảng, giáo viên sẽ tiến hành cách giải và biết cách nhận xét các cách
nhận xét và sửa chữa; Để việc sửa chữa bài giải đó.
có hiệu quả giáo viên cần chú ý những
Chốt trọng tâm, bám sát chuẩn kiến
bước sau: Chỉ chọn lọc các bài cơ bản nhất thức và kĩ năng: Khả năng học tập của học
để chữa mẫu cẩn thận; Bao quát lớp, lôi sinh yếu là rất hạn chế. Vì vậy, giáo viên
kéo sự chú ý của toàn lớp vào bài giải của cần phải nắm vững trọng tâm từng bài, biết
bạn; Yêu cầu các học sinh quan sát và cho giới hạn bám sát chuẩn kiến thức và kĩ
nhận xét về kết quả, cách giải, cách trình năng của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
bày,...; Sau đó, giáo viên tổng kết và nhận
xét chung; Giáo viên tóm tắt lại cách giải,
5. KẾT LUẬN
Để hạn chế được học sinh yếu kém tại
nêu đặc điểm chung của dạng bài tập đã các trường trung học phổ thông, phải kết
cho, nhắc nhở học sinh những điểm cần lưu hợp với ba yếu tố: gia đình - nhà trường -
ý; Giáo viên đưa ra những tình huống, xã hội. Ngoài ra, cần phải có sự quan tâm
những sai lầm học sinh hay mắc phải khi của các cấp chính quyền xây dựng sửa chữa
giải bài toán đã cho để học sinh cùng giải trường lớp, đồng thời phải luôn luôn bồi
quyết, lưu ý và rút kinh nghiệm. Giáo viên dưỡng và nâng cao chuyên môn và quản lý
đề nghị các học sinh đưa ra các cách giải “đầu tư cho giáo dục là quốc sách hàng
riêng, sau đó giáo viên tổng kết, phân tích đầu”.
và chỉ rõ cách giải nào là tối ưu để các em
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trịnh Văn Biều (1999), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên “Nâng cao hiệu quả quá trình dạy học
môn hóa ở trường phổ thông trung học”, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Trịnh Văn Biều (2011), Các phương pháp dạy học tích cực, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ
Chí Minh.
3. Nguyễn Cương (1999), Phương pháp dạy học và thí nghiệm hóa học, Nxb. Giáo dục.
4. Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường, Nxb. Đại học
Sư phạm.
5. Trương Thị Thuý Vân (2009), Đổi mới phương pháp dạy học hóa học theo hướng phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh ở trường trung học phổ thông, Đại học
Sư phạm Hà Nội.
6. Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 8 Khóa XI ( 2013), Về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo
dục và Đào tạo.
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và
trung học phổ thông.
Ngày nhận bài: 25/05/2017. Ngày biên tập xong: 15/8/2017. Duyệt đăng: 20/8/2017
112
BÀI BÁO KHOA HỌC
THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ
Bài báo khoa học của học viên
có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn
Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.
Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý
của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.
ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN!
Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2018-2019 của Thư viện Trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.
Bạn đang xem tài liệu "Giải pháp nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh yếu kém môn Hóa học tại Trường Trung học Phổ thông huyện Giồng Riềng - Tỉnh Kiên Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giai_phap_nang_cao_chat_luong_day_hoc_cho_hoc_sinh_yeu_kem_m.pdf

