Giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại Trường Mầm non 19/5 Thành phố
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC KỸ THUẬT
GIÁO DỤC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ TẠI TRƢỜNG MẦM
NON 19/5 THÀNH PHỐ
Nguyễn Thị Hồng Vân
Học viên Cao học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh
Email: [email protected]
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM KỸ THUẬT
TPHCM
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
---o0o---
Viện Sƣ phạm Kỹ thuật
-------------------
Tp. Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018
XÁC NHẬN
V/v Viết bài báo khoa học
--------------------
GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN XÁC NHẬN:
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Vân
Đơn vị công tác: Trường Mầm Non 19/5 Thành phố Hồ Chí Minh
Là tác giả bài viết: Giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại trƣờng mầm non 19/5 Thành phố.
Tôi đã nhận và duyệt bài viết báo khoa học trên.
Thời gian: tháng 04/2018.
MỤC LỤC
Trang
1. ĐẶT VẤN ĐỀ............................................................................................................................................1
2. KHÁI NIỆM, MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƢƠNG PHÁP LIÊN QUAN GIÁO DỤC PHÁT
TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẦM NON........................................................................................1
2.1. Khái niệm..........................................................................................................................................1
2.2. Mục tiêu giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại trƣờng mầm non ..........................................1
2.3. Nội dung giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại trƣờng mầm non..........................................2
2.4. Các phƣơng pháp giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại trƣờng mầm non...........................2
2.5. Các con đƣờng giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại trƣờng mầm non................................2
2.6. Đặc điểm tâm lý trẻ mẫu giáo..........................................................................................................2
2.7. Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ .......................................................................2
3. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ TẠI TRƢỜNG MẦM NON
19/5 THÀNH PHỐ....................................................................................................................................3
3.1. Mục đích khảo sát ............................................................................................................................3
3.2. Nội dung khảo sát.............................................................................................................................3
3.3. Đối tƣợng, địa bàn khảo sát.............................................................................................................3
3.4. Công cụ khảo sát ..............................................................................................................................3
3.5. Kết quả khảo sát...............................................................................................................................3
3.5.1. Nghiên cứu thực trạng phát triển ngôn ngữ cho trẻ của trường..................................................3
3.5.2. Nghiên cứu thực trạng công tác GD phát triển ngôn ngữ cho trẻ của trường ............................4
3.6. Nguyên nhân các vấn đề về thực trạng...........................................................................................4
4. ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO GIÁO DỤC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ
TẠI TRƢỜNG MẦM NON 19/5 THÀNH PHỐ....................................................................................5
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ..........................................................................................................................9
KIẾN NGHỊ......................................................................................................................................................9
KẾT LUẬN.......................................................................................................................................................9
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................................10
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC KỸ THUẬT
GIÁO DỤC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ TẠI TRƢỜNG
MẦM NON 19/5 THÀNH PHỐ
LANGUAGE DEVELOPMENT FOR CHILDREN IN
PRESCHOOL 19 – 5 CITY
Nguyễn Thị Hồng Vân
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh
TÓM TẮT
Ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời, ngôn ngữ phát triển rất mạnh mẽ, tạo ra những điều
kiện cơ hội để trẻ lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của nền văn hoá loài người. Nó giúp trẻ tích luỹ kiến
thức, phát triển tư duy, giao tiếp được với mọi người xung quanh; là phương tiện giúp trẻ điều chỉnh, lĩnh
hội những giá trị đạo đức mang tính chuẩn mực. Ngày nay trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ, chúng ta
càng thấy rõ vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục – phát triển toàn vẹn nhân cách trẻ. Do đó, người
nghiên cứu đã đóng góp một phần vào giáo dục với luận văn:
"Giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại trường mầm non 19-5 Thành phố" gồm có các nội dung
sau đây:
1. Mở đầu trình bày lý do chọn đề tài; xác định mục tiêu nghiên cứu; nhiệm vụ nghiên cứu; xác định khách
thể và đối tượng nghiên cứu; lập giả thuyết và phạm vi nghiên cứu, lựa chọn các phương pháp nghiên
cứu để thực hiện đề tài.
2. Nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo, đề tài đã khái quát hóa
lịch sử nghiên cứu về giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ trên thế giới và Việt Nam, đặc điểm tâm lý
trẻ mẫu giáo, vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ.
3. Nghiên cứu về thực trạng giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo tại trường mầm non 19-5
Thành phố, đề tài đã tập trung vào các vấn đề sau:
-
-
-
Kết quả nghiên cứu khảo sát thực trạng phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo tại trường mầm non 19-5
Thành phố.
Kết quả nghiên cứu khảo sát thực trạng giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo tại trường mầm
non 19-5 Thành phố.
Nguyên nhân (thuận lợi và khó khăn) trong việc giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo tại
trường mầm non 19-5 Thành phố.
4. Đề tài đã đưa ra một số biện pháp giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo tại trường mầm non
19-5 Thành phố.
5. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã thăm dò sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp.
Từ khóa: Giáo dục phát triển ngôn ngữ; trẻ mẫu giáo; biện pháp.
ABSTRACT
Right from the first years of life, language development is very strong, creating opportunities for
young conditions perceived historical experience - social culture of mankind. It helps children accumulate
knowledge and develop thinking, communicate with people around; as a means to help children adjust to
comprehend the moral values normative. Today in the care for education of children, the more we see the
role of language for education - developing young personality integrity. Thus, the researcher contributed a
part to the education with the thesis:
"Language development for children in preschool 19-5 City" includes the following contents:
1. Beginning presented the reasons to select the thesis; proposing the research objectives; research tasks;
determining the subjects for research and the objects; setting research supposition; scope the research
and choosing the research methods to implement the thesis.
2. In order to clarify the basis of language development for children in kindergarten, the thesis has
generalized the history of research on language development education for children in the world and
Vietnam, young psychological characteristics Preschool, the role of language in the development of
children.
3. Research on the status of development of language education for preschool children in kindergarten 19-
5 City, the thesis has focused on the following issues:
-
-
Results survey research situation for language development in preschool children preschool 19-5 City.
Results survey research situation for language development education in preschool children preschool
19-5 City.
-
Cause (advantages and disadvantages) for language development education in preschool children
preschool 19-5 City.
4. The thesis has taken a number of measures for language development education in preschool children
preschool 19-5 City.
5. In addition, the topic explored the need and feasibility of measures.
Key words: Education development language; child pattern; method.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục mầm non (GDMN) là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục (GD) quốc dân. Trẻ em là chủ
nhân tương lai của đất nước, nhận thức rõ được điều này nên trong thông tư số 17/2009/TT - BGDĐT ngày
25/7/ 2009 của Bộ trưởng BGD&ĐT.
Phát triển ngôn ngữ (PTNN) ở trường mầm non (MN) là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất.
Ngôn ngữ (NN) có một vai trò rất quan trọng đối với con người vì nó là công cụ để con người giao tiếp và tư
duy.
GD PTNN là một trong năm mặt phát triển của trẻ, NN là một phương tiện hình thành và phát triển nhận
thức về thế giới xung quanh của con người, phương tiện đó giúp trẻ tìm hiểu khám phá nhận thức về môi
trường xung quanh thông qua cử chỉ và lời nói của người lớn. NN hỗ trợ trẻ giao lưu cảm xúc với những
người xung quanh giữa trẻ với trẻ, đặc biệt là những cảm xúc tích cực. Trẻ có thể dùng công cụ này để bày tỏ
nhu cầu, mong muốn của mình với các thành viên để dễ dàng hòa nhập với cộng đồng.
Tuy nhiên, thực tế ở một số trường MN cho thấy giáo viên (GV) xem nhẹ việc tạo cơ hội cho trẻ giao tiếp
để PTNN, chưa tôn trọng ý kiến cá nhân của trẻ. Trong chương trình GD MN lại chủ yếu thực hiện trong tiết
học tích hợp và lồng ghép với nội dung dạy học khác. Phần lớn GV khi dạy trẻ chỉ chú ý tới các dạng hoạt
động chính và nội dung của bài học, chưa thực sự chú ý đến việc dạy trẻ nói đúng ngữ pháp.
2. KHÁI NIỆM, MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƢƠNG PHÁP LIÊN QUAN GIÁO DỤC PHÁT
TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẦM NON
2.1. Khái niệm
Giáo dục (nghĩa hẹp): là một bộ phận của hoạt động GD (nghĩa rộng), là hoạt động GD nhằm hình thành
thế giới quan khoa học, tư tưởng chính trị đạo đức, thẩm mỹ, lao động phát triển thể lực, những hành vi và thói
quen ứng xử đúng đắn của cá nhân trong các mối quan hệ xã hội. Theo nghĩa này GD bao gồm các bộ phận:
đức dục, mỹ dục, thể dục, GD lao động.
Giáo dục (nghĩa rộng): là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục
đích có kế hoạch, thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người GD và người được GD nhằm truyền
đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người.
Giáo dục mầm non là “một ngành học, bậc học trong hệ thống GD quốc dân. Nó đặt nền móng, cơ sở
đầu tiên cho việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ MN và chuẩn bị cho trẻ vào lớp một”.
Phát triển là sự chuyển biến từ đơn giản đến phức tạp từ thấp lên cao là quá trình trong đó sự tích lũy
dần những biến đổi về số lượng sẽ tăng dần đến những biến đổi về chất lượng. Sự phát triển của con người
trải qua những mức độ tuổi tác: tuổi sơ sinh, tuổi nhà trẻ, tuổi MG, tủổi đi học, tuổi thanh niên, tuổi trưởng
thành. Ở mỗi một mức độ tuổi tác, cơ thể của con người có một tầm cỡ và cấu tạo nhất định và những khả
năng nhất định về tâm lý.
Phát triển ngôn ngữ được hiểu “là quá trình trẻ lĩnh hội chức năng và cấu trúc của NN và cùng với NN
là các quy ước của xã hội trong việc sử dụng NN để bày tỏ và tiếp nhận suy nghĩ, cảm xúc và ý tưởng.”
2.2. Mục tiêu giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại trƣờng mầm non
Mục tiêu của chương trình GD MG nhằm giúp trẻ em từ 3-6 tuổi phát triển hài hòa về các mặt thể chất,
nhận thức, NN, tình cảm, kỹ năng xã hội và thẩm mỹ, chuẩn bị cho trẻ vào học ở tiểu học.
Trong đó mục tiêu PTNN được xác định như sau:
-
-
-
-
-
Có khả năng lắng nghe, hiểu lời nói trong giao tiếp hằng ngày.
Có khả năng biểu đạt bằng nhiều cách khác nhau (lời nói, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ…).
Diễn đạt rõ ràng và giao tiếp có văn hoá trong cuộc sống hàng ngày.
Có khả năng nghe và kể lại sự việc, kể lại truyện.
Có khả năng cảm nhận vần điệu, nhịp điệu của bài thơ, ca dao, đồng dao phù hợp với độ tuổi.
-1-
-
Có một số kĩ năng ban đầu về việc đọc và viết.
2.3. Nội dung giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại trƣờng mầm non
Theo Chương Trình GDMN 2009 của Bộ GD&ĐT thì nội dung GD bao gồm 5 lĩnh vực phát triển: phát
triển thể chất, phát triển nhận thức, PTNN, phát triển thẩm mỹ, phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội. Trong
đó GD PTNN là một trong năm nội dung GD phát triển quan trọng cần đạt cho trẻ: Nghe; Nói; Làm quen với
việc đọc, viết.
2.4. Các phƣơng pháp giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại trƣờng mầm non
Theo chương trình GD MN thì phương pháp GD trẻ MN gồm năm nhóm phương pháp đặc thù sau:
* Nhóm phương pháp thực hành, trải nghiệm
- Phương pháp thực hành thao tác với đồ vật, đồ chơi.
- Phương pháp dùng trò chơi.
- Phương pháp nêu tình huống có vấn đề.
- Phương pháp luyện tập.
* Nhóm phương pháp trực quan - minh họa
Phương pháp này cho trẻ quan sát, tiếp xúc, giao tiếp với các đối tượng, phương tiện, hành động mẫu,
hình ảnh tự nhiên, mô hình, sơ đồ và phương tiện nghe nhìn thông qua sử dụng các giác quan kết hợp với lời
nói nhằm tăng cường vốn hiểu biết, phát triển tư duy và NN của trẻ.
* Nhóm phương pháp dùng lời nói
Sử dụng các phương tiện nhằm truyền đạt và giúp trẻ thu nhận thông tin, kích thích trẻ suy nghĩ, chia sẻ
ý tưởng, bộc lộ những cảm xúc, gợi nhớ những hình ảnh và sự kiện bằng lời nói.
* Nhóm phương pháp GD bằng tình cảm và khích lệ
Phương pháp dùng cử chỉ, điệu bộ kết hợp với lời nói thích hợp để khuyến khích và ủng hộ trẻ hoạt
động nhằm khơi gợi niềm vui, tạo niềm tin, cổ vũ sự cố gắng của trẻ trong quá trình hoạt động.
* Nhóm phương pháp nêu gương - đánh giá
Nêu gương: Sử dụng các hình thức khen, chê phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ.
Đánh giá: Thể hiện thái độ đồng tình hoặc chưa đồng tình của người lớn, của bạn bè trước việc làm, hành vi,
cử chỉ của trẻ.
2.5. Các con đƣờng giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại trƣờng mầm non
Con đường GD là những hoạt động cơ bản được tổ chức với sự tham gia tự giác, tích cực và sáng tạo của
HS dưới sự tác động chủ đạo của nhà GD, nhằm hình thành và phát triển nhân cách HS theo mục đích,
nhiệm vụ GD. Con đường GD của trẻ MN khác với bậc học phổ thông. GD trẻ MG thông qua các hoạt động:
* Hoạt động học
* Hoạt động chơi
* Hoạt động lao động
* Hoạt động ăn, ngủ, vê ̣sinh ca nhân
́
Như vậy, muốn tre PTNN thi phai GD bằng các con đương , cách thức, hình thức khác nhau nhưng phải
̉
̉
̀
̀
̉
linh hoạt và phu hơp̣ vơi độtuôi , GD phải thường xuyên, tạo cơ hội và môi trường cho trẻ thực hiện hàng
ngày.
̀
́
2.6. Đặc điểm tâm lý trẻ mẫu giáo
Cuối tuổi ấu nhi trẻ xuất hiện mâu thuẫn, muốn tự mình làm tất cả mọi việc như người lớn nhưng khả
năng còn quá non yếu nên trẻ không làm được những việc đó, dẫn đến hiện tượng khủng hoảng.
Ý thức về bản thân của trẻ cuối tuổi ấu nhi còn hết sức mờ nhạt và bị pha trộn thêm tính chất mơ hồ, do
đó trẻ còn chưa phân biệt được một cách rõ rệt đâu là mình và đâu là người khác. Trò chơi ĐVTCĐ là nơi trẻ
có thể nhập vào những mối quan hệ xã hội của người lớn - với những kinh nghiệm của họ về cuộc sống.
Nhưng để nhận ra được mình trẻ phải trải qua một thời kỳ khá dài từ 3 đến 6 tuổi mới nhận ra mình một
cách rõ ràng.
2.7. Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ
-2-
-
Ngôn ngữ là phương tiện hình thành và phát triển nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh:
NN giúp trẻ tìm hiểu, khám phá và nhận thức về môi trường xung quanh.
Thông qua các từ ngữ và các câu nói của người lớn, trẻ em làm quen với các sự vật, hiện tượng có trong
môi trường xung quanh, trẻ hiểu những đặc điểm, tính chất, công dụng của các sự vật cùng với các từ tương
ứng với nó. Từ và hình ảnh trực quan của các sự vật cùng đi vào nhận thức của trẻ.
-
NN là phương tiện phát triển tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ:
NN là phương tiện để giao lưu cảm xúc và phát triển tình cảm.
NN là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất. Đặc biệt đối với trẻ nhỏ, đó là phương tiện giúp trẻ giao lưu
cảm xúc với những người xung quanh, hình thành những cảm xúc tích cực.
-
NN là công cụ giúp trẻ hòa nhập với cộng đồng và trở thành thành viên của cộng đồng:
Nhờ có những lời chỉ dẫn của người lớn, trẻ dần hiểu được những quy định chung của cộng đồng mà mọi
thành viên trong cộng đồng phải thực hiện.
3. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ TẠI TRƢỜNG MẦM NON
19/5 THÀNH PHỐ
3.1. Mục đích khảo sát
Tác giả đã tìm hiểu, khảo sát thực trạng công tác GD PTNN cho trẻ tại trường mầm non 19/5 Thành phố
nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng chất lượng công tác GD PTNN cho trẻ tại trường mầm non 19/5 Thành
phố trong các năm học vừa qua.
3.2. Nội dung khảo sát
- Nghiên cứu thực trạng phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại trường mầm non 19/5 Thành phố.
- Nghiên cứu thực trạng công tác GD phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại trường mầm non 19/5 Thành phố.
- Khảo sát vai trò của giáo viên trong công tác GD phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại trường mầm non 19/5
Thành phố.
3.3. Đối tƣợng, địa bàn khảo sát
- Mẫu số 1: dành cho 47 cán bộ và GV mầm non tham gia giảng dạy tại trường với tổng số phiếu phát ra
là: 47 phiếu, thu về 47 phiếu.
- Mẫu số 2: quan sát, trao đổi, trò chuyện, giao lưu với 40 trẻ lớp mầm, 50 trẻ lớp chồi và 50 trẻ lớp lá.
3.4. Công cụ khảo sát
Tác giả đã sử dụng công cụ khảo sát: bảng hỏi, phỏng vấn, quan sát.
3.5. Kết quả khảo sát
3.5.1. Nghiên cứu thực trạng phát triển ngôn ngữ cho trẻ của trường
3.5.1.1. Thực trạng PTNN của trẻ lớp mầm
về thực trạng kỹ năng nghe hiểu lời nói của trẻ lớp mầm cho thấy, đa số trẻ tương đối khá trong kỹ năng
nghe hiểu lời nói. Cụ thể: có 16 trẻ (40%) nghe hiểu trong giao tiếp hằng ngày, có 15 trẻ (37.5%) nghe hiểu
các từ, câu, các câu chuyện. Nhưng bên cạnh đó vẫn có 6 trẻ (15%) còn yếu trong kỹ năng nghe, hiểu các từ
câu; có 5 trẻ (12.5%) nghe hiểu trong giao tiếp hằng ngày và 5 trẻ (12.5%) còn yếu trong kỹ năng nghe hiểu
trong các câu chuyện.
Như vậy, theo người nghiên cứu trẻ ở độ tuổi này tuy chưa có sự hoàn thiện về NN nhưng phần lớn các
trẻ nghe hiểu các câu, từ hằng ngày. Đó là sự phát triển tự nhiên theo độ tuổi nhưng cũng còn một số trẻ sử
dụng NN giao tiếp hằng ngày còn chậm mặc dù đã áp dụng đúng theo chương trình GD PTNN cho trẻ.
3.5.1.2. Thực trạng PTNN của trẻ lớp chồi
Kết quả cho thấy thực trạng kỹ năng nghe hiểu lời nói của trẻ lớp chồi cho thấy, đa số trẻ tương đối đã
hoàn chỉnh trong kỹ năng nghe hiểu lời nói. Nhưng qua biểu đồ 2.2 cho thấy, cũng còn một số lượng trẻ
không nhỏ chưa sử dụng lời nói trong cuộc sống hằng ngày tốt. Cụ thể: có 10 trẻ (chiếm 20%) về từ vựng và
ngữ điệu, vẫn còn có 8 trẻ (chiếm 16%) muốn thể hiện nhu cầu bản thân. Bên cạnh đó vẫn còn có 11 trẻ
-3-
(22%) còn yếu hỏi và trả lời câu hỏi; còn 12 trẻ (24%) chưa kể lại được một sự kiện và 12 trẻ (24%) còn yếu
trong kể lại một câu chuyện.
- Như vậy, theo người nghiên cứu trẻ ở độ tuổi này có sự hoàn thiện về lời nói hằng ngày nhưng đó là sự
phát triển tự nhiên theo độ tuổi nhưng nếu trẻ được quan tâm tốt hơn sẽ giúp trẻ PTNN.
3.5.1.3. Thực trạng PTNN của trẻ lớp lá
Kết quả cho thấy hầu hết các trẻ đều PTNN, nhưng tỉ lệ phát âm đúng từ đúng ngữ vẫn chưa nhiều mức
đạt như kết qua mong đợi từ chương trình GD MN. Cụ thể, vẫn còn 1 trẻ (2.5%) yếu: nghe hiểu, chưa hiểu
trong giao tiếp, hỏi và trả lời câu hỏi, nghe hiểu câu chuyện, thể hiện bản thân,… còn chưa tốt. Đặc biệt, vẫn
còn 5% trẻ chưa hiểu từ vựng và ngữ điệu, kể lại sự kiện, kể lại câu chuyện. Đó là một trong những lý do
người nghiên cứu khảo sát đề tài này. Để tiếp tục tìm hiểu thực trạng cho vấn đề này, người nghiên cứu sẽ tiến
hành tìm hiểu thực trạng GD PTNN của trẻ MG tại trường MN 19/5.
3.5.2. Nghiên cứu thực trạng công tác GD phát triển ngôn ngữ cho trẻ của trường
3.5.2.1. Thực trạng về nội dung GD PTNN cho trẻ
Qua kết quả khảo sát, người nghiên cứu nhận thấy đa số GV đều thực hiện thường xuyên các nội dung
GD PTNN cơ bản cho các cháu (từ 44.68% đến 59.57%). Và tỉ lệ GV thỉnh thoảng và không thường xuyên
áp dụng các các nội dung GD PTNN vẫn có nhưng ở mức độ ít (0 đến 4.26%). Tuy vậy, người nghiên cứu
cần đi sâu khảo sát thêm các con đường GD cụ thể của GV nhằm làm sáng tỏ thực trạng GD PTNN cho trẻ.
Tóm lại, rõ ràng thực trạng về nội dung của đội ngũ GV GD PTNN cho trẻ MG ở trường còn gặp khó
khăn, hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm hướng dẫn trẻ PTNN, không đủ thời gian thực hiện cho đúng với tình
hình lớp đông.
3.5.2.2. Thực trạng về con đường GD PTNN cho trẻ
Có thể thấy GV cả 3 khối của trường MN 19/5 đều khai thác triệt để 4 con đường đó là: hoạt động học,
hoạt động chơi, hoạt động lao động và ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân để GD PTNN cho trẻ. Khi quan sát, người
nghiên cứu nhận thấy trong giờ dạy, với mỗi lứa tuổi thì chủ đề và nội dung dạy học khác nhau, nhưng tất cả
các giờ dạy đều có nội dung thiết thực gắn liền với hoạt động hàng ngày của trẻ.
3.5.2.3. Thực trạng về phương pháp GD PTNN cho trẻ
Kết quả khảo sát bảng 2.6 cho thấy, chỉ có nhóm phương pháp trực quan – minh hoạ của lớp mầm về
phương pháp minh hoạ hình ảnh tự nhiên, mô hình, sơ đồ và phương tiện nghe nhìn được GV sử dụng ở mức
độ thỉnh thoảng. Còn lại, gần như tất cả GV các lớp đều sử dụng 5 nhóm phương pháp để GD PTNN cho trẻ ở
mức độ “thường xuyên”.
3.5.2.4. Thực trạng về hình thức GD PTNN cho trẻ
Về hình thức GD PTNN cho trẻ được áp dụng tại trường là ở mức độ thường xuyên trong cả ba hình thức.
Tuy nhiên vẫn còn một số lượng nhỏ cho thấy chưa áp dụng được bởi số lượng trẻ trong lớp đông và không đủ
thời gian.
3.6. Nguyên nhân các vấn đề về thực trạng
Qua khảo sát mức độ nguyên nhân khó khăn khi thực hiện việc GD PTNN được thể hiện ở biểu đồ 2.7
cho trẻ tại trường cho thấy:
- Có 44/47 GV (93.62%) cho rằng do đa số GV của trường soạn giáo án, kế hoạch ngày và chuẩn bị học cụ
dạy cho ngày hôm sau nên mất nhiều thời gian.
- Có 43/47 GV (91.49%) cho rằng do GV không đủ thời gian áp dụng trên mỗi trẻ:
Do sĩ số lớp quá đông, cụ thể: mầm 4: 40 trẻ, lớp chồi 4: 50 trẻ, lớp lá 1: 50 trẻ nhưng chỉ có hai cô quản
lý và phụ trách GD cho trẻ.
Do thời gian trẻ học thêm ngoại khóa như: trẻ học toán, anh văn, nhịp điệu, võ, vẽ, mỹ thuật, …
Do GV còn phải tham gia thêm các hoạt động phong trào của trường tổ chức như: lễ hội trung thu, ngày
hội an toàn giao thông, ngày hội dinh dưỡng, 20/10, ngày 20.11, 22.12, lễ hội hóa trang ngày noel và tết
-4-
tây, dã ngoại đi kidword, văn nghệ xuân, tổ chức lễ 8.3, đồng diễn 30/4, giỗ tổ Hùng Vương, lễ 19/5, lễ ra
trường cho khối lá, tổ chức lễ 1/6.
Ngoài ra còn tham gia các hoạt động của công đoàn ngành GD, hỗ trợ các đơn vị kết nghĩa các tiết mục
văn nghệ,… nên GV không đủ thời gian.
- Có 14/47 GV (29.79%) cho rằng do GV không theo sát kế hoạch của lớp. Thông thường kế hoạch GD
của lớp do nhóm trưởng phụ trách chính nên GV còn lại trong nhóm không nắm rõ kế hoạch dạy và cách
soạn kế hoạch GD, một số nội dung dạy phát sinh mà GV không cập nhật kịp vào kế hoạch. Ngoài ra, để
đảm bảo theo nội dung phát triển 5 mặt nên mỗi ngày GV phải phát triển mạnh một mặt và lồng ghép 1-2
mặt phát triển theo kế hoạch dạy. Việc đi sâu mặt PTNN chưa được quan tâm đúng mức.
- Có 12/47 GV (25.53%) trẻ là do các GV mới về trường nên chưa có kinh nghiệm, trải nghiệm thực tế về
chương trình GD PTNN cho trẻ. Do đó, những GV này còn lúng túng, nóng vội, chưa đủ kiên nhẫn để
lắng nghe trẻ trình bày.
4. ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO GIÁO DỤC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ
TẠI TRƢỜNG MẦM NON 19/5 THÀNH PHỐ
4.1. Đề xuất phƣơng án các biện pháp GD PTNN cho trẻ tại trƣờng mầm non 19/5 thành phố
Dựa trên cơ sở pháp lý; cơ sở lí luận; thực tiễn của việc GD PTNN cho trẻ tại trường mầm non 19/5
thành phố, tác giả nhận thấy có năm biện pháp có thể áp dụng nâng cao GDPTNN cho trẻ và xây dựng
nguyên tắc cho các biện pháp đó: tính đồng bộ, tính khả thi, tính hiệu quả.
4.2. Đề xuất vận dụng các biện pháp nâng cao GDPTNN cho trẻ tại trƣờng mầm non 19/5
- Biện pháp 1: Nhà trường cần trang bị đủ học cụ
Mục đích:
Nhằm giúp GV không mất nhiều thời gian trong việc chuẩn bị giáo án, học cụ sáng tạo trong giờ học để
có thời gian chăm sóc và GD PTNN cho trẻ tốt hơn.
Nội dung:
GV cần lập kế hoạch năm, đề xuất với Ban Giám hiệu nhà trường về học cụ cần dạy trong năm học.
Ban Giám hiệu nhà trường cần phối hợp với Ban đại diện cha mẹ HS để lập kế hoạch dự trù mua sắm
trang thiết bị học cụ trong năm.
Cách thức thực hiện:
- Nhà trường nên phối hợp với Hội cha mẹ HS để đầu tư mua sắm thêm đồ dùng học cụ dạy học cho trẻ
phù hợp với xu thế hiện nay.
- GV phải phối hợp với Ban đại diện Hội cha mẹ HS tại lớp để trao đổi dự trù mua sắm đồ dùng học cụ dạy
trong năm học.
- Có thể phối hợp với một số cơ sở hoặc hợp đồng với một số cá nhân làm các học cụ dạy học khi GV cần.
- GV không được làm học cụ sẽ mất nhiều thời gian và không chăm sóc trẻ được chu đáo đặc biệt là GD
PTNN, về nhà thì GV còn phải lo gia đình nên thời gian GV tranh thủ làm trong lớp ảnh hưởng đến chất
lượng GD PTNN cho trẻ. Chưa kể đến kế hoạch của năm học, của từng tháng, từng tuần và cập nhật liên
tục kế hoạch ngày.
-
Biện pháp 2: GV dành thêm thời gian GD rèn luyện về kỹ năng NN trên mỗi trẻ
Mục đích:
Nhằm giúp trẻ được chăm sóc và GD PTNN từng trẻ riêng biệt nhiều hơn, phù hợp với sự PTNN của
từng trẻ.
Nội dung:
GV cần xây dựng kế hoạch PTNN cho từng trẻ dựa trên đặc điểm phát triển cá nhân trẻ.
Cách thức thực hiện:
- Ban Giám hiệu cần giảm sĩ số cho mỗi lớp. Cụ thể là mỗi lớp khoảng 30 bé là vừa.
- Giảm bớt thời gian trẻ học thêm ngoại khóa như: trẻ học toán, anh văn, nhịp điệu, võ, vẽ, mỹ thuật,…
- Giảm bớt các hoạt động mà GV tham gia thêm các hoạt động phong trào của trường tổ chức.
-5-
- GV giảm bớt thời gian tham gia các hoạt động của công đoàn ngành GD, hỗ trợ các đơn vị kết nghĩa các
tiết mục văn nghệ,… mà GV nên dành thời gian chăm sóc và GD PTNN cho trẻ nhiều hơn đặc biệt là
riêng những trẻ chậm phát triển.
- BGH giảm bớt các phong trào, hội họp để hỗ trợ GV có thêm nhiều thời gian rèn kỹ năng cho trẻ.
- Biện pháp 3: GV nên bám sát, thực hiện theo kế hoạch GD
Mục đích:
Nhằm giúp GV bám sát theo kế hoạch đã lập ra một cách có khoa học và hiệu quả nhất để GD PTNN cho
trẻ.
Nội dung:
Do GV không theo sát kế hoạch của lớp. Thông thường kế hoạch GD của lớp do nhóm trưởng phụ trách
chính nên GV còn lại trong nhóm không nắm rõ kế hoạch dạy và cách xây dựng kế hoạch GD, một số nội
dung dạy phát sinh mà GV không cập nhật kịp vào kế hoạch.
Ngoài ra, để đảm bảo theo nội dung phát triển 5 mặt nên:
- Mỗi ngày GV phải phát triển mạnh một mặt.
- Lồng ghép 1-2 mặt phát triển theo kế hoạch dạy và việc đi sâu mặt PTNN cần được quan tâm đúng mức.
Cách thức thực hiện:
-
-
Thứ nhất:
BGH tập huấn cách lập kế hoạch GD cho tất cả GV vào dịp hè hoặc các buổi học chuyên môn trong
năm.
Gợi ý cách phân công nhiệm vụ của từng thành viên và có kế hoạch kiểm tra, điều chỉnh và bồi dưỡng.
Thứ hai:
Trong nhóm lớp GV tự phân công và thảo luận nội dung chương trình để soạn kế hoạch cho năm học.
Qua đó giúp GV trong nhóm nắm rõ kế hoạch dạy của lớp: nhóm trưởng làm kế hoạch năm và tháng,
nhóm viên soạn kế hoạch ngày và ghi các nội dung phát sinh.
Khi phân công cụ thể thì trách nhiệm sẽ rõ ràng để tính vào thi đua của GV.
Đồng thời giúp GV không bỏ sót một nội dung nào trong kế hoạch dạy của mình, và có hướng điều
chỉnh kế hoạch cho phù hợp với nhóm lớp đang dạy và khả năng tiếp thu của trẻ.
Thứ ba:
-
Để việc PTNN cho trẻ tốt hơn, sau mỗi bài dạy GV quan sát và ghi chú lại tất cả các câu nói và hành
động của trẻ trong quá trình học và chơi.
Để GV có biện pháp tác động đến từng cá nhân hoặc nhóm chơi, đồng thời điều chỉnh kế hoạch cho phù
hợp với sự phát triển của trẻ.
Có thể lồng ghép vào trò chơi hoặc các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
- Biện pháp 4: Thường xuyên mở lớp tập huấn cho GV về các chuyên đề GD PTNN cho trẻ MN
Mục đích: Nhằm giúp cho những GV trẻ, mới về trường chưa có kinh nghiệm trong GD PTNN cho trẻ
nắm được biện pháp, cách thức việc GD PTNN cho trẻ tốt hơn.
Nội dung:
Do trường có 12/47 GV trẻ mới về trường nên chưa có kinh nghiệm, trải nghiệm thực tế về chương trình
GD PTNN cho trẻ. Do đó, những GV này còn lúng túng, nóng vội, chưa đủ kiên nhẫn để lắng nghe trẻ trình
bày làm cho trẻ bị ảnh hưởng trong PTNN.
Phân công kèm cặp GV có kinh nghiệm với GV mới nhằm tác động chuyên môn qua lại.
Ban Giám hiệu thường xuyên kiểm tra và dự giờ để điều chỉnh giúp đỡ cho GV mới: tham gia dự giờ,
thường xuyên tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn.
Cách thức thực hiện:
-
-
BGH nên mở các lớp tập huấn các chuyên đề, tạo một số tình huống để GV thảo luận đưa ra các giải
pháp thực hiện tình huống đó.
Thường xuyên dự giờ lên tiết dạy và dự ngoài giờ sinh hoạt của cô và trẻ để góp ý và khắc phục triệt để.
-6-
-
Bản thân mỗi GV nên tự học tự rèn, tập lắng nghe trẻ nói, đợi trẻ diễn đạt hết ý của mình, cô gợi ý để trẻ
trình bày ý kiến.
-
-
Không nóng vội, không làm việc gì khác khi trẻ đang nói.
BGH cần đưa vào quy định cụ thể để GV thực hiện nghiêm túc hơn. Đồng thời BGH phải giảm tải bớt
việc cho GV như sổ sách, hội họp, phong trào….
- Biện pháp 5: Hình thức phương pháp phối hợp với cha mẹ
Mục đích: Nhằm đưa ra các hình thức, phương pháp phù hợp với cha mẹ trẻ để trẻ PTNN tốt hơn.
Nội dung:
- GV trao đổi trực tiếp với từng cha mẹ trẻ; họp với nhóm PH; trao đổi với PH qua đợt kiểm tra sức khoẻ
hoặc kiểm tra các chỉ số phát triển của trẻ; GV giới thiệu trang web trao đổi kinh nghiệm nuôi dạy con;
xây dựng góc dành cho cha mẹ; đến thăm tại gia đình; GV trao đổi với PH qua thư, điện thoại; mời cha
mẹ đến dự các hoạt động chăm sóc – GD trẻ ở trường MN; làm sách có ảnh của trẻ với nhiều hoạt động
khác nhau; lập sổ liên lạc.
- Thông qua hội thi về nuôi con khoẻ, dạy con ngoan.
Cách thức thực hiện:
a) Trao đổi trực tiếp với từng cha mẹ.
Khi gặp gỡ cha mẹ trẻ tại nhà hoặc tại trường MN khi đón và các trẻ, GV có thể tranh thủ chuyển tới cha
mẹ một số thông tin cần cần thiết như: tình hình sức khỏe, các thói quen, các hành vi của trẻ… và có lúc còn
tùy thuộc theo nhu cầu của PH. Hình thức này có hiệu quả vì trực tiếp với từng cha mẹ, hiểu nhu cầu của họ
nhưng phải tốn nhiều thời gian để trao đổi từng người.
Có thể tổ chức các cuộc họp với từng PH chứ không phải với PH của cả lớp sẽ khuyến khích mối quan hệ
hợp tác thân mật giữa PH và GV. Hình thức họp này cho phép GV giải quyết các vấn đề cụ thể của từng trẻ
và đảm bảo bí mật.
b) Họp với một nhóm PH.
Muốn làm tốt buổi tư vấn cho một nhóm người, GV nên nghiên cứu kỹ, chuẩn bị kỹ cho buổi tư vấn của
mình.
Mỗi nhóm khoảng từ 10 - 15 người, thường được tổ chức vào buổi trưa, buổi tối hoặc cuối giờ làm việc
trong ngày. Mỗi năm học nên tổ chức ba lần (kết hợp cùng họp PH vào đầu năm, kết thúc học kỳ 1 và cuối
năm học). Nên mời PH có một số điều kiện giống nhau, có những yêu cầu gần nhau.
GV nêu chủ đề, đặt ra câu hỏi, đưa ra tình huống cụ thể để mọi người tự liên hệ và trao đổi, thông qua đó
nắm được thông tin lâu hơn. GV cũng cần có khả năng đánh giá và tổng hợp các ý kiến để đưa ra những kết
luận đúng đắn.
Cách trao đổi với một người hoặc một nhóm người: (tốt nhất là một nhóm người từ 10 đến 15 người)
Nhóm chính thức: Là nhóm được tổ chức tốt như: họp nhóm PH, tổ phụ nữ xã, tổ, đội sản xuất…
Nhóm không chính thức như: những người đi dự lễ tôn giáo, nhóm người đến mua phiếu ăn hoặc đến
khám sức khỏe cho con.
Ưu điểm của hình thức họp với nhóm các bậc cha mẹ: số lượng người dự ít, nên sự giao tiếp giữa người
được tư vấn và người tư vấn diễn ra tự nhiên hơn, cởi mở hơn, tạo ra không khí thân mật. Do có cùng một nhu
cầu, cùng điều kiện nên dễ dàng chọn các chuyên đề phù hợp, phát huy được tính chủ động của người dự. Địa
điểm và thời gian dễ bố trí.
Có tác dụng hỗ trợ, trao đổi kinh nghiệm và các kỹ năng, mọi người có cơ hội học tập lẫn nhau.
Tạo cơ hội để các thành viên đều có thể đóng góp sức lực của mình.
Nhược điểm: Thời gian hoàn thành các nội dung GD kéo dài, cần nhiều thời gian và phải có khả năng tổ
chức, hướng dẫn. Tuy nhiên hình thức này vẫn được tổ chức nhiều vì việc tổ chức đơn giản, gọn nhẹ.
Các bước thực hiện một buổi trao đổi với PH theo nhóm.
Cần phải có các bước sau:
Chào hỏi.
-7-
Giới thiệu người đến tham dự.
Mục đích, ý nghĩa của buổi tọa đàm.
Trình bày chủ đề đã chọn.
Tiến hành thảo luận và trao đổi.
Kết thúc trao đổi thảo luận nhóm.
Lưu ý: Thời gian trao đổi không nên kéo dài. Xem mọi người có hài lòng với buổi trao đổi không.
Đặc điểm của một cuộc thảo luận tốt:
Mọi người đều tham gia.
Mọi người chia sẻ kinh nghiệm với nhau.
Làm việc trong không khí tin tưởng.
Không ai lấn áp ai.
Không có sự chỉ trích hay tra xét các ý kiến của nhau.
c) Trao đổi với PH qua đợt kiểm tra sức khỏe hoặc kiểm tra các chỉ số phát triển của trẻ.
Mỗi lần trường MN tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho trẻ, (mỗi năm hai lần), đây là cơ hội tốt để trao
đổi cho bố/mẹ về cách cho trẻ ăn, vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, cách chăm sóc trẻ bị suy dinh dưỡng
hoặc cách sửa lỗi cho trẻ khi trẻ nói sai từ, sai câu…
d) Giới thiệu trang Web trao đổi kinh nghiệm nuôi dạy con.
Hình thức tư vấn này phù hợp với các cha/mẹ trẻ, có điều kiện sử dụng mạng. Các cha/mẹ có thể trao đổi
kinh nghiệm, tranh luận với nhau về cách nuôi dạy con.
e) Xây dựng góc dành cho cha mẹ
Mỗi trường MN, trường MG, mỗi lớp MG, mỗi nhóm trẻ chọn một góc thuận lợi làm góc để trao đổi
với cha/mẹ. Tại nơi này, trình bày các tài liệu, tranh ảnh, đồ chơi, đồ dùng cần thiết cho trẻ từng độ tuổi cho
cha/mẹ xem học tập vào lúc đưa và đón trẻ.
f) Đến thăm cả gia đình.
Chọn thời gian, hoàn cảnh thích hợp với đối tượng để thăm hỏi gia đình, (có thể do trẻ nghỉ học nhiều
ngày, trẻ ốm đau lâu ngày hoặc có những biểu hiện đặc biệt khác).
Có thể bắt đầu buổi trao đổi bằng việc hỏi thăm về tình hình sức khỏe, công việc…
Quan sát gia cảnh.
Lắng nghe, suy nghĩ để xác định vấn đề cần quan tâm. Trên cơ sở đó, đưa thông tin cho phù hợp với đối
tượng.
Đặt câu hỏi khuyến khích sự tham gia, chia sẻ của đối tượng.
Giải thích rõ ràng, cặn kẻ, chính xác, nên dùng từ đơn giản, dễ hiểu, gần gủi.
Sử dụng các tài liệu phù hợp với đối tượng.
Có thể ghi chép, nếu cần thiết nhưng cần chú ý đối tượng, không tỏ thái độ khó chịu.
GV đến thăm gia đình trẻ là rất quan trọng vì cả PH và trẻ sẽ thấy rất tự hào vì được cô giáo đến thăm.
Việc đến thăm này không nhất thiết phải là một chuyến đi kéo dài mà đôi khi chỉ là sự ghé thăm, đem
cho trẻ một số học liệu, đồ chơi hay đưa cho PH một bài báo có thông tin quan trọng.
Đặc biệt với những trẻ khó khăn để được đến trường, GV đến để tìm hiểu, động viên gia đình cho trẻ đi
học trở lại.
g) Trao đổi với PH qua thƣ, điện thoại.
Hình thức này rất tiện lợi và kịp thời nhưng tốn kém và sự tương tác giữa người GV và cha mẹ bị hạn chế
trong việc sử dụng NN cơ thể và sự tương tác với nhau. Hình thức này nên áp dụng cho những trường hợp
cần gấp hoặc cha mẹ không thể thu xếp thời gian đến gặp GV.
h) Thông qua hội thi về nuôi con khỏe, dạy con ngoan.
Trong các cuộc liên hoan, hội thi kiến thức về chăm sóc, GD trẻ thường có nhiều kịch bản, nhiều câu
chuyện mang tính thực tế về chăm sóc, GD trẻ được trình bày. Đây là cơ hội tốt để cha mẹ hứng thú xem và
-8-
rút kinh nghiệm cho bản thân mình một cách tự nhiên. Tuy nhiên hình thức này hạn chế bởi sự tương tác
giữa GV và cha mẹ không được nhiều.
i) Mời cha mẹ đến dự các hoạt động chăm sóc - GD trẻ ở trƣờng MN.
Đây là những thực hành cách chăm sóc dinh dưỡng, vệ sinh phòng bệnh, cách trò chuyện, cách chơi với
trẻ, cách làm đồ chơi cho trẻ, cách dạy trẻ học toán, cách cho trẻ tạo hình…
Đây là những cơ hội tốt để GV tạo ấn tượng tích cực đối với PH. PH thì cảm thấy thoải mái với lớp, nhà
trường và cảm nhận được cách GD của GV. Cuối mỗi hoạt động cần dành thời gian cho PH nêu câu hỏi.
Trong buổi thảo luận này sẽ không có thảo luận về từng HS nhưng tại mỗi lớp nên có phiếu đăng ký họp
cho mỗi PH hoặc nhóm PH (sẽ được tổ chức vào cuối học kỳ một) để PH biết rằng họ có thể có thời gian trò
chuyện với GV về sự tiến bộ của con mình.
j) Làm sách có ảnh của trẻ với nhiều hoạt động khác nhau.
Trong cuốn sách này, mỗi trẻ dán ảnh của gia đình mình vào một trang và viết bản giải thích đơn giản
phía dưới hoặc ở trang tiếp theo (lời giải thích này có thể GV viết lại theo lời giải thích của trẻ hoặc do bố
mẹ của trẻ viết ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu).
k) Sổ bé ngoan
Mỗi trẻ một cuốn sổ bé ngoan, trong đó có dán ảnh của trẻ. Một số trang dành cho trẻ vẽ, dán, tạo
những tranh đơn giản mà trẻ thích. Có trang dành để trẻ dán phiếu bé ngoan mà trẻ đạt được. Hàng
tuần, GV ghi nhận xét ngắn về trẻ cho gia đình biết về sự phát triển của trẻ và trao đổi với cha mẹ
về các hoạt động trẻ đã tham gia và học; gia đình cũng ghi ý kiến của mình cho GV biết.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
KIẾN NGHỊ
1. Đối với cán bộ quản lý nhà trƣờng
- Cán bộ quản lý sắp xếp tạo điều kiện để GV có thể được liên tục học các lớp bồi dưỡng chuyên đề như nêu
trên.
- Chú trọng bồi dưỡng cho GV về kiến thức tâm lý lứa tuổi, giai đoạn PTNN đặc biệt là lứa tuổi mà GV đang
đứng lớp.
- Lồng ghép trong đó là bồi dưỡng quan điểm GD tích cực: yêu thương, tôn trọng trẻ trong mọi tình huống.
- Bài học này cần được đầu tư cẩn thận, chu đáo, để GV hiểu gốc rễ vấn đề, thấy được lợi hại của từng
phương pháp GD một cách rõ ràng, tường tận.
- Mời chuyên gia có kiến thức và kinh nghiệm về vấn đề GD PTNN của trẻ MN, thực hiện báo cáo chuyên
đề và tổ chức thảo luận nhằm giúp cho GV nắm được những kiến thức cơ bản về GD PTNN của trẻ MN.
- Tạo điều kiện cho GV được học và phân tích thật sâu, thật kỹ những nội dung trên và được ôn luyện định
kỳ hàng tháng hoặc hàng quý nhằm trau dồi, củng cố và đồng thời có cơ hội chia sẻ những tình huống hay
những vấn đề mình còn chưa rõ hoặc còn băn khoăn.
2. Đối với GV
- GV phải nắm thật sâu, thật kỹ những nội dung trên và được ôn luyện định kỳ hàng tháng hoặc hàng quý.
- Chia sẻ những tình huống hay những vấn đề mình còn chưa rõ hoặc còn băn khoăn.
- GV phải tích cực, chủ động tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên đề như nêu trên.
- GV cần sắp xếp, phân chia thời gian hợp lý để soạn giáo án, học cụ mọt cách có khoa học.
KẾT LUẬN
GD PTNN cho trẻ MG tại trường MN 19/5 Thành phố cần chú trọng:
1. PTNN là phát triển ở trẻ cả 4 kỹ năng (nghe, nói, tiền đọc, tiền viết). Ở trường MN, đối với lứa tuổi nhà
trẻ, đặc biệt chú ý đến kĩ năng nghe hiểu và nói, đồng thời cho trẻ làm quen với tranh ảnh, sách (giở sách,
xem tranh).
2. PTNN cho trẻ là giúp trẻ lĩnh hội cả 3 thành phần của NN: phát âm, vốn từ, ngữ pháp. Ở tuổi MG - PTNN
mạch lạc là quan trọng nhất.
-9-
3. Trẻ là chủ thể của quá trình PTNN. NN của trẻ được phát triển thông qua quá trình giao tiếp của trẻ với
những người xung quanh, với môi trường thiên nhiên và xã hội. Để PTNN, trẻ phải được nghe lời nói,
được bắt chước lời nói, được chủ động nói.
4. Nội dung PTNN phải hướng vào trẻ, đáp ứng các nhu cầu phát triển của trẻ. Các hoạt động của trẻ được
thiết kế theo hướng tích hợp và tích hợp theo chủ đề. Thời lượng tiến hành một chủ đề linh hoạt, phụ
thuộc vào nhu cầu và hứng thú của trẻ.
5. Các hoạt động PTNN phải phù hợp với các điều kiện tự nhiên, điều kiện văn hoá xã hội của từng vùng,
miền và phù hợp với thực trạng của trường, của lứa tuổi.
6. Nhiệm vụ của GV là tổ chức xây dựng môi trường NN, tổ chức các hoạt động để trẻ được nghe, được bắt
chước và được nói.
7. Phát huy sự chủ động, sáng tạo của GV trong việc xây dựng kế hoạch GD trẻ: linh hoạt trong việc xác
định, lựa chọn và tổ chức những hoạt động phong phú giúp trẻ hứng thú tìm hiểu khám phá theo nhiều
cách khác nhau, phù hợp với điều kiện cụ thể của trường lớp, của địa phương.
8. GV có thể áp dụng những phương pháp GD khác nhau một cách sáng tạo nhằm tích cực hoá hoạt động tư
duy và NN của trẻ như: giao nhiệm vụ để trẻ tự suy nghĩ giải quyết vấn đề, sử dụng các câu hỏi mở, trò
chơi đóng vai, phương pháp cùng tham gia....
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. BGD&ĐT (2009). Chương trình GD MN. Nxb GD Việt Nam.
[2]. BGD&ĐT (2017). Hướng dẫn thực hành áp dụng quan điểm GD lấy trẻ làm trung tâm trong trường
MN. Nxb GD Việt Nam
[3]. BGD&ĐT (2015), Dự án tăng cường khả năng sẳn sàng đi học cho trẻ MN - tài liệu đào tạo GV MN,
Nxb Dân Trí, Tr38
[4]. Thông tư 17/2009/TT - BGD&ĐT ngày 25-07-2009 về chương trình GD MN.
[5]. Nguyễn Xuân Khoa, 2004, phương pháp PTNN cho trẻ MG, Nxb Đại học Sư phạm.
[6]. Hoàng Phê (2016), Từ điển tiếng Việt, Nxb Hồng Đức.
[7]. Đinh Hồng Thái (2015), giáo trình PTNN tuổi MN, Nxb Sư Phạm.
Tác giả chịu trách nhiệm bài viết:
Họ tên: Nguyễn Thị Hồng Vân
Đơn vị: Trường Mầm non 19/5 Thành phố Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0902 941 378
Email: hongvan1112@gmail.com
-10-
BÀI BÁO KHOA HỌC
THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ
Bài báo khoa học của học viên
có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn
Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.
Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý
của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.
ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN!
Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2018-2019 của Thư viện Trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.
Bạn đang xem tài liệu "Giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại Trường Mầm non 19/5 Thành phố", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_duc_phat_trien_ngon_ngu_cho_tre_tai_truong_mam_non_195.pdf

