Giáo dục hướng nghiệp tại các Trường Trung học Phổ Thông trên địa bàn Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
VOCATIONAL EDUCATION IN UPPER SECONDARY SCHOOLS IN THE
LOCALITIES. BIEN HOA CITY, DONG NAI PROVINCE
Phan Thị Thùy Linh
Trường ĐH CNTT – ĐH Quốc gia TP.HCM
TÓM TẮT
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển và hội nhập sâu rộng. Sự nghiệp phát triển
kinh tế-xã hội đặt ra yêu cầu nền giáo dục Việt Nam phải tạo ra lớp người lao động mới có khả
năng làm chủ được khoa học-công nghệ hiện đại. Vì vậy, Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh
trong giai đoạn hiện nay là rất quan trọng và cần thiết. Xác định đúng các mục tiêu, chức năng,
nhiệm vụ của Giáo dục hướng nghiệp, xác định các nội dung Giáo dục hướng nghiệp phù hợp với
thực tiễn, xác định các hình thức Giáo dục hướng nghiệp và lựa chọn hình thức tối ưu nhằm nâng
cao chất lượng hoạt động Giáo dục hướng nghiệp.
Từ khóa: Giáo dục Việt Nam; Giáo dục hướng nghiệp; Khoa học công nghệ; Nội dung giáo
dục hướng nghiệp; Hình thức giáo dục hướng nghiệp.
ABSTRACTS
Our country is entering a stage of development and integration deeply. Socio-economic
development requires the education of Vietnam to create a new generation of workers who are
capable of mastering modern science and technology. Therefore, vocational education for students
in the current stage is very important and necessary. Properly defining the objectives, functions,
and tasks of vocational education, identifying the contents of vocational education in line with
reality, identifying the forms of vocational education and choosing the optimal form for improving
the quality of vocational education.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Những năm vừa qua, giáo dục hướng
nghiệp cho học sinh Trung học phổ thông đã
được quan tâm và đã đạt được những kết quả
ban đầu. Giáo dục hướng nghiệp đã được
quán triệt trong các nghị quyết, chủ trương,
chính sách của Đảng, Nhà nước và các cấp,
các ngành. Hệ thống các văn bản về giáo dục
hướng nghiệp đã được ban hành; hệ thống cơ
sở giáo dục kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp,
dạy nghề đã được quan tâm đầu tư phát triển,
thể hiện ở những thành quả đã đạt được về
quy hoạch mạng lưới và xây dựng các trung
tâm, từng bước phát triển đội ngũ cán bộ quản
lý và giáo viên, đầu tư kinh phí cho xây dựng
và mua sắm trang thiết bị phục vụ giáo dục
hướng nghiệp
ngành học phù hợp với bản thân và yêu cầu
của xã hội. Nhiều học sinh còn rất lúng túng
trong việc lựa chọn hướng đi của mình sau khi
tốt nghiệp Trung học phổ thông, chưa xác
định được khả năng của mình cũng như nhu
cầu của xã hội để định hướng nghề nghiệp
tương lai. Đó cũng là thực trạng chung của
hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại các
trường THPT ở thành phố Biên Hòa, tỉnh
Đồng Nai.
Trong bài viết này, chúng tôi trình bày
kết quả khảo sát thực trạng hoạt động Giáo
dục hướng nghiệp tại các trường Trung học
phổ thông tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng
Nai; đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng
Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Trung
học phổ thông.
Tuy vậy, chất lượng giáo dục hướng
nghiệp hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu
của học sinh và xã hội, học sinh phổ thông
cuối các cấp học và bậc học chưa được chuẩn
bị chu đáo để lựa chọn nghề nghiệp, lựa chọn
2. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
2.1. Hướng nghiệp
1
Hướng nghiệp là một hệ thống các biện
pháp tác động vào quá trình định hướng nghề
nghiệp của mỗi con người bằng cách giúp họ
nhận thức được bản thân, nghề nghiệp và nhu
cầu thị trường lao động, qua đó họ có thể lựa
chọn được ngành nghề phù hợp, đảm bảo cho
họ thành công trong công việc và hạnh phúc
trong lao động nghề nghiệp sau này.
mà xã hội đặt ra. Đồng thời, giúp các em phát
huy hết năng lực của mình với nghề đã chọn.
3. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁO
DỤC HƯỚNG NGHIỆP TẠI CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TẠI THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH
ĐỒNG NAI
3.1. Thực trạng hoạt động Giáo dục hướng
nghiệp cho học sinh Trung học phổ thông
2.2.Giáo dục hướng nghiệp
GDHN được hiểu là một hệ thống các
hoạt động của nhà trường, gia đình và xã hội
trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo
trong việc cung cấp tri thức, hình thành kĩ
năng chọn nghề cho học sinh. Giúp các em có
định hướng đúng trong việc lựa chọn nghề
nghiệp phù hợp với nguyện vọng, sở trường
của bản thân, đáp ứng được nhu cầu nhân lực
Người nghiên cứu đã khảo sát tìm hiểu
thực trạng hiện nay các trường có quan tâm,
thực hiện các hoạt động Giáo dục hướng
nghiệp cho học sinh không. Kết quả được
đánh giá như sau:
Bảng 1. Kết quả khảo sát thực trạng các trường có thực hiện các hoạt động nhằm mục đích
tư vấn hướng nghiệp cho học sinh
Phân vân
Có
Không
Tần số Tỉ lệ Tần số
Trường
Tần số
Tỉ lệ
Tỉ lệ
/
/
/
/
/
/
/
/
CBQL-GV
HS
15
100
Lương Thế
65
11
15
58
12
15
56
11
15
61
9
100
73,33
100
Vinh
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
/
4
/
26,67
/
PHHS
CBQL-GV
HS
Ngô Quyền
Trấn Biên
Nam Hà
7
3
/
10,77
20
89,23
80
PHHS
CBQL-GV
HS
/
100
9
4
/
13,85
26,67
/
86,15
73,33
100
PHHS
CBQL-GV
HS
4
6
/
6,15
40
93,85
60
PHHS
CBQL-GV
HS
/
60
240
43
100
Tổng số
20
17
7,69
28,33
92,31
71,67
PHHS
Kết quả cho thấy cả 4 trường được khảo
sát đều quan tâm thực hiện các hoạt động để
tư vấn hướng nghiệp cho học sinh. Đa số
CBQL-GV, HS và PHHS lựa chọn đáp án “có”
(100% CBQL-GV tại 4 trường, tỉ lệ HS trả lời
“có” ít nhất là 86,15% tại trường Trấn Biên, tỉ
lệ PHHS trả lời “có” ít nhất là 73,33 tại trường
THPT Lương Thế Vinh và Trấn Biên ; một số
HS phân vân (tỉ lệ lớn nhất là 13,85% HS tại
trường THPT Trấn Biên); một số PHHS phân
vân (tỉ lệ lớn nhất là 40% PHHS tại trường
THPT Nam Hà.
Nhìn chung, các lực lượng giáo dục đều
cho rằng các trường hiện nay có thực hiện các
2
hoạt động nhằm mục đích Giáo dục hướng
nghiệp cho học sinh (100% CBQL-GV,
92.31% HS, 71.67% PHHS trả lời có). Không
có ai trả lời là không có thực hiện hoạt động
nào. Tuy nhiên vẫn có một bộ phận (dù nhỏ) là
69% HS , 28,33% PHHS phân vân về vấn đề
này.
Các hoạt động Giáo dục hướng nghiệp
hiện nay bước đầu đã được triển khai thực hiện
tại các trường, tuy nhiên các hoạt động đó đã
mang lại hiệu quả trong việc hướng nghiệp cho
học sinh như thế nào, chúng tôi đã khảo sát và
kết quả thu được như sau:
Bảng 2. Kết quả khảo sát hiệu quả hoạt động GDHN tại nhà trường hiện nay
Có
Tần số
Không
Tần số
Phân vân
Tần số Tỉ lệ
TRƯỜNG
Tỉ lệ
Tỉ lệ
3
41
4
20
8
22
6
53,33
33,85
40
CBQL-GV
HS
4
2
26,67
Lương Thế Vinh
63,08
26,67
40
3,07
33,33
13,33
12,31
46,66
13,33
16,92
26,67
20
PHHS
CBQL-GV
HS
5
6
7
46,67
13,84
26,67
33,34
12,31
33,33
40
2
Ngô Quyền
Trấn Biên
Nam Hà
48
4
73,85
26,67
53,33
70,77
40
9
8
4
PHHS
CBQL-GV
HS
7
8
5
2
46
6
8
11
4
5
PHHS
CBQL-GV
HS
6
40
6
3
51
8
78,46
53,33
38,33
71,54
36,67
8
12,31
20
6
9,23
3
PHHS
CBQL-GV
HS
4
26,67
18,33
10,38
33,33
23
186
22
26
47
18
43,34
18,08
30
11
27
20
Tổng số
PHHS
Kết quả khảo sát về tính hiệu quả của
các hoạt động Giáo dục hướng nghiệp tại nhà
trường cho thấy hiện nay, dù các trường đều
có thực hiện các hoạt động nhằm mục đích
hướng nghiệp cho học sinh nhưng các hoạt
động này vẫn chưa mang lại hiệu quả cao. Cụ
thể:
hiệu quả chưa cao. Cụ thể, chỉ có 18,33%
CBQL-GV trả lời Có. 38,33% trả lời Không.
43,34% Phân vân với câu hỏi này. Về phía
PHHS, số PHHS tin tưởng rằng hoạt động
GDHN tại trường có mang lại hiệu quả khá cao
với 33,33%; 36,67% PHHS trả lời Không hiệu
Trường THPT Chuyên Lương Thế
Vinh, chỉ có 3,07% HS trả lời rằng hoạt động
GDHN ở trường có mang lại hiệu quả. Có
63,08% HS trả lời không hiệu quả. Trường
THPT Ngô Quyền có 73,85%, trường THPT
Trấn Biên có 70,07%, trường THPT Nam Hà
có 78,46% học sinh trả lời rằng hoạt động
hướng nghiệp tại trường các em chưa mang lại
hiệu quả.
quả; 30% Phân vân với câu hỏi này. Học sinh
là đối tượng trả lời khách quan và chính xác với
câu hỏi này vì sự hiệu quả của hoạt động
GDHN chính các em là người đạt được, hoặc
không đạt được. Chỉ có 10,38% HS trả lời có
mang lại hiệu quả. Có đến 71,54% HS cho rằng
không hiệu quả và 18,08% HS lựa chọn đáp án
Phân vân.
Kết quả trên cho thấy, các em HS vẫn
chưa thật sự cảm thấy hài lòng với các hoạt
động GDHN tại trường mình đang học. Các
Kết quả chung tại 4 trường cho thấy,
không chỉ riêng học sinh, tỉ lệ CBQL-GV cho
rằng hoạt động GDHN tại trường có mang lại
3
1. Nội dung giới thiệu về thế giới nghề nghiệp
hoạt động GDHN tại trường các em dù đã có
(92,31% HS đã trả lời là trường các em có thực
hiện các hoạt động nhằm mục đích GDHN)
nhưng có đến 71,54% các em cho rằng những
hoạt động đó chưa mang lại hiệu quả trong việc
hướng nghiệp cho bản thân.
2. Thông tin về định hướng phát triển KT-XH, về
thị trường lao động ở địa phương, cả nước,
khu vực và thế giới
3. Nội dung về hướng dẫn HS tự đánh giá hứng
thú và năng lực nghề nghiệp của bản thân
4. Nội dung về tư vấn chọn nghề cho HS
3.2. Thực trạng việc thực hiện các nội dung
Giáo dục hướng nghiệp
5. Nội dung về GD HS thái độ lao động, ý thức
tôn trọng người lao động thuộc các ngành
nghề khác nhau
Trên cơ sở phân tích thực trạng việc
thực hiện nội dung Giáo dục hướng nghiệp
tại các trường Trung học phổ thông tại thành
phố Biên Hòa, chúng tôi đã tổng hợp kết quả
tại 04 trường để rút ra kết luận chung nhất,
toàn diện nhất về thực trạng việc thực hiện
các nội dung GDHN tại TP Biên Hòa hiện
nay.
Hình 4. Biểu đồ kết quả thực hiện các nội dung
GDHN cho học sinh THPT tại TP Biên Hòa
Qua phân tích biểu đồ cho thấy việc thực
hiện các nội dung GDHN tại các trường
THPT ở Biên Hòa chưa đồng đều và toàn
diện. Một số nội dung mang tính truyền đạt
những thông tin lý thuyết như giới thiệu về
thế giới nghề nghiệp, tư vấn chọn nghề cho
HS được đánh giá ở mức độ cao hơn so với
các nội dung còn lại. Cụ thể: Nội dung về tư
vấn chọn nghề cho HS có điểm trung bình ở
mức độ thường xuyên thực hiện (CBQL - GV
: M = 3,84 ; HS: M = 3,55) kết quả thực hiện
ở mức Khá (CBQL - GV : M = 3,71 ; HS: M
= 3,37). Nội dung giới thiệu về thế giới nghề
nghiệp cũng có kết quả tương tự ở mức
thường xuyên thực hiện (CBQL - GV : M =
3,6 ; HS: M = 3,28) và kết quả thực hiện Khá
(CBQL - GV : M = 3,57 ; HS: M = 3,18).
Theo đánh giá của người nghiên cứu thì hai
nội dung trên rất quan trọng và cần thiết trong
việc cung cấp những thông tin hữu ích cho HS
trước khi bước chân vào thế giới nghề nghiệp.
Tuy nhiên để hoạt động HN thật sự thiết thực,
cụ thể cho từng đối tượng người học thì cần
chú trọng thêm các nội dung mang tính sâu sát
thực tế như nội dung về định hướng phát triển
KT-XH, về thị trường lao động ở địa phương,
cả nước, khu vực và thế giới; nội dung về
hướng dẫn HS tự đánh giá hứng thú và năng
lực nghề nghiệp của bản thân và nội dung về
GD HS thái độ lao động, ý thức tôn trọng
người lao động thuộc các ngành nghề khác
nhau. Tuy nhiên 3 nội dung này đều được
đánh giá ở mức thỉnh thoảng hoặc hiếm khi
thực hiện (M ≤ 3,15), mức độ thực hiện trung
bình và yếu (M ≤ 2,98).
Mức độ thường xuyên thực hiện các nội
dung GDHN thể hiện qua biểu đồ
sau:
1. Nội dung giới thiệu về thế giới nghề nghiệp
2. Thông tin về định hướng phát triển KT-XH, về
thị trường lao động ở địa phương, cả nước,
khu vực và thế giới
3. Nội dung về hướng dẫn HS tự đánh giá hứng
thú và năng lực nghề nghiệp của bản thân
4. Nội dung về tư vấn chọn nghề cho HS
5. Nội dung về GD HS thái độ lao động, ý thức
tôn trọng người lao động thuộc các ngành
nghề khác nhau
Hình 3. Biểu đồ mức độ thường xuyên thực
hiện các nội dung GDHN cho học sinh
THPT tại TP Biên Hòa
Kết quả việc thực hiện các nội dung GDHN
thể hiện qua biểu đồ sau:
3.3. Thực trạng việc thực hiện các hình thức
Giáo dục hướng nghiệp
Để tìm hiểu thực trạng hoạt động Giáo
dục hướng nghiệp, người nghiên cứu đã tiến
hành khảo sát việc áp dụng các hình thức
Giáo dục hướng nghiệp tại các trường Trung
4
học phổ thông trên địa bàn thành phố Biên
Hòa, tỉnh Đồng Nai.
chính khóa và ngoại khóa được đánh giá ở
mức hiếm khi thực hiện ( M ≤ 2,41).
Các trường THPT tại TP Biên Hòa đã
có áp dụng các hình thức trên vào hoạt động
GDHN cho học sinh. Tuy nhiên kết quả thực
hiện như thế nào, người nghiên cứu đã điều
tra và thu được kết quả như sau:
Kết quả khảo sát 60 CBQL-GV và 260
HS tại 4 trường THPT trên địa bàn TP Biên
Hòa, tỉnh Đồng Nai cho thấy: 4 hình thức
được nhà trường sử dụng nhằm mục đích
GDHN cho HS lớp 12 đó là:
- GDHN thông qua dạy học các môn
Khoa học cơ bản
- GDHN thông qua dạy nghề phổ thông
- GDHN thông qua các hoạt động
GDHN chính khóa
- GDHN thông qua các hoạt động ngoại
khóa
Tuy nhiên khi tìm hiểu và phân tích để
làm rõ mức độ thường xuyên áp dụng thực
hiện các hình thức hướng nghiệp có kết quả
như sau:
1. GDHN thông qua dạy học các môn Khoa học cơ
bản
2. GDHN thông qua dạy nghề phổ thông
3. GDHN thông qua các hoạt động GDHN chính khóa
4. GDHN thông qua các hoạt động ngoại khóa
Hình 6. Biểu đồ kết quả thực hiện các hình
thức GDHN cho học sinh THPT tại TP
Biên Hòa
Mặc dù các hình thức GDHN đều đã
được sử dụng tại các trường tuy nhiên kết
quả đem lại vẫn chưa được đánh giá cao. Cụ
thể:
1. GDHN thông qua dạy học các môn Khoa học cơ
bản
GDHN thông qua dạy học các môn
Khoa học cơ bản, qua đánh giá của CBQL-
GV và HS, hình thức này được đánh giá ở
mức độ thức hiện Yếu. Hình thức GDHN
thông qua dạy nghề phổ thông là hình thức
được sử dụng nhiều nhất nhưng có kết quả
thực hiện ở mức Trung bình qua đánh giá của
CBQL-GV (M = 2,66) còn HS đánh giá chỉ ở
mức Yếu (M = 2,2). Để tìm hiểu nguyên
nhân tại sao hình thức này có thực hiện
nhưng chưa mang lại hiệu quả, một học sinh
cho biết là do trường chỉ giới thiệu các nghề
có trong nội dung học nghề phổ thông chứ
chưa mở rộng thông tin thêm về các ngành
nghề khác. Kết quả GDHN thông qua các
hoạt động GDHN chính khóa và ngoại khóa
được đánh giá ở mức Yếu ( M ≤ 2,58)
2. GDHN thông qua dạy nghề phổ thông
3. GDHN thông qua các hoạt động GDHN chính
khóa
4. GDHN thông qua các hoạt động ngoại khóa
Hình 5. Biểu đồ mức độ thường xuyên thực
hiện các hình thức GDHN cho học sinh
THPT tại TP Biên Hòa
Cả 4 hình thức GDHN đều đã được sử
dụng nhưng qua tính toán thống kê số liệu thì
mức độ sử dụng của các hình thức có sự khác
nhau. Cụ thể:
GDHN thông qua dạy học các môn
Khoa học cơ bản, qua đánh giá của CBQL-
GV và HS, hình thức này được đánh giá ở
mức Hiếm khi thực hiện. Hình thức GDHN
thông qua dạy nghề phổ thông là hình thức
GDHN được sử dụng nhiều nhất trong tất cả
các hình thức với M = 2,84 (CBQL-GV) và
M = 2,73 (HS) ở mức Thỉnh thoảng thực
hiện. GDHN thông qua các hoạt động GDHN
Thông qua phỏng vấn để tìm hiểu
nguyên nhân, người nghiên cứu ghi nhận
được những ý kiến sau:
Hình thức GDHN thông qua các môn
Khoa học cơ bản nếu thực hiện tốt sẽ mang
lại hiệu quả cao bởi vì các môn Khoa học cơ
5
bản cung cấp những khái niệm nền tảng cho
sự hình thành về tư duy lý luận, cũng như tạo
cho học sinh những kỹ năng thực hành, ứng
dụng những tri thức văn, toán, hóa, sinh…
vào cuộc sống hàng ngày. Ví dụ: Qua mối
liên hệ chặt chẽ giữa nội dung các môn học
khoa học tự nhiên với hoạt động lao động sản
xuất của các ngành kỹ thuật, học sinh sẽ thấy
những tri thức về toán, lý, hoá, sinh... thường
được ứng dụng trong những ngành nghề nào.
Các môn khoa học xã hội có nhiều ý nghĩa
chuẩn bị cho học sinh đi vào các lĩnh vực xã
hội như: văn học, báo chí, giáo dục, văn thư,
lưu trữ... Môn năng khiếu chuẩn bị cho học
sinh đi vào các lĩnh vực nghệ thuật, Đoàn –
Đội... Ngoại ngữ liên quan đến các ngành
dịch thuật, phiên dịch, ngoại giao, phát thanh,
truyền hình, hướng dẫn viên du lịch... Việc
dạy môn Công nghệ giúp cung cấp cho học
sinh những nguyên lý cơ bản về kỹ thuật,
khoa học công nghệ, các quy trình lao động
sản xuất trong thực tế, giúp học sinh hiểu
được những ứng dụng của chúng trong hoạt
động nghề nghiệp khác nhau, từ đó, học sinh
có được những kiến thức cơ bản về ngành
nghề trong xã hội.
hi vọng từ giờ đến đó tụi em sẽ được tham
gia một buổi sinh hoạt hướng nghiệp.
Hình thức GDHN thông qua các hoạt
động ngoại khóa tại các trường hiện nay đa
phần chưa được thực hiện. Tuy nhiên qua
đánh giá của HS thì đây là hình thức mang lại
hiệu quả thiết thực nhất. Một HS trường
THPT Chuyên Lương Thế Vinh cho biết:
Tỉnh Đồng Nai có rất nhiều Khu công
nghiệp, vì vậy tụi em rất mong được tham gia
các hoạt động tham quan, tìm hiểu các nhà
máy, xí nghiệp để có những hiểu biết sâu sắc
và từ đó mạnh dạn hơn trong việc quyết định
chọn nghề.
3. CÁC GIẢI PHÁP GIÁO DỤC HƯỚNG
NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG
3.1. Nâng cao nhận thức về giáo dục hướng
nghiệp trong nhà trường phổ thông
Giúp CBQL-GV, HS, PHHS và các lực
lượng xã hội nhận thức đúng và đủ tầm quan
trọng của GDHN. Hiểu rõ vai trò, quyền lợi
và trách nhiệm của bản thân trong công tác
GDHN trong nhà trường phổ thông.
Toàn thể CBQL-GV, PHHS, những
người làm công tác hướng nghiệp cần nhận
thức đúng về việc GDHN không chỉ cung cấp
những thông tin cơ bản về nghề mà cần chú
trọng nhiều hơn vào việc cung cấp những
thông tin mang tính thực tiễn.
Hình thức GDHN thông qua dạy nghề
phổ thông là hình thức được thực hiện khá
phổ biến hiện nay tuy nhiên chủ yếu là thực
hiện theo chương trình chung của Bộ. Chỉ có
một số ít ngành nghề được giới thiệu. Tuy
nhiên, qua đó cũng giúp học sinh hứng thú
trong việc thực hành những nghề như: chăn
nuôi, làm vườn, sữa chữa điện, tin học, nấu
ăn… Giúp học sinh quan tâm hơn đến việc
chọn nghề và nhận thức đúng đắn về tầm
quan trọng của việc chọn nghề.
Cung cấp rộng rãi thông tin về định
hướng phát triển KT-XH, thị trường lao động
ở địa phương (các khu công nghiệp, khu chế
xuất, khu du lịch - dịch vụ các nghề truyền
thống của địa phương, nhu cầu nhân lực có
tay nghề, thông tin về đào tạo và tuyển dụng
lao động,…) nhằm hướng các hoạt động
GDHN vào việc góp phần bù đắp thiếu hụt
nhân lực, đáp ứng thị trường lao động của địa
phương.
Hình thức GDHN thông qua các hoạt
động chính khóa, hay còn gọi là hướng
nghiệp thông qua sinh hoạt hướng nghiệp.
Học sinh rất mong muốn nhà trường đẩy
mạnh hơn nữa các hoạt động này, bởi vì
những hoạt động này rất gần gũi và thiết thực
để giúp HS biết tìm hiểu, lựa chọn nghề cho
bản thân. Một bạn HS của trường Nam Hà
cho biết: Năm nay là năm cuối cấp, tụi em rất
hi vọng nhà trường sẽ tổ chức một buổi sinh
hoạt trao đổi, tư vấn chọn nghề cho tụi em.
Các bạn em học ở trường tư thì các trường tư
có vẻ quan tậm hơn đến GDHN, có mời
chuyên gia về tư vấn hướng nghiệp cho HS,
còn trường em thì chưa bao giờ nên em cũng
hơi buồn nhưng còn 3 tháng nữa, tụi em rất
Giúp HS tự nhận thức, đánh giá năng
lực, sở thích của bản thân, hoàn cảnh và
truyền thống nghề nghiệp của gia đình để lựa
chọn ngành nghề phù hợp. Giúp học sinh trả
lời được những câu hỏi: Tôi là ai? Tôi muốn
đến đâu? Và tôi làm sao để đi đến đó?
3.2. Thành lập bộ phận tư vấn hướng
nghiệp, kết hợp tư vấn online ngay trong
trường THPT
6
Xây dựng và phát triển một đội ngũ
chuyên trách đủ về số lượng, có phẩm chất
đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn và năng
lực sư phạm về giáo dục hướng nghiệp để
công tác GDHN được thực hiện chuyên
nghiệp hơn trong nhà trường.
động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng
của HS phổ thông, khắc phục lối giáo dục
máy móc, đơn điệu, sáo mòn. Tập trung giáo
dục thông qua hoạt động trải nghiệm, tự trải
nghiệm sáng tạo để học sinh tự nhận thức và
tự trang bị tri thức, kỹ năng, phát triển năng
lực; tự khám phá thế giới nghề nghiệp; tự
hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu về năng lực và
phẩm chất của người lao động ở lĩnh vực HS
sẽ lựa chọn.
Tổ tư vấn cần luôn được trau dồi, bồi
dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ; có thể
thường xuyên tham gia giúp đỡ, hỗ trợ học
sinh trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua mạng
xã hội để kịp thời giúp đỡ các em học sinh khi
các em gặp những khó khăn, vướng mắc trong
việc chọn nghề.
Việc tổ chức cho HS tham quan các cơ
sở sản xuất, các doanh nghiệp, các cơ sở đào
tạo nghề… nhằm tạo điều kiện cho HS được
tận mắt quan sát cơ chế vận hành máy móc
trong sản xuất, các hoạt động của người lao
động và các sản phẩm của quá trình lao động.
Nhờ đó, HS hiểu rõ hơn đối tượng lao động,
yêu cầu lao động của ngành nghề mà HS mới
chỉ biết qua sách vở, đồng thời khơi dậy trong
các em hứng thú đối với nghề nghiệp
Tổ tư vấn đồng thời là cầu nối thu hút
đội ngũ cộng tác viên tư vấn nghề nghiệp ví
dụ như cựu sinh viên thành đạt có thể tham
gia hỗ trợ tư vấn về các ngành nghề mà bản
thân các em đang làm.
3.3. Tích hợp nội dung hướng nghiệp
vào các môn học khoa học cơ bản
3.5. Tổ chức tư vấn hướng nghiệp cho
học sinh theo nhóm nhỏ
Kết hợp nhiều loại kiến thức, kỹ năng,
thái độ để qua đó các em học sinh tìm hiểu về
thế giới nghề nghiệp đa dạng gắn liền với các
môn khoa học cơ bản các em được học hằng
ngày.
Tổ chức tư vấn nhóm nhỏ có đặc điểm
riêng phù hợp với đặc điểm của HS là việc
làm có tác dụng rất thiết thực để giúp HS định
hướng học và chọn nghề vì thông qua buổi tư
vấn nhóm nhỏ sẽ:
Thông qua giờ dạy trên lớp, giáo viên
phối hợp linh hoạt các phương pháp giảng dạy
và hình thức tổ chức dạy học nhằm đảm bảo
được mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh
trong đó có giáo dục hướng nghiệp.
- Nâng cao kiến thức hướng nghiệp và kiến
thức tuyển sinh;
- Tạo nhu cầu tìm hiểu về hướng nghiệp
cho học sinh;
Dựa vào đặc trưng của bộ môn, các môn
học đều có thể và cần phải giáo dục hướng
nghiệp một cách thích hợp để qua các kiến
thức khoa học mà cung cấp cho học sinh
những tri thức về tiềm năng đất nước, khả
năng và thành tựu của nhân dân trong lao
động, sự phát triển các ngành nghề nông
nghiệp, tiểu thủ công, công nghiệp then chốt;
giáo dục ý thức chọn ngành, chọn nghề đúng
đắn, tinh thần sẵn sàng đi vào các ngành nghề
đang cần phát triển để xây dựng, bảo vệ Tổ
quốc và quê hương.
- Tạo cơ hội để nhà trường phối hợp với
Hội cha mẹ học sinh và/hoặc các doanh
nghiệp để giúp nâng cao kiến thức hướng
nghiệp cho học sinh.
Việc tư vấn cho học sinh theo nhóm nhỏ
thuận lợi hơn so với buổi tư vấn quy mô toàn
trường do số lượng học sinh ít hơn, hơn nữa
những học sinh trong cùng một nhóm được
học cùng một chương trình, cùng lứa tuổi nên
có nhận thức và những vấn đề quan tâm tương
tự nhau. Do vậy, buổi tư vấn cho nhóm nhỏ có
thể kết hợp ba mục tiêu: Cung cấp lý thuyết
hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp; Trao
đổi với khách mời từ doanh nghiệp về nghề
nghiệp và tuyển dụng lao động; và Tư vấn
tuyển sinh.
3.4. Liên kết với các nhà máy, cơ sở
sản xuất để tổ chức các hoạt động ngoại
khóa cho học sinh
Tổ chức hoạt động ngoại khoá góp phần
đổi mới mạnh mẽ phương pháp GDHN theo
hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ
7
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Hoạt động Giáo dục hướng nghiệp lớp 10, 11, 12, NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Đổi mới giáo dục hướng nghiệp trong trường trung học,
NXB giáo dục.
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Giáo dục hướng nghiệp qua giáo dục phổ thông, NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội.
4. Đặng Danh Ánh (2010), Giáo dục hướng nghiệp ở Việt nam, NXB Văn hóa thông tin.
5. Phạm Tất Dong (chủ biên) (2008), Hoạt động giáo dục hướng nghiệp sách giáo viên 12,
NXB Giáo dục.
Tác giả chịu trách nhiệm bài viết:
Họ tên: Phan Thị Thùy Linh
Đơn vị: Trường ĐH Công nghệ Thông tin
Điện thoại: 0937 042 397
Email: [email protected]
8
BÀI BÁO KHOA HỌC
THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ
Bài báo khoa học của học viên
có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn
Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.
Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý
của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.
ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN!
Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2018-2019 của Thư viện Trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.
Bạn đang xem tài liệu "Giáo dục hướng nghiệp tại các Trường Trung học Phổ Thông trên địa bàn Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_duc_huong_nghiep_tai_cac_truong_trung_hoc_pho_thong_tre.pdf

