Sử dụng mô hình, bảng biểu trong dạy học ngữ pháp Tiếng Việt cho học sinh Trung học cơ sở

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 17. 2014  
SỬ DỤNG MÔ HÌNH, BẢNG BIỂU TRONG DẠY HỌC NGỮ PHÁP  
TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ  
TS. Phạm Thị Anh1  
TÓM TẮT  
Để hình thành tri thức về ngữ pháp cho học sinh phổ thông, cần lưu ý sử dụng  
các mô hình, bảng biểu. Như bảng về các thành phần của câu, bảng về cấu tạo ngữ  
pháp của câu, mô hình câu đơn, mô hình về các loại câu ghép. Những loại bảng, mô  
hình này như những giáo cụ trực quan sinh động, dễ thiết kế, dễ sử dụng nhưng lại có  
hiệu quả trong việc dạy học ngữ pháp.  
Từ khóa: ngữ pháp, mô hình, bảng biểu  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Phƣơng tiện dạy học và sử dụng phƣơng tiện dạy học (PTDH) cho học sinh (HS)  
luôn là vấn đề đƣợc đặt ra cho giáo viên (GV) trong mọi cấp học, góp phần đổi mới  
phƣơng pháp dạy học. Tuy nhiên, do đặc trƣng của từng môn học, việc sử dụng PTDH  
lại có những yêu cầu riêng. Bên cạnh đó cũng phải tính đến điều kiện vật chất của cơ sở  
đào tạo cũng nhƣ khả năng sử dụng PTDH của từng GV. Đối với việc dạy học phần ngữ  
pháp tiếng Việt trong nhà trƣờng phổ thông, việc sử dụng PTDH lại càng có ý nghĩa  
quan trọng, trong đó đặc biệt là mô hình, sơ đồ, bảng biểu… Những PTDH này tƣơng  
đối đơn giản, phù hợp với mọi điều kiện vật chất, sử dụng thuận lợi trong mọi tình  
huống. Trong phạm vi của bài viết này, chúng tôi sẽ đề cập đến nội dung trên, cụ thể là:  
những tri thức Ngữ pháp (phần câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp) trong chương  
trình (CT), sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn trung học cơ sở (THCS) và xây dựng, sử  
dụng các mô hình về câu đơn, câu ghép.  
2. NỘI DUNG  
2.1. Khái quát những tri thức ngữ pháp về phần Phân loại câu theo cấu tạo ngữ  
pháp trong SGK Ngữ văn THCS  
Câu và những vấn đề liên quan đến câu tiếng Việt đã đƣợc bàn đến khá nhiều  
trong chƣơng trình, SGK Ngữ văn THCS. Trƣớc khi bàn về nội dung chính của bài viết,  
chúng tôi sẽ khái quát những nội dung cơ bản về câu, cách phân loại câu theo quan đểm  
của SGK Ngữ văn hiện nay, thuận lợi cho việc sử dụng mô hình, biểu, bảng… trong dạy  
học Phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp.  
2.1.1. Quan niệm về câu  
Đứng ở góc độ giao tiếp, “câu không phải là đơn vị có sẵn, không phải là một thứ  
vật liệu mà là sản phẩm đƣợc tạo ra mỗi khi con ngƣời dùng ngôn ngữ để giao tiếp” [3,  
1 TS. Khoa Khoa học Xã hội, Trường Đại học Hồng Đức  
78  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 17. 2014  
tr.140]. Nhƣ vậy, chức năng của câu là trao đổi nhận thức, tƣ tƣởng, tình cảm giữa  
ngƣời với ngƣời. SGK Ngữ văn THCS không đƣa ra một khái niệm cụ thể về câu nhƣng  
nhìn chung, một định nghĩa về câu phải đáp ứng đầy đủ các yếu tố sau:  
- Yếu tố hình thức: Câu có cấu tạo ngữ pháp bên trong và bên ngoài, có tính tự  
lập và có một ngữ điệu kết thúc.  
- Yếu tố nội dung: Câu có nội dung là một tƣ tƣởng tƣơng đối trọn vẹn và có thể  
kèm theo thái độ của ngƣời nói hoặc nội dung là tình cảm, thái độ của ngƣời nói.  
- Yếu tố chức năng: Câu có chức năng hình thành và biểu hiện, truyền đạt tƣ  
tƣởng, tình cảm. Nó là đơn vị thông báo nhỏ nhất.  
- Lĩnh vực nghiên cứu: Câu là đơn vị nghiên cứu của ngôn ngữ.  
2.1.2. Cách phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp  
SGK Ngữ văn THCS phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp thành 2 loại: câu đơn  
và câu ghép. Sự phân loại này dựa vào sự xuất hiện của các kết cấu C – V trong câu.  
Câu đơn lại đƣợc phân thành 2 kiểu: câu đơn bình thƣờng và câu đơn đặc biệt.  
(Lƣu ý: câu rút gọn là kết quả của việc lƣợc bỏ một thành phần chính trong câu đơn  
bình thƣờng). Câu đơn là câu có một kết cấu C- V.  
Ví dụ: Lan / đang học bài.  
Những tri thức về câu đơn đƣợc dạy ở lớp 6, lớp 7.  
Bên cạnh câu đơn, CT, SGK Ngữ văn THCS còn chú ý hình thành cho HS khái niệm  
câu ghép. “Câu ghép là những câu do hai hoặc nhiều cụm C - V không bao chứa tạo thành.  
Mỗi cụm C - V này đƣợc gọi là một vế câu” [6, tr.112]. Câu ghép đƣợc phân thành hai kiểu:  
kiểu câu ghép có từ nối và câu ghép không có từ nối các vế câu. Kiểu câu ghép có từ nối  
thƣờng dùng các từ có tác dụng nối: một quan hệ từ, một cặp quan hệ từ; một cặp phó từ,  
đại từ hay chỉ từ thƣờng đi đôi với nhau (cặp hô ứng). Còn trƣờng hợp không có từ nối, các  
vế trong câu ghép thƣờng dùng dấu phẩy, dấu chấm phẩy hoặc dấu hai chấm.  
Nhƣ vậy, cách phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp trong CT, SGK Ngữ văn  
THCS theo hƣớng trên đã khắc phục đƣợc sự phức tạp so với cách phân loại theo CT,  
SGK Tiếng Việt trƣớc đây. Loại câu phức có vế câu làm thành phần, theo quan điểm  
hiện nay, chỉ là một dạng của câu đơn (mở rộng trạng ngữ, bổ ngữ, định ngữ, chủ ngữ,  
vị ngữ cho câu). Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự tiếp thu của HS THCS, đặc biệt  
là đối với HS lớp 6, lớp 7.  
2.2. Sử dụng mô hình, bảng biểu trong dạy học nội dung Phân loại câu theo cấu  
tạo ngữ pháp  
2.2.1. Đặc điểm của tri thức ngữ pháp  
Tri thức ngữ pháp, đặc biệt là những quy tắc ngữ pháp thƣờng trừu tƣợng. Vì thế,  
sự tiếp nhận những tri thức này đối với HS THCS có nhiều khó khăn, khi mà tƣ duy khái  
79  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 17. 2014  
quát của các em chƣa thực sự phát triển. Trong khi đó, dạy học ngữ pháp lại cần phải  
hƣớng đến mục tiêu: “nắm vững đƣợc những tri thức về mô hình cấu tạo ngữ pháp của  
câu, về sự hiện thực hóa nó thành các phát ngôn trong hoạt động giao tiếp” [1, tr.125].  
Xuất phát từ đặc điểm của CT, đặc điểm tâm lý tiếp nhận của đối tƣợng, việc dạy  
học tri thức ngữ pháp nói chung, dạy học phần phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp nói  
riêng ở THCS cần chú trọng tới việc sử dụng các phƣơng pháp, biện pháp sao cho phù  
hợp với nội dung tri thức, đồng thời cũng phát huy đƣợc năng lực tƣ duy, nhận thức của  
HS. Mặt khác, cũng cần phải lƣu ý đặc biệt tới các nguyên tắc dạy học ngữ pháp, cụ thể  
là: hƣớng vào hoạt động giao tiếp; gắn lý thuyết với thực hành; trực quan; phát triển tƣ  
duy và phát triển ngôn ngữ…  
2.2.2. Sử dụng các loại bảng biểu  
Khi dạy học nội dung về phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp, sử dụng các loại  
bảng sẽ phù hợp với phần luyện tập, củng cố tri thức. Sử dụng một số bảng có tác dụng  
khắc sâu tri thức, giúp HS phân biệt đƣợc sự khác nhau giữa câu đơn và câu ghép nhanh  
hơn, tiết kiệm thời gian hơn.  
Ví dụ:  
Bảng 1: Các thành phần ngữ pháp trong câu  
Các loại  
thành phần  
Các thành phần  
NP trong câu  
TT  
Các ví dụ  
Chủ ngữ  
Vị ngữ  
Chúng tôi đang học giờ tiếng Việt  
Chúng tôi đang học giờ tiếng Việt  
Hôm nay, tôi đi học  
Các thành phần  
1
chính  
Trạng ngữ  
Khởi ngữ  
Con đường này, tôi đã đi học rất  
nhiều lần  
Các thành phần  
phụ  
2
3
Bổ ngữ  
Tôi thấy hai bạn đang lắng nghe rất  
chăm chú  
Định ngữ  
Các em học sinh lớp 6 đang tập thể  
dục .  
Thành  
phụ chú  
phần  
Lan - người mặc áo màu đỏ, học rất  
giỏi  
Thành phần gọi  
đáp  
Mai ơi, bọn mình đi học đi!  
Các thành phần  
biệt lập  
Thành  
phần  
Có lẽ, tôi sẽ không đến buổi hẹn  
tình thái  
đƣợc.  
Thành  
phần  
Ôi chao! Trăng mới đẹp làm sao!  
cảm thán  
80  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 17. 2014  
Bảng 2: Các kiểu cấu tạo ngữ pháp của câu  
Các loại  
Các kiểu cấu tạo  
Ví dụ  
TT  
câu  
ngữ pháp của câu  
Câu đơn bình  
thƣờng  
Câu đơn đặc biệt  
Chúng tôi / đi học.  
1
Câu đơn  
1. Tháng giêng.  
2. Mƣa.  
1. Nối bằng một quan hệ từ:  
Tôi nói, còn nó thì lắng nghe  
2. Nối bằng cặp quan hệ từ  
Nếu quê anh có nhiều dừa thì quê tôi có  
nhiều mía.  
Câu ghép sử  
dụng quan hệ từ  
để nối các vế câu  
Câu  
ghép  
3. Nối bằng từ hô ứng  
2
Tôi càng dỗ thì nó lại càng khóc to hơn  
1. Câu ghép dùng dấu phẩy:  
Trời mƣa nhƣ trút nƣớc, sấm chớp ầm ầm.  
2. Câu ghép dùng dấu hai chấm:  
Cô giáo nói: ngày mai chúng ta sẽ đi cắm  
trại.  
Câu ghép không  
dùng từ nối  
2.2.3. Xây dựng và sử dụng mô hình về câu đơn, câu ghép  
- Mô hình, theo Từ điển Tiếng Việt, là “hình thức diễn đạt hết sức gọn theo một  
ngôn ngữ nào đó các đặc trƣng chủ yếu của một đối tƣợng nào đó để nghiên cứu đối  
tƣợng ấy” [4, tr. 638]. Việc sử dụng mô hình chỉ nên áp dụng đối với những tiết học có  
kiến thức phức tạp, với sự phân cấp của nhiều mục, nhiều phần, nhiều cấp độ. Lúc này,  
việc xây dựng mô hình sẽ giúp HS lĩnh hội kiến thức nhanh hơn, có hiệu quả hơn.  
- Có thể hình dung qua một số mô hình tiêu biểu sau:  
a. Mô hình câu đơn bình thường:  
C – V  
Ví dụ:  
Đến bây giờ, tôi / mới nhận ra mẹ tôi.  
TN  
(Nguyên Hồng)  
C
V
Nhìn vào mô hình trên, chúng ta có thể hiểu: đây là loại câu có cấu tạo bằng một  
kết cấu chủ vị (cụm chủ vị).  
b. Mô hình chung của câu ghép:  
- Trong khi đó, mô hình câu ghép tƣơng đối phức tạp hơn. Nhìn chung, có thể hình  
dung mô hình câu ghép là:  
81  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 17. 2014  
C1 – V1  
C2 – V2  
Ví dụ: Tôi học bài, còn anh ấy đi đá bóng.  
- Tuy nhiên, ở cấp THCS, câu ghép đƣợc phân thành hai loại chính: câu ghép  
không có quan hệ từ và câu ghép sử dụng quan hệ từ. Sự phân loại này tạo điều kiện  
thuận lợi cho GV trong quá trình hình thành các mô hình câu ghép có sử dụng quan hệ  
từ để nối các vế câu. Chƣơng trình, SGK THCS khi dạy học về Câu ghép cũng chỉ dành  
một tiết dạy về cách nối các vế câu trong câu ghép. Vì vậy, GV cũng không nên phức  
tạp hoá kiến thức về câu ghép và chỉ hình thành một số mô hình tiêu biểu khi sử dụng  
các quan hệ từ, các phụ từ, các đại từ để nối các vế trong câu ghép.  
Chẳng hạn:  
+ Giữa các vế trong câu ghép dùng các từ ngữ chỉ mục đích (câu ghép có quan hệ  
sự kiện - mục đích):  
Mô hình cấu tạo chung:  
C1 – V1 để  
Để C1 – V1  
C2 – V2  
C2 – V2  
Hoặc:  
Ví dụ:  
(1) Các em phải cố gắng học tập để thầy mẹ được vui lòng và để thầy, cô giáo dạy  
các em được vui sướng.  
[4, tr, 154)  
(2) Sách văn học đưa ta vào thế giới của những tâm hồn người đủ các thời đại để  
ta thông cảm với những cuộc đời, chia sẻ những niềm vui, nỗi đau của dân tộc và nhân  
loại,  
[4, tr.154]  
+ Giữa các vế trong câu ghép dùng các từ chỉ quan hệ so sánh:  
Quan hệ so sánh giống nhau:  
Mô hình chung:  
C1 – V1  
C2 – V2  
như  
82  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 17. 2014  
Ví dụ:  
(1) Anh yêu em như anh yêu đất nước. (Nguyễn Đình Thi)  
(2) Anh nói thế khác nào anh chửi vào mặt tôi.  
Quan hệ so sánh hơn kém, dùng từ nối: hơn, còn hơn.  
Mô hình chung:  
C1 – V1 hơn (còn hơn)  
C2 – V2  
Thà C1 – V1 hơn (còn hơn)  
C2 – V2  
Ví dụ:  
(1) Làm thợ giỏi còn hơn làm thầy dốt.  
(2) Chết vinh còn hơn sống nhục.  
3. KẾT LUẬN  
Nhƣ vậy, bảng biểu, sơ đồ… đƣợc hiểu nhƣ những giáo cụ trực quan sinh động có  
tác dụng hình thành và củng cố tri thức và kỹ năng về ngữ pháp cho HS. Những loại  
bảng, mô hình… này dễ sử dụng. GV có thể xây dựng nội dung này trên mỗi Slide của  
MS PowerPoint; sau đó chiếu lên bảng để HS dễ quan sát.... Cũng có thể dùng bảng phụ  
để thể hiện các mô hình, bảng... trong từng đơn vị kiến thức của bài dạy. Từ mô hình,  
bảng, GV có thể yêu cầu HS đặt câu theo mẫu... Vì thế, có thể xem các loại bảng, sơ đồ,  
mô hình... là những PTDH có ý nghĩa thiết thực trong dạy học tiếng Việt nói chung,  
phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp nói riêng.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Lê A - Nguyễn Quang Ninh - Bùi Minh Toán (2001), Phương pháp dạy học tiếng  
Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội.  
2. Nguyễn Bá Kim (chủ biên) - Bùi Huy Ngọc (2006), Phương pháp dạy học đại  
cương môn Toán, Nhà xb Đại học Sƣ phạm.  
3. Bùi Minh Toán (2010), Tiếng Việt ở Trung học phổ thông, Nhà xb Đại học Sƣ  
phạm.  
4. Hoàng Phê (chủ biên)… (1994), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển học Nxb  
Giáo dục, Hà Nội.  
83  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 17. 2014  
5. Nguyễn Khắc Phi (tổng chủ biên), Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Minh Thuyết, Trần  
Đình Sử… (2002), Ngữ văn 6, SGV, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội  
6. Nguyễn Khắc Phi (tổng chủ biên), Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Minh Thuyết,  
Trần Đình Sử… (2004), Ngữ văn 8, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội.  
USING PATTERNS, TABLES IN TEACHING GRAMMAR FOR  
SECONDARY SCHOOL STUDENTS  
Pham Thi Anh  
ABSTRACT  
In order to form the knowledge about grammar for high school students it is  
necessary to use patterns, tables while teachings suchas, tables of the sentence  
components, the tables of grammatical structure of sentences, simple sentence patterns,  
compound sentence patterns. These tables, patterns can be seen as visual aids which  
are vivid, and easy to design, easy to use but effective in teaching grammar.  
Keywords: grammar, patterns, tables.  
Ngƣời phản biện: GS. TS. Nguyễn Thanh Hùng; Ngày nhận bài: 28/12/2012;  
Ngày thông qua phản biện: 16/01/2013; Ngày duyệt đăng: 26/12/2013  
84  
pdf 7 trang Mãnh Khiết 15/01/2024 9060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sử dụng mô hình, bảng biểu trong dạy học ngữ pháp Tiếng Việt cho học sinh Trung học cơ sở", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_dung_mo_hinh_bang_bieu_trong_day_hoc_ngu_phap_tieng_viet.pdf