Vài nét tổng quan về núi lửa bùn trên thềm lục địa

Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 14, Số 4; 2014: 341-347  
DOI: 10.15625/1859-3097/14/4/5820  
VÀI NÉT TỔNG QUAN VỀ NÚI LỬA BÙN TRÊN THỀM LỤC ĐỊA  
Trần Tuấn Dũng1*, Phí Trường Thành1, Doãn Thế Hưng2  
1Viện Địa chất và Địa vật lý biển-Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam  
2Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam  
*E-mail: trantuan[email protected]  
Ngày nhận bài: 23-5-2014  
TÓM TẮT: Núi lửa bùn xảy ra chủ yếu trong phạm vi các bể trầm tích, trên đất liền và cả dưới  
đáy biển, tại những khu vực xung yếu hoặc nơi giao cắt giữa các hệ thống đứt gãy hoạt động kiến  
tạo bên trong vỏ Trái đất gây ra. Hoạt động của chúng dưới biển có thể gây ra rủi ro tiềm năng đối  
với các hoạt động khoan dầu khí cũng như với đường ống dẫn dầu-khí. Qua thời gian, các hoạt  
động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí trên khu vực Biển Đông diễn ra khá sôi động, đặc biệt  
là ở khu vực các bể trầm tích trên thềm lục địa. Vì vậy, trong bài báo này, các tác giả tập trung vào  
phân tích khái quát một số đặc điểm của núi lửa bùn cũng như là cơ chế hình thành và mối quan hệ  
của chúng với khí hydrate, trượt lở ngầm, làm tiền đề định hướng cho những nghiên cứu sau này.  
Từ khóa: Núi lửa bùn, trượt lở ngầm, khí hydrate.  
MỞ ĐẦU  
của dung nham núi lửa magma phun trào đạt từ  
7000C đến 1.2000C, trong khi đó quanh khu  
vực miệng núi lửa bùn nhiệt độ lại rất thấp, có  
thể đạt đến nhiệt độ đóng băng. Núi lửa bùn là  
kết quả của một cấu trúc xuyên thủng, được tạo  
ra bởi áp lực bùn, khí thâm nhập từ bên dưới  
lớp vỏ Trái Đất. Hiện nay, khoảng 2.000 núi  
lửa bùn đã được phát hiện trên toàn thế giới.  
Việc thăm dò các vùng biển sâu vẫn đang được  
tiếp tục, con số này dự kiến sẽ tăng đáng kể.  
Nghiên cứu núi lửa bùn được quan tâm  
nhiều từ các nhà khoa học trong những thập kỷ  
gần đây bởi sự rủi ro tiềm năng của nó đối với  
các hoạt động khoan dầu khí, thiết lập đường  
ống dẫn trên bề mặt đáy biển, cũng như ở  
những khu vực có tiềm năng khí hydrate cao.  
Núi lửa bùn được hình thành tương tự như núi  
lửa magma. Chúng thường xảy ra tại những  
khu vực xung yếu hoặc nơi giao cắt giữa các hệ  
thống đứt gãy do hoạt động kiến tạo bên trong  
Một số nghiên cứu khác cũng đã ước tính  
vỏ trái gây ra. Tuy nhiên, sự khác biệt giũa núi rằng tổng số núi lửa bùn dưới đáy biển có thể  
lửa bùn và núi lửa magma là: Núi lửa magma từ 7.000 đến 1.000.000. Ngọn núi lửa bùn lớn  
được thành tạo ở dưới sâu, nơi ranh giới giữa nhất trên thế giới có đường kính đến 10 km và  
các mảng thạch quyển, còn núi lửa bùn được cao gần 700 m. Núi lửa bùn Kazakov có đường  
hình thành ở nông hơn, trong phạm vi các bể kính 2,5 km và cao 120 m (Krastel, 2003) [1].  
trầm tích. Núi lửa bùn thường xuất hiện ở độ Theo ước tính của Milkov (2000) [2], số lượng  
sâu từ 8 km đến 22 km. Hoạt động của núi lửa núi lửa bùn dưới đáy biển có thể đạt từ 103 đến  
105 (hình 1). Núi lửa bùn xảy ra chủ yếu trong  
bùn thường liên quan đến sự xuất hiện của khí  
mêtan, khí carbonic và nitơ. Theo một số  
nghiên cứu, khi núi lửa bùn hoạt động, lượng  
khí mêtan được giải phóng chiếm khoảng 70 -  
99% lượng khí thoát ra. Ngoài ra, các kết quả  
nghiên cứu khác cho thấy, nhiệt độ nóng chảy  
phạm vi các bể trầm tích, trên đất liền và cả  
dưới đáy biển, dọc theo các đứt gãy và có  
nguồn tương tự nhau (Holland, 2003) [3].  
Nghiên cứu của J. Chow (2001) [4] chỉ ra sự có  
mặt của đứt gãy xung quanh núi lửa bùn. Núi  
341  
Trần Tuấn Dũng, Phí Trường Thành, …  
lửa bùn cung cấp những thông tin hữu ích về dung bài viết này, các tác giả cung cấp thêm một  
thành phần thạch học và chất lỏng ở dưới sâu.  
số thông tin nữa về núi lửa bùn để người đọc có  
thể nhìn bao quát hơn thay vì chỉ có một loại núi  
Mặc dù nghiên cứu về núi lửa bùn đã được lửa phun trào magma. Có thể nói, bài viết mới chỉ  
đăng tải khá nhiều trên các tạp chí Quốc tế, song mang tính phân tích tổng hợp về một số nghiên  
những thông tin về nó vẫn ít được đề cập trong cứu về các hoạt động của núi lửa bùn, xảy ra trên  
một số văn liệu trong nước. Vì vậy trong nội bề mặt đáy biển.  
Hình 1. Bản đồ vị trí phân bố núi lửa bùn (1) và khí hydrate (2) (Milkov, 2000) [2]  
nghiên cứu bởi Hedberg (1974) [7], Barber và  
nnk (1986) [8] ... Các câu hỏi, tại sao và núi lửa  
bùn hình thành như thế nào sẽ được giải đáp  
theo 4 nhóm lý do sau.  
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khí  
hydrat nằm bên dưới sườn dốc có thể là nhân tố  
đóng góp kích hoạt cho các vụ trượt lở ngầm.  
Khí hydrat giống như là băng, bao gồm nước  
và khí đốt tự nhiên, được ổn định tại các điều  
kiện nhiệt độ và áp suất bình thường dưới đáy  
biển. Khi nhiệt độ tăng hoặc áp lực giảm, khí  
hydrat trở nên không ổn định, làm cho hydrat  
tan chảy và thoát khí dưới dạng bong bóng. Độ  
tan chảy và thoát khí đến một mức độ nào đó  
thì sẽ phá vỡ độ bền vững của sườn dốc, gây  
nên hiện tượng trượt lở ngầm [5, 6].  
Lý do địa chất:  
Trầm tích phủ có bề dày 8 - 22 km, chủ  
yếu là trầm tích lục nguyên;  
Sự có mặt của các lớp sét dẻo ở bề mặt  
dưới;  
Sự đảo ngược mật độ đá;  
Sự xuất hiện của khí tích tụ ở dưới bề mặt  
dưới sâu;  
MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ  
THÀNH TẠO NÚI LỬA BÙN  
Áp suất hình thành cao bất thường.  
Lý do kiến tạo:  
Những nguyên nhân và cơ chế dẫn đến hình  
thành núi lửa bùn dưới đáy biển đã được  
342  
Vài nét tổng quan về núi lửa bùn …  
Sụt lún nhanh của trầm tích phủ do tốc độ  
tích tụ trầm tích cao;  
Núi lửa bùn có những đặc trưng của đá  
trầm tích, được tạo ra tại nơi hỗn hợp trầm tích  
hạt mịn giàu chất lỏng, thường được kết hợp  
với những mảnh vụn đá hoặc bùn rắn chắc,  
được thoát ra trên bề mặt đáy biển (Hovland et  
al., 1988; Barber et al., 1986; Cita et al., 1981;  
Staffiniet al., 1993) [3, 8, 11, 12]. Dấu hiệu núi  
lửa bùn được nhận ra dựa vào những dấu hiệu  
địa vật lý riêng biệt (Brown and Westbrook,  
1988; Fusiand Kenyon, 1996; Henry et al.,  
1990; Vogt et al., 1991, 1999) [9, 13, 14, 15].  
Chúng được đặc trưng bởi những dữ liệu âm  
học (hình ảnh multibeam và side scan sonar),  
sự tán xạ ngược cao từ bề mặt đáy biển gồ ghề  
và từ sự tán xạ ngược của những mảnh vụn bùn  
đá. Sự tán xạ ngược cao chỉ ra sự có mặt của  
dòng bùn với những mảnh vụn bùn nhô lên  
hoặc bên trong gần bề mặt. Mức độ tán xạ suy  
giảm dần theo sự gia tăng độ dày của lắng đọng  
bùn cũ phủ trên. Milkov (2000) [2] đã đưa ra  
hai tiêu chuẩn để nhận dạng chính xác hơn về  
núi lửa bùn:  
Sự xuất hiện của diapir hoặc những nếp  
uốn lồi;  
Sự xuất hiện của đứt gãy;  
Nén ép kiến tạo;  
Hoạt động địa chấn;  
Các quá trình đẳng tĩnh.  
Lý do địa hóa:  
Các thế hệ dầu khí bên ở bề mặt dưới sâu;  
Tình trạng mất nước của các khoáng vật sét.  
Lý do địa chất thủy văn:  
Dòng chất lưu chạy dọc theo các đới đứt  
gãy.  
Cơ chế thành tạo núi lửa bùn được nghiên  
cứu bởi Brown and West brook (1988) [9],  
Hjelstuen và nnk (1999) [10], và nhiều nghiên  
cứu khác đã cho thấy núi lửa bùn hình thành  
theo 2 cơ chế:  
Sự có mặt của trầm tích bùn núi lửa trong  
mẫu lõi bao gồm những mảnh vụn bùn, chứa  
đựng những trầm tích khác nhau về tuổi, cấu  
trúc và thành phần ...  
Cơ chế thứ nhất là sự hình thành của núi  
lửa bùn trực tiếp trên bề mặt đáy biển bởi sự  
xuyên thủng của các diapir sét và dòng chất lưu  
di chuyển dọc theo thân diapir.  
Sự có mặt của những đặc điểm địa hình  
địa phương được phân biệt bởi một địa hình  
đặc biệt và sự tán xạ ngược mạnh (miệng núi  
lửa, dòng bùn ...), xác định từ những hình ảnh  
side scan sonar, từ quan sát trực tiếp, quay  
phim và chụp ảnh dưới nước.  
Cơ chế thứ 2 là sự hình thành núi lửa bùn,  
kết quả của sự gia tăng bùn hóa lỏng dọc theo  
những đứt gãy và khe nứt.  
ĐẶC TRƯNG CỦA NÚI LỬA BÙN VÀ  
NHỮNG DẤU HIỆU NHẬN DẠNG  
Hình 2. Mặt cắt địa chấn phản xạ GeoB 02-003 qua núi lửa bùn Kazakov,  
đường kính 2,5 km, cao 120 m (Krastel, 2003) [1]  
343  
Trần Tuấn Dũng, Phí Trường Thành, …  
Hình 3. Bản đồ độ sâu và hình ảnh Side scan sonar về núi lửa bùn Tuzlukush  
(Zitter T. A. C. et al., 2005) [17]  
Bên cạnh đó, P. Yin (2003) [16] cũng cho địa vật lý và side scan sonar, multibeam và  
rằng những hình ảnh âm học của núi lửa bùn nhóm các phương pháp địa hóa. Trong đó,  
được đặc trưng bởi những mảng xám tán xạ nhóm các phương pháp địa vật lý đưa ra những  
ngược cao trên bề mặt đáy biển, được phân biệt thông tin chi tiết về độ sâu, hình dạng, kích  
từ những trầm tích xung quanh có mức độ tán thước và diện phân bố của chúng ... Tuy nhiên,  
xạ ngược thấp hơn. Núi lửa bùn thường xuất để nhận dạng chính xác núi lửa bùn cần phải có  
hiện theo các cụm hoặc từng nhóm nhỏ sự tham gia của nhóm các phương pháp địa  
(Milkov, 2000) [2].  
hóa, bao gồm việc lấy mẫu và xác định các  
thành phần vật chất trong đó. Nếu chỉ sử dụng  
phương pháp riêng lẻ cho từng nghiên cứu thì  
việc đưa ra kết quả sẽ có những sai sót. Chẳng  
hạn, hình 4 và hình 5 biểu diễn hoạt động của  
núi lửa phun trào magma và hoạt động của núi  
lửa bùn trên băng địa chấn. Trong phạm vi núi  
lửa hoạt động, trường sóng địa chấn thể hiện  
khá đồng nhất và rõ ràng. Vì vậy, việc phân  
biệt giữa núi lửa bùn và núi lửa magma là cũng  
Núi lửa bùn hoạt động khá đa dạng, khác  
biệt về quy mô, diện phân bố và tuổi. Trên các  
băng địa chấn, nó thường làm biến dạng các đá  
xung quanh một cách rõ rệt. Núi lửa bùn có thể  
trồi hoặc không trồi trên bề mặt đáy biển. Các  
dấu hiệu này được nhận thấy rất rõ trên một số  
mặt cắt địa chấn phản xạ ở hình dưới đây  
(hình 2, 3).  
Các phương pháp sử dụng cho thu thập và không dễ, việc đưa ra quyết định đòi hỏi phải  
phân tích dữ liệu núi lửa bùn chủ yếu gồm 2 có sự kết hợp của các phương pháp phân tích  
nhóm chính, đó là: Nhóm các phương pháp đo địa chất và địa vật lý khác.  
Hình 4. Mặt cắt địa chấn nông phân giải cao tuyến 09050403 qua miệng núi lửa  
phun trào magma khu vực thềm lục địa Vũng Tàu - Bình Thuận  
344  
Vài nét tổng quan về núi lửa bùn …  
Hình 5. Tuyến địa chấn TASIO 8 cắt qua khối nhô diapir Guadalquivir [18]  
QUAN HỆ GIỮA NÚI LỬA BÙN, KHÍ những dấu hiệu của núi lửa bùn và núi lửa  
HYDRATE VÀ TRƯỢT LỞ NGẦM  
magma là khá giống nhau, vì vậy để xác định  
chính xác loại núi lửa thì cần phải có sự kết hợp  
giữa các phương pháp địa chất và địa vật lý.  
Nghiên cứu về quan hệ giữa khí hydrate và  
núi lửa bùn đã được quan tâm bởi nhiều nhà  
khoa học, Ginsburg et al., (1999), Eldholm, O.,  
et al., 1999) [19, 20] … Các công trình nghiên  
cứu trên cho rằng khí hydrate có nhiều đặc  
điểm liên quan đến núi lửa bùn. Khí hydrate  
được hình thành và tỏa ra từ phần trung tâm  
của núi lửa bùn. Hàm lượng khí hydrate trong  
trong trầm tích thay đổi từ 1 - 2% đến 35% về  
thể tích và thay đổi thông qua khu vực núi lửa  
bùn cũng như theo độ sâu. Mêtan là thành phần  
Hoạt động của núi lửa bùn dưới đáy biển có  
thể gây ảnh hưởng đến hoạt động khoan, lắp  
đặt đường ống dẫn dầu, khí ... Bên cạnh đó,  
hoạt động của núi lửa bùn còn có thể cung cấp  
những dấu hiệu về sự tồn tại túi khí ở các cấu  
trúc dưới sâu.  
Nhiều nơi trên thềm lục địa Việt Nam có  
gradient địa hình đáy biển biến đổi mạnh. Các  
chính của khí hydrate. Milkov (2000) [2] đã lớp trầm tích ở đây có độ dày rất lớn và bị phân  
ước tính rằng lượng mêtan được tích tụ trong  
khí hydrate liên quan đến núi lửa bùn trên toàn  
thế giới vào khoảng 1010 - 1012 m3.  
cắt mạnh mẽ bởi các hệ thống đứt gãy. Ở đó  
cũng tồn tại nhiều cấu trúc núi lửa, đó là nguồn  
gốc tiềm ẩn của những vụ trượt lở ngầm. Cần  
phải có những nghiên cứu chi tiết về mối liên  
quan giữa xuất hiện núi lửa bùn cũng như là vai  
trò của biến đổi khí hậu toàn cầu đến trượt lở  
và tần suất xuất hiện trượt ngầm.  
Có thể nói, biến đổi khí hậu cũng là một  
vấn đề nghiêm trọng, góp phần thúc đẩy các  
quá trình trượt lở ngầm. Sự gia tăng nhiệt độ ở  
đáy, sự nóng lên của các vùng nước sâu được  
cho là một trong những nguyên nhân gây nên  
sự thoát khí mêtan, quá trình đó góp phần vào  
sự sụp đổ của các sườn lục địa ngầm (Kennett  
et al., 2003) [21].  
Lời cảm ơn: Các tác giả cảm ơn Đề tài  
KC09.11/11-15 đã hỗ trợ các điều kiện cần  
thiết để hoàn thành nghiên cứu này.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
KẾT LUẬN  
1. Krastel, S., Spiess, V., Ivanov, M.,  
Weinrebe, W., Bohrmann, G., Shashkin, P.,  
and Heidersdorf, F., 2003. Acoustic  
investigations of mud volcanoes in the  
Sorokin Trough, Black Sea. Geo-Marine  
Letters, 23(3-4): 230-238.  
Núi lửa bùn được thành tạo ở độ sâu nhỏ,  
thường trong phạm vi các bể trầm tích. Nhiệt  
độ của núi nửa bùn rất thấp, có thể đạt đến  
nhiệt độ đóng băng. Khi núi lửa bùn hoạt động  
chúng thường giải phóng ra một lượng khí mà  
chủ yếu là khí mêtan. Trên băng địa chấn,  
345  
Trần Tuấn Dũng, Phí Trường Thành, …  
2. Milkov, A. V., 2000. Worldwide distribution  
of submarine mud volcanoes and associated  
gas hydrates. Marine Geology, 167(1): 29-42.  
pp. 543-570). Laboratoire de géologie de  
l'Université.  
12. Staffini, F., Spezzaferri, S., and Aghib, F.  
1993. Mud diapirs of the Mediterranean  
3. Hovland, M., and Judd, A., 1988. Seabed  
pockmarks and seepages: impact on  
geology, biology, and the marine  
environment. Springer.  
Ridge:  
sedimentological  
and  
micropaleontological study of the mud  
breccia. Rivista italiana di paleontologia e  
stratigrafia, 99(2): 225-254.  
4. Chow, J., Lee, J. S., Liu, C. S., Lee, B. D.,  
and Watkins, J. S., 2001. A submarine  
canyon as the cause of a mud volcano -  
Liuchieuyu island in Taiwan. Marine  
Geology, 176(1): 55-63.  
13. Fusi, N., and Kenyon, N. H., 1996.  
Distribution of mud diapirism and other  
geological structures from long-range  
sidescan sonar (GLORIA) data, in the  
Eastern  
geology, 132(1): 21-38.  
Mediterranean  
Sea. Marine  
5. Hühnerbach, V., and Masson, D. G., 2004.  
Landslides in the North Atlantic and its  
adjacent seas: an analysis of their  
morphology, setting and behaviour. Marine  
Geology, 213(1): 343-362.  
14. Henry, P., Le Pichon, X., Lallemant, S.,  
Foucher, J. P., Westbrook, G., and Hobart,  
M., 1990. Mud volcano field seaward of the  
Barbados Accretionary Complex:  
A
6. Mason, D., Harbitz, C., Wynn, R.,  
Pederson, G., and Lovholt, F., 2006.  
Submarine landslides: processes, triggers  
and hazard protection. Philosophical  
Transactions of the Royal Society, 364,  
2009-2039.  
deep‐towed side scan sonar survey. Journal  
of Geophysical Research: Solid Earth  
(1978-2012), 95(B6): 8917-8929.  
15. Vogt, P. R., Crane, K., Sundvor, E.,  
Hjelstuen, B. O., Gardner, J., Bowles, F.,  
and Cherkashev, G., 1999. Ground-  
Truthing 11-to 12-kHz side-scan sonar  
imagery in the Norwegian-Greenland Sea:  
Part II: Probable diapirs on the Bear Island  
fan slide valley margins and the Vøring  
Plateau. Geo-Marine Letters, 19(1-2): 111-  
130.  
7. Hedberg, H. D., 1974. Relation of methane  
generation to undercompacted shales, shale  
diapirs, and mud volcanoes. AAPG  
Bulletin, 58(4): 661-673.  
8. Barber, A. J., Tjokrosapoetro, S., and  
Charlton, T. R., 1986. Mud volcanoes,  
shale diapirs, wrench faults, and melanges  
16. Yin, P., Berne, S., Vagner, P., Loubrieu, B.,  
and Liu, Z., 2003. Mud volcanoes at the  
shelf margin of the East China Sea. Marine  
Geology, 194(3): 135-149.  
in  
accretionary  
complexes,  
eastern  
Indonesia. AAPG Bulletin, 70(11): 1729-  
1741.  
9. Brown, K., and Westbrook, G. K., 1988.  
Mud diapirism and subcretion in the  
Barbados Ridge accretionary complex: the  
role of fluids in accretionary processes.  
Tectonics, 7(3): 613-640.  
17. Zitter, T. A. C., Huguen, C., and Woodside,  
J. M., 2005. Geology of mud volcanoes in  
the eastern Mediterranean from combined  
sidescan  
sonar  
and  
submersible  
surveys. Deep Sea Research Part I:  
Oceanographic Research Papers, 52(3):  
457-475.  
10. Hjelstuen, B. O., Eldholm, O., Faleide, J. I.,  
and Vogt, P. R., 1999. Regional setting of  
Håkon Mosby mud volcano, SW Barents  
Sea margin. Geo-Marine Letters, 19(1-2):  
22-28.  
18. Medialdea, T., Somoza, L., Pinheiro, L. M.,  
Fernández-Puga, M. C., Vázquez, J. T.,  
León, R., ... and Vegas, R., 2009. Tectonics  
and mud volcano development in the Gulf  
of Cádiz. Marine Geology, 261(1): 48-63.  
11. Cita, M. B., Ryan, W. B., and Paggi, L.,  
1981. Prometheus mud breccia: an example  
of shale diapirism in the western  
19. Ginsburg, G. D., Milkov, A. V., Soloviev, V.  
Mediterranean  
ridge.  
In Annales  
A., Egorov, A. V., Cherkashev, G. A., Vogt,  
geologiques des Pays helleniques (Vol. 30,  
346  
Vài nét tổng quan về núi lửa bùn …  
P. R., ... and Khutorskoy, M. D., 1999. Gas  
hydrate accumulation at the Haakon Mosby  
mud volcano. Geo-Marine Letters, 19(1-2):  
57-67.  
Håkon Mosby mud volcano. Geo-Marine  
Letters, 19(1-2): 29-37.  
21. Kennett, J. P., Cannariato, K. G., Hendy, I.  
L., and Behl, R. J., 2003. Methane hydrates  
in Quaternary climate change: The clathrate  
gun hypothesis (Vol. 54, pp. 1-216).  
American Geophysical Union.  
20. Eldholm, O., Sundvor, E., Vogt, P. R.,  
Hjelstuen, B. O., Crane, K., Nilsen, A. K.,  
and Gladczenko, T. P., 1999. SW Barents  
Sea continental margin heat flow and  
OVERVIEW OF SUBMARINE MUD VOLCANO  
Tran Tuan Dung1, Phi Truong Thanh1, Doan The Hung2  
1Institute of Marine Geology and Geophysics-VAST  
2Vietnam Academy of Science and Technology  
ABSTRACT: Mud volcanoes occur mostly within the sedimentary basins, both on land and  
seabed, where are weak areas of Earth crust or intersection of the fault systems. The activities of  
submarine mud volcano might cause potential risks for drilling operations and setting oil and gas  
pipeline on the sea floor. The activities of exploration and exploitation of oil and gas in the East Sea  
are pretty strong, especially in the sedimentary basins of the continental shelf. Therefore, in this  
paper, the authors focus on essential analysis of some characteristics of mud volcanoes as well as  
the mechanism of formation and their relationships with gas hydrate, submarine landslide as a  
premise for the next researches.  
Keywords: Mud volcano, submarine landslide, gas hydrate.  
347  
pdf 7 trang Mãnh Khiết 13/01/2024 12260 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vài nét tổng quan về núi lửa bùn trên thềm lục địa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvai_net_tong_quan_ve_nui_lua_bun_tren_them_luc_dia.pdf