Lựa chọn chỉ số dự báo hạn hán cho đồng bằng sông Cửu Long

KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
LỰA CHỌN CHỈ SỐ DỰ BÁO HẠN HÁN  
CHO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LO NG  
Bùi Việt Hưng  
Trường Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh  
Tóm tắt: Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là trung tâm sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng  
thủy sản tại Việt Nam. Tình hình hạn hán kết hợp với xâm nhập mặn tại khu vực diễn biến ngày  
một phức tạp, đã tạo áp lực bất lợi lớn lên nền kinh tế, môi trường và xã hội gây xung đột trong  
sử dụng nước. Việc dự báo và đo đạc mặn tại ĐBSCL được thực hiện thường xuyên, còn đối với  
hạn hán gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt trong công tác dự báo. Thông qua khảo sát các thiệt  
hại do hạn hán và xâm nhập mặn gây ra cho các tỉnh thành ĐBSCL, kết hợp với nghiên cứu xác  
định chỉ số xác định và dự báo hạn hán có tính tới yếu tố xâm nhập mặn, bài báo trình bày các  
kết quả bước đầu của nghiên cứu.  
Từ khoá: hạn hán, xâm nhập mặn, đồng bằng sông cửu long, tác động môi trường, tổn thất  
kinh tế, nhiễm mặn, chỉ số hạn mặn.  
Summary: Mekong Delta is considered the center of the agricultural production, aquaculture in  
Vietnam. Drought situation combines with salinity intrusion is processing complexly in recent  
years, which caused big disadvantages to pressure on local ecomic, environment and social  
sectors and caused the conflicts on water uses. So that, the consideration and forecasting salinity  
intrusion in Mekong Delta is implementing, but it is difficult for the drought and its impacts, it’s  
specially in the forecasting. Through the surveying of damages caused by drought and salinity  
intrusion in Mekong Delta’s provinces, as well as the research to identify the drought index  
combined with salinity intrusion factor, the article presents the method and part of initial results  
regarding to the our research.  
Keywords: drought, salinity intrusion, Mekong Delta, environmental impact, economic  
damages, salinity, drought index.  
nghiệp, thuỷ sản của Việt Nam với các sản  
phẩm chính là gạo, cá da trơn và tôm. Đây  
cũng là những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của  
vùng và của Việt Nam. Tuy nhiên, các sản  
phẩm này cũng như điều kiện sống trong khu  
vực phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên.  
Điều kiện khí hậu khu vực ĐBSCL tương đối  
thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, thuỷ sản  
cũng như cuộc sống của người dân nơi đây  
như mưa thuận gió hoà, ít bão và lũ tuy lớn  
nhưng không dữ dội và mang theo nhiều điều  
kiện thuận lợi cho phát triển như phù sa,  
nguồn lợi thuỷ sản....  
1. TỔNG QUAN *  
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một  
bộ phận của châu thổ sông Mê Kông có diện  
tích 39 747 km², nằm liền kề với vùng Đông  
Nam Bộ, vùng kinh tế lớn nhất của Việt Nam  
hiện nay, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây  
Nam là vịnh Thái Lan và phía Đông Nam là  
Biển Đông. ĐBSCL có vị trí như một bán đảo  
với 3 mặt Đông, Nam và Tây Nam giáp biển  
với đường bở biển dài trên 700 km.  
ĐBSCL được xem là trung tâm sản xuất nông  
Ngày nhận bài: 14/10/2016  
Ngày thông qua phản biện: 26/12/2016  
Ngày duyệt đăng: 28/2/2017  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
1
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Hình 1. Bản đồ địa hình, thổ nhưỡng và phân bố lượng mưa năm tại ĐBSCL  
Tuy nhiên, tại ĐBSCL có không ít các loại nông nghiệp, thuỷ sản và nhiều ngành kinh tế  
thiên tai như lũ lụt, hạn hán, giông tố,… và khác tại khu vực ĐBSCL. Chính đây là  
điều kiện tự nhiên bất lợi như nhiễm mặn do nguyên nhân lớn nhất gây tổn thương cho sản  
xâm nhập mặn từ biển cũng như nhiễm phèn xuất và sinh hoạt của người dân khu vực hạ  
từ các tầng đất sâu. Đặc biệt trong những năm nguồn sông Mê Kông.  
gần đây, trong điều kiện thay đổi của khí hậu  
Hạn hán là một hiện tượng của khí hậu,  
toàn cầu và khu vực, chế độ thời tiết thay đổi  
thường tái phát. Hạn hán xảy ra ở hầu hết các  
không còn theo quy luật như mưa trái mùa,  
vùng khí hậu, trong đó có nơi có lượng mưa  
nắng hạn nhày một gay gắt,… nước biển dâng  
rất nhiều và nơi có lượng mưa ít. Hạn hán là  
đẩy mặn xâm nhập sâu hơn vào nội đồng và  
một kết quả của việc thiếu nước cấp hay mưa  
các con sông lớn. Hạn hán kết hợp xâm nhập  
hoặc không có mưa trong thời gian dài, độ ẩm  
mặn đã và đang trở thành mối hiểm hoạ tiềm  
trong không khí và hàm lượng nước trong đất  
ẩn trong khu vực khi lượng nước thượng  
giảm, làm suy giảm lưu lượng dòng chảy sông,  
nguồn sông Mê Kông về ngày một suy giảm,  
mức nước hồ thấp hơn mực nước trong tầng  
lũ ngày một nhỏ và có thời gian không có lũ  
chứa nước ngầm gây ảnh hưởng xấu đến sinh  
về. Tất cả đã và đan g gây áp lực ngày một tăng  
trưởng của cây, như suy thoái môi trường gây  
lên việc cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất  
ra đói nghèo...  
Hình 2. Đường đồng mức nồng mặn 4‰ năm 2008 – 2009 và ngập lũ 2000 tại ĐBSCL  
2
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Hạn hán ảnh hưởng rất lớn tới mọi đối tượng (hạn Bà Chằn) với thời gian kéo dài tới 1  
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngay cả tháng gây ảnh hưởng tới cấp nước cho vụ  
sau thời kỳ hạn hán, những đối tượng sống Xuân Hè và nước sinh hoạt do thời gian này  
phụ thuộc nguồn nước thường phục hồi trở nước mặn xâm nhập sâu trong nội đồng.  
lại khá lâu do khả năng cấp/tự phục hồi của Trong thời gian gần đây, cùng với những  
nguồn nước thường diễn ra chậm. Thời gian ảnh hưởng của BĐKH, tình hình hạn hán tại  
để phục hồi trở lại tình trạng ban đầu dài hay ĐBSCL diễn biến phức tạp và cùng với xâm  
ngắn tuỳ thuộc vào mức độ, thời gian hạn nhập mặn sâu trong nội đồng, thiệt hại trong  
hán và lượng nước mưa nhận được. Như vậy, nông nghiệp ngày một tăng cùng với các  
những tác động của hạn hán tới hầu hết các vấn đề xã hội, môi trường nảy sinh như  
lĩnh vực trong khu vực, thông thường những thiếu nước sinh hoạt, bệnh tật liên quan đến  
tác động này có thể phân làm ba nhóm nước và ô nhiễm môi trường nước kênh  
chính: tác động đối với nền kinh tế, tác động rạch. [5]  
đối với môi trường và tác động đối với xã  
Hạn hán xảy ra tại ĐBSCL trong quá khứ  
hội. Để xác định được hạn hán cũng như  
được ghi nhận khác nhiều với mức độ tác  
mức độ nghiêm trọng, chỉ số hạn hán thường  
động cũng như thiệt hại rất lớn cho sản xuất  
được sử dụng.  
cũng như đời sống của người dân khu vực.  
Tại ĐBSCL, hạn hán cùng với nhiều dạng Trong vòng 40 năm qua, có không ít những  
thiên t ai khác như lũ lụt, giôn g bão … xảy ra năm hạn nặng và hạn nghiêm trọng. Trung  
thường xuyên và thường xuất hiện theo mùa Bộ và Nam Bộ có hạn trong các năm 1983,  
trong năm. Như mùa khô (kiệt) thường xảy 1987, 1988, 1990, 1992, 1993, 2003, 2004  
ra hạn hán với mức độ khác nhau. Đôi khi đặc biệt hạn rất nghiêm trọng vào năm 1993  
ngay trong mùa mưa hạn hán cũng xuất hiện và năm 1998.  
Hình 3. Bản đồ hạn các năm 1997, 1998 và 1999 tại Việt Nam  
Nguồn: Tổng cục thống kê, 1998, 1999  
Hiện tượng xâm nhập mặn tại ĐBSCL diễn ra tượng khu vực như mưa, gió. Xâm nhập mặn  
hàng năm và phụ thuộc rất lớn vào điều kiện ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh  
dòng chảy trên sông Mê Kông, điều kiện khí tế-xã hội vùng ven biển ĐBSCL.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
3
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
trên số liệu mực nước sông kênh và mưa.  
Như vậy, việc xác định chỉ số hạn hán có  
tính đến yếu tố tác động gia tăng – xâm nhập  
mặn cho việc đánh giá cũng như dự báo cho  
ĐBSCL rất quan trọng.  
2. PHƯƠNG PHÁP LUẬN  
Để thực hiện việc đánh giá mức độ tác động về  
mặt xã hội, kinh tế và môi trường do hạn hán  
kết hợp xâm nhập mặn, cần thực hiện một số  
phương pháp sau:  
Phương pháp thu thập và khảo sát: Thu thập  
các thông tin, tài liệu về các thiệt hại kinh tế,  
môi trường cũng như các vấn đề về xã hội liên  
quan đến các đợt thiên tai hạn hán, xâm nhập  
mặn xảy ra. Đồng thời các chính sách của các  
cấp chính quyền thuộc khu vực nghiên cứu đã,  
đang và dự kiến áp dụng cho việc giảm thiểu  
tác động hay thiệt hại do thiên tai hạn hán,  
xâm nhập mặn gây ra.  
Hình 4. Bản đồ xâm nhặp mặn tại ĐBSCL  
Nguồn: Viện KHTLMN, 2016  
Từ tháng 1 đến tháng 6 hàng năm lưu lượng  
nước sông Mê Kông chảy vào ĐBSCL qua  
sông Tiền và sông Hậu nhỏ, trong đó lưu  
lượng tháng 4 là nhỏ nhất so với các tháng  
trong năm. Đầu tháng 3 và tháng 4 hàng  
năm là thời gian nhu cầu dùng nước lên cao  
cho canh tác nông nghiệp, trong khi mực  
nước sông lại rất thấp gây thiếu nước ở  
đồng bằng. Vấn đề trở nên nghiêm trọng khi  
dòng chảy ra biển không đủ mạnh để đẩy  
nước mặn từ biển chảy vào. Đặc biệt vào kỳ  
triều cường kết hợp gió Chướng (gió Đông  
Bắc) nước mặn tiến sâu vào hệ thống kênh  
rạch nội đồng gây thiệt hại cho sản xuất  
nông nghiệp.  
Phương pháp phân tích thứ bậc AHP: Phương  
pháp AHP (Analytic Hierarchy Process) là  
phương pháp so sánh từng cặp các tiêu chí  
ngang cấp, sau đó lập ma trận để tính toán  
trọng số. Phương pháp AHP có thể xác định  
mức độ quan trọng của từng tiêu chí, quy trình  
phân tích theo thứ bậc, xem xét nhiều tiêu chí  
nhỏ và phân tích cả yếu tố định tính lẫn định  
lượng. Vì lý do này mà đề tài chọn phương  
pháp AHP để xác định trọng số cho các  
nguyên nhân của các tác động do hạn hán.  
Trên cơ sở phân tích này, nguyên nhân giảm  
lượng mưa và xâm nhập mặn sâu là một trong  
số các nguyên nhân cơ bản gây ra hạn hán và  
gia tăng thiệt hại [1].  
Mùa khô hàng năm, hai dạng thiên tai (hạn  
hán và xâm nhập mặn) cùng lúc diễn ra sẽ  
tác động rất lớn tới sản xuất và đời sống  
người dân tại ĐBSCL. Việc đo và dự báo  
xâm nhập mặn hàng năm trong hệ thống  
sông kênh tại ĐBSCL được thực hiện thông  
qua khá nhiều các trạm khí tượng thuỷ văn.  
Tuy nhiên, hạn hán chúng ta chỉ dựa trên các  
tác động của nó tới sản xuất và sinh hoạt  
(thiếu nước tưới cho nông nghiệp và số hộ  
thiếu nước sinh hoạt) để xác định và đánh  
giá, công tác dự báo rất hạn chế, chủ yếu dựa  
Phương pháp phân tích SWOT: phương pháp  
này được sử dụng nhằm lựa chọn chỉ số hạn  
hán phù hợp nhất khi áp dụng cho ĐBSCL  
trong số các chỉ số hạn hán đang được sử dụng  
trong nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước.  
Một số chỉ số hạn hán thường được sử dụng  
trong các nghiên cứu trong và ngoài nước hiện  
nay [2, 5]:  
4
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Bảng 1. Các chỉ số và hệ số xác định và dự báo hạn hán  
TT  
Tên chỉ số  
Định nghĩa  
Công thức tính  
Chỉ số cấp nước Chỉ số SWSI tính  
1
mặt – SWSI  
mức độ thiếu nước  
Chỉ số  
nghiệt  
Palmer  
(PDSI)  
khắc Chỉ số Palmer sử  
hạn dụng thông tin về  
nhiệt độ và lượng  
2
3
mưa hàng tháng.  
Chỉ số chuẩn hoá SPI là một chỉ số  
lượng mưa dựa vào khả năng  
(Standardized  
Precipitation  
Index – SPI)  
có thể của mưa cho  
bất cứ thang thời  
gian nào.  
Chỉ số khô cằn Chỉ số khô cằn,  
của Palmer (PAI) đưa ra sử dụng bởi  
Palfai và cs (1995)  
4
5
Chỉ số Ped  
Chỉ số Ped được  
tính theo công thức  
(Ped, 1975)  
Chỉ số khô cằn Chỉ số này là chỉ  
(Aridity Index - số khô cằn, nhưng  
6
7
J)  
cũng có thể được  
sử dụng để tìm ra  
đoạn hạn hán.  
Chỉ số hiệu suất Hiệu suất mưa  
mưa  
(Precipitation  
Effectiveness  
index - PE)  
phân loại các vùng  
khí hậu  
Chỉ số dị thường Chúng được coi là  
lượng mưa (RAI) lượng mưa trung  
bình cực trị cho dị  
8
9
thường âm và  
dương  
Chỉ số cán cân Hạn xảy ra khi  
nước (K)  
lượng bốc hơi bắt  
đầu vượt quá lượng  
mưa rơi xuống  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
5
KHOA HỌC  
Tên chỉ số  
CÔNG NGHỆ  
Định nghĩa  
TT  
Công thức tính  
Chỉ số hạn thực Chỉ số EDI là một  
tế (EDI)  
hàm số của lượng  
mưa cần có để trả  
lại điều kiện chuẩn  
10  
Chỉ  
(Khạn)  
số  
hạn Theo Đặng Khắc  
Riêng, hai yếu tố  
chi phối hạn thuỷ  
văn là mức độ khô  
và mức độ cạn  
11  
Chỉ tiêu nước của Đây là chỉ tiêu để  
12 cây trồng nông đánh giá cây trồng  
nghiệp có bị hạn.  
Hệ số dòng chảy Hệ số dòng chảy  
năm  
năm là tỷ số giữa  
lượng dòng chảy  
năm với lượng  
mưa năm  
α = Y/X  
13  
Tỷ số % lượng Để xem xét mức  
dòng chảy thiếu độ thiếu hụt hay dư  
14 hụt so với trung thừa dòng chảy  
bình thời kỳ trong các thời kỳ  
nhiều năm  
..  
……….  
Hiện nay đã có rất nhiều chỉ số hạn đã được sử đây, hạn hán diễn ra trên diện rộng và diễn  
dụngphổ biến trên thế giới và ở Việt Nam như chỉ biến phức tạp, gây nhiều thiệt hại cho sản xuất,  
số SPI, Ped, K, EDI, SWSI… đặc biệt chỉ số SPI, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp.  
PDSI đã được sử dụng trong nghiệp vụ dự báo và  
Trong năm 2013, theo các báo cáo thiệt hại  
cảnh báo hạn ởnướcta vàthu được những kết quả  
của Bộ NN&PTNT, các tỉnh thành ĐBSCL có  
tốt. Tuy nhiên, các chỉsố vàhệsố hạn hán trên đều  
khoảng 37 ngàn ha lúa và 291 ngàn ha thuỷ  
có một nhược điểm lớn làkhông cóyếu tố nào liên  
sản bị ảnh hưởng bởi tình trạng hạn mặn. Diện  
quantới chất lượng môitrường (đối với ĐBSCL là  
tích lúa vùng ven biển bị ảnh hưởng do thiếu  
xâm nhập mặn) làm gia tăng bất lợi. Do vậy, cần  
nước ngọt, nhiều nhất tại Sóc Trăng, Tiền  
xem xét bổ sungyếu tố này vào cùng với việc đơn  
Giang, Bến Tre với 10.200 ha, trong đó có  
giá hoá các chỉ số hạn hán nhằm tạo điều kiện  
hàng trăm ha bị mất trắng. Riêng tại Bến Tre  
thuận lợi cho việc sử dụng các tài nguyên số liệu  
có 4.200 ha hoa màu, cây ăn quả bị giảm năng  
thu thập hiện có [3, 4, 6].  
suất. Huyện Bình Đại (Bến Tre) cho biết, trong  
vụ lúa đông xuân, toàn huyện đã xuống 1.158  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
Hiện trạng tác động của hạn hán kết hợp xâm ha, đến thời điểm này đã có 500 ha bị khô hạn,  
nhập mặn tại ĐBSCL: Trong những năm gần  
thiếu nước, nhiễm mặn...  
6
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Trong năm 2014, tình hình hạn có giảm trên sông Cổ Chiên, mặn xâm nhập tới xã Mỹ  
phạm vi toàn đồng bằng, nhưng một số nơi Phước, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Trên  
hạn cục bộ gia tăng như tỉnh Bạc Liêu với tổng sông Cung Hầu, mặn xâm nhập tới xã Quới  
thiệt hại lên tới 1,2 tỷ đồng, 50 ha lúa bị nhiễm An, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Trên  
mặn nặng.  
sông Định An, mặn xâm nhập tới thị trấn Trà  
Ôn, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Trên sông  
Trần Đề, mặn xâm nhập tới xã Phú Hữu,  
huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Trên sông  
Ông Đốc, mặn xâm nhập tới thị trấn An Minh,  
huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Trên sông  
Cái Lớn, mặn xâm nhập tới thành phố Vị  
Thanh, tỉnh Hậu Giang.  
Trong năm 2016, theo báo cáo của văn phòng  
Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên  
tai, trong 6 tháng đầu năm, tổng thiệt hại trong  
sản xuất nông nghiệp tại ĐBSCL ước tính  
khoảng 215 tỷ đồng cho 9/13 tỉnh thành khu  
vực. Cũng theo báo cáo của Bộ NN&PTNT,  
sản xuất nông nghiệp tại ĐBSCL thiệt hại  
năng nề với lúa thiệt hại 232,95 ha; hoa màu Như vậy, hoạt động sản xuất cũng như đời  
và rau màu thiệt hại 6.561 ha; cây ăn quả và sống của người dân khu vực ĐBSCL chịu tác  
cây công nghiệp bị thiệt hại toàn vùng là động lớn của hạn hán. Mức độ hồi phục của  
10.831 ha. Ảnh hưởng từ tình hình hạn hán và các ngành sản xuất cùng sinh hoạt của người  
xâm nhập mặn, có khoảng 226.605 hộ dân dân sau thời kỳ hạn hán, tuỳ thuộc khu vực,  
trong vùng bị thiếu nước sinh hoạt.  
nhưng thường kéo dài và khó khăn.  
Chỉ số hạn mặn áp dụng cho ĐBSCL phục vụ  
xác định và dự báo mức độ:  
Trên thế giới, có rất nhiều tác giả nghiên cứu  
về hạn hán. Nhưng do tính phức tạp của hiện  
tượng này, đến nay vẫn chưa có một phương  
pháp chung cho các nghiên cứu về hạn hán.  
Trong việc xác định, nhận dạng, giám sát và  
cảnh báo hạn hán, các tác giả thường sử dụng  
công cụ chính là các chỉ số hạn hán.  
Hình 5. Thiệt hại kinh tế do hạn hán và xâm  
nhặp mặn tại ĐBSCL  
Tuy nhiên, chung nhất ý nghĩa của chỉ số hạn  
hán trong việc theo dõi sự biến động của giá trị  
Nguồn: Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương về các chỉ số hạn hán sẽ giúp ta xác định được sự  
phòng chống thiên tai, 2016  
khởi đầu, thời gian kéo dài cũng như cường độ  
hạn. Chỉ số hạn hán là hàm của các biến đơn  
Theo Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, như lượng mưa, nhiệt độ, bốc thoát hơi, dòng  
trong tháng 4 năm 2016, nước mặn xâm nhập chảy... hoặc là tổng hợp của các biến. Mỗi chỉ  
sâu 70 km trên 7 nhánh sông Cửu Long và số đều có ưu điểm nhược điểm khác nhau, và  
sông Ông Đốc, Cái Lớn thuộc vùng Đồng mỗi nước đều sử dụng các chỉ số phù hợp với  
bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Trên sông điều kiện nước mình. Việc xác định hạn hán  
Cửa Tiểu, nước mặn xâm nhập tới xã Ngũ bằng các chỉ số hạn không chỉ áp dụng với bộ  
Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. số liệu quan trắc mà còn áp dụng với bộ số liệu  
Trên sông Cửa Đại, mặn xâm nhập tới xã Phú là sản phẩm của mô hình khí hậu khu vực và  
Đức, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Trên mô hình khí hậu toàn cầu.  
sông Hàm Luông, mặn xâm nhập tới xã Long  
Thới, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh. Trên  
(bảng 1), chúng ta sẽ sử dụng chỉ số hạn hán  
Qua phân tích các chỉ số và hệ số hạn hán  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
7
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
có tính tới yếu tố gia tăng tác động môi theo các công thức dưới đây:  
trường (xâm nhập mặn), được gọi chung và  
chỉ số hạn mặn cho việc xác định cũng như  
dự báo hạn hán tại ĐBSCL. Chỉ số hạn mặn  
sẽ sử dụng các số liệu được đo đạc hiện có tại  
ĐBSCL gồm:  
X, Zm: tương ứng là lượng mưa và lượng bốc  
thoát hơi tiềm năng trong thời đoạn tính toán  
(tuần, tháng);  
- Số liệu thuỷ văn (dòng chảy, mực nước);  
- Số liệu khí tượng khu vực (mưa, bốc hơi);  
- Số liệu về xâm nhập mặn (chiều sâu xâm  
nhập của nước mặn với các nồng độ 1 - 4‰);  
Qj: Lưu lượng trung bình của năm thứ j;  
Qi: Lưu lượng tại thời điểm thứ i trong năm;  
Q0: lưu lượng trung bình năm trung bình thời  
kỳ nhiều năm.  
Sau khi tính toán thử dần cùng biến đổi công  
thức tính chỉ số/hệ số hạn (bảng 1), chúng tôi  
lựa chọn chỉ số hạn (Khạn) của Đặng Khắc  
Riêng làm cơ sở cho việc lập chỉ số hạn mặn  
(Khạn – mặn). Công thức tính toán chỉ số hạn mặn  
như sau:  
li: Chiều xâm nhập lớn nhất (ứng 1.0g/l) của  
sông trục chính thời điểm i trong năm thứ j;  
l0: Chiều xâm nhập lớn nhất (ứng 1.0g/l) của  
sông trục chính không gây tác động tới sản  
xuất và sinh hoạt khu vực.  
lTB: Chiều xâm nhập lớn nhất (ứng 1.0g/l) của  
sông trục chính trung bình nhiều năm;  
Trong đó:  
Bảng xác định mức độ hạn mặn trong 6  
tháng mùa khô tại ĐBSCL theo chỉ số hạn  
mặn như sau:  
Khạn –mặn: Chỉ số hạn – mặn;  
Kkhô, Kcạn và Kmặn: tương ứng là chỉ số khô,  
chỉ số cạn và chỉ số xâm nhập mặn, được tính  
Bảng 2: Đối với thời đoạn năm, chỉ số Khạn – mặn được phân cấp như sau:  
Khạn –mặn  
< 0,60  
0,6 - 0,9  
0,9 - 1,0  
>1,0  
Tình trạng hạn – mặn Dấu hiệu hạn hán  
Hạn – mặn nhẹ  
Hạn – mặn vừa  
Hạn – mặn nặng  
Cách thức xác định hay dự báo hạn mặn theo chỉ ĐBSCL (tỉnh Sóc Trăng) với trụcsông chính lựa  
số hạn mặn (Khạn – mặn) cho một số khu vực chọn làsông Hậu với cửasông Định An như sau:  
Bảng 3: Giá trị chỉ số hạn hán và hạn – mặn năm 2011 trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng  
Tháng  
Kkhô  
Kcan  
1
2
3
4
5
6
0.924  
0.752  
1.039  
0.985  
0.903  
1.000  
0.911  
0.950  
1.213  
0.556  
0.938  
1.252  
0.000  
0.864  
1.039  
0.000  
0.593  
1.000  
Kmặn  
Khạn –m ặn  
Khạn hán  
Mức gia tăng  
0.85  
0.83  
0.02  
0.94  
0.94  
0.00  
1.03  
0.93  
0.10  
0.81  
0.72  
0.09  
0.00  
0.00  
0.00  
0.00  
0.00  
0.00  
Mức độ gia tăng thể hiện mức độ ảnh hưởng Giá trị mức độ gia tăng thể hiện:  
cộng thêm do mặn xâm nhập sâu vào nội đồng.  
8
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
- Khi giá trị Dương có ý nghĩa bên cạnh tác trạm khí tượng thuỷ văn trong khu vực.  
động/thiệt hại do hạn hán (thiếu nước sản xuất  
Tuy chỉ số này không chỉ ra được danh giới  
hay sinh hoạt) còn có tác động/thiệt hại do  
hạn khí tượng, hạn thuỷ văn, hạn nông  
nước mặn làm khan hiếm thêm nguồn nước  
nghiệp…., nhưng do tính đa dạng trong sử  
tưới/sinh hoạt (biểu hiện này dễ nhận thấy)…;  
dụng nước khu vực ĐBSCL (cả nông nghiệp,  
- Khi giá trị âm hoặc bằng không, điều này thể  
thuỷ sản, sử dụng nước sinh hoạt…) cộng với  
hiện tác động của hạn hán là vượt trội và trong  
việc nước mặn xâm nhập thường xuyên theo  
điều kiện này các biểu hiện tác động do mặn  
quy luật triều thì việc mức độ tác động không  
xâm nhập khó phân định hơn;  
chỉ do từng dạng hạn mà còn cộng thêm tác  
Khi mức độ gia tăng hạn khi tính tới xâm nhập động của mặn. Vì vậy, với mức độ nhận biết  
mặn năm 2011 tại tỉnh Sóc Trăng có thể được hạn – mặn, công thức tính toán tích hợp yếu tố  
biểu diễn như trong biểu đồ dưới đây:  
xâm nhập mặn trên, có thể sử dụng phù hợp  
cho Đồng bằng sông Cửu Long.  
4. KẾT LUẬN  
Quản lý tổng hợp tài nguyên nước cho ĐBSCL  
rất phức tạp do các biến động lớn về điều kiện  
tự nhiên (bao gồm cả lũ lụt, hạn hán, đất chua  
phèn và xâm nhập mặn), tác động của phát  
triển thượng lưu, nhiều loại cơ sở hạ tầng  
chống lũ lụt và các tác động của biến đổi khí  
hậu. Phức tạp này thêm trầm trọng hơn do nhu  
cầu lớn về phát triển kinh tế Việt Nam và  
Campuchia. Hiện tương thiên tai hạn hán và  
xâm nhập mặn sâu vào nội đồng diễn ra ngày  
một thường xuyên và mức độ trầm trọng gia  
tăng gây áp lực rất lớn đến sản xuất, sinh hoạt  
và công tác quản lý tài nguyên nước. Việc xác  
định, đánh giá tác động gây tổn thất cũng như  
dự báo hạn hán có tích hợp yếu tố xâm nh ập  
mặn vào nội đông là rất cần thiết và là nền  
tảng cho việc quy hoạch, khai thác và sử dụng  
tài nguyên trong khu vực một cách hiệu quả,  
phù hợp với điều kiện thực tế cũng như trong  
tương lai nhằm phòng chóng hay giảm thiểu  
tác động và thiệt hại.  
Hình 6. Tính chỉ số hạn và chỉ số hạn tích hợp  
xâm nhập mặn cho tỉnh Sóc Trăng tại ĐBSCL  
Năm 2011 không phải là năm hạn hán nghiêm  
trọng tại ĐBSCL, tuy nhiên trong năm tỉnh Sóc  
Trăng ghi nhận các thiệt hại do hán hán và xâm  
nhập mặn gây ra cho sản xuất nông nghiệp và  
cấp nước sinh hoạt cho người dân. Tình hình  
này diễn ra trong khoảng thời gian mùa khô tại  
các huyện ven biển. Căn cứ vào tính toán chỉ số  
mặn và hạn – mặn, đề cho thấy dấu hiệu hạn  
hán nhẹ và vừa. Nhưng với việc tích hợp yếu tố  
xâm nhập mặn, thì mức độ hạn hán có gia tăng  
hơn như tháng 1 (với chỉ số K hạn thì hạn hán ở  
mức độ nhẹ, khi tích hợp yếu tố xâm nhập mặn,  
hạn hán – xâm nhập mặn ở mức vừa).  
Trong nghiên cứu này, việc đưa ra một chỉ số  
hạn – mặn cho ĐBSCL là bước đầu tiên. Với  
khả năng áp dụng các số liệu đo đạc sẵn có của  
hệ thống trạm khí tượng – thuỷ văn và chất  
lượng nguồn nước của ĐBSCL, hệ số chỉ số  
hạn – mặn dễ dàng tính toán và cung cấp đủ  
thông tin cho các cấp quản lý của các tỉnh  
thành tại ĐBSCL.  
Như vậy, bước đầu, chỉ số hạn mặn tính cho  
ĐBSCL nhằm xác định mức độ hạn hán và dự  
báo hạn cho tương lai đã thể hiện được mức độ  
gia tăng tác động. Đồng thời, các thông số tính  
toán chỉ số tương đối giản đơn và có sẵn trong  
bộ thông số khí tượng thuỷ văn của mạng các  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
9
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Dwyer, A., Zoppou, C., Nielsen, O., Day, S. & Roberts, S., (2004), Quantifying Social  
Vulnerability: A methodology for identifying those at risk to natural hazards, Geoscience  
Australia Record 2004/14.  
[2] Đặng Đình Khá, (2011), Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương do lũ lụt hạ lưu sông Thạch  
Hãn, tỉnh Quảng Trị, Luận văn Thạc sĩ khoa học, Đại học Khoa học Tự nhiên – ĐH Quốc  
gia Hà Nội.  
[3] Lê Sâm, Nguyễn Văn Sáng (2010), “Dự báo nền mặn tại các cửa sông lớn mùa khô năm  
2011”, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam.  
[4] Lê Sâm, Nguyễn Văn Sáng (2009), “Xâm nhập mặn tại ĐBSCL mùa khô năm 2009”. Viện  
Khoa học Thủy lợi miền Nam.  
[5] Nguyễn Quang Kim, (2009). “Research development - economic and social assessment  
and forecast demand for water in the basin of the Mekong River Delta and Mekong Delta”  
The record of the sciential research subject at the country level KC: 08-11/06-10  
“Research solutions using rational exploitation of water resources scenarios compatible  
development projects upstream to drought and salinity in the Mekong delta”. Trường Đại  
học Thủy Lợi.  
[6] Lê Sâm (2008), “Studies assessing the drought situation and water shortage during the dry  
season, plans for warning and drought map of Ninh Thuan province” Đề tài Tỉnh. Viện  
Khoa học Thủy lợi miền Nam.  
10  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
pdf 10 trang Mãnh Khiết 13/01/2024 12420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Lựa chọn chỉ số dự báo hạn hán cho đồng bằng sông Cửu Long", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdflua_chon_chi_so_du_bao_han_han_cho_dong_bang_song_cuu_long.pdf