Tổng quan thu hồi và tái sử dụng các hợp chất dinh dưỡng (Amoni, Photphat) có trong nước thải bằng công nghệ kết tủa Struvite

Hóa học & Kỹ thuật môi trường  
TỔNG QUAN THU HỒI VÀ TÁI SỬ DỤNG CÁC HỢP CHẤT  
DINH DƯỠNG (AMONI, PHOTPHAT) CÓ TRONG NƯỚC THẢI  
BẰNG CÔNG NGHỆ KẾT TỦA STRUVITE  
Ngô Văn Thanh Huy*, Lê anh Kiên, Trần Minh Chí  
Tóm tắt: Nitơ và photpho là một trong những nguyên tố cơ bản của sự sống và  
liên quan đến phần lớn hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người. Amoni và  
photpho là một trong những sản phẩm cuối cùng của quá trình phân hủy sinh học  
các hợp chất hữu cơ. Hợp chất hoá học chứa nitơ, photpho được gọi là thành phần  
dinh dưỡng trong phạm trù nước thải nhưng việc phát thải các hợp chất của nitơ và  
photpho vào các nguồn nước đem đến nhiều hậu quả xấu đến môi trường và sức  
khỏe con người.Nguồn phát thải hợp chất nitơ, photpho vào môi trường chủ yếu là:  
từ các chất thải rắn, khí thải, nước thải nhưng nhiều nhất là từ nguồn phân và chất  
bài tiết trong nước thải sinh hoạt. Thu hồi, tái sử dụng các chất dinh dưỡng có  
trong nước thải vừa đáp ứng được mục tiêu bảo vệ nguồn nước vừa tiết kiệm được  
nguồn tài nguyên. Việc nghiên cứu công nghệ xử lý kết hợp thu hồi các thành phần  
dinh dưỡng có trong nước thải làm phân bón là xu hướng nghiên cứu mới.  
Từ khóa: Nước thải giàu dinh dưỡng, Thu hồi amoni và photphat, Phân bón, Struvite.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Thu hồi, tái sử dụng các chất dinh dưỡng có trong nước thải, đáp ứng được mục  
tiêu bảo vệ nguồn nước và tiết kiệm được nguồn tài nguyên. Nitơ, photpho và kali  
là các dưỡng chất giá trị có trong nước thải. Đáng tiếc, các dưỡng chất thiết yếu  
này bị bỏ phí trong các nhà máy xử lý nước thải truyền thống.  
Để loại bỏ nitơ và photpho trong nước thải, nhiều quá trình sinh học, hóa học đã  
được ứng dụng rộng rãi trên phạm vi toàn thế giới, và áp dụng thành công như Clo  
hóa với nồng độ cao; trao đổi ion; nitrat hóa, khử nitrat; công nghệ Anammox,  
Sharon-Anammox; công nghệ kết tủa struvite. Mỗi phương pháp đều có những ưu  
điểm và nhược điểm riêng của nó, nhưng hầu hết các phương pháp xử lý N, P hiện  
nay đều phải tiêu hao nhiều năng lượng và hóa chất nhằm loại bỏ N, P ra khỏi môi  
trường mà chưa quan tâm đến việc thu hồi các loại dưỡng chất này có trong nước  
thải. Hơn nữa, với nước thải nồng độ dinh dưỡng cao không phù hợp cho việc áp  
dụng các biện pháp sinh học bởi vì chúng sẽ gây ức chế cho các hoạt động của vi  
sinh vật, và việc xử lý đó sản sinh ra một lượng lớn bùn dư.  
+
3-  
Struvite là một muối hình thành từ Mg2+, NH4 và PO4 , nó kết tinh ở dạng  
MgNH4PO4.6H2O. Hiện nay, việc kết tinh struvite được xem như một kỹ thuật để  
loại bỏ Photphat và Amoni trong nước thải. Struvite (MAP) có độ hòa tan thấp,  
pKs= 10,26 (Ander Ezquerro, 2010). Quá trình kết tinh struvite ảnh hưởng bởi pH,  
3-  
nhiệt độ, tính bền vững của ion trong dung dịch và tỷ lệ mol Mg2+:NH4+:PO4 .Nó  
được giới thiệu vào năm 2015 để tạo ra loại phân bón nhả chậm mới (Ramesh  
Kumar và cộng sự, 2015) và được tạo bởi các thành phần:  
+
Mg2+ + NH4 + HPO42- + OH- + 5H2O → MgNH4PO4.6H2O  
Ngày nay, có rất nhiều nghiên cứu cũng như thực nghiệm để chứng minh hiệu  
quả của quá trình này. Mặc dù vậy, phương pháp thu hồi Photphat và Amoni dưới  
dạng struvite vẫn chưa được ứng dụng nhiều do chi phí hóa chất nguyên liệu đầu  
94  
N. V. T. Huy, L. A. Kiên, T. M. Chí, “Tổng quan thu hồi … công nghệ kết tủa struvite.”  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
vào cao (sử dụng NaOH để kiểm soát pH và một vài muối Magie để bổ sung nguồn  
Mg2+). Tuy nhiên, với khả năng hòa tan sinh học, struvite có thể được bón trực tiếp  
như phân bón nhả chậm giúp giảm chi phí và làm cho quá trình này trở nên khả thi.  
Bên cạnh đó, các thành phần kim loại nặng trong sản phẩm struvite thấp hơn trong  
đất, vì vậy chúng không gây nguy hại cho đất trồng(Pastor, 2006).  
Do đó, thu hồi amoni, photphat có trong nước thải để làm phân bón dưới dạng  
chất kết tủa struvite (MAP – Magnesium Ammonium Phosphate) một dạng phân  
bón nhả chậm được sử dụng trong nông nhiệp trồng trọt tỏ ra hấp dẫn về nhiều  
phương diện.  
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Vật Liệu  
Các nguồn ô nhiễm do nitơ và photpho có nguồn gốc từ nước thải như: Nước rỉ  
ở bãi rác các thành phố, nước thải cống rãnh, nước thải từ quá trình sản xuất chất  
bán dẫn, nước thải từ chăn nuôi gia súc. Một số nguồn nước thải công nghiệp như:  
nhà máy than, nhà máy chế biến sữa, công nghiệp giấy và bột giấy, các ngành công  
nghiệp thuộc da, sản xuất phân bón hay trong một số ngành nghề đặc biệt như chế  
biến mủ cao su, chế biến tơ tằm, thuộc da cũng thải ra một lượng nước thải đáng kể  
chứa hợp chất nitơ và phốt pho[8, 9].  
2.1.1. Nước rỉ rác  
Nước rỉ từ bãi chôn lấp (còn gọi là nước rỉ rác) là nước bẩn thấm qua lớp rác  
của các ô chôn lấp, được coi là một loại nước thải có tác động đến môi trường lớn  
+
3-  
nhất có sự hiện diện của NH4 -N, PO4 , muối và các chất hữu cơ (Kurniawan và  
cộng sự 2006, Wang và cộng sự 2013). Nước rỉ rác nếu xả thải chưa qua xử lý  
sẽgây ra nhiều vấn đề ô nhiễm nghiêm trọng. Khi nước rỉ rác trở nên nhiều hơn,  
hàm lượng chất hữu cơ giảm và các hợp chất bất thường hoặc các hợp chất vô cơ  
+
như NH4 , PO43- trở nên chiếm ưu thế làm khó khăn trong việc xử lý sinh học. Xử  
+
lý sinh học thường sẽkhôngđạt hiệu quả caodo độc tính của NH4 đến vi sinh vật  
trong hệ thống xử lý nước thải (Bittsánszky và cộng sự 2015). Do đó nước rỉ rác là  
+
3-  
một nguồn để thu hồiNH4 , PO4 bằng cách thêm ion Mg2+ở giá trị pH thích hợp  
để tạo thành sản phẩm kết tủa struvite.  
2.1.2. Nước tiểu  
Nước tiểu có nồng độ chất dinh dưỡng cao như nitơ, photpho, kali. Urê là hình  
thái chính của nitơ trong nước tiểu tươi (Hotta và Funamizu 2008) [5, 7]. Tái chế  
chất dinh dưỡng từ nước thải được sử dụng tách nguồn nước tiểu để tối đa hóa việc  
thu hồi các chất dinh dưỡng và giảm hiện tượng phú dưỡng hóa cho nguồn tiếp  
nhận. Theo các nghiên cứu của các tác giả (Fittschen và Hahn 1998, Larsen và  
Gujer 1996; Larsen và cộng sự 2001; Otterpohl 2002; Rauch và cộng sự 2003;  
Ronteltap và cộng sự 2007) [7] nước tiểu của người chứa khoảng 70-87% tổng N,  
40-50% P, và 54-90% K. Do đó, việc tách nguồn nước tiểu là một phương pháp tốt  
cho cả việc loại bỏ chất ô nhiễm và tạo ra nhiều chất dinh dưỡng (Liu và cộng sự  
2013; Lê Corre và cộng sự 2009).  
2.1.3. Nước thải chăn nuôi heo  
95  
Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san NĐMT, 09 - 2017  
Hóa học & Kỹ thuật môi trường  
Nước thải chăn nuôi heo có chứa nồng độ nitơ, photphocao. Ngoài nitơ  
vàphotpho, nước thải nuôi heo còn chứa ion Mg2+ và Ca2+với nồng độ cao (Suzuki  
và cộng sự, 2010). Nước thải được xem là nguồn ô nhiễm chính trong các trang trại  
chăn nuôi và là nguyên nhân chính làm tăng hiện tượng phú dưỡng hóa ở nguồn  
+
tiếp nhận. Phân gia cầm là chất thải có chứa cả NH4 và PO43- ở nồng độ cao,vìvậy  
có thể loại bỏ và thu hồi bằng kết tủa struvite (Yilmazel và Demirer 2011) [14].  
2.1.4. Nước thải công nghiệp.  
Nước thải công nghiệp từ các nhà máy nhiệt điện, nhà máy sản xuất thép, thuộc  
+
da có chứa N nồng độ cao dưới dạng NH4 . Trong suốt quá trình biến đổi than đá  
+
thành than cốc hàng ngàn mét khối nước thải được tạo ra với nồng độNH4 cao  
(Kumar và cộng sự 2011). Việc xử lý sinh học bằng quá trình bùn hoạt tính, nitrat  
hóa, khử nitrat hay các phương pháp xử lý tương tự thường không hiệu quả đối với  
+
việc loại bỏ nước thải có nồng độ NH4 cao do thiếu nguồn cacbon cho quá trình  
khử nitơ (Zhang và cộng sự 2009; Kumar và Pal 2015; Kumar và cộng sự 2015)  
+
[15]. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng việc thu hồi NH4 bằng struvite trong  
xử lý nước thải công nghiệp hiện nay được đề xuất bởi các nhà nghiên cứu (Kumar  
và Pal 2012; Tunay và cộng sự 1997). Một số nguồn nước thải từ công nghiệp  
dược phẩm như axit 7-amoni-cephalosporanic dư thừa nồng độ NH4+ gây ảnh  
hưởng đến hệ sinh thái địa phương (Jingliang Yang và cộng sự 2012).  
2.2. Các phương pháp thu hồi chất dinh dưỡng có trong nước thải bằng công  
nghệ struvite  
Hiện nay trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu thu hồi struvite quy  
mô pilot và thực tế. Hầu hết các mô hình này sử dụng công nghệ bể phản ứng  
tầng sôi (FBR) hay phản ứng trộn khí (Air agitated reactor) hoặc sử dụng motor  
khuấy [10, 11].  
2.2.1.Mô hình bể phản ứng tầng sôi (FBR)  
Trong mô hình này, nước thải được phân phối từ dưới đáy bể lên, tùy thuộc vào  
hình dạng bể phản ứng, vận tốc nước dâng có thể duy trì từ 0.004 - 0.3 m/h. Dòng  
khí được cấp hướng từ dưới lên để tránh kéo theo kết tủa khoáng từ vùng lắng.  
Hình 1. Mô hình thu hồi Struvite bằng bể phản ứng FBR  
Ngoài ra, việc sục khí có thể giúp kiểm soát giá trị pH cần thiết cho quá trình  
kết tủastruvite, tuy nhiên cần sử dụng hóa chất (xút hoặc axit) để kiểm soát quá  
96  
N. V. T. Huy, L. A. Kiên, T. M. Chí, “Tổng quan thu hồi … công nghệ kết tủa struvite.”  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
trình tốt hơn. Trong bể phản ứng tầng sôi (FBR) vận tốc thay đổi theo hướng giảm  
dần từ vùng phản ứng đến vùng trên của bể phản ứng cho phép nước sau xử lý  
được thu trên cùng của bể phản ứng.  
Thời gian lưu cặn (SRT – Solid Retention Time) thường được tính theo ngày (từ  
3-14 ngày) để đạt được kích cỡ khoáng từ 0.41-1.43 mM hoặc 17 ngày để đạt kích  
thước lớn hơn 3.5mm.  
2.2.2.Mô hình khuấy trộn cơ khí  
Trong quá trình này, khoáng Struvite được hình thành bằng cách thêm MgCl2 để  
đạt tỷ lệ Mg:P tối thiểu là 1:1. pH được điều chỉnh ở mức 9 bằng cách châm thêm  
NaOH, quá trình khuấy trộn cho phản ứng sử dụng cánh khuấy. Bể phản ứng có  
cấu tạo như bể FBR với phần trên mở rộng cho quá trình lắng tách tinh thể và thu  
nước sau xử lý.  
Hình 2. Thu hồi khoáng Struvite bằng thiết bị khuấy trộn cơ khí.  
2.2.3.Mô hình nghiên cứu của Kazuyoshi Suzuki  
Hình 3. Mô hình thu hồi khoáng Struvite của Kazuyoshi Suzuki.  
Mô hình thí nghiệm được thực hiện để nghiên cứu thu hồi struvite trong nước  
thải chăn nuôi. Mô hình gồm 2 phần: phần phản ứng (dung tích 0,6 m3) và phần  
lắng (3,12 m3). Nước thải được đưa vào bể phản ứng và sục khí liên tục, thời gian  
97  
Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san NĐMT, 09 - 2017  
Hóa học & Kỹ thuật môi trường  
lưu nước trong bể phản ứng từ 2,7 – 3,6h. Bùn lắng được xả tự động khỏi đáy phần  
lắng 4-8 lần/ngày. Nước thải đầu vào và đầu ra được được lấy và phân tích các chỉ  
tiêu PO4-P , NH4-N, Mg.  
2.2.4.Mô hình nghiên cứu của YingHao Liu  
Mô hình được thực hiện để nghiên cứu thu hồi khoáng struvite trong nước thải  
chăn nuôi. Mô hình gồm các thiết bị chính: bể phản ứng, bơm nước thải vào, bơm  
định lượng Mg, máy thổi khí và lưu lượng khí.  
Bể phản ứng được chia làm 2 vùng: vùng phản ứng (A) và vùng lắng (B). Tổng  
dung tích bể là 2,72L. Đáy bể được vác góc 300 để thu hồi khoáng, khí được cấp  
liên tục và kiểm soát lưu lượng thông qua bộ van và đo lưu lượng khí tại đáy bể  
vùng phản ứng. Thời gian lưu nước của mô hình được lựa chọn là 4h.  
Hình 4. Mô hình thu hồi khoáng Struvite của YingHao Liu.  
2.2.5.Công nghệ AirPrex  
Hình 5. Thu hồi Struvite bằng công nghệ AirPrex.  
98  
N. V. T. Huy, L. A. Kiên, T. M. Chí, “Tổng quan thu hồi … công nghệ kết tủa struvite.”  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Công nghệ AirPrexđược ứng dụng để thu hồi MAP trong các hệ thống xử lý  
nước thải với dòng vào là bùn đã qua giai đoạn phân hủy. Trong công nghệ này,  
bùn đã phân hủy được đưa qua thiết bị gọi là “phản ứng khí nâng” với dòng khí  
được cấp vào cho mục đích tuần hoàn nội bộ.  
Amoni và photphat tồn tại như một thành phần có sẵn trong bùn nén, MgCl2  
được thêm vào thiết bị phản ứng. Không khí được cấp vào với 2 mục đích: thứ  
nhất, tăng pH bằng cách đuổi khí CO2 ra bùn phân hủy, vì khi pH tăng độ tan của  
khoáng struvite giảm, tạo điều kiện cho quá trình hình thành kết tủa. Thứ hai, việc  
cấp khí sẽ làm hình thành dòng hồi lưu nội bộ, tạo điều kiện cho các tinh thể  
struvite kết dính lại với nhau thành các hạt có kích thước lớn hơn, dễ lắng hơn. Tại  
bể số 2 sử dụng làm bể lắng nhằm mục đích để lắng các tinh thể struvite và việc  
thu hồi được thực hiện tại bể này.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu tổng hợp MAP từ các nguồn nước thải  
giàu chất dinh dưỡng N, P khác nhau: như nước thải chăn nuôi heo, nước thải tại  
các lò giết mổ ... và bổ sung magie clorua hoặc magie sulfate hoặc magie từ nước  
ót (một sản phẩm phụ của quá trình sản xuất muối ăn) với các điều kiện pH, và tỷ  
lệ mol khác nhau. Nghiên cứu loại bỏ amoni và photphat trong nước thải đồng thời  
tổng hợp khoáng Struvite-MAP thông qua tạo kết tủa với magiesulfate của nhóm  
nghiên cứu thuộc khoa hóa học công nghiệp và kỹ thuật môi trường, Đại học  
Timisoara, Romania. Nghiên cứu được tiến hành trong phòng thí nghiệm trên bốn  
loại nước thải với nồng độ amoni ban đầu (0,08 - 1,6g/L) và photphat (0,4-8g/L),  
có tỷ lệ mol Mg2+:NH4+:PO43- = (1:1:1 và 2:1:1) với các giá trị pH khác nhau từ 6-  
11. Kết quả thu được là sản phẩm rắn MAP được tận dụng làm phân bón [3, 12].  
Kết tủaMAP ứng dụng trong việc thu hồi amoni và có kết quả hiệu suất xử lí  
cao có thể tận thu được 90% - 95% amoni trong nước thải [4, 6]. Các nhà hóa học,  
nhà sinh học, và kỹ sư xây dựng (Abbona và cộng sự 1982; Loosdrecht 2006;  
Ohlingeretal 1998; Ronteltap và cộng sự 2007; Talor và cộng sự 1963; Wilsenach  
và cộng sự) đã thu hồi amoni từ thí nghiệm struvite [1].  
Theo nghiên cứu của Ipek Celen và Mustafa Turker nghiên cứu về điều kiện thu  
hồi amoni bằng phương pháp struvite cho thấy tỉ lệ mol thu hồi cao khi Mg:N:P là  
1,2:1:1,2 ở pH 8,5–9, hiệu suất loại amoni là 90%. Nhiệt độ không ảnh hưởng đáng  
kể [2]. Vào năm 2011 K J Suthar, N P Chokshi cũng đã nghiên cứu khả năng thu  
hồi của MAP với tỉ lệ Mg:N:P tối ưu là 0,06:1:0,07 [13]. Với kết tủa Struvite đã  
được chứng minh là hàm lượng kim loại nặng tương đối thấp, phù hợp với việc tái  
sử dụng làm phân bón hữu cơ [8]. Năm 2012, Zaixing Li, Xnguang Ren cùng các  
cộng sự của mình đánh giá khả năng thu hồi amoni bằng kết tủa struvite trong  
nước thải axit 7-Aminocephalosporanic cho thấy pH tối ưu là 9 và tỉ lệ mol là  
1:1:1,1 (Mg:N:P). 85% H3PO4 + MgCl2.6H2O là hợp chất thu hồi amoni hiệu quả  
nhất trong các hợp chất được nghiên cứu. Hơn nữa nồng độ photphat dư thấp nhất  
đạt được giống với hợp chất.  
99  
Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san NĐMT, 09 - 2017  
Hóa học & Kỹ thuật môi trường  
Bảng 1. Các loại hình nước thải và ứng dụng việc thu hồi chất dinh dưỡng bằng  
công nghệ struvite.  
Loại  
bỏ  
Hiệu quả xử  
lý  
TT Loại nước thải  
Tỉ lệ mol  
pH  
Tài liệu  
1
2
3
4
Nước tiểu  
P,  
K
2:1:2(Mg:K:P)  
77% P,  
98%K  
-
Xu và cộng sự  
(2011)  
Nước thải nuôi P,  
heo  
1.79 (Mg:P)  
1:1:1,2(P:Mg:N)  
1:1:1(Mg:N:P)  
85% P,  
90%K  
-
Song và cộng sự  
(2011)  
K
Nước thải nuôi N,  
heo  
96% P,  
87%N  
10 Zhang và cộng  
sự  
P
UASB  
(nước  
N
85,4%N  
9
Yetilmezsoy và  
thải gia cầm)  
Sapci  
Zengin  
(2009)  
5
6
7
8
Nước thải nuôi N,  
heo  
0,8:1 (Mg:P)  
Thoáng khí  
1:1 (Mg:P)  
65% (P),  
67% (N)  
-
-
-
-
Liu và cộng sự  
(2011)  
P
Nước thải nuôi N,  
-
Suzuki và cộng  
sự (2005)  
heo  
P
Nước thải nuôi  
heo  
P
93% P  
Rahman và cộng  
sự (2011)  
Nước thải nuôi N,  
Hòa tan 2 M  
struvite  
79% (P) và  
53% (N)  
Liu và cộng sự  
(2011)  
heo  
P
9
Nước thải nuôi  
heo  
P
-
-
-
-
Suzuki và cộng  
sự (2007)  
10 Nước thải nuôi  
heo  
P
-
82% P  
96% N  
Ichihas  
và  
Hirooka (2012)  
11 Nước thải công  
nghiệp  
N
1:1:1(Mg:N:P)  
9,6 EI Diwani và  
cộng sự (2007)  
12 Nước thải công N, 1,5:1:1(Mg:N:P)  
95% (N)  
and 89%  
(N)  
9
Uysal và cộng sự  
(2010)  
nghiệp  
P
P
P
P
P
N
13 Nước thải công  
nghiệp  
-
80% P  
79% P  
75%  
9,5 Pastor và cộng  
sự (2008)  
14 Nước thải công  
nghiệp  
-
9
Le Corre và cộng  
sự (2007)  
15 Nước thải công  
nghiệp muối  
-
8,4 Crutehik  
Garido (2011)  
và  
16 ADPP nổi trên  
mặt  
-
86% P  
95% N  
8,6 Pastor và cộng  
sự (2010)  
17 Nước thải phân  
1:1:1(Mg:N:P)  
8,5 Uludag-Demirer  
100  
N. V. T. Huy, L. A. Kiên, T. M. Chí, “Tổng quan thu hồi … công nghệ kết tủa struvite.”  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
bò sữa  
và  
cộng  
sự  
(2005)  
18 Nước thải gia  
súc  
N
P
1:1:1(Mg:N:P)  
82% N  
80% P  
9
Tunay và cộng  
sự (1997)  
19 Công trình xử lý  
nước thải bằng  
biện pháp sinh  
học  
Không thêm hóa  
chất  
8,78 Battistoni  
cộng sự (2011)  
và  
20 Nước thải từ  
N
N
1:1:1(Mg:N:P)  
1:1:1(Mg:N:P)  
65% N  
77% N  
9,2 Altinbas và cộng  
sự (2002)  
thuốc  
phiện  
ancaloit được sử  
lý sinh học  
21 Nước thải sinh  
hoạt và nước rỉ  
rác  
9,2 Altinbas và cộng  
sự (2002)  
22 Xử lý sâu bọ P,  
MgO 24 g/L  
-
100% P và  
98%N  
9
-
Chimenos  
cộng sự (2003)  
và  
Trung Quốc  
N
23 Nước rỉ rác đô  
thị  
N
-
Dilaconi và cộng  
sự (2011)  
24 Nước thải từ  
than cốc  
N
P
1:1:1(Mg:N:P)  
1:1:1(Mg:N:P)  
98% N  
97% P  
9
Kumar và cộng  
sự (2012)  
25 Nước thải tư đồ  
uống  
9,5 Folettto và cộng  
sự (2013)  
26 Ảnh hưởng của N, 1,5:1:1(Mg:N:P) 97.4% (N)  
9
Yilmazel  
Demirer  
and  
việc phân hủy  
phân gia cầm  
P
and 99.6%  
(P)  
(2010)  
Nguồn: Ramesh Kumar và Parimal Pal (2015)[15]  
Ngoài ra có rất nhiều các công trình nghiên cứu ở nước ngoài thực hiện thí  
nghiệm thu hồi amoni, photphat bằng công nghệ kết tủa struvite ở các điều kiện tối  
ưu khác nhau được mô tảcụ thể ở bảng 1.  
4. KẾT LUẬN  
MAP đã đước chứng minh là một loại phân bón nhả chậm có tác dụng sau khi  
vào đất sẽ không tan ngay mà sau 4-6 tuần mới có thể tan ra. Do dinh dưỡng trong  
phân được phóng thích ra môi trường đất một cách từ từ và liên tục nên cây trồng  
sử dụng được lâu dài, hiệu quả sử dụng phân cao hơn, không có giai đoạn nào cây  
bị thiếu hụt dinh dưỡng nên cây trồng khoẻ mạnh và màu xanh được giữ bền lâu  
hơn so với cây bón phân tan nhanh.  
Nghiên cứu thu hồi amonia và photphat có trong nước thải dưới dạng kết tủa  
MAP (MgNH4PO4.6H2O) đang ngày càng nhận được sự chú ý của toàn cầu, nhằm  
mục đích thu hồi dưỡng chất có trong nước thải. MAP được thu hồi và xem như là  
một loại phân bón có giá trị.  
101  
Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san NĐMT, 09 - 2017  
Hóa học & Kỹ thuật môi trường  
Ứng dụng công nghệ kết tủa MAP để thu hồi dưỡng chất có trong nước thải làm  
phân bón cho lĩnh vực nông nghiệp cần được đầu tư nghiên cứu, với 1 kg MAP thu  
được có thể đủ để bón cho 2,6 ha đất canh tác bằng cách áp dụng photphat ở mức  
40 kg / ha (Ueno và Fujii 2001). Hơn nữa, ứng dụng MAP là một loại phân bón  
thân thiện môi trường và kích thích tăng trưởng.  
Lời cảm ơn: Nhóm tác giả cảm ơn Viện Khoa học Công nghệ quân sự đã cung cấp  
kinh phí cho nghiên cứu này.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Abbona F, Boistelle R, Lundager H (1982) “Crystallization of two  
magnesium phosphates, struvite and newberyite: effect of pH and  
concentration”. J Cryst Growth 57:6–14  
[2]. Altinbas M, Ozturk I, Aydin AF (2002a) “Ammonia recovery from high  
strength agro-industry effluents”. Water Sci Technol 45:189–196 Altinbas  
M, Yangin C, Ozturk I (2002b) Struvite precipitation from anaerobically  
treated municipal and landfill wastewaters. Water SciTechnol 46:271–278.  
[3]. Andrade A, Schuiling R (2001) “The chemistry of struvite crystallization”.  
Mineral J 23(5/6):37–46.  
[4]. Battistoni P, De Angelis A, Pavan P, Prisciandaro M, Cecchi F (2001)  
“Phosphorus removal from a real anaerobic supernatant by struvite  
crystallization”. Water Res 35:2167–2178.  
[5]. Bhuiyan MIH (2007) “Investigation into struvite solubility, growth and  
dissolution kinetics in the context of phosphorus recovery from wastewater”.  
Ph.D. thesis, The University of British Columbia, Vancouver, Canada.  
[6]. Bhuiyan MIH, Mavinic DS, Beckie RD (2007) “A solubility and  
thermodynamic study of struvite”. Environ Technol 28:1015–1026.  
[7]. Bhuiyan MIH, Mavinic DS, Koch FA (2008) “Thermal decomposition of  
struvite and its phase transition”. Chemosphere 70:1347–1356.  
[8]. Bittsánszky A, Pilinszky K, Gyulai G, Komives T (2015) “Overcoming  
ammonium toxicity”. Plant Sci 231:184–190.  
[9]. Bouropoulos N, Koutsoukos PG (2000) “Spontaneous precipitation of  
struvite from aqueous solutions”. J Cryst Growth 213:381–388.  
[10]. Bowers KE, Westerman PW (2005a) “Design of cone-shaped fluidized bed  
struvite crystallizers for phosphorus removal from wastewater”.Trans ASAE  
48(3):1217–1226.  
[11]. Bowers KE, Westerman PW (2005b) “Performance of cone-shaped fluidized  
bed struvite crystallizers in removing phosphorus from wastewater”. Trans  
ASAE 48(3):1227–1234.  
[12]. Burns RT, Moody LB, Walker FR, Raman DR (2001) “Laboratory and in  
situ reductions of soluble phosphorus in swine waste slurries”. Environ  
Technol 22:1273–1278.  
[13]. Chimenos JM, Fernandez AI, Villalba G et al (2003) “Removal of ammonium  
and phosphates from wastewater resulting from the process of cochineal  
extraction using MgO containing by-product”. Water Res 37:1601–1607.  
102  
N. V. T. Huy, L. A. Kiên, T. M. Chí, “Tổng quan thu hồi … công nghệ kết tủa struvite.”  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
[14]. Crutchik D, Garrido JM (2011) “Struvite crystallization versus amorphous  
magnesium and calcium phosphate precipitation during the treatment of a  
saline industrial Wastewater”. Water Sci Technol 64(12): 2011  
[15]. Ramesh Kumar and Parimal Pal. “Assessing the feasibility of N and P recovery  
by struvite precipitation from nutrient-rich wastewater: a review”.  
Environmental Science and Pollution Research, 2015. 22(22): p. 17453-17464.  
ABSTRACT  
REVIEW ON RECOVERY AND REUSE OF NUTRIENTS  
BY STRUVITE PRECIPITATION FROM WASTEWATER  
Nitrogen and phosphorus are one of the essential elements of life and  
concerning to human’s activity and production. Ammonium and phosphorus  
are one of the end-products of the biodegradation process of organic  
compounds. Nitrogen and phosphorus are called nutrients in the wastewater  
category. Discharging of nitrogen and phosphorus compounds to water  
sources that causenegative effects on environment and human health.  
Nitrogen and phosphorus were discharged to environment from various  
sources, including: solid wastes, waste gases, wastewater, and excreta  
sources in domestic wastewater. Recovery and reuse of nutrients in  
wastewateris the promissing method for protecting water sources and  
simultaneous saving resources. Treatment technologies combined with  
recovery of nutrients in wastewater for fertilizer production is a new  
research trend.  
Keywords: MAP, Struvite, Amoni, Phophate, Fertilizer.  
Nhận bài ngày 07 tháng 08 năm 2017  
Hoàn thiện ngày 24 tháng 08 năm 2017  
Chấp nhận đăng ngày 15 tháng 9 năm 2017  
Địa chỉ:  
Viện Nhiệt đới môi trường/ Viện KH-CN quân sự.  
* Email: [email protected].  
103  
Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san NĐMT, 09 - 2017  
pdf 10 trang Mãnh Khiết 13/01/2024 16740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tổng quan thu hồi và tái sử dụng các hợp chất dinh dưỡng (Amoni, Photphat) có trong nước thải bằng công nghệ kết tủa Struvite", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftong_quan_thu_hoi_va_tai_su_dung_cac_hop_chat_dinh_duong_amo.pdf