Nghiên cứu động học quá trình phân hủy nhiệt của thuốc phóng một gốc 4/7 của đạn 12,7 mm

Hóa học & Kỹ thuật môi trường  
NGHIÊN CỨU ĐỘNG HỌC QUÁ TRÌNH PHÂN HỦY NHIỆT CỦA  
THUỐC PHÓNG MỘT GỐC 4/7 CỦA ĐẠN 12,7 MM  
Đoàn Song Quảng1*, Đỗ Ngọc Khuê1, Trần Văn Chung2  
Tóm tắt: Bài báo này giới thiệu kết quả ứng dụng phương pháp sắc ký lỏng cao  
áp (HPLC) để nghiên cứu động học phân hủy nhiệt của mẫu thuốc phóng một gốc  
4/7. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự biến đổi hàm lượng DPA và dẫn suất của nó,  
xác định được một số hằng số tốc độ phản ứng ở nhiệt độ khác nhau. Khẳng định  
được sự biến đổi hàm lượng chất an định DPA tuân thủ theo quy luật bậc nhất,  
năng lượng hoạt hóa 143,574kJ/mol  
Từ khóa: Pirocxilin; DPA; HPLC.  
1. MỞ ĐẦU  
Thuốc phóng là hệ chất nổ đa cấu tử, kém bền vững về mặt nhiệt động học, trong quá  
trình bảo quản và sử dụng dễ dàng bị phân hủy. Để đánh giá chất lượng thuốc phóng người  
ta không chỉ căn cứ vào độ an định hóa học, nhiệt lượng cháy của thuốc phóng, mà cả  
nghiên cứu sự biến đổi hàm lượng chất an định hóa học trong thuốc phóng. Chất an định là  
một trong những thành phần quan trọng trong chế tạo thuốc phóng, vì nó là chất làm chậm  
tốc độ phân huỷ, làm tăng thời hạn bảo quản và sử dụng thuốc phóng. Chúng hấp thụ hoặc  
liên kết hoá học với các oxit nitơ hoặc các axit tách ra trong quá trình bảo quản thuốc  
phóng. Đối với thuốc phóng một gốc trong đó có loại 4/7 dùng cho đạn 12,7 mm thường  
dùng diphenylamin (DPA) là chất an định hóa học [1-5].  
Quá trình phản ứng và khuếch tán của chất an định trong thuốc phóng rất phức tạp. Một  
số nghiên cứu gần đây [8,10] đã đưa ra cơ chế giả định sự biến đổi của DPA và dẫn suất  
của nó trong thuốc phóng theo như hình 1.  
Hình 1. Sơ đồ biến đổi DPA và dẫn suất của nó trong thuốc phóng Pirocxilin [8,10].  
100  
Đ. S. Quảng, Đ. N. Khuê, T. V. Chung, “Nghiên cứu động học … của đạn 12,7 mm.”  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Thuốc phóng Pirocxilin là loại thuốc phóng được sử dụng chủ yếu cho các loại đạn  
pháo lắp chặt, hiện đang được bảo quản nhiều trong các nhà kho quân khí. Các công trình  
nghiên cứu trong nước trước đây chỉ nghiên cứu phần đầu của cơ chế biến đổi DPA và dẫn  
suất của nó trong thuốc phóng. Thuốc phóng pirocxilin 4/7 được sử dụng cho đạn cao xạ  
12,7 mm thường được sử dụng cho công tác huấn luyện, diễn tập hàng năm trong các đợn  
vị Quân đội. Vấn đề nghiên cứu sự biến đổi hàm lượng chất an định của các loại thuốc  
phóng đang được bảo quản trong các kho quân khí chưa được chú trọng nhiều. Hiện nay,  
chúng ta mới chỉ kiểm soát được độ bền của thuốc phóng trong đó có thuốc phóng một gốc  
4/7. Do đó, việc nghiên cứu sự biến đổi hàm lượng chất an định của loại đạn này nhất là  
những loại đạn đã có thời gian bảo quản trên 20 năm là việc làm cần thiết nhằm đánh giá  
được thời hạn sử dụng, nâng cao độ an toàn cho công tác bảo quản loại đạn này.  
2. PHẦN THỰC NGHIỆM  
2.1. Thiết bị và hóa chất dùng cho nghiên cứu  
2.1.1. Thiết bị  
- Tủ sấy Memmert có phạm vi làm việc từ 0 °C đến 180 °C; độ phân giải hiển thị 0,1 °C.  
- Thiết bị sắc ký lỏng cao áp Agilent 1100.  
- Cột tách Hyspersil BDS C18, 3 m, 250x4,6 mm.  
- Bộ bơm mẫu tự động.  
- Cân phân tích có khả năng cân đến 200 gam, độ chính xác 0,0002 gam.  
2.1.2. Hóa chất  
- DPA dung chịch chuẩn (100 μg/mL trong acetonitrile), Merck- Gemany.  
- N-nitroso-DPA (100 μg/mL trong methanol), Merck- Gemany.  
- 2-nitro-DPA dung dịch chuẩn (độ sạch 99,0%), Merck- Gemany.  
- 4-nitro-DPA dung dịch chuẩn (độ sạch 99,0%), Merck- Gemany.  
- 4,4'-dinitro- DPA dung dịch chuẩn (100 μg/ mL trong methanol), Merck- Gemany.  
- Methanol dùng cho HPLC, độ sạch 99.8%, Merck – Germany.  
- Acetonitrile dùng cho HPLC, độ sạch 99.8%, Merck – Germany.  
- Mẫu thuốc phóng pirocxilin 4/7 được lấy từ đạn cao xạ 12,7 mm bảo quản trên 20  
năm tại nhà kho Quân khí khu vực Đông Bắc bộ,có thành phần chủ yếu là: (8098)%  
pirocxilin (là NC có hàm lượng N > 12,1%), (0,5 5)% dung môi bay hơi, (1 2)% chất  
an định hoá học và 0,8 1,5% chỉ là độ ẩm và một số phụ gia công nghệ khác.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
2.2.1 Phương pháp xác định hàm lượng chất an định và dẫn suất của nó trong quá trình  
quan sát  
Để nghiên cứu sự biến đổi DPA và các dẫn suất của nó, mẫu thuốc phóng 4/7 của đạn  
cao xạ 12, 7 mm được sấy gia nhiệt ở 3 nhiệt độ khác nhau 70 oC, 80 oC và 90 oC. Sự biến  
đổi DPA trong mẫu thuốc phóng 4/7 được thực hiện trong quá trình gia nhiệt mẫu thuốc  
phóng ở nhiệt độ khác nhau.Thời gian lấy mẫu để xác định hàm lượng DPA và dẫn suất là  
10, 20, 30, 40, 50 ngày (ở 70 oC); 8, 16, 24, 32, 40 ngày (ở 80 oC); 5, 10, 15, 20, 25 ngày  
o
(ở 90 C). Sau đó tiến hành xác định hàm lượng DPA và dẫn suất của chúng trên thiết bị  
101  
Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số 58, 12 - 2018  
Hóa học & Kỹ thuật môi trường  
HPLC HP 1100 của hãng Agilent, việc chuẩn bị mẫu và các bước thực hiện theo  
TCVN/QS 754:2013 [6].  
2.2.2. Phương pháp xác định tốc độ quá trình phản ứng  
Xác định hàm lượng DPA và dẫn suất của nó đối với các mẫu chưa gia nhiệt và các  
mẫu gia nhiệt tại các nhiệt độ và thời điểm lấy khác nhau. Xác định hằng số tốc độ của quả  
trình phản ứng theo cơ chế ba bậc phản ứng giả định. Cụ thể là, khi nồng độ DPA trong  
thuốc phóng pirocxilin ban đầu khá cao, lúc này DPA phản ứng với NOx theo cơ chế bậc  
1. Khi hàm lượng DPA còn lại một lượng nhỏ trong thuốc phóng thì các dẫn suất của nó sẻ  
phản ứng với NOx trong thuốc phóng với phản ứng này theo cơ chế bậc 0. Phản ứng phân  
hủy nhiệt của thuốc phóng có sự ảnh hưởng của nhiệt độ do đó hằng số tốc độ của chúng  
tuân theo phương trình Arhenius [8]  
Xuất phát từ cơ chế giả định này, tác giả thiết lập hệ phương trình vi phân động học mô  
tả sự thay đổi hàm lượng DPA và các dẫn suất [8]  
(
)
(
)
ꢄ,ꢅ  
ꢁꢂ ꢄ,ꢅ  
ꢀꢁꢂ  
ꢆ = ꢇꢈ,ꢈ ꢉ − ꢇꢊ,ꢈ ꢉ ꢋꢈ ꢌ, ꢉ =  
(1)  
(2)  
ꢃ
ꢍ
ꢎ
( )  
( )  
(
)
∑
ꢏꢐꢊ  
ꢁꢄ  
ꢁꢄ  
(
ꢄ,ꢅ  
)
ꢀꢁꢂ  
ꢃ
( ) )  
ꢆ = ꢇꢈ,ꢏ ꢉ + ꢇꢊ,ꢏ ꢉ ꢋꢈ ꢌ, ꢉ  
( )  
(
ꢁꢄ  
ꢅ
ꢎ
∑
( )  
ꢏꢐꢊ ꢇꢈ,ꢏ ꢉ = ꢇꢈ,ꢈ(ꢉ)  
(3)  
(4)  
ꢎ
∑
( )  
ꢏꢐꢊ ꢇꢊ,ꢏ ꢉ = ꢇꢊ,ꢈ(ꢉ)  
(
)
ꢓ
(ꢅ)  
ꢃ,ꢍ  
ꢁꢂ ꢄ,ꢅ  
ꢍ
ꢀꢁꢂ  
)ꢆ = ꢓ  
(5)  
(
ꢄ,ꢅ  
(ꢅ)  
ꢍꢑꢒ  
ꢃ,ꢍꢑꢒ  
ꢅ
ꢘ
ꢇꢈ,ꢏ ꢉ = ꢔꢈ,ꢏꢕꢖꢗ ꢀ− ꢙ,ꢃ,ꢍꢆ  
(6)  
(7)  
( )  
ꢚꢅ  
ꢘ
ꢇꢊ,ꢏ ꢉ = ꢔꢊ,ꢏꢕꢖꢗ ꢀ− ꢙ,ꢒ,ꢍꢆ  
( )  
ꢚꢅ  
Trong đó: C0 là nồng độ của DPA trong thuốc phóng; Ci là nồng độ của dẫn suất của  
DPA, k0,i và k1,i là hằng số tốc độ phản ứng bậc 0 và bậc 1; Z0,i và Z1,i là hằng số trước lũy  
thừa; E là năng lượng hoạt hóa trong phương trình Arrhenius; R là hằng số khí. Chỉ số i =  
0 biểu thị DPA, i = 1,2,3 biểu thị các dẫn suất DPA.  
Kết hợp phương trình (1) và (2) ta được:  
ꢓ
(ꢅ)  
(ꢅ)  
ꢓ
(ꢅ)  
ꢃ,ꢍ  
ꢃ,ꢃ  
ꢒ,ꢃ  
(
)
(
)
( )  
ꢋꢈ ꢌ, ꢉ = ꢓ  
+ ꢛꢓ  
)
(ꢅ) + ꢋꢈ 0, ꢉ ꢜ ꢕꢖꢗꢝ−ꢇꢊ,ꢈ ꢉ ꢌꢞ  
(8)  
(9)  
ꢃ,ꢍꢑꢒ  
( )  
ꢅ
( ) ꢓ  
ꢉ
ꢃ,ꢃ  
ꢒ,ꢃ  
(
)
(
( )  
ꢋꢏ ꢌ, ꢉ = ꢋꢈ 0, ꢉ + ꢛꢇꢈ,ꢏ ꢉ − ꢇꢊ,ꢏ  
( )ꢜ ꢌ +  
ꢓ
ꢅ
ꢓ
(ꢅ)  
(ꢅ)  
ꢓ
ꢓ
(ꢅ)  
ꢒ,ꢍ  
ꢃ,ꢃ  
ꢒ,ꢃ  
(
)
( )  
+
ꢛ
(ꢅ) + ꢋꢈ 0, ꢉ ꢜ ꢟ1 − ꢕꢖꢗꢝ−ꢇꢊ,ꢈ ꢉ ꢌꢞꢠ  
ꢓ
ꢒ,ꢃ  
Như vậy, phương trình (8) thể hiện sự suy giảm hàm lượng DPA, còn phương trình (9)  
thể hiện sự tăng, giảm dẫn suất của DPA trong thuốc phóng.  
3. KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN  
Trên bảng 1 dẫn kết quả xác định hàm lượng DPA và dẫn suất của một số mẫu khác  
nhau trong thuốc phóng 4/7 của đạn cao xạ 12,7 mm theo nhiệt độ và thời gian gia nhiệt  
102  
Đ. S. Quảng, Đ. N. Khuê, T. V. Chung, “Nghiên cứu động học … của đạn 12,7 mm.”  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Bảng 1. Kết quả xác định hàm lượng DPA và các dẫn suất.  
N-  
NODP  
A
(µmol/g (µmol/g)  
)
4-  
Bis (4-  
Nhiệt  
độ gian sấy  
sấy,  
oC  
Thời  
DPA  
(µmol/  
g)  
2-  
nitroDP nitroDPA  
nitroDPA  
Mẫu số  
A
)
mẫu  
(ngày)  
(µmol/g)  
(µmol/g)  
10  
-
0
2,715  
0,363  
0,185  
0,169  
0,036  
1,987  
0,710  
0,494  
0,273  
0,062  
2,465  
2,149  
1,733  
1,117  
0,710  
1,658  
2,162  
0,347  
0,172  
0,111  
2,113  
1,810  
1,347  
0,887  
0,042  
1,898  
2,188  
2,435  
2,198  
2,101  
0,236  
0,236  
0,048  
0,051  
0,029  
0,396  
0,488  
0,541  
0,550  
0,232  
0,270  
0,277  
0,311  
0,335  
0,404  
0,331  
0,310  
0,063  
0,067  
0,039  
0,554  
0,687  
0,764  
0,778  
0,329  
0,383  
0,399  
0,451  
0,489  
0,592  
0,289  
0,289  
0,281  
0,414  
0,459  
0,328  
0,330  
0,311  
0,266  
0,085  
0,343  
0,351  
0,398  
0,418  
0,439  
10.1(90)  
10.2(90)  
10.3(90)  
10.4(90)  
10.1(80)  
10.2(80)  
10.3(80)  
10.4(80)  
10.5(80)  
10.1(70)  
10.2(70)  
10.3(70)  
10.4(70)  
10.5(70)  
5
10  
15  
20  
8
90  
16  
24  
32  
40  
10  
20  
30  
40  
50  
80  
70  
o
o
Đồ thị biểu diễn sự biến đổi DPA và các dẫn suất của nó ở 3 nhiệt độ 70 C, 80 C và  
90 oC được dẫn trên hình 2,3 và 4. Hàm lượng DPA và dẫn suất được biểu thị qua đơn vị  
mircromol/g.  
Hình 2. Đồ thị sự biến đổi của DPA và các dẫn suất ở 70 oC.  
103  
Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số 58, 12 - 2018  
Hóa học & Kỹ thuật môi trường  
Hình 3. Đồ thị sự biến đổi của DPA và các dẫn suất ở 80 oC.  
Hình 4. Đồ thị sự biến đổi của DPA và các dẫn suất ở 90 oC.  
Đồ thị thể hiện sự biến đổi hàm lượng DPA và các dẫn suất của nó theo thời gian ở các  
o
o
o
nhiệt độ 70 C và 80 C và 90 C lần lượt được trình bày trong hình 2, hình 3 và hình 4.  
Căn cứ vào đồ thị ta thấy, sự biến đổi hàm lượng DPA và các dẫn suất của nó phù hợp với  
kết quả nghiên cứu của Manfred A. Bohn và Norbert Eisenreich [7],có nghĩa là sự biển đổi  
DPA và dẫn suất của nó trong thuốc phóng 1 gốc mác 4/7 phù hợp với cơ chế 3 bậc. Tuy  
nhiên, mức độ biến đổi của chúng khác nhau với nhiệt độ càng cao thì sự biến đổi càng  
khác biệt.  
Dựa trên đồ thị ta thấy tốc độ phân hủy của DPA trong thuốc phóng phụ thuộc vào thời  
gian và nhiệt độ. Nhiệt độ càng cao, tốc độ phân hủy càng nhanh. Theo thời gian, ở giai  
đoạn đầu, hàm lượng DPA suy giảm nhanh, giai đoạn sau hầu như không còn. Ngược lại,  
giai đoạn đầu, hàm lượng N-nitroso-DPA, 2-nitro-DPA tăng được thể hiện trong hình 2 và  
hình 3 (N-nitroso-DPA tăng nhanh, 2-nitro-DPA tăng chậm hơn), giai đoạn sau, khi đã hết  
DPA, hàm lượng N-nitroso-DPA giảm mạnh, hàm lượng 2-nitro-DPA giảm nhưng độ suy  
giảm nhỏ.  
104  
Đ. S. Quảng, Đ. N. Khuê, T. V. Chung, “Nghiên cứu động học … của đạn 12,7 mm.”  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Do đó ta thấy rằng, khả năng an định của DPA là tốt hơn hẳn so với các dẫn suất của  
nó. Đồng thời, các dẫn suất cũng đóng vai trò chất an định, nhưng khả năng an định của nó  
nhỏ hơn so với DPA.  
Như vậy ở nhiệt độ cao, thuốc phóng bị phân hủy mạnh, kéo theo sự tiêu hao nhiều  
chất an định hóa học vào phản ứng với các sản phẩm phân hủy.  
Ngoài ra, ta cũng thấy rằng vai trò an định hóa học của các dẫn suất của DPA là đáng kể.  
Để đánh giá sự ảnh hưởng của nhiệt độ đến tốc độ suy giảm hàm lượng chất anh định  
và dẫn suất của nó ta sử dụng phương trình Arrhenius:  
E  
k(T) A.eRT  
Kết quả xác định hằng số tốc độ phản ứng DPA (k) của mác thuốc phóng 4/7 dựa trên  
1
ln k   
cơ sở xây dựng mối liên hệ  
và áp dụng phương pháp bình phương tối thiểu để  
T
được đưa ra trong bảng 2 và hình 5.  
Bảng 2. Hằng số tốc độ quá trình suy giảm hàm lượng DPA  
của thuốc phóng pirocxilin mác 4/7.  
t, oC  
90  
80  
70  
STT  
T, oK  
363  
353  
343  
(1/T).103  
2,75  
k, 1/ngày  
0,22  
lnk  
1
2
3
-1,53  
-2,36  
-3,62  
2,83  
2,92  
0,09  
0,03  
Đồ thị quan hệ giữa logarit hằng số tốc độ phân hủy DPA với nghịch đảo nhiệt độ thể  
hiện trên hình 5.  
Hình 5. Đồ thị ꢡꢢꢇ = ꢣ ꢀꢊꢄꢆ của quá trình biến đổi hàm lượng DPA  
của thuốc phóng pirocxilin mác 4/7 ở nhiệt độ 70 oC, 80 oC và 90 oC .  
Như vậy phương trình biểu thị mối liên hệ giữa lnk và 1/T đối với mẫu thuốc phóng  
nghiên cứu có dạng:  
105  
Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số 58, 12 - 2018  
Hóa học & Kỹ thuật môi trường  
y = -13002x + 34,34; hệ số R² = 0.989  
Hay:  
Từ kết quả này ta tính được năng lượng hoạt hóa của phản ứng phân hủy DPA trong  
thuốc phóng 4/7:  
⁄
ꢤ = 0,008314 ꢖ 13002 = 108,099 (ꢇꢥ ꢦꢧꢡ)  
Trên cơ sở sử dụng mối quan hệ 1/T và lnk ta còn có thể tính được hằng số tốc độ  
phân hủy DPA ở các nhiệt độ khác nhau đặc biệt là ở các nhiệt độ gần với nhiệt độ bảo  
quản thực tế, kết quả tính toán ở một số nhiệt độ cụ thể trình bày trong bảng 3.  
Bảng 3. Hằng số tốc độ phản ứng phân hủy DPA trong thuốc phóng pirocxilin mác 4/7  
ở các nhiệt độ bảo quản khác nhau.  
Nhiệt độ bảo quản  
k
STT  
(1/T).103  
lnk  
t, oC  
T, K  
(ngày)  
1
2
3
4
5
10  
20  
25  
30  
40  
283  
293  
298  
303  
313  
3,41  
-10,04  
4,38E-05  
3,36  
3,30  
3,25  
3,19  
-9,29  
-8,57  
-7,87  
-7,20  
9,23E-05  
1,90E-04  
3,80E-04  
7,47E-04  
o
Trong điều kiện bảo quản tại các kho quân khí nhiệt độ trong khòng từ 10 C đến 40  
oC. Qua bảng 3 cho ta thấy khi nhiệt độ tăng 10 oC thì tốc độ phản ứng tăng từ 2 đến 4 lần  
điều này phù hợp với quy luật hàm mũ như đã giả định. Phản ứng động học phân hủy DPA  
tuân theo quy luật bậc nhất.  
4. KẾT LUẬN  
Từ kết quả xác định k trong thuốc phóng 4/7 nhận thấy quy luật biến đổi này cũng  
tương đồng với kết quả trước đây. Nghiên cứu của một số tác giả khác đối với thuốc  
phóng piroxilin như thuốc phóng 9/7 [4]. Trên cơ sở đó có thể dự tính thời hạn sử dụng  
thuốc phóng ở các nhiệt độ bảo quản của thuốc phóng và phù hợp với cơ chế phân hủy ba  
bậc và Phản ứng phân hủy DPA trong thuốc phóng pirocxilin mác 4/7 tuân theo quy luật  
bậc nhất.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Bộ môn Đạn-Khoa Trang bị cơ điện. "Thuốc phóng và thuốc nổ". Đại học Kỹ thuật  
Quân sự, (1976).  
[2]. Đỗ Ngọc Khuê. "Kiểm soát môi trường sản xuất và đánh giá chất lượng thuốc phóng  
keo bằng các phương pháp hóa lý hiện đại". NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội,  
(2011).  
[3]. Ngô Văn Giao. "Tính chất thuốc phóng và nhiên liệu tên lửa". NXB Quân đội nhân  
dân, Hà Nội, (2005).  
[4]. Nguyễn Văn Tính, Đàm Quang Sang, Bùi Mạnh Tường. "The kinetic of thermal  
decomposition of the single base 9/7 propellant". Journal of Military Science and  
Technology , N51A, pp. 57-64, (2017).  
[5]. Phạm Mạnh Thảo. "Nghiên cứu quy luật biến đổi tốc độ sinh khí của thuốc phóng keo  
trong quá trình lão hóa". Luận án TS Hóa học, Viện KH-CN Quân sự, (2008)  
106  
Đ. S. Quảng, Đ. N. Khuê, T. V. Chung, “Nghiên cứu động học … của đạn 12,7 mm.”  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
[6]. Tiêu chuẩn Quân sự TCVN/QS 754:2013. "Thuốc phóng keo một gốc. Phương pháp  
thử nghiệm bằng sắc ký lỏng cao áp". Cục Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng, Bộ  
Quốc phòng, (2013).  
[7]. Bohn, M. A. (1997). Kinetic Description of the Ageing of Gun and Rocket  
Propellants for the Prediction of their Service Lifetime. Proceedings of the Workshop  
on the Microcalorimetry of Energetic Marerials, (pp. G1-G31). Leeds, UK.  
[8]. Filipovic', M. (2004). Kinetic modelling the chemical transformations of the stabiliser  
in single base propellants during ageging. LIV.  
[9]. Kinetic Modeling of the Stabilizer consumption an the Consecutive Products of the  
Stabilizer in a gun Propellant1997Propellants, Explosives, Pyrotechnics, 22(3 125-136  
[10].Maria López-López, J. B.-R. (2013). Diphenylamine an derivatives as predictors of  
gunpowder age by means of HPLC and statistical models. 103.  
ABSTRACT  
THE KINETICS OF THERMAL DECOMPOSITION  
OF THE SINGLE BASE 4/7 PROPELLANT OF 12. 7 MM CARTRIDGE  
This paper has represented the results of the application of high performance  
liquid chromatography (HPLC) to study the thermal decomposition kinetics of the  
single base 4/7 propellant of 12.7 mm cartridge. The results have shown the law of  
the variation in DPA content and its derivatives during thermal decomposition  
process of studied propellant sample. Besides the rate constants of the  
decomposition reaction at different temperatures were established. The DPA  
content variation in the thermal decomposition process follows the pseudo first  
order kinetic model, with the activation energy of 143.574 kJ / mol.  
Keywords: Pirocxilin; DPA; HPLC.  
Nhận bài ngày 17 tháng 9 năm 2018  
Hoàn thiện ngày 09 tháng 10 năm 2018  
Chấp nhận đăng ngày 11 tháng 12 năm 2018  
Địa chỉ: 1 Viện Công nghệ mới/Viện KH&CNQS;  
2 Viện Hóa học - Vật liệu/ Viện KH&CNQS.  
*Email : [email protected]m.  
107  
Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số 58, 12 - 2018  
pdf 8 trang Mãnh Khiết 13/01/2024 11980 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu động học quá trình phân hủy nhiệt của thuốc phóng một gốc 4/7 của đạn 12,7 mm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_dong_hoc_qua_trinh_phan_huy_nhiet_cua_thuoc_phong.pdf