Nghiên cứu ứng dụng ảnh viến thám xác định nồng độ bùn cát lơ lửng vùng cửa hới Sông Mã

KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG ẢNH VIẾN THÁM XÁC ĐỊNH  
NỒNG ĐỘ BÙN CÁT LƠ LỬNG VÙNG CỬA HỚI SÔNG MÃ  
Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Thành Luân,  
Vũ Đình Cương, Đặng Hoàng Thanh  
Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam  
Vũ Hữu Long, Nguyễn Vũ Giang,  
Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam  
Tóm tắt: Ước tính nồng độ bùn cát lơ lửng (BCLL) có vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu  
đánh giá diễn biến hình thái, môi trường nước vùng cửa sông, ven biển. Nghiên cứu này đã sử  
dụng dữ liệu ảnh viễn thám để xác định mối quan hệ giữa phổ phản xạ từ ảnh vệ tinh với nồng  
độ BCLL vùng cửa sông Mã thuộc tỉnh Thanh Hóa trên cơ sở kết hợp đo đạc hiện trường và  
phân tích giải đoán ảnh. Kết quả cho thấy quan hệ giữa phổ phản xạ từ ảnh vệ tinh (Landsat-8  
OLI) với nồng độ BCLL tuân theo hàm đa thức bậc hai (R2=0.74). Kết quả của nghiên cứu này  
bước đầu định hướng phát triển các nghiên cứu liên quan đến sử dụng tư liệu ảnh vệ tinh để xác  
định nồng độ BCLL của các cửa sông khu vực miền Trung cũng như các khu vực khác dọc bờ  
biển Việt Nam.  
Từ khóa: cửa sông Mã, bùn cát lơ lửng, ảnh viễn thám.  
Summary: Estimating the concentration of suspended sediment has an important role in the  
studies morphology, water quality in estuaries and coastal areas. This study uses remote sensing  
data to determine the relationship between the reflectance spectrum from satellite imagery and  
suspended sediment concentrations at Ma estuary in Thanh Hoa province from field  
measurements and analysis of satellite imagery. The results showed that the relationship  
between the reflectance spectrum from satellite imagery (Landsat-8 OLI) and concentrations  
follow quadratic polynomial (R2 = 0.74). The results of this study initially setup a orientation  
study related to use satellite images to determine the concentration of suspentded sediment at the  
Ma estuary in paticular and further in central region of Vietnam in general.  
Keyword: Ma estuary, suspended sediment, satelitte images.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ *  
BCLL bằng phương pháp đo đạc truyền thống  
thường rất tốn kém nên gặp nhiều khó khăn  
khi nghiên cứu ở phạm vi không gian rộng.  
Phương pháp sử dụng công nghệ viễn thám có  
ưu điểm là có thể cung cấp thông tin về phân  
bố không gian của nồng độ BCLL ở phạm vi  
lớn. Sự kết hợp khác nhau của các kênh phổ ở  
dải sóng nhìn thấy và cận hồng ngoại đã được  
nghiên cứu và đề xu ất như là chỉ số để tính  
toán BCLL ven biển, cửa sông, đầm phá...  
Bùn cát lơ lửng (BCLL) là một chỉ số quan  
trọng liên quan tới lượng vận chuyển bùn cát  
và gián tiếp liên quan tới hiện tượng xói lở, bồi  
tụ vùng vùng cửa sông, ven biển. Các phương  
pháp chính trong việc xác định lượng bùn cát  
lơ lửng gồm: đo đạc hiện trường, mô hình  
toán, viễn thám,…Việc xác định hàm lượng  
Ngày nhận bài: 04/01/2017  
Ngày thông qua phản biện: 8/2/2017  
Ngày duyệt đăng: 24/2/2017  
Các hạt vật chất lơ lửng như sét mịn (đường  
kính 3-4m), bùn (5-40m), cát mịn (40-  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
1
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
130m), cát thô (131-250 m) trong thực tế một vật liệu tán xạ rất tốt mà không cần bất kỳ  
chúng thường tồn tại theo kiểu hỗn hợp các sự hấp thụ của bức xạ mặt trời. Độ lớn của sự  
thành phần này với nhau, tùy theo từng vùng tán xạ có liên quan đến kích thước của mỗi hạt  
mà lượng đa số sẽ thuộc về thành phần nào bùn cát và cát và phân bố của nó. Kích thước  
trong đó. Bùn cát lơ lửng vùng cửa sông có bùn cát càng nhỏ thì khả năng tán xạ càng lớn.  
nguồn gốc từ rất nhiều nguồn khác nhau bao BCLL phản ánh rõ ở bước sóng 500-600 nm,  
gồm từ sự xói mòn đất nông nghiệp ở những do đó có thể xác định nồng độ BCLL bằng  
vùng đất thượng lưu, phong hóa địa hình, xói cách sử dụng chiều dài bước sóng này. Clark  
mòn đường bờ do sóng hoặc hoạt động vận tải (1980) sử dụng các tỷ lệ bức xạ phổ ở 440 nm  
ven bờ, hoạt động nạo vét.v.v. Nó cho thấy và 550 nm của bộ quét bức xạ đa kênh vùng  
mức độ cao tập trung tại các khu vực nước ven biển (CZCS) vệ tinh Nimbus để ước lượng  
trong đất liền và ven bờ hơn đại dương phù sa lơ lửng. Các nghiên cứu khác ước tính  
(Gordon, 1983).  
nồng độ bùn cát sử dụng dữ liệu vệ tinh (ví dụ,  
Clark, 1980; Strum, 1983; Tassan, 1994;  
Clark, 1997; Doerffer và Schiller, 1997;  
Binding, 2003; Ruddick, 2003; Miller và  
McKee, 2004). Đến nay, các nghiên cứu về  
ứng dụng ảnh viễn thám vẫn tiếp tục phát triển  
theo các hướng như việc hiệu chỉnh giữa phân  
tích loại ảnh với phổ đo được, hoặc giữa ảnh  
với đo đạc hiện trường,… để xác định nồng độ  
bùn cát.  
Đặc tính quang phổ của nước biển chủ yếu liên  
quan đến màu đại dương với nhiều nguồn khác  
nhau, đặc biệt là nồng độ BCLL ở độ sâu  
tương đối nông khu vực ven biển. Nói chung,  
các phản xạ quang phổ của bùn cát thống trị  
các quá trình về nước tăng hấp thụ ở cả bước  
sóng màu đỏ và màu xanh trong phổ và tại  
bước sóng màu xanh lá cây (Sathyendranath  
và Morel, 1983). BCLL như các chất vô cơ là  
Hình 1: Phạm vi khu vực nghiên cứu  
Hệ thống sông Mã đổ trực tiếp ra Biển Đông của Thanh Hóa. Vùng biển Thanh Hóa có chế  
qua ba cửa sông: cửa Lạch Sung, cửa Lạch độ sóng, dòng chảy biến đổi theo mùa khá rõ  
Trường và cửa Hới. Các cửa sông đưa ra rệt. Khu vực cửa sông Mã và bãi biển Sầm  
lượng bùn cát bồi tụ cho dải ven biển phía Bắc Sơn có chế độ thủy động lực phức tạp do bị  
2
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
ảnh hưởng của dòng chảy từ hệ thống sông Mã sông Mã nói riêng và cho cửa sông miền  
nên gần đây xảy ra hiện tượng xói lở bờ rất Trung nói chung.  
nghiêm trọng (Hùng và nnk 2016). Để đưa ra  
2. TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP  
giải pháp bảo vệ bờ đòi hỏi phải làm rõ  
NGHIÊN CỨU  
nguyên nhân xói lở, trong đó nghiên cứu vấn  
Tài liệu  
đề vận chuyển bùn cát liên quan đến xói lở hết  
sức khó khăn do yêu cầu đo đạc và tính toán Tư liệu ảnh vệ tinh, bản đồ địa hình, mực nước  
với khối lượng lớn, tài chính nhiều. Bài báo thủy triều, số liệu bùn cát lơ lửng và số liệu đo  
này đã sử dụng phương pháp phân tích ảnh phổ phản xạ rời mặt nước là những tài liệu  
viễn thám kết hợp với dữ liệu đo đạc bùn cát chính đã được sử dụng trong nghiên cứu này.  
lơ lửng để xây dựng quan hệ giữa phổ phản xạ  
Tài liệu ảnh và bản đồ:  
của ảnh với nồng độ BCLL vùng cửa sông Mã.  
Ảnh vệ tinh Landsat-8 OLI (độ phân giải  
Với phương pháp này có thể tìm cách ước  
không gian 30m) trong khoảng thời gian lấy  
lượng nồng độ bùn cát khu vực cửa sông từ tài  
mẫu bùn cát lơ lửng (bảng 1) và một số cảnh  
liệu ảnh viễn thám khi có ít số liệu đo đạc. Kết  
ảnh khác được sử dụng để ước tính và đánh  
quả nghiên cứu là cơ sở ban đầu giúp cho việc  
giá phân bố nồng độ bùn cát lơ lửng khu vực  
phát triển các nghiên cứu ứng dụng ảnh viễn  
cửa sông.  
thám xác định nồng độ BCLL khu vực cửa  
Bảng 1: Tư liệu ảnh vệ tinh sử dụng trong nghiên cứu  
Vị trí ảnh  
(path,  
Số hi ệu cảnh  
Cao độ  
thủy  
tri ều  
Bộ cảm  
bi ến  
Độ phân  
giải  
Loại ảnh  
Ngày chụp  
ro w)  
LC81260462015  
319LGN00  
LC81260462016  
178LGN00  
Landsat 8  
Landsat 8  
Landsat 8  
OLI_TIRS  
OLI_TIRS  
OLI_TIRS  
p126, r46  
p126, r46  
p126, r46  
14/11/2015  
26/06/2016  
17/11/2016  
30m; 15m  
30m; 15m  
30m; 15m  
LC81260462016  
322LGN00  
Tài liệu mực nước, bùn cát lơ lửng và phổ Thời gian lấy mẫu bùn cát lơ lửng: Đợt đo  
phản xạ rời mặt nước:  
mùa lũ từ 9h đến 12h ngày 13/08/2016 và đợt  
đo mùa kiệt từ 9h đến 12h ngày17/11/2016.  
Nghiên cứu đã sử dụng số liệu mực nước giờ  
đo tại trạm Quảng Châu cửa sông Mã. Số liệu Phương pháp nghiên cứu  
này được đo trùng với thời gian lấy mẫu  
Phương pháp đo đạc, lấy mẫu hiện trường:  
BCLL và thời gian vệ tinh Landsat chụp khu  
vực cửa sông (bảng 1).  
Nghiên cứu thực hiện hai lần đo đạc phổ phản  
xạ rời mặt nước và lấy mẫu bùn cát lơ lửng tại  
vùng cửa sông Mã (mùa lũ và mùa kiệt). Mỗi  
lần lấy 30 mẫu bùn cát lơ lửng (trong sông lấy  
10 điểm, ngoài biển lấy 20 điểm) phân bố bao  
quát toàn bộ phạm vi lan truyền của bùn cát ở  
vùng cửa cửa sông Mã (như Hình 2). Tại các  
điểm lấy mẫu BCLL đồng thời tiến hành đo  
Số liệu BCLL được xác định từ kết quả phân  
tích các mẫu lấy trong khoảng thời gian có ảnh  
Landsat. Các mẫu bùn cát được lấy trong hai  
đợt khảo sát mùa lũ và mùa kiệt. Đồng thời  
tiến hành đo phổ phản xạ rời mặt nước tại các  
vị trí lấy mẫu BCLL.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
3
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
đạc phổ phản xạ rời mặt nước bằng thiết bị lập thuật toán quang-sinh học để ước tính hàm  
phổ cầm tay ASD. Kết quả đo phổ hiện trường lượng bùn cát lơ lửng.  
sẽ được xử lý phân tích để phục vụ việc thiết  
Hình 2. Đo đạc và lấy mẫu BCLL hiện trường khu vực cửa Hới  
Phương pháp phân tích xử lý ảnh viễn thám:  
nghiệm-Empirical algorithms). Trong quy  
trình xử lý có 2 bước rất quan trọng, quyết  
định độ chính xác kết quả đó là bước hiệu  
chỉnh ảnh hưởng khí quyển và áp dụng thuật  
toán quang-sinh học để ước tính hàm lượng  
bùn cát lơ lửng.  
Ảnh Landsat-8 OLI là dữ liệu miễn phí, được  
tải về trược tiếp từ cơ sở dữ liệu ảnh của Cục  
khảo sát địa chất liên bang Hoa Kỳ (USGS).  
Lượng bức xạ điện từ thu được trên bầu khí  
quyển (TOA radiances) thu được trên cảm biến  
ở mức xử lý 1T được cung cấp dưới định dạng Hiệu chỉnh ảnh hưởng khí quyển ảnh Landsat-8:  
GeoTIFF, với các kênh riêng lẻ đã được chuẩn Có nhiều phươngpháp hiệu chỉnh ảnh hưởng khí  
hóa về mặt hình học ở hệ tọa độ UTM . Với độ quyển với ảnh Landsat-8 như sử dụng các phần  
phủ chụp lên tới 185 km x 185km, độ phân giải mềm thương mại như FLAASH của Envi,  
kênh đa phổ 30m, ảnh Landsat-8 OLI rất phù  
hợp khi áp dụng cho vùng cửa Hới, khu vực  
ATCOR của ERDAS hoặc ACOR, 6S... Để thu  
được phản xạ biển (marine reflectance) của khối  
nghiên cứu nằm trọn vẹn trong một cảnh ảnh, nước, các phương pháp hiệu chỉnh chuyên sâu  
do vậy dữ liệu ảnh sử dụng sẽ đảm bảo được  
tính thống nhất, đồng nhất về mặt thời gian.  
hơn đã được nghiên cứu và công bố của một số  
tác giả như Gordon, H. R., & Wang, M., 1994,  
Quinten V & K Ruddick, 2014.v.v. Các nghiên  
cứu này tập trung giải quyết triệt để các nguồn  
sai số chính của khí quyển gây ra trên p hổ phản  
xạ thu được ở sensor, hai trong số đó là sai số do  
ảnh hưởng bởi các phân tử khí (molecular-  
Releigh reflectance), các sol khí (aerosol  
reflectance). Trong nghiên cứu này công cụ  
ACOLITE đã được sử dụng để hiệu chỉnh ảnh  
hưởng khí quyển cho ảnh Landsat-8, đây là công  
cụ rất phổ biến hiện nay, được áp dụng cho  
nghiên cứu môi trường nước.  
Quy trình xử lý ảnh ảnh Landsat-8 được mô tả  
trong Hình 3. Ảnh Landsat-8 phải thông qua  
bước tiền xử lý ảnh, bước này bao gồm hiệu  
chỉnh bức xạ, hiệu chỉnh ảnh hưởng khí quyển,  
lọc mây để có được phổ phản xạ rời khỏi khối  
nước (Rrs). Thuật toán quang-sinh học (Bio-  
optical algorithms) được áp dụng sau khi có  
được giá trị phổ phản xạ của khối nước. Các  
thuật toán này được xây dựng dựa trên phổ đo  
đạc tại thực địa với số liệu đo mẫu hàm lượng  
bùn cát lơ lửng tương ứng (công thức kinh  
4
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Ảnh Landsat 8  
(DN)  
Hiệu chỉnh ảnh hưởng khí  
quyển (ACOLITE), để thu  
được Rrs  
Dữ liệu đo đạc  
thực địa  
Xây dựng thuật toán thực  
nghiệm theo các kênh  
So sánh, đánh giá kết  
quả (lựa chọn phương  
pháp)  
Áp dụng các công thức  
thực nghiệm  
Bản đồ phân bố hàm lượng  
bùn cát lơ lửng (theo thuật  
toán thực nghiệm)  
Hình 3. Quy trình xử lý ảnh để ước tính hàm lượng bùn cát lơ lửng từ ảnh Landsat- 8 OLI  
Thuật toán quang-sinh học (Bio-optical Thuật toán Nechad 2010: Với kênh đỏ ảnh  
algorithms): Trong nghiên cứu này, nhóm tác Landsat-8:  
giả đã sử dụng thuật toán kinh nghiệm để xây  
289.29 *w  
SPM =  
mg/l  
(1)  
dựng công thức quang-sinh học dựa trên số  
liệu đo đạc nồng độ bùn cát lơ lửng ngoài thực  
địa với tư liệu phổ từ máy đo phổ cầm tay và  
phổ phản xạ từ ảnh vệ tinh. Nghiên cứu sử  
dụng thuật toán ước tính nồng độ bùn cát khác  
đã được xây dựng trên thế giới, trong đó có  
thuật toán Nechad, 2010 (Nechad, B. Ruddick,  
K.G and Y. Park, 2010), đây là thuật toán  
được xây dựng nhằm áp dụng cho mọi tư liệu  
ảnh vệ tinh và với mọi khu vực địa lý, các  
tham số đã được thành lập từ tập dữ liệu đo  
đạc rất lớn của các vùng cửa sông khác nhau  
trên thế giới.  
w  
0.1686  
(1   
)
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
Xây dựng thuật toán quang - sinh học cho  
khu vực cửa Hới  
Kết quả lấy mẫu BCLL và đo phổ tại hiện  
trường:  
Các mẫu BCLL lấy tại hiện trường vào thời  
điểm có ảnh chụp Landsat trong hai lần khảo  
sát đã được phân tích trong phòng thí nghiệm  
để xác định nồng độ BCLL. Kết quả phân tích  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
5
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
cho thấy khu vực cửa Hới có nồng độ BCLL 0.371kg/m3, trung bình 0.101kg/m3; đợt đo mùa  
tương đối thấp: đợt đo mùa lũ tháng 8/2016 kiệt tháng 11/2016 nồng độ BCLL lớn nhất  
nồng độ BCLL lớn nhất cũng chỉ đạt 0.09kg/m3, trung bình 0.031kg/m3 (Bảng 2).  
Bảng 2: Đặc trưng nồng độ BCLL khu vực cửa Hới qua hai đợt khảo sát năm 2016  
Đợt đo mùa lũ ngày 13/08/2016  
Đợt đo mùa kiệt ngày 17/11/2016  
Ký  
hiệu  
mẫu  
B2  
B3  
B21  
Nồng  
độ  
(mg/l)  
Ký  
hiệu  
mẫu  
B1  
B2  
B3  
Nồng  
độ  
(mg/l)  
0.05  
0.08  
0.05  
Vĩ độ  
Bắc  
Kinh độ  
Đông  
Vĩ độ Kinh độ  
Bắc Đông  
TT  
TT  
1
2
3
0.051 19.8225 105.9336  
0.078 19.8177 105.9664  
0.039 19.7954 105.9875  
0.046 19.8302 105.9486  
1
2
3
19.7830 105.9320  
19.7823 105.9380  
19.7813 105.9450  
19.7790 105.9530  
4
…
30  
B22  
…
S11  
4
…
B4  
…
S4  
0.06  
…
0.01  
0.031  
0.010  
0.090  
…
…
…
…
…
0.106 19.7833 105.9275 30  
19.7749 105.8870  
TB  
0.101  
0.030  
0.371  
TB  
Min  
Max  
Min  
Max  
Các mẫu đo phổ hiện trường bằng thiết bị đo Xây dựng thuật toán thực nghiệm lần 1 (TN1)  
phổ cầm tay ASD được phân tích xử lý bằng và lần 2 (TN2):  
phần mềm. Kết quả đo phổ được trình bày như  
Trên cơ sở các kết quả đo đạc phổ phản xạ của  
Hình 4. Có thể nhận thấy khối nước có chứa  
khối nước và lấy mẫu nồng độ bùn cát lơ lửng  
bùn cát lơ lửng khu vực cửa sông Mã phản xạ  
khu vực của sông Mã, một phương trình hồi  
mạnh đối với dải bước sóng đỏ có bước sóng  
quy phi tuyến đã được thành lập từ giá trị phổ  
trong khoảng 535-670 nm.  
phản xạ ở kênh đỏ với giá trị nồng độ bùn cát  
lơ lửng thực đo, gọi là thuật toán TN1 và TN2  
như sau:  
- Phương trình hồi quy phi tuyến thiết lập từ  
số liệu đo đợt mùa lũ tháng 8/2016:  
SPM = 1.051e39.59*wRed(mg/l)  
(2)  
Trong đó w là giá trị phổ phản xạ tại kênh đỏ  
của ảnh Landsat 8 được mô phỏng lại từ số  
liệu đo phổ thực địa.  
- Phương trình hồi quy phi tuyến thiết lập từ  
số liệu đo đợt mùa kiệt tháng 11/2016:  
SPM = 6776.3*  
wRed - 48.906*wRe d + 2.779 (3)  
Phương trình hồi quy phi tuyến theo số liệu đo  
tháng 8/2016 có dạng hàm số mũ với hệ số  
tương quan R2 = 0.967, phương trình hồi quy  
phi tuyến theo số liệu đo tháng 11/2016 có  
Hình 4. Đồ thị biểu diễn đường cong phổ đo  
tại thực địa ngày 13/08/2016  
6
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
dạng hàm số bậc hai với hệ số tương quan R2 xây dựng từ các số liệu đo phân bố đều trong  
= 0.740. Tuy phương trình (3) có hệ số tương dải nồng độ bùn cát thấp nhỏ hơn 70 mg/l,  
quan nhỏ hơn phương trình (2) nhưng cho kết trong khi đó phương trình (3) được xây dựng từ  
quả giải đoán nồng độ bùn cát khu vực cửa các số liệu đo phân bố không đều trong dải  
sông Mã tốt hơn. Do phương trình (2) được nồng độ bùn cát cao hơn đến 200 mg/l (Hình 4).  
Số liệu đo mùa kiệt ngày 17/11/2016  
Hình 5. Quan hệ phổ phản xạ kênh đỏ ảnh Landsat-8 với nồng độ BCLL  
và kết quả giải đoán ảnh Landsat-8  
Ước tính phân bố nồng độ bùn cát lơ lửng ảnh Landsat-8, từ đó so sánh nhận xét về sự  
khu vực cửa Hới  
phù hợp của các thuật toán khi áp dụng cụ thể  
cho khu vực cửa sông Mã. Nghiên cứu đã sử  
dụng các cảnh ảnh Landsat-8 ngày ngày  
14/11/2015, 26/06/2016 và ngày 17/11/2016  
để ước tính phân bố nồng độ BCLL theo các  
thuật toán.  
Trên cơ sở thuật toán Nechad 2010, và các  
thuật toán TN để xác định nồng độ BCLL như  
đã trình bày trong phần trên, nghiên cứu tiến  
hành đánh giá ước tính phân bố nồng độ  
BCLL khu vực cửa sông Mã cho một số cảnh  
Cảnh ảnh ngày 14/11/2015  
Cảnh ảnh ngày 26/16/2016  
Cảnh ảnh ngày 17/11/2016  
Hình 6. Ảnh tổ hợp màu tự nhiên của tư liệu ảnh vệ tinh  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
7
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Kết quả ước tính ước tính phân bố nồng độ - Ước tính nồng độ BCLL từ cảnh ảnh Landsat  
BCLL khu vực cửa sông Mã theo các thuật ngày 14/11/2015:  
toán được được mô tả dưới đây:  
a)  
b)  
c)  
- Ước tính nồng độ BCLL từ cảnh ảnh Landsat ngày 26/06/2016:  
d)  
e)  
f)  
-
Ước tính nồng độ BCLL từ cảnh ảnh Landsat ngày 26/06/2016:  
g)  
h)  
k)  
Hình 7. Bản đồ phân bố hàm lượng bùn cát lơ lửng các thời điểm ước tính theo các thuật toán  
khác nhau. Hình a, d, g áp dụng thuật toán Nechad 2010; b, e, h áp dụng  
thuật toán (TN1); c, f, k áp dụng thuật toán (TN2)  
8
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Sử dụng một vùng mẫu để thống kê giá trị thay đổi của hàm lượng bùn cát lơ lửng của 3 thuật  
toán ở 3 thời điểm chụp ảnh (Hình 8).  
vùng mẫu  
a)  
b)  
Hình 8. So sánh thống hàm lượng bùn cát lơ lửng tại vùng mẫu trên 3 thời điểm chụp ảnh ở  
các thuật toán khác nhau: a) sơ đồ vị trí vùng mẫu, b) đồ thị giá trị biến thiên giữa các  
phương pháp và thời điểm chụp  
So sánh các kết quả 3 thuật toán trên 3 cảnh Tuy nhiên thuật toán TN2 được xây dựng  
Landsat có thể thấy giá trị hàm lượng BCLL trên cơ sở thực nghiệm giữa kết quả đo đạc  
của thuật toán TN2 và Nechad 2010 có kết với phổ chụp trên ảnh vệ tinh tại chính vùng  
quả ước tính rất gần nhau độ lệch lớn nhất ở cửa sông Mã, do vậy TN2 sẽ phản ảnh gần  
ngưỡng giá trị 90 - 100 mg/l là nhỏ hơn 5 hơn đặc điểm phân bố BCLL tại khu vực  
mg/l (hình 8), trong khi đó kết quả ước tính này, TN2 sẽ được chọn để ước tình hàm  
từ thuật toán TN1 lại có sự khác biệt khá lớn lượng BCLL cho những ảnh vệ tinh Landsat-  
so với 2 kết quả còn lại. Do TN1 được xây 8 OLI còn lại.  
dựng dựa trên việc mô phỏng giá trị kênh  
Đánh giá sự phân bố nồng độ BCLL khu vực  
phổ trên ảnh vệ tinh sử dụng giá trị đo phổ  
cửa sông Mã:  
cầm tay, thiết bị sử dụng trong nghiên cứu  
Nghiên cứu sử dụng một mặt cắt dọc nối từ  
này chưa phải thiết bị đặc dụng trong nghiên  
cửa biển ra ngoài khơi với độ dài 7km (Hình  
cứu môi trường nước, vì vậy dữ liệu mô  
9). Dựa vào số liệu biểu đồ biểu thị phân bố  
phỏng sẽ có những sai khác nhất định, dẫn  
giá trị dọc theo mặt cắt có thể thấy rất rõ đặc  
tới kết quả không được chụm với 2 thuật  
điểm thay đổi nồng độ BCLL khi ra ngoài  
toán còn lại. Như vậy xét trên việc thống kê,  
cửa sông. Xét theo mùa, chuỗi ảnh phân tích  
phân tích thì thuật toán TN2 và Nechad 2010  
từ tháng 6 tương ứng với đầu mùa lũ và  
đáp ứng được yêu cầu áp dụng cho các ảnh  
tháng 10, tháng 11 là đầu mùa kiệt.  
vệ tinh còn lại để ước tính hàm lượng BCLL.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
9
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
3km đến 4km nồng độ BCLL thay đổi đột ngột  
thể hiện qua độ dốc biến thiên của giá trị nồng  
độ BCLL rất lớn, từ ngưỡng giá trị trên  
100mg/l xuống chỉ còn ở ngưỡng thấp dưới  
30mg/l; từ khoảng cách 4km trở đi ngưỡng giá  
trị chỉ còn ở mức <15 mg/l. Sự phân bố trên  
cũng phù hợp với thực tế mà nhóm nghiên cứu  
đã ghi nhận được trong đợt khảo sát mùa lũ  
tháng 8/2016 (Bảng 2).  
A
B
Đến thời điểm tháng 10/2016, đây là t hời điểm  
cuối mùa lũ nên qua phân tích trên ảnh chụp  
ngày 16/10/2016 cho thấy nồng độ BCLL đã  
giảm đi đáng kể, ở mức 90 mg/l tại vùng cửa  
sông và 2km quanh đó;từ 2-4km ngoài cửasông  
nồng độ BCLL cũng giảm mạnh xuống còn mức  
20mg/l; ở khoảng cách ngoài 4km giá trị bùn cát  
ở mức dưới 20mg/l và giảm dần (Hình 10).  
Hình 9: Sơ đồ mặt cắt dọc và biểu đồ phân bố  
hàm lượng bùn cát lơ lửng theo mặt cắt thời  
điểm tháng 11/2016  
Với thời điểm tháng 6/2016, ở khoảng 3km  
tính từ cửa biển có giá trị nồng độ BCLL rất  
cao lên tới gần 200 mg/l; từ khoảng cách ngoài  
Hình 10: Biểu đồ phân bố nồng độ BCLL theo mặt cắt thời điểm tháng 6 và 10/2016  
Cũng trên kết quả phân tích biến động nồng độ giữa nồng độ bùn cát lơ lửng ở mùa lũ và mùa  
BCLL vào tháng 11/2015 và tháng 11/2016. kiệt. Bản đồ phân bố nồng độ bùn cát lơ lửng  
Từ biểu đồ mặt cắt cho thấy ở khu vực gần cửa trên ảnh Landsat chỉ ra rằng vào mùa lũ dòng  
sông giá trị nồng độ BCLLtháng 11/2016 ở chảy đưa bùn cát ra biển có nồng độ cao, tại vị  
khoảng 70mg/l, cao gần gấp đôi so với cùng trí cửa sông và khu vực cách cửa sông khoảng  
thời điểm năm 2015 ở ngưỡng 35-40mg/l 6km, dòng vận chuyển bùn cát theo hướng dòng  
(Hình 11). Như vậy có thểthấy bùn cát lơ lửng biển hình thành một vùng dạng roi. Ở vùng cửa  
vào cuối mùa lũ năm 2016 có giá trị khá cao, sông bùn cát lơ lửng có thể đạt tới trên 300 mg/l  
kết quả này là hợp lý với điều kiện thủy văn và giảm dần tỉ lệ nghịch với khoảng cách so với  
sông Mã năm 2015 không có mưa lũ trong khi vùng cửa sông. Trong khi vào mùa kiệt do lưu  
năm 2016 mưa lũ đến muộn.  
lượng nước trong sông nhỏ, lượng bùn cát vận  
chuyển cũng vì vậy mà nhỏ hơn hẳn. Bản đồ  
Kết quả phân tích cho thấy sự khác nhau rõ rệt  
10  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
phân bố cho thấy, vào mùa kiệt dòng bùn cát lơ đều quanh vùng cửa sông, giá trị trung bình chỉ  
lửng tập trung trong khoảng 3km và phân tán vào khoảng 35-40 mg/l.  
A
B
Hình 11: Phân bố nồng độ BCLL theo mặt cắt thời điểm tháng 11/2015 và tháng 11/2016  
Kết quả sơ bộ thu được khá tốt, quy trình xử lý chuyên dụng này – trừ một số nghiên cứu  
ảnh đưa ra phù hợp với đối tượng nghiên cứu. được thực hiện bởi các chuyên gia quốc tế).  
Các bước thực hiện đảm bảo tính logic khoa học, Do vậy việc đo đạc và xử lý thông tin phổ thu  
rất đặc thù với việc sử dụng tư liệu viễn thám được khá khó khăn và cần nhiều nguồn tham  
trong quan trắc yếu tố nồng độ BCLL. Kết quả chiếu để hiệu chỉnh, kiểm chứng.  
phân tích từ ảnh cho thấy bức tranh toàn cảnh sự  
3. KẾT LUẬN  
phân bố nồng độ BCLL khu vực cửa sông và  
Nghiên cứu này bước đầu đã thiết lập cách xác  
ven bờ. Đây là kết quả có tính chất khách quan,  
định lượng bùn cát lơ lửng vùng cửa sông Mã  
từ đó có thể sử dụng kết quả này phục vụ hiệu  
bằng việc phân tích ảnh viễn thám kết hợp đo  
chỉnh các mô hình vận chuyển bùn cát.  
đạc lấy mẫu từ thực địa. Kết quả phân tích trên  
Bên cạnh những kết quả ban đầu đạt được, một  
ảnh tương quan tương đối chặt chẽ với kết quả  
số hạn chếtrong nghiên cứu cần đềcập đến như:  
từ phân tích mẫu từ thực địa, điều này cho  
- Thứ nhất, rất khó để có được ảnh vệ tinh với phép trong tương lai có thể sử dụng phân tích  
điều kiện quang mây tương ứng với thời điểm ảnh để tính toán lượng bùn cát lơ lửng thay vì  
lấy mẫu thực địa để kiểm chứng. Vệ tinh phải thực hiện thu thập và phân tích mẫu tại  
quang học phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện thực địa (tốn kém kinh phí và thời gian) khi  
thời tiết quang mây.  
tương quan đủ chặt chẽ.  
- Thứ hai, việc đo đạc thực địa cần tập trung Dựa vào kết quả phân tích trên ảnh vệ tinh,  
vào khoảng thời gian vệ tinh bay qua (giới hạn nghiên cứu đã cho thấy phần nào bức tranh  
trong khoảng 2 giờ trước và sau thời điểm ảnh toàn cảnh sự phân bố BCLL theo mùa tại khu  
vệ tinh). Với vệ tinh Landsat-8 giờ vệ tinh bay vực cửa sông Mã. Với hàm lượng bùn cát vào  
qua là khoảng 10h17’, do vậy tuyến khảo sát mùa lũ có thể lên tới trên 300 mg/l và ở mức  
phải được thiết kế hợp lý.  
dưới 40mg/l vào mùa kiệt, nhưng lại có sự  
khác biệt phụ thuộc vào điều kiện thời tiết,  
thủy văn giữa các năm (cùng thời điểm đầu  
mùa kiệt nhưng tháng 11/2015 với tháng  
11/2016 lại có sự khác nhau rõ rệt).  
- Thứ ba, thiết bị đo phổ trên bề mặt biển chưa  
đạt chuẩn của thiết bị chuyên dụng để đo phổ  
phản xạ của nước biển (hiện tại ở Việt Nam  
hiện chưa có đơn vị nghiên cứu nào có thiết bị  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
11  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Nghiên cứu đã đưa ra quy trình ước tính hàm thu được từ nguồn tư liệu này.  
lương BCLL sử dụng tư liệu ảnh vệ tinh  
Lời cảm ơn: Nghiên cứu của bài báo đã nhận  
Landsat-8, quy trình này có thể áp dụng cho các  
loại tư liệu ảnh vệ tinh quang học khác nhau và  
tại các vùng cửa sông khác nhau. Nghiên cứu  
đồng thời chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của  
ảnh vệ tinh trong việc ước tình hàm lượng  
BCLL từ đó đưa ra các khuyến nghị cho người  
sử dụng, nhằm khai thác hiệu quả nhất thông tin  
được nguồn kinh phí và số liệu từ đề tài phát  
triển KH&CN năm 2016 “Nghiên cứu ứng  
dụng ảnh viễn thám xác định nồng độ bùn cát  
lơ lửng phục vụ dự báo diễn biến vùng cửa  
sông ven biển” của Phòng Thí nghiệm trọng  
điểm Quốc gia về động lực học sông biển.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Bee, S. (2008). "Seasonal and Annual Changes in Water Quality in the Ohio River Using  
Landsatbased measures of Turbidity and Chlorophyll-a." Master thesis.  
[2] Binding, C., D. Bowers, and E. Mitchelson-Jacob, 2003. An algorithm for the retrieval of  
suspended sediment concentrations in the Irish Sea from SeaWiFS ocean colour satellite  
imagery, International Journal of Remote Sensing, 24(19): 3791-3806.  
[3] Clark, D., E. Baker, and A. Strong, 1980. Upwelled spectral radiance distribution in  
relation to particulate matter in sea water, BoundaryLayer Meteorology, 18(3): 287-298.  
[4] Clark, D. K., 1997. MODIS Algorithm Theoretical Basis Document, Bio-Optical  
Algorithms_Case 1 Waters, version 1.2.  
[5] Dekker, A. G. and S. W. M. Peters (1993). "The use of the Thematic Mapper for the  
analysis of eutrophic lakes: a case study in the Netherlands." International Journal of  
Remote Sensing 14 (5): 799-821.  
[6] Doerffer, R. and H. Schiller, 1997. Pigment Index, Sediment and Gelbstoff Retrieval from  
Directional Water Leaving Radiance Reflectances using Inverse Modelling Technique,  
Algorithm Theoretical Basis Document (ATBD) 2.12.  
[7] Duan, W., K. Takara, B. He, P. Luo, D. Nover and Y. Yamashiki (2013). "Spatial and  
temporal trends in estimates of nutrient and suspended sediment loads in the Ishikari River,  
Japan, 1985 to 2010." Science of The Total Environment 461–462: 499-508.  
[8] E.Brando, V. and A. G.Dekker (2003). "Satellite hyperspectral remote sensing for  
estimating estuarine and coastal water quality." IEEE Transactions on Geoscience and  
Remote Sensing 41 (6): 1378–1387.  
[9] Gholizadeh, H. M., M. A. Melesse and L. Reddi (2016). "A Comprehensive Review on  
Water Quality Parameters Estimation Using Remote Sensing Techniques." Sensors 16 (8).  
[10] Gordon, H. R. and A. Y. Morel, 1983. Remote Assessment of Ocean Color for  
Interpretation of Satellite Visible Imagery: A Review, Springer-Verlag, New York.  
[11] Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Quang Minh, Vũ Đình Cương, 2016. Nghiên cứu sự biến  
động theo mùa của chế độ thủy động lực khu vực cửa sông ven biển lưu vực sông Mã, Tạp  
chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, Tập 4, số 2, tháng 2/2016. Tr. 32-39;  
[12] Kondratyev, K. Y., D. V. Pozdnyakov and L. H. Pettersson, 1998. "Water quality remote  
12  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
CHUYỂN GIAO  
CÔNG NGHỆ  
sensing in the visible spectrum." International Journal of Remote Sensing 19 (5): 957-979.  
[13] Miller, R. L. and B. A. McKee, 2004. Using MODIS Terra 250 m imagery to map  
concentrations of total suspended matter in coastal waters, Remote Sensing of  
Environment, 93: 259-266.  
[14] Nechad, B. Ruddick, K.G and Y. Park, 2010. “Calibration and validation of a generic  
multisensory algorithm for mapping of total suspended matter in turbid wates, Remote  
sensing of Environment, 114: 854- 866.  
[15] Ruddick, K., Y. Park, and B. Nechad, 2003. MERIS Imagery of Belgian Coastal Waters:  
Mapping of Suspended Particulate Matter and Chlorophyll-a, ESA Special Publications  
[16] Sathyendranath, S. and A. Morel, 1983. Light emerging from the sea-interpretation and  
uses in remote sensing, Remote Sensing Applications in Marine Science and Technology,  
Dordrecht, The Netherlands, D. Reidel, 323-357.  
[17] Seyhan, E. and A. Dekker (1986). "Application of remote sensing techniques for water  
quality monitoring." Hydrobiological Bulletin 20 (1): 41-50.  
[18] Sturm, B., 1983. Selected topics of coastal zone color scanner (CZCS) data evaluation,  
Remote Sensing Applications in Marine Science and Technology, Dordrecht, The  
Netherlands, D. Reidel, 137-167.  
[19] Tassan, S., 1994. Local algorithms using SeaWiFS data for the retrieval of phytoplankton,  
pigments, suspended sediment, and yellow substance in coastal waters, Applied Optics,  
33(12): 2369-2378.  
[20] Zheng, Z., Y. Li, Y. Guo, Y. Xu, G. Liu and C. Du (2015). "Landsat-Based Long-Term  
Monitoring of Total Suspended Matter Concentration Pattern Change in the Wet Season  
for Dongting Lake, China." Remote Sensing 7 (10).  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
13  
pdf 13 trang Mãnh Khiết 13/01/2024 7800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu ứng dụng ảnh viến thám xác định nồng độ bùn cát lơ lửng vùng cửa hới Sông Mã", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_ung_dung_anh_vien_tham_xac_dinh_nong_do_bun_cat_l.pdf