Ứng dụng ảnh viễn thám trong việc nâng cao độ chính xác của mô phỏng ngập lụt lưu vực Sông Trà khúc tỉnh Quảng Ngãi

KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
ỨNG DỤNG ẢNH VI ỄN THÁM TRO NG VIỆC NÂNG CAO  
ĐỘ CHÍNH XÁC CỦA MÔ PHỎNG NGẬP LỤT LƯU VỰC  
SÔNG TRÀ KHÚC TỈNH QUẢNG NGÃI  
Vũ Đình Cương, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Thành Luân, Nguyễn Thu Huyền,  
Phòng Thí nghiệm trọng điểm Quốc gia về ĐLHSB  
Phạm Thanh Tâm  
Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam  
Nguyễn Hiệp  
Chi cục Phòng chống thiên tai khu vực Miền trung - Tây nguyên  
Tóm tắt: Phân tích ảnh viễn thám phục vụ nâng cao độ chính xác trong bài toán mô phỏng ngập  
lụt lưu vực được thể hiện trong nghiên cứu này tập trung vào 2 điểm: 1) Ảnh viễn thám giúp xác  
định được hệ số nhám của từng ô lưới cho vùng nghiên cứu để chính xác hóa số liệu đầu vào; 2)  
Phạm vi ngập phân tích xác định từ ảnh viễn thám được so sánh với kết quả mô phỏng của mô  
hình, giúp kiểm nghiệm độ chính xác của mô hình mô phỏng. Ảnh viễn thám có độ phân giải  
không gian khá chi tiết phản ánh khách quan được những biến động của các đối tượng trên bề  
mặt lưu vực và cho phép cập nhật kịp thời những biến động này cho mô hình mô phỏng. Diện  
ngập xác từ kết quả phân tích ảnh viễn thám có tính khách quan và là nguồn dữ liệu độc lập để  
so sánh đối chiều với kết quả tính toán từ mô hình. Sự kết hợp giữa mô hình mô phỏng ngập lụt  
Mike Flood và ảnh viễn thám được thực hiện trong nghiên cứu ngập lụt lưu vực sông Trà Khúc  
tỉnh Quảng Ngãi đã cho thấy sự hỗ trợ rất hữu hiệu của ảnh viễn thám để nâng cao độ chính xác  
của mô hình mô phỏng và là một hướng nghiên cứu đúng đắn cần phát huy nhân rộng.  
Từ khóa: sông Trà Khúc, mô hình ngập lụt, ảnh viễn thám và GIS.  
Summary: Remote sensing analysis serving for improving accuracy of flood model for river  
basin is approached in this study focusing on 2 aspects: 1) Remote sensing image helps to  
determine the roughness coefficient of each grid cell of the model thus correcting input data; 2)  
The extent of inundation area from remote sensing image is compared with results of model  
calculation to test the accuracy of the simulation. Remote sensing data has a good spatial  
resolution, and objectives in the basin surface have been reflected quite clear thus allowing  
timely updates the changes of the basin’s surface to the simulation model; The results of remote  
sensing analysis are useful for combining with simulated results to accurately determine the  
extent of flooding in the basin. The flood inundation modeling and remote sensing analysis was  
conducted for Tra Khuc river basin show the way of improving the accuracy of the modeling,  
and this is a proper research direction to extend.  
Keyword: Tra Khuc river, flood model, Remote sensing and GIS  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ *  
công tác phòng chống lụt bão nói riêng (Đinh  
Ngọc Đạt, 2015; Kebede Bishaw, 2012). Ảnh  
viễn thám với nhiều ưu điểm như giàu thông  
tin, chu kỳ thu nhận thông tin ngắn, xử lý  
thông tin trên diện rộng và thông tin có tính  
khách quan cao. Kết quả chiết tách từ ảnh vệ  
tinh cho ta các thông tin về các đối tượng trên  
Trong những năm gần đây, công nghệ viễn  
thám và GIS đang được ứng dụng rộng rãi  
trong công tác quản lý thiên tai nói chung và  
Ngày nhận bài: 24/7/2017  
Ngày thông qua phản biện: 05/9/2017  
Ngày duyệt đăng: 22/12/2017  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 41 - 2017  
1
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
bề mặt đất và phạm vi ngập lụt tại thời điểm  
chụp ảnh. Những lớp thông tin này là dữ liệu  
đầu vào rất quan trọng cho mô hình mô phỏng  
ngập lụt trên lưu vực sông, giúp nâng cao độ  
chính xác của các kết quả tính toán từ mô hình  
(Chu Hải Tùng và nnk, 2008).  
qua điều tra thực địa để bổ sung dữ liệu địa  
hình cho mô hình mô phỏng.  
2.2. Cơ sở dữ liệu phục vụ nghiên cứu  
1) Dữ liệu thủy văn:  
- Mục nước (H) và lưu lượng (Q) thực đo tại  
các trạm biên Sơn Giang, An Chỉ và tại các  
trạm Trà Khúc, Sông Vệ để kiểm tra mô hình.  
Phân tích ảnh viễn thám phục vụ nâng cao độ  
chính xác trong bài toán mô phỏng ngập lụt  
lưu vực được thể hiện trong nghiên cứu này  
tập trung vào 2 điểm: 1) Ảnh viễn thám giúp  
xác định được hệ số nhám của từng ô lưới cho  
vùng nghiên cứu để chính xác hóa số liệu đầu  
vào; 2) Phạm vi ngập lụt phân tích trên ảnh  
viễn thám được so sánh với kết quả mô phỏng  
của mô hình giúp kiểm nghiệm độ chính xác  
của mô phỏng. Nghiên cứu này ứng dụng ảnh  
viễn thám trong mô phỏng lũ lưu vực sông Trà  
Khúc và sông Vệ tỉnh Quảng Ngãi. Để có  
thêm dữ liệu kiểm chứng mô hình, số liệu vết  
lũ lịch sử trên lưu sông cũng đã được thu thập  
để phục vụ nghiên cứu.  
- Mực nước thủy triều dự tính từ các hằng số  
điều hòa thiên văn tại các biên cửa sông.  
- Lưu lượng lũ tính toán bằng mô hình thủy  
văn Mike NAM tại các biên nhập lưu.  
2) Dữ liệu vết lũ lịch sử trên lưu vực:  
- Tài liệu vết lũ lịch sử điều tra và thu thập  
được trên lưu vực sông Trà Khúc, sông Vệ của  
các trận lũ lớn lịch sử năm 2009 và 2013.  
3) Dữ liệu ảnh vệ tinh:  
- Ảnh vệ tinh quang học để chiết tách thông tin  
lớp phủ và ảnh vệ tinh radar để chiết tách  
thông tin phạm vi ngập trên bề mặt lưu vực  
sông Trà Khúc, sông Vệ. Cụ thể:  
2. CƠ SỞ DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
+ Ảnh quang học: bao gồm 03 cảnh ảnh  
Landsat (độ phân giải không gian 30m x 30m)  
chụp vào thời điểm mùa khô trước thời điểm  
xảy ra lũ lớn vào các năm 1999, 2009, 2013  
để chiết tách lớp phủ trên bề mặt lưu vực.  
2.1. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu đã ứng dụng mô hình mô phỏng  
ngập lụt MIKE FLOOD kết hợp giữa mô hình  
MIKE11 mô phỏng dòng chảy lũ trong sông  
+ Ảnh radar: không có ảnh vệ tinh chụp trùng  
và mô hình MIKE21 FM mô phỏng dòng chảy thời gian xảy ra các trận lũ lớn lịch sử năm  
1999, 2009, 2013 trên lưu vực. Nghiên cứu  
này đã sử dụng ảnh Sentinel chụp tại thời điểm  
ngập lụt của trận lũ ngày 01/12/2016 (độ phân  
giải không gian 10m x 10m) để chiết tách  
phạm vi vùng ngập lụt.  
lũ tràn trên bề mặt lưu vực. Mô hình MIKE  
FLOOD được thiết lập trong hệ tọa độ đồng bộ  
với các dữ liệu đầu vào của mô hình được lấy  
từ các kết quả phân tích ảnh viễn thám bằng  
phần mềm GIS. Các phần mềm được sử dụng  
trong phân tích ảnh viễn thám của nghiên cứu  
này gồm ENVI, SNAP, ArcGIS (Luân N.T. và  
nnk, 2017) nhằm chi tiết hóa các thông tin về  
lớp phủ cũng như phạm vi ngập lụt trên bề mặt  
4) Dữ liệu địa hình và công trình khu vực hạ  
du lưu vực sông Trà Khúc, sông Vệ:  
- Tài liệu mặt cắt địa hình cho mô hình  
Mike11 mạng sông: sử dụng 370 mặt cắt  
lưu vực sông. Ngoài ra, những khu vực có biến ngang sông đo đạc từ năm 2010-2014 để thiết  
lập cho mô hình Mike11.  
động lớn về địa hình trên lưu vực (như các khu  
công nghiệp, đường giao thông) cũng được  
kiểm tra thông tin và xác định cao độ thông  
- Tài liệu địa hình vùng ngập lũ trên lưu vực:  
2
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 41 - 2017  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
sử dụng số liệu bình đồ tỷ lệ 1:10.000 cho toàn Trên cơ sở phân tích mạng sông và địa hình tự  
lưu vực và 1:2.000 cho khu vực TP. Quảng nhiên lưu vực sông Trà Khúc, sông Vệ, nghiên  
Ngãi do Cục Đo đạc và Bản đồ xu ất bản năm cứu thiết mô hình mô phỏng trong mô hình  
2011 để thiết lập địa hình vùng ngập lũ vùng Mike FLood như Hình 1. Trong đó: Các sông  
hạ du lưu vực.  
chính được đưa vào mô hình Mike11 gồm 10  
tuyến sông (Trà Khúc dài 53,96 km, sông Vệ  
dài 21,67 km, Trà Câu dài 22,51 km, sông  
Thoa dài 28,35 km, sông Kinh dài 10,55 km,  
Phúc Thọ dài 6,11 km, Lệ Thủy dài 28 km,  
Phước Giang dài 30 km, Bàu Giang dài 24,69  
km và sông Đá dài 4,78 km).  
- Tài liệu các công trình trên khu vực hạ du lưu  
vực sông: Tổng hợp tài liệu về các công trình  
giao thông, thủy lợi trên lưu vực có ảnh hưởng  
đến quá trình lũ tràn trên lưu vực, như các cầu  
giao thông, tuyến đường bộ, đường sắt, các  
tuyến kênh tưới ngăn cản lũ rõ rệt. Các công  
trình này được đưa vào trong mô hình mô Miền lưới tính của mô hình Mike21 FM có  
phỏng.  
tổng số 130.000 phần tử ô lưới phi cấu trúc.  
Kích thước trung bình mỗi cạnh ô lưới  
100m, khu vực quan trọng kích thước cạnh ô  
lưới 30m.  
2.3. Thiết lập mô hình  
a) Thiết lập mạng sông và lưới tính mô hình  
MIKE FLOOD:  
Hình 1: Mô hình Mike Flood thiết lập cho vùng hạ du lưu vực sông Trà Khúc, sông Vệ  
b) Thiết lập các điều kiện biên cho mô hình:  
Câu, sông Lệ Thủy, sông Đá, sông Phước  
Giang không có trạm đo lưu lượng được tính  
toán từ mô hình thủy văn MIKE NAM (đã  
được hiệu chỉnh kiểm định đảm bảo sai số  
cho phép).  
Mô hình gồm có các biên lưu lượng phía trên,  
các biên nhập lưu khu giữa và các biên mực  
nước phía dưới.  
- Các biên lưu lượng: Các biên lưu lượng  
thực đo tại Sơn Giang sông Trà Khúc, tại An  
Chỉ sông Vệ; Các biên lưu lượng sông Trà  
- Các biên nhập lưu khu giữa: sông Trà  
Khúc, từ trạm Sơn Giang đến cửa sông có 7  
nhập lưu: (1) tại xã Sơn Nham cách đập Thạch  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 41 - 2017  
3
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Nham 8,5 km về phía thượng lưu; (2) tại xã cho hệ số nhám phân bố biến đổi theo không  
Sơn Hạ cách đập Thạch Nham 10 km về phía gian lưu vực. Tuy nhiên hạn chế của phương  
thượng lưu; (3) sông Giang cách đập Thạch pháp này là phụ thuộc hoàn toàn vào bản đồ  
Nham 2,6 km về phía hạ lưu; (4) sông Bằng hiện trạng sử dụng đất trên lưu vực; các bản đồ  
Đằng cách đập Thạch Nham 5,4km về phía hạ thường có mức độ chi tiết không cao (bản đồ  
lưu; (5) sông Phước cách đập Thạch Nham 9 tỷ lệ 1:25.000) nên hệ số nhám cũng đã bị  
km về phía hạ lưu; (6) sông An Mỹ Trại cách trung bình hóa giữa các đối tượng; thời gian  
đập Thạch Nham 11,5 km về phía hạ lưu; (7) cập nhật bản đồ lâu (ít nhất 5 năm một lần)  
sông Tam Hàn cách đập Thạch Nham 14,4 km nên chưa phản ánh đúng được các đối tượng  
về phía hạ lưu. Lưu lượng các nhập lưu được bề mặt lưu vực tại thời điểm trận lũ mô phỏng.  
tính toán từ mô hình thủy văn MIKE NAM.  
Những hạn này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến độ  
chính xác của mô phỏng.  
- Các biên mực nước: biên mực nước tại các  
cửa sông đổ ra biển, gồm 4 cửa sông Trà Ứng dụng ảnh viễn thám để xác định hệ số  
Khúc, cửa sông Vệ, cửa sông Kinh và cửa nhám cho mô hình với các đối tượng trên bề  
sông Trà Câu. Các cửa sông không có số liệu mặt lưu vực có thể khắc phục được những hạn  
đo mực nước nên trong nghiên cứu sử dụng chế đối với số liệu đầu vào như phân tích ở  
mực nước triều dự tính từ các hằng số điều hòa trên. Nghiên cứu này xác định hệ số nhám bề  
thiên văn.  
mặt từ phân tích ảnh viễn Landsat độ phân giải  
30m x 30m cho mô hình mô phỏng ngập lụt  
trên lưu vực. Mặt khác chu kỳ chụp lặp của  
ảnh Landsat là 16 ngày cho phép xác định  
được chính xác hệ số nhám tức thời gần sát với  
thời điểm xảy ra trận lũ cần tính toán mô  
phỏng từ đó nâng cao được độ chính xác của  
mô hình. Từ kết quả phân tích ảnh Landsat sẽ  
phân loại được các đối tượng cụ thể trên bề  
mặt lưu vực như Hình 2(a). Sau khi quy đổi  
giá trị hệ số nhám cho mỗi loại đối tượng cụ  
thể sẽ xác định được hệ số nhám phân bố theo  
không gian bề mặt lưu vực.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Kết hợp dữ liệu ảnh viễn thám để hiệu  
chỉnh, kiểm định nâng cao chính xác của  
mô hình mô phỏng  
1. Thiết lập thông số nhám cho mô hình  
Mỗi loại đối tượng thực tế trên bề mặt lưu vực  
(đối tượng công trình dân cư, thủy lợi, giao  
thông, đất trồng cây, đất trồng lúa, đất xây  
dựng…) được đặc trưng bởi một giá trị hệ số  
nhám khác nhau trong mô hình toán 2 chiều,  
biểu thị cho mức độ cản trở dòng chảy lũ tràn  
trên bề mặt lưu vực. Mô phỏng ngập lụt cho Dựa vào độ phân giải của ảnh viễn thám mỗi  
lưu vực sông Trà Khúc của một số nghiên cứu vùng ô lưới vuông kíchthước 30m x 30m sẽđược  
trước đây t hường sử dụng hai phương pháp để gán một giá trị hệ số nhám. Giá trị hệ số nhám  
xác định hệ số nhám cho mô hình: (1)-Hệ số của các đối tượng trên bề mặt lưu vực trong mô  
nhám là hằng số trung bình cho toàn lưu vực phỏng thủy lực đã được rất nhiều các nhà khoa  
hoặc (2)-Hệ số nhám phân bố dựa vào bản đồ học trên thế giới nghiên cứu và công bố, các tác  
sử dụng đất. Khu vực hạ du lưu vực sông Trà giả nổi tiếng có thểkể đến như Chow VT., 1959];  
Khúc có kinh tế xã hội khá phát triển nên các Fazlul Karim, 2011; Connell Wagner, 2006; R.  
đối tượng trên bề mặt lưu vực có sự biến động Lomulder, 2004]; Alexander Salmonsson, 2015.  
lớn theo không gian, do đó việc sử dụng hệ số Nghiên cứu này trên cơ sở tham khảo các giá trị  
nhám theo phương pháp (1) chưa thỏa đáng do hệ số nhámcủa các tác giả đã công bố kết hợp với  
không phản ánh đúng được điều kiện bề mặt phân tích điều kiện bề mặt thực tế của lưu vực để  
lưu vực. Xác định hệ số nhám theo phương sơ bộ lựa chọn được giá trị hệ số nhám làm đầu  
pháp (2) có ưu điểm hơn phương pháp (1) là vào cho mô hình Mike Flood, hệ số nhám phân  
4
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 41 - 2017  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
bố thiết lập dưới dạng ô lưới 30m x 30m như quá trình hiệu chỉnh và kiểm định mô hình mô  
Hình 2(b). Hệsố nhám này sẽđược điều chỉnh để phỏng với một số trận lũ.  
tìm ra giá trịphù hợp nhất cho lưu vực thông qua  
(a) Chiết tách lớp phủ từ ảnh Landsat  
(b) Hệ số nhám quy đổi cho các đối tượng  
Hình 2: Thiết lập thông số nhám mô hình từ kết quả phân tích ảnh viễn thám  
2. Hiệu chỉnh mô hình  
- Hiệu chỉnh mực nước tại các trạm đo:  
Mô hình được hiệu chỉnh với trận lũ năm Hiệu chỉnh mực nước tại các trạm đo cho  
2009. Trận lũ năm 2009 là trận lũ lịch sử đặc kết quả tốt: Trên sông Trà Khúc tại trạm  
biệt lớn trên cả sông Trà Khúc và sông Vệ: tại Trà Khúc, mực nước tính toán Hmax = 8.0m  
trạm Sơn Giang Qmax = 11800 m3/s, tại trạm thấp hơn đỉnh lũ thực đo 0.12m; Trên sông  
Trà Khúc Hmax = 8.12 m (trên báo động 3 là Vệ tại trạm Sông Vệ, mực nước tính toán  
1.62 m), tại trạm An Chỉ Qmax = 2420 m3/s, tại Hmax = 5.27m thấp hơn đỉnh lũ thực đo  
trạm Sông Vệ Hmax = 5.38 m (trên báo động 3 0.11m (Hình 3). Chỉ số Nash đánh giá sai số  
là 0.88 m). Sử dụng tài liệu thực đo mực nước hiệu chỉnh mô hình giữa kết quả tính toán  
các trạm Trà Khúc, Sông Vệ, Trà Câu kết hợp và số liệu thực đo cho kết quả tốt: trạm Trà  
với số liệu khảo sát của 57 vết lũ lịch sử trên Khúc Nash = 0.93, trạm Sông Vệ Nash =  
lưu vực để hiệu chỉnh bộ thông số mô hình.  
0.98 (Bảng 2).  
Bảng 1: Bảng chỉ số Nash đánh giá sai số hiệu chỉnh mô hình  
Hmax tính  
toán (m)  
8.0  
Hmax thực Sai số đỉnh  
TT Tên trạm  
Tên sông  
Trà Khúc Sông Trà Khúc  
Sông Vệ Sông Vệ  
Chỉ số Nash  
đo (m)  
8.12  
(m)  
0.12  
0.11  
1
2
0.93  
0.98  
5.27  
5.38  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 41 - 2017  
5
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Hình 3: Hiệu chỉnh mực nước tại trạm Trà Khúc và Sông Vệ với trận lũ năm 2009  
- Hiệu chỉnh với vết lũ điều tra:  
Hiệu chỉnh với số liệu điều tra vết  
lũ trên lưu vực cho kết quả tốt:  
- Về phạm vi ngập: phạm vi ngập  
từ kết quả tính toán mô hình có sự  
tương đồng tốt với phạm vi của các  
vết lũ điều tra thu thập được trên  
lưu vực (Hình 4);  
- Về cao trình mực nước lũ: so  
sánh cao trình mực nước lũ giữa  
kết quả tính toán và thực tế tại các  
điểm vết lũ điều tra cũng có sự phù  
hợp tốt. Sai số mực nước lũ trung  
bình khoảng 0.5-1.0m (Hình 5).  
Hình 4: So sánh phạm vi ngập lụt trận lũ 2009  
với các vết lũ điều tra trên lưu vực  
Hình 5: So sánh hiệu chỉnh mực nước trận lũ 2009 với cao trình vết lũ điều tra  
6
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 41 - 2017  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
3. Kiểm định mô hình  
thám Sentinel để kiểm chứng mô hình.  
Mô hình được kiểm định lại với trận lũ từ ngày - Kiểm định mực nước tại các trạm đo:  
30/11/2016 - 04/12/2016. Đây là trận lũ lớn  
Kiểm định mực nước tại các trạm đo cho kết  
gây ngập lụt phía sông Vệ và sông Trà Câu,  
quả tốt: tại trạm Trà Khúc mực nước tính toán  
nhưng lũ không lớn trên sông Trà Khúc: tại  
Hmax = 5.34 m thấp hơn đỉnh lũ thực đo 0.11  
trạm Sơn Giang Qmax = 2750 m3/s, tại trạm Trà  
m; tại trạm Sông Vệ mực nước tính toán Hmax  
Khúc Hmax = 5.45 m (trên báo động 2 là 0.45  
= 5.06 m thấp hơn đỉnh lũ thực đo 0.12 m  
m), tại trạm An Chỉ Qmax = 1530 m3/s, tại trạm  
(Hình 6). Chỉ số Nash đánh giá sai số kiểm  
Sông Vệ Hmax = 5.18 m (trên báo động 3 là  
định mô hình giữa kết quả tính toán và số liệu  
0.68 m). Sử dụng tài liệu thực đo mực nước  
thực đo cho kết quả tốt: trạm Trà Khúc Nash =  
các trạm Trà Khúc, Sông Vệ kết hợp so sánh  
0.89, trạm Sông Vệ Nash = 0.76 (Bảng 2).  
với phạm vi vùng ngập chiết tách từ ảnh viễn  
Bảng 2: Bảng chỉ số Nash đánh giá sai số kiểm định mô hình  
Sai số đỉnh  
Hmax  
Hmax  
TT Tên trạm  
Tên sông  
Chỉ số Nash  
tính toán (m) thực đo (m)  
(m)  
1
2
Trà Khúc Sông Trà Khúc  
Sông Vệ Sông Vệ  
5.34  
5.06  
5.45  
5.18  
0.11  
0.12  
0.89  
0.76  
Hình 6: Kiểm định mực nước tại trạm Trà Khúc và Sông Vệ với trận lũ năm 2016  
- Kiểm định với phạm vi vùng ngập chiết tách Phước Giang, Bàu Giang, nhưng có sự khác  
từ ảnh viễn thám Sentinel  
biệt rất lớn về diện ngập ở các khu vực khác,  
đặc biệt là phía sông Trà Khúc. Điều nay có  
thể lý giải như sau: Trên sông Trà Khúc mực  
nước lũ mới trên báo động 2 nên lũ chưa thể  
tràn bờ gây ngập lụt trên lưu vực được, các  
khu vực ngập xác định được trên ảnh vệ tinh là  
các khu có địa hình trũng thấp bị ngập úng cục  
bộ do mưa trực tiếp trên bề mặt.  
Kết quả kiểm định mô hình với phạm vi ngập  
lụt chiết tách từ ảnh Sentinel thể hiện như  
Hình 7(b). Phạm vi ngập tính toán từ mô hình  
có sự tương đồng khá tốt đối với phạm vi ngập  
xác định từ ảnh Sentinel ở những khu vực địa  
hình thấp dọc các tuyến sông Vệ, Trà Câu,  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 41 - 2017  
7
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
(a) Vùng ngập chiết tách từ ảnh Sentinel  
(b) So sánh vùng ngập  
Hình 7: So sánh phạm vi ngập lụt trận lũ 2016 với vùng ngập chiết tách từ ảnh Sentinel  
- Bộ thông số nhám của mô hình Mike Flood: 0.04. Đối với mô hình Mike21 FM, hệ số  
nhám bề mặt lưu vực trong khoảng 0.035 -  
Kết quả hiệu chỉnh và kiểm định mô hình đã  
0.30 tùy thuộc vào từng loại đối tượng. Giá trị  
xác định được bộ thông số nhám phù hợp cho  
hệ số nhám cụ thể như Bảng 3.  
khu vực nghiên cứu. Đối với mô hình Mike11,  
hệ số nhám lòng sông trong khoảng 0.02 -  
Bảng 3: Bộ thông số nhám của mô hình Mike Flood phù hợp cho vùng nghiên cứu  
Phân loại các lớp phủ đặc trưng trên lưu vực  
Cát: nền cát ở các khu vực bãi sông, cửa sông  
Cây thấp: khu vực cây trồng, lúa và hoa màu  
Dân cư: khu dân cư nông thôn và thành thị (nhà cửa)  
Nước: khu vực lòng sông chính  
Giá trị hệ số nhám (n)  
0.04  
0.04 - 0.05  
0.1 - 0.3  
0.033  
Rừng: khu vực rừng nguyên sinh và rừng tái sinh (cây cao)  
Đất trống: khu vực cây bụi, cỏ (ít thực vật)  
Đất xây dựng: khu vực đang san lấp xây dựng công trình  
0.12 - 0.2  
0.07 - 0.1  
0.035  
4. Nhận xét kết quả hiệu chỉnh và kiểm định vết lũ có sự tương đồng tốt, mực nước tính  
mô hình  
toán so với cao trình vết lũ sai số trong khoảng  
0.5 - 1.0 m trên phạm vi toàn lưu vực với 57  
vết lũ là có thể chấp nhận được. Hệ số nhám  
phân bố của mô hình phù hợp với các kết quả  
đã công bố của các nghiên cứu trước đây. Như  
vậy với việc ứng dụng kết hợp ảnh viễn thám  
Mô hình đã được hiệu chỉnh và kiểm định cho  
kết quả tốt. Sai số về mực nước tại các trạm  
kiểm tra Trà Khúc và Sông Vệ đều chỉ nhỏ  
hơn khoảng 10 cm. Phạm vi ngập từ kết quả  
tính toán so với phân bố của các điểm điều tra  
8
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 41 - 2017  
KHOA HỌC  
làm đầu vào và số liệu kiểm chứng đã nâng 3 là 1.53 m).  
CÔNG NGHỆ  
cao được độ chính xác cho mô hình, bộ công  
cụ mô hình đã đảm bảo độ tin cậy và có thể sử  
dụng để tính toán mô phỏng cho các trận lũ  
khác trên lưu vực.  
Nghiên cứu đã điều tra thu thập được 114 vết  
lũ (độ sâu ngập) trên phạm vi toàn lưu vực, độ  
sâu ngập phổ biến từ 0.5 - 1.5m, một số điểm  
ngập sâu trên 3m. Kết quả tính toán độ sâu  
3.2. Mô phỏng ngập lụt trên lưu vực trong ngập so với số liệu điều tra tại các vết lũ cho  
một số trận lũ lịch sử  
thấy có sai khác khá lớn, phổ biến trong  
khoảng 1.0 - 1.5m (Hình 8). Điều này có thể lý  
giải là do nguyên nhân: độ sâu ngập lũ tại các  
vết lũ điều tra là độ sâu ngập cục bộ với địa  
hình thực tế tại điểm vết lũ, trong khi đó độ  
sâu ngập lũ tính toán từ mô hình là độ sâu  
ngập trung bình của ô lưới tính với địa hình ô  
lưới đã trung bình hóa giữa các điểm địa hình.  
Trận lũ lịch sử năm 2013  
Trận lũ năm 2013 là trận lũ có lưu lượng lũ lớn  
nhất đã xảy ra trên cả sông Trà Khúc và sông  
Vệ: tại trạm Sơn Giang Qmax = 16400 m3/s, tại  
trạm Trà Khúc Hmax = 8.76 m (trên báo động 3  
là 2.26 m), tại trạm An Chỉ Qmax = 3770 m3/s,  
tại trạm Sông Vệ Hmax = 6.03 m (trên báo động  
Hình 8: Độ sâu ngập tại 114 vết lũ điều tra trên lưu vực trong trận lũ 2013  
Diện tích ngập và độ sâu ngập: Phạm vi ngập lụt  
từ kết quả mô hình có sự tương đồng tốt với  
phạm viphân bố của các vết lũ lịch sử năm 2013  
điều tra được trên lưu vực (Hình 9). Đạt được sự  
tương đồng này là do mô hình đã được hiệu  
chỉnh kiểm định tốt, nâng cao được độ chính xác  
nhờ kết hợp ảnh viễn thám để xác định hệ số  
nhám và diện tích ngập phù hợp cho mô hình.  
Kết quả phân tích đã xác định được tổng diện  
tích ngập lụt trên lưu vực trong trận lũ lịch sử  
năm 2013 là 32030 ha, trong đó những khu vực  
bị ngập sâu từ 0.5 - 1.0 m chiếm diện tích nhiều  
nhất là 9266 ha, khu vực ngập sâu trên 2m chiếm  
diện tích 4439 ha, đặc biệt khu vực ngập sâu trên  
3m cũng chiếm tới diện tích 864 ha (Bảng 4).  
Bảng 4: Thống kê diện tích ngập lụt trong  
trận lũ lịch sử năm 2013  
Diện tích ngập tương  
Độ sâu ngập (m)  
ứng độ sâu ngập (ha)  
< 0.2  
0.2 - 0.5  
0.5 - 1.0  
1275  
5043  
9266  
7441  
4566  
2438  
1137  
864  
1.0 - 1.5  
1.5 - 2.0  
2.0 - 2.5  
2.5 - 3.0  
> 3.0  
Tổng diện tích ngập (ha)  
32030  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 41 - 2017  
9
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Bảng 5: Thống kê diện tích ngập lụt trong  
trận lũ lịch sử năm 1999  
Diện tích ngập  
Độ sâu ngập (m)  
tương ứng độ sâu  
ngập (ha)  
< 0.2  
0.2 - 0.5  
0.5 - 1.0  
1.0 - 1.5  
1.5 - 2.0  
1484  
4604  
7960  
6779  
4553  
2732  
1024  
364  
2.0 - 2.5  
2.5 - 3.0  
> 3.0  
Tổng diện tích ngập (ha)  
29498  
Hình 9: So sánh phạm vi ngập lụt trận lũ 2013  
với các vết lũ điều tra trên lưu vực  
5. Trận lũ lịch sử năm 1999  
Trận lũ năm 1999 cũng là trận lũ lớn trên cả  
sông Trà Khúc và sông Vệ: tại trạm Sơn  
Giang Qmax = 10700 m3/s, tại trạm Trà Khúc  
Hmax = 8.36 m (trên báo động 3 là 1.86 m),  
tại trạm An Chỉ Qmax = 3500 m3/s, tại trạm  
Sông Vệ Hmax = 6.03 m (trên báo động 3 là  
1.53 m).  
Diện tích ngập và độ sâu ngập: Tổng diện  
tích ngập lụt trên lưu vực trong trận lũ lịch  
sử năm 1999 là 29498 ha, trong đó những  
khu vực bị ngập sâu từ 0.5 - 1.0 m chiếm  
diện tích nhiều nhất là 7960 ha, khu vực  
ngập sâu trên 2m chiếm diện tích 4120 ha,  
khu vực ngập sâu trên 3m chiếm diện tích  
364 ha (Bảng 5, Hình 10). Như vậy trận lũ  
năm 2009 cũng gây ngập lụt diện rộng  
nhưng phạm vi và mức độ ngập vẫn ít hơn  
trận lũ năm 2013.  
Hình 10: Độ sâu ngập lụt lưu vực trong trận lũ  
lịch sử năm 1999  
4. KẾT LUẬN  
Nghiên cứu đã ứng dụng được ảnh viễn thám  
kết hợp với mô hình mô phỏng để nâng cao độ  
chính xác của mô hình Mike Flood tính toán  
10  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 41 - 2017  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
ngập lụt cho vùng hạ du lưu vực sông Trà quan trắc khách quan về diện ngập trên lưu  
Khúc, sông Vệ. Kết quả nghiên cứu đã xác vực. Tuy nhiên, cần lưu ý phân biệt ngập lụt  
định được hệ số nhám bề mặt lưu vực trong do lũ sông và ngập úng do mưa nội đồng khi  
khoảng 0.035 - 0.30 tùy thuộc vào từng loại sử dụng kết quả phân tích diện ngập lụt từ ảnh  
đối tượng, đây là dữ liệu đầu vào rất quan viễn thám.  
trọng cho mô hình Mike Flood. Mô hình được  
Phương pháp mô hình toán mô phỏng và  
kiểm chứng cho kết quả khá tốt, phù hợp với  
phương pháp phân tích ảnh viễn thám trong  
dữ liệu các vết lũ điều tra trên lưu vực cũng  
nghiên cứu ngập lụt lưu vực đều có những  
như phạm vi ngập lụt chiết tách từ ảnh viễn  
điểm mạnh và những điểm còn hạn chế, do đó  
thám. Phương pháp kết hợp ảnh viễn thám  
kết hợp giữa hai phương pháp với nhau, bổ trợ  
nâng cao độ chính xác cho mô hình ngập lụt  
cho nhau để nâng cao độ chính xác của mô  
lần đầu tiên áp dụng cho lưu vực sông Trà  
hình mô phỏng là một hướng nghiên cứu đúng  
Khúc, sông Vệ tỉnh Quảng Ngãi bước đầu đã  
đắn cần phát huy nhân rộng.  
cho kết quả tốt, đây là cơ sở khoa học quan  
Lời cảm ơn: Bài báo này là một phần kết quả  
trọng để ứng dụng mở rộng nghiên cứu cho  
của đề tài nghiên cứu cấp Bộ Nông nghiệp và  
các lưu vực sông khác trên cả nước.  
Phát triển nông thôn: “Nghiên cứu ứng dụng  
Hệ số nhám của mô hình xác định từ kết quả  
công nghệ GIS và viễn thám để theo dõi, đánh  
phân tích ảnh viễn thám có nhiều ưu điểm so  
giá, hoàn thiện và nâng cao độ chính xác của  
với những phương pháp trước đây: phản ánh  
công tác dự báo ngập lụt phục vụ công tác  
khách quan và cập nhật kịp thời được những  
quản lý phòng chống lũ lụt vùng hạ du các  
biến động của các đối tượng trên bề mặt lưu  
sông”, chủ nhiệm PGS.TS Nguyễn Thanh  
vực; số liệu có độ phân giải không gian khá  
Hùng - Phòng Thí nghiệm trọng điểm Quốc  
chi tiết để phục vụ nghiên cứu. Kết quả phân  
gia về động lực học sông biển.  
tích ảnh viễn thám cung cấp nguồn dữ liệu  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Chu Hải Tùng, Đặng Trường Giang, Phạm Văn Mạnh, Nguyễn Minh Ngọc (2008). Ứng  
dụng kết hợp ảnh vệ tinh radar và quang học để thành lập một số thông tin về lớp phủ mặt  
đất. Đặc san của Trung tâm Viễn thám quốc gia - Bộ Tài nguyên và Môi trường, số 5 tháng  
12 - 2008, tr.1 - 14.  
[2] Đặng Văn Bào, Đào Đình Bắc, Nguyễn Quang Mỹ, Vũ Văn Phái, Nguyễn Hiệu (2002).  
Bản đồ cảnh báo lũ lụt vùng đồng bằng ven biển Trung Bộ Việt Nam. Tạp chí Khoa học  
ĐHQG HN, 2002. KHTN & CN, T.XVIII, N0 2, tr.17 - 25.  
[3] Đinh Ngọc Đạt. Báo cáo ứng dụng địa không gian đánh giá nhanh về mưa lũ. Hà Nội,  
2015.  
[4] Lê Thị Bích Liên. Ứng dụng ảnh vệ tinh MODIS giám sát lũ Đồng Bằng Sông Cửu Long.  
Luận văn tốt nghiệp đại học Nông Lâm thành phố Hồ ChíMinh, 2012.  
[5] Nguyễn Thành Luân, Nguyễn Thanh Hùng, Vũ Đình Cương, Nguyễn Thu Huyền,  
Phạm Quang Sơn, Đặng Hoàng Thanh. Nghiên cứu thành lập bản đồ ngập lụt từ ảnh  
viễn thám radar áp dụng cho hạ du lưu vực sông Trà Khúc, sông Vệ, tỉnh Quảng Ngãi.  
(Đã gửi và đang chờ chấp nhận đăng ở tạp chí Tạp chí khoa học và kỹ thuật Thủy Lợi  
và Môi trường).  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 41 - 2017  
11  
CHUYỂN GIAO  
CÔNG NGHỆ  
[6] Phạm Văn Chiến và nnk. Nghiên cứu, hiệu chỉnh bản đồ nguy cơ ngập lụt, mốc báo lũ theo  
các mức báo động lũ mới phục vụ phòng tránh, giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai tỉnh Quảng  
Ngãi. Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Trung Trung Bộ, 2013.  
[7] Viện Địa lý, Viện hàn lâm KH&CN VN. Nghiên cứu quy hoạch phòng chống và tiêu thoát  
lũ sông Trà Khúc và sông Vệ, tỉnh Quảng Ngãi. Hà Nội, 2010.  
[8] Alexander Salmonsson. MIKE 21 FM in Urban Flood Risk Analysis. Master of Science  
Thesis, 2015.  
[9] Bofu Yu. Báo cáo Thủy văn và Hình thái địa hình bồi tích các sông Trà Bồng, Trà Khúc  
và Sông Vệ tại Quảng Ngãi, Việt Nam. Dự án Giảm nhẹ thiên tai Quảng Ngãi do Australia  
tài trợ. Quảng Ngãi, 2003.  
[10] Chow VT. Open Channel Hydraulics. 1959.  
[11] Connell Wagner. Tully-Murray Rivers Flood Study Calibration Phase Report. 2006.  
[12] Fazlul Karim, Anne Kinsey-Hendersona, Jim Wallacea, Angela H. Arthingtonb and  
Richard G.Pearsonc. Modelling wetland connectivity during overbank flooding in a  
tropical floodplain in north Queensland, Australia.  
[13] Kebede Bishaw. Application of GIS and Remote Sensing Techniques for Flood Hazard and  
Risk Assessment: The Case of Dugeda Bora Woreda of Oromiya Regional State, Ethiopia.  
Paper for the 2012 Berlin Conference on the Human Dimensions of Global Environmental  
Change.  
[14] Lomulder, R. Appropriate modelling: Application of Sobek 1D2D for dike break and  
overtopping at the Elbe. Universiteit Twente, 2004.  
12  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 41 - 2017  
pdf 12 trang Mãnh Khiết 13/01/2024 18220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng ảnh viễn thám trong việc nâng cao độ chính xác của mô phỏng ngập lụt lưu vực Sông Trà khúc tỉnh Quảng Ngãi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfung_dung_anh_vien_tham_trong_viec_nang_cao_do_chinh_xac_cua.pdf