Tái sử dụng xỉ than tổ ong làm vật liệu đệm trong lọc sinh học để xử lý nước thải sinh hoạt hộ gia đình

TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 2(2) - 2018  
TÁI SỬ DỤNG XỈ THAN TỔ ONG LÀM VẬT LIỆU ĐỆM  
TRONG LỌC SINH HỌC ĐỂ XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT HỘ GIA ĐÌNH  
Kim Lavane, Nguyễn Thị Cẩm Ngân, Nguyễn Thị Trúc Lê,  
Dương Thị Cẩm Thu, Tôn Nữ Nhật Minh  
Khoa Môi Trường và Tài nguyên thiên nhiên, trường Đại học Cần Thơ  
Liên hệ email: [email protected]  
TÓM TẮT  
Lọc sinh học được biết đến là một phương pháp xử lý nước thải có chi phí thấp và hiệu quả  
để xử lý tại chỗ nơi nước thải phát sinh. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả xử lý  
của hệ thống lọc sinh học sử dụng xỉ than tổ ong làm vật liệu đệm để xử lý nước thải sinh hoạt với qui  
mô nhỏ. Thí nghiệm được thực hiện trên mô hình sử dụng ống PVC làm cột lọc. Nước thải được nạp  
liên tục với tải trọng thủy lực lần lượt là 2,4 m3/m2/ngày, 4,8 m3/m2/ngày và 7,2 m3/m2/ngày. Sau khi  
kết thúc thí nghiệm, vật liệu đệm được thu lại để xác định mức độ hoạt động của vi sinh vật phát triển  
trong lớp vật liệu lọc. Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ chất ô nhiễm trong nước thải sau xử lý  
thấp và đạt QCVN 14:2008/BTNMT. Hiệu suất xử lý SS, BOD5, TKN, và TP cao nhất đạt lần lượt là  
88,4%, 93,9%, 85,8%, và 68,4%, đối với cột lọc sử dụng xỉ than. Cột lọc sử dụng xỉ than làm vật liệu  
đệm cũng loại bỏ tổng lượng vi khuẩn đường ruột từ 2,2 đến 2,9 log đơn vị. Bên cạnh đó, hiệu quả xử  
lý khi sử dụng xỉ than làm vật liệu đệm cao hơn so với vật liệu sỏi truyền thống. Hoạt động của vi sinh  
vật phát triển trong cột lọc xỉ than cao hơn cột lọc sỏi. Qua nghiên cứu này cho thấy xỉ than tổ ong có  
thể tái sử dụng làm vật liệu đệm trong hệ thống lọc sinh học để nâng cao hiệu quả xử lý các chất ô  
nhiễm trong nước thải sinh hoạt.  
Từ khóa: lọc sinh học, nước thải sinh hoạt, vật liệu đệm, xỉ than tổ ong  
Nhận bài: 31/12/2017  
Hoàn thành phản biện: 22/03/2018  
Chấp nhận bài: 10/05/2018  
1. MỞ ĐẦU  
Xử lý nước thải sinh hoạt tại chỗ ở các hộ gia đình sử dụng những công nghệ đơn giản  
được xem là một trong những giải pháp nhằm giảm thiểu sự phát thải chất ô nhiễm vào nguồn  
nước tiếp nhận. Lọc sinh học (biofilter) có lịch sử phát triển lâu đời và được sử dụng để xử lý  
thứ cấp nước thải phục vụ cho việc tái sử dụng (Huismans, 1974; Ellis, 1987; Hendel và cs.,  
2001; Calvo-Bado và cs., 2003; Langenbach và cs., 2009). Lọc sinh học được biết đến là một  
phương pháp hiệu quả và rẻ tiền bởi vì có thể sử dụng các vật liệu đệm có sẵn tại chỗ hoặc  
thậm chí sử dụng một số phế thải rắn trong ngành xây dựng. Bên cạnh đó, phương pháp vận  
hành chúng khá đơn giản và không tiêu tốn nhiều năng lượng. Theo Huismans (1974), phương  
pháp xử lý này đã được áp dụng tư những năm 1800’s ở Châu Âu. Có khoảng 100 công trình  
dùng công nghệ này xử lý nước và nước thải trước thập niên 1940 (Graham, 1988). Ở các nước  
đang phát triển và các vùng cô lập, đây là phương pháp được sử dụng khá phổ biến nhằm xử lý  
nước và nước thải. Theo báo cáo của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, lọc sinh học sử dụng cát làm vật  
liệu đệm có thể mang lại hiệu quả cao và có chi phí xử lý thấp phù hợp với các nước đang phát  
triển và các vùng bị thiên tai bất ngờ (Huismans, 1974).  
Trong xử lý nước thải thứ cấp, bể lọc sinh học sử dụng cát làm vật liệu đệm thường  
sử dụng hạt có kích thước tương đối nhỏ (0,15 – 0,35 mm) (Langenbach và cs., 2009). Sử  
dụng những vật liệu đệm có kích thước hạt lớn sẽ làm giảm hiệu quả xử lý nhưng có thể hạn  
693  
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 2(2) - 2018  
chế nghẹt (Langenbach và cs., 2009). Bên cạnh đó vận tốc nước chảy qua lớp vật liệu đệm  
cũng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu suất xử lý. Theo khuyến cáo của Graham (1988) thì vận tốc  
nước chảy qua lớp vật liệu lọc nên duy trì khoảng từ 0,1 – 0,4 m/h. Langenbach và cs.,  
(2009) cho rằng tốc độ lọc nên duy trì ở khoảng 0,2 m/h. Cơ chế chính loại bỏ chất ô nhiễm  
trong các hệ thống lọc sinh học thường xảy ra cả cơ chế lý học và sinh học. Theo Weber-  
Shirk và Dick (1997a), các hạt rắn lơ lửng thường được giữ lại khi đi qua các lỗ rỗng có kích  
thước nhỏ. Sự tích tụ các hạt rắn này sẽ tiếp diễn và gia tăng hiệu quả lọc vật lý do lỗ rỗng  
ngày càng bị thu hẹp. Thông thường cơ chế vật lý thường chiếm ưu thế trong quá trình loại  
bỏ các chất ô nhiễm trong hệ thống lọc. Tuy nhiên cơ chế sinh học mới giữ vai trò chủ đạo  
trong quá trình loại bỏ chất rắn lơ lửng, chất hữu cơ hòa tan và các vi khuẩn (Weber-Shirk và  
Dick, 1997b). Rất nhiều nghiên cứu trước đây cho thấy hệ thống lọc sinh học sử dụng cát  
làm vật liệu đệm có hiệu quả rất tốt trong việc loại vi khuẩn trong nước (Weber-Shirk và  
Dick, 1997b,c, Langenbach và cs., 2009, Wang và cs., 2014). Nguyên nhân chính được cho  
rằng là do sự phát triển của lớp màng sinh học hay còn gọi là “schmutzdecke” ở trên bề mặt  
lớp vật liệu đệm.  
Lớp màng sinh học thường phát triển mạnh ở phần trên của lớp vật liệu lọc. Lớp này  
có thể chứa các vật chất hữu cơ, vi tảo, và đa dạng các vi sinh vật. Các nhà nghiên cứu đã  
khám phá ra rằng lớp màng sinh học đóng vai trò như lớp lọc hữu sinh có thể lọc và loại các  
chất ô nhiễm kể cả vi sinh vật gây bệnh qua các cơ chế lý học và sinh học (Huismans, 1974,  
Weber-Shirk và Dick, 1997a,b). Những nghiên cứu trước nhấn mạnh rằng lớp màng sinh học  
này thường suy giảm theo chiều sâu của lớp vật liệu đệm của cột lọc sinh học và thường có  
hoạt động mạnh mẽ ở chiều sâu khoảng 0 – 40 cm (Huismans, 1974, Ellis và Aydin, 1995,  
Calvo-Bado và cs., 2003, Pang và Liu, 2006). Sự phát triển của màng sinh học trong lớp vật  
liệu lọc thúc đẩy quá trình lọc cơ học, hấp phụ cũng như phân hủy các chất ô nhiễm.  
Xỉ than tổ ong là chất thải rắn thường được thải bỏ sau quá trình đốt cháy. Thành  
phần và tính chất của xỉ than tổ ong chưa được nghiên cứu và đánh giá đầy đủ. Theo báo cáo  
của Singh (2010) thì nguyên liệu chính được sử dụng làm than tổ ong là 20 – 30% than bột  
và thành phần còn lại đất sét. Thông thường thì tỉ lệ giữa than bột và đất sét là 1:4 tính theo  
trong lượng thì cho chất lượng than tổ ong tốt, dễ chất và ít vỡ vụn (Singh, 2010). Diện tích  
bề mặt riêng của xỉ than dao động 45,9 – 69 m2/m3 (Nguyễn Thị Thanh Phượng và ctv,  
2010). Hiện nay, xỉ than tổ ong thường được thải bỏ ven đường hoặc đổ xuống kênh rạch.  
Do đó việc tận dụng xỉ than tổ ong làm vật liệu đệm trong các hệ thống lọc sinh học nhằm  
loại bỏ các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt đồng thời giảm phát thải dạng chất rắn  
này ra ngoài môi trường là rất cần thiết cho sự phát triển bền vững trong điều kiện hiện nay ở  
Việt Nam.  
2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Địa điểm và đối tượng nghiên cứu  
Các thí nghiệm được tiến hành tại các phòng thí nghiệm của Bộ môn Kỹ thuật Môi  
trường – Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên – Trường Đại học Cần Thơ. Nước thải  
sinh hoạt sử dụng trong thí nghiệm được thu thập tại hẻm 124, đường 3/2, quận Ninh Kiều,  
thành phố Cần Thơ. Nước thải được lấy trực tiếp tại miệng cống xả bằng xô nhựa và sau đó  
đổ vào bồn chứa 200 L. Nước thải được thu thập mỗi ngày với tổng thể tích từ 200 L đến  
600 L và được vận chuyển về phòng thí nghiệm để chạy mô hình.  
694  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 2(2) - 2018  
2.2. Phương pháp thí nghiệm  
2.2.1. Mô hình thí nghiệm  
Hình 1 thể hiện sơ đồ mô hình thí nghiệm của hệ thống lọc sinh học. Cột lọc sinh học  
được chế tạo bằng ống nhựa PVC (dày 5 mm, đường kính ống 0,2 m, chiều cao 1,3 m). Vật  
liệu đệm sử dụng là xỉ than tổ ong và sỏi có chiều dày khoảng 90 cm. Sỏi sau khi mua về sẽ  
được rây sàng với kích thước 3 - 5 mm. Sau đó, sỏi được rửa sạch bằng nước máy nhiều lần  
đến khi độ đục của nước sau rửa không đổi. Đối với xỉ than, chúng được thu thập từ các hộ  
kinh doanh thực phẩm ở khu vực quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Xỉ than sau đó được  
đập nhỏ ra. Tương tự, xỉ than được rây sàng để được kích thước 3 - 5 mm và được rửa sạch  
bằng nước máy nhiều lần đến khi độ đục của nước sau rửa không đổi. Vật liệu đệm sau khi  
rửa được phơi khô và để nơi thoáng mát để sử dụng cho thiết kế mô hình lọc.  
Bồn  
Mariốt  
phân phối  
nước thải  
đầu vào  
Đầu ra  
Đầu ra  
Máy  
bơm  
Bồn lắng  
Lớp sỏi đở  
Hình 1. Sơ đồ mô hình cột lọc sinh học.  
2.2.2. Qui trình thí nghiệm  
Ở giai đoạn đầu, mô hình được vận hành ở chế độ nạp nước thấp nhất sao cho vận  
tốc nước chảy qua cột lọc là 0,1 m/h. Vi sinh vật được cho vào hệ thống bằng cách lấy 1,0 g  
bùn đáy kênh được hòa tan vào 1,0 L nước cất và cho lắng 5 phút. Phần nước phía trên sau  
khi lắng được nạp vào trên mặt thoáng của cột lọc và mô hình bắt đầu được vận hành. Sau 14  
ngày vận hành liên tục, chỉ tiêu COD được theo dõi để đánh giá tính ổn định của mô hình.  
Sau khi hệ thống đã ổn định thì chúng tiếp tục được vận hành trong 7 ngày trước khi lấy mẫu  
ở pha đầu tiên ứng với tốc độ lọc 0,1m/h hay tải trọng thủy lực 2,4 m3/m2/ngày. Các mẫu  
nước sau xử lý được thu thập thành 3 đợt với khoảng giữa các đợt là 5 ngày. Sau khi kết thúc  
pha thứ nhất, tốc độ lọc của hệ thống lần lượt được thay đổi lên 0,2 m/h và 0,4 m/h, tương  
ứng với tải trọng thủy lực là 4,8 m3/m2/ngày và 7,2 m3/m2/ngày. Trong mỗi pha tiếp theo, hệ  
thống được vận hành liên tục trong 21 ngày trước khi thực hiện các đợt lấy mẫu. Khoảng  
thời gian lấy mẫu giữa các đợt được tiến hành tương tự như pha đầu tiên. Các chỉ tiêu theo  
dõi gồm pH, chất rắn lơ lửng (SS), nhu cầu ôxy sinh hóa (BOD5), nhu cầu ôxy hóa học  
695  
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 2(2) - 2018  
(COD), tổng nitơ Keldal (TKN), tổng lân (TP), và tổng lượng vi khuẩn đường ruột được  
phân tích và đánh giá. Sau khi kết thúc giai đoạn vận hành mô hình, vật liệu trong cột lọc  
được lấy ra theo từng lớp (khoảng 10 cm) để đánh giá hoạt động của vi sinh vật phát triển  
trong lớp vật liệu đệm. Cụ thể, cột lọc được xả hết nước và được cắt theo từng khoảnh tương  
ứng với chiều cao của lớp vật liệu đã được xác định. Mẫu vật liệu đệm được lấy ra từ cột lọc  
bằng vá xúc và đựng trong cốc thủy tinh. Hoạt động của vi sinh vật được xác định ngay sau  
đó tại phòng thí nghiệm Bộ môn Kỹ thuật Môi trường – Đại học Cần Thơ.  
2.3. Phương pháp phân tích  
Mẫu nước thải trước và sau xử lý được phân các chỉ tiêu như pH, SS, COD, BOD5,  
TKN, TP, tổng lượng vi khuẩn đường ruột theo các tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành tại các  
phòng thí nghiệm thuộc Bộ môn Kỹ thuật Môi trường, Trường Đại học Cần Thơ. Mức độ  
hoạt động của vi sinh vật trong cột lọc sinh học được đánh giá bằng hoạt động của enzyme  
được trích ly từ màng sinh học bám trên bề mặt vật liệu và sử dụng phương pháp Fluorescein  
diacetate (FDA) (Shnürer and Roswall, 1982). Cụ thể, 2 g vật liệu lọc được cho vào ống  
falcon 50 mL. 20 mL dung dịch đệm phốt-phát 0,06 M (pH=7,6) được thêm vào ống chứa  
mẫu và lắc đều trong 1 phút bằng máy vortex. Tiếp theo, 0,1 mL dung dịch fluorescein di-  
acetate (FDA) được cho vào ống falcon và sau đó ống falcon được ủ trong nồi cách thủy  
trong 60 phút ở nhiệt độ 300C. Mẫu được lấy ra cho vào 20 mL dung dịch Chloroform:  
methanol (tỉ lệ 2:1). Các ống falcon được ly tâm ở 5.000 rpm trong 5 phút. 5 mL dung dịch  
trong ở phần trên ống được rút ra và lọc qua giấy lọc có lỗ rỗng 0,45 μm. Phần nước sau khi  
lọc được đo cường độ hấp phụ ở bước sóng 490 nm. Nồng độ fluorescein được xác định  
thông qua đường chuẩn với nồng động từ 0,001 đến 10 μg/L.  
2.4. Phương pháp xử lý số liệu  
Số liệu sau khi thu thập được xử lý và phân tích bằng phần mềm Excel có tích hợp  
công cụ thống kê statistiXL. Trong đó, giá trị trung bình của các thông số môi trường và các  
biểu đồ được tính toán và thể hiện bằng cách sử dụng phần mềm Excel. Sự khác biệt về hiệu  
suất loại bỏ các chất ô nhiễm giữa hai mô hình được phân tích bằng kiểm định Pair T-test sử  
dụng công cụ thống kê statistiXL.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Giai đoạn khởi động mô hình  
Sau khi hệ thống được vận hành 14 ngày thì nước thải sau xử lý được thu thập trong  
3 ngày liên tiếp. Kết quả cho thấy nồng độ COD đầu ra dao động nhẹ giữa các ngày lấy mẫu  
đối với cả 2 cột lọc có vật liệu đệm khác nhau. Đối với cột lọc sử dụng xỉ than thì COD dao  
động từ 21,8 – 22,3 mg/L, trong khi cột lọc sử dụng sỏi thì COD dao động từ 30,5 – 30,8  
mg/L Từ kết quả này cho thấy nồng độ hệ thống đã ổn định.  
3.2. Giai đoạn vận hành chính thức  
Thí nghiệm cho thấy rằng giá trị pH đầu ra dao động trong khoảng 7,1 – 7,6. Giá trị  
pH trong nước thải sau xử lý có xu hướng tăng lên so với đầu vào (pH = 7,0), đặc biệt đối  
với cột lọc có vật liệu đệm là xỉ than. Nhìn chung giá trị pH nằm trong khoảng phù hợp cho  
sự phát triển của vi sinh vật và trong khoảng tiêu chuẩn cho phép (QCVN 14:2008/BTNMT).  
Hiệu suất loại bỏ các chỉ tiêu ô nhiễm của giai đoạn vận hành chính thức được trình bày ở  
Bảng 1.  
696  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 2(2) - 2018  
Bảng 1. Hiệu suất xử lý trung bình của các chỉ tiêu ô nhiễm ở tải trọng thủy lực 2,4 m3/m2/ngày, 4,8  
m3/m2/ngày, và 7,2 m3/m2/ngày  
Hiệu suất  
Đơn  
vị  
Tải trọng thủy lực  
(2,4 m3/m2/ngày)  
Tải trọng thủy lực  
(4,8 m3/m2/ngày)  
Tải trọng thủy lực  
(7,2 m3/m2/ngày)  
Chỉ tiêu  
Sỏi  
Xỉ than  
88,4  
Sỏi  
Xỉ than  
83,9  
Sỏi  
Xỉ than  
80,1  
SS  
COD  
BOD5  
TKN  
TP  
%
%
85,4  
87,8  
89,1  
77,2  
63,5  
80,4  
83,9  
83,9  
70,7  
60,0  
77,1  
78,9  
77,0  
65,3  
50,9  
91,1  
86,1  
84,7  
%
%
93,9  
89,0  
82,7  
80,8  
70,7  
65,3  
%
68,5  
63,1  
51,7  
Tổng  
coliform đơn vị  
logarit  
2,5  
2,9  
1,7  
2,3  
1,6  
2,2  
3.2.1. Chất rắn lơ lửng  
Kết quả thí nghiệm cho thấy hàm lượng chất rắn lơ lửng giảm đáng kể sau khi qua  
cột lọc sinh học có vật liệu lọc bằng sỏi và xỉ than (Hình 2). Nước thải sau khi xử lý qua cột  
lọc sử dụng xỉ than làm vật liệu đệm có hàm lượng chất rắn lơ lửng thấp hơn so với cột lọc  
sử dụng sỏi làm vật liệu đệm. So với bề mặt của sỏi thì xỉ than có gồ ghề hơn và có chứa các  
ô-xít kim loại (Nguyễn Thị Thanh Phượng và cs., 2010). Do đó xỉ than sẽ tương tác với chất  
rắn lơ lửng và giữ lại chúng trên bề mặt tốt hơn so với sỏi. Ngoài ra sự phát triển của lớp  
màng sinh học trên bề mặt vật liệu lọc cũng sẽ gia tăng khả năng giữ lại của chất rắn lơ lửng  
do vi khuẩn trong lớp màng sinh học tiết ra các chất hữu cơ cao phân tử ngoại bào (EPS-  
extracellular-polymeric-substance) (Weber-Shrink và Dick, 1997b). Các chất hữu cơ này giữ  
vai trò như những chất keo và giúp tăng khả năng giữ lại chất rắn lơ lửng.  
Theo Langenback và cs., (2009) thì hiệu suất lọc giảm khi tăng tốc độ nạp. Trong  
nghiên cứu này, khi tăng tải trọng thủy lực thì hiệu suất giữ lại chất rắn lơ lửng của cột lọc  
ứng với hai loại vật liệu có xu hướng giảm. Khi tải trọng thủy lực tăng từ 2,4 m3/m2/ngày lên  
4,8 m3/m2/ngày và 7,2 m3/m2/ngày thì chất rắn lơ lửng trong nước thải sau xử lý tăng từ 8,2  
mg/L lên 11 mg/L và 12,8 mg/L đối với cột lọc có vật liệu lọc là sỏi. Tuy nhiên đối với cột  
lọc có vật liệu xỉ than thì chất rắn lơ lửng trong nước thải sau xử lý tăng lần lượt từ 6,5 mg/L  
lên 9 mg/L và 11,2 mg/L.  
Sỏi Xỉ than  
70  
Đầu vào  
60  
50  
40  
30  
20  
10  
0
Đầu ra  
2,4  
4,8  
7,2  
Tải trọng thủy lực, m3/m2/ngày  
Hình 2. Hàm lượng chất rắn lơ lửng trước và sau xử lý  
697  
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 2(2) - 2018  
3.2.2. Chất hữu cơ  
Cột lọc sinh học mang lại hiệu quả cao trong xử lý các chất hữu cơ hòa tan trong  
nước thải (Hình 3). Kết quả thí nghiệm cho thấy nồng độ BOD và COD trong nước thải giảm  
nhiều sau khi lọc qua cột lọc sinh học có vật liệu đệm bằng sỏi và xỉ than. Nồng độ BOD  
trong nước thải sau xử lý nhỏ hơn 50 mg/L (QCVN 14:2008/BTNMT). Kết quả thí nghiệm  
cho thấy nồng độ BOD giảm lần lượt từ 128 mg/L xuống còn 14 mg/L, 20,7 mg/L và 29,5  
mg/L ứng với các tải trọng thủy lực khác nhau đối với cột lọc sử dụng sỏi. Tương tự, cột lọc  
sử dụng xỉ than tổ ong cũng cho nồng độ COD đầu ra là 7,8 mg/L, 14,2 mg/L, và 22,3 mg/L.  
(a)  
Sỏi  
Xỉ than  
--- QCVN  
140  
120  
100  
80  
Đầu vào  
Đầu ra  
60  
40  
20  
0
2,4  
4,8  
7,2  
Tải trọng thủy lực, m3/m2/ngày  
Sỏi  
Xỉ than  
(b)  
300  
250  
200  
150  
100  
50  
Đầu vào  
Đầu ra  
0
2,4  
4,8  
7,2  
Tải trọng thủy lực, m3/m2/ngày  
Hình 3. Chất hữu cơ trong nước thải (a) BOD và (b) COD trước và sau xử lý  
Đối với COD, nồng độ trong nước thải giảm lần lượt từ 244 mg/L xuống còn 29,8  
mg/L, 39,3 mg/L và 51,5 mg/L ứng với các tải trọng thủy lực khác nhau đối với cột lọc sử  
dụng sỏi. Tương tự, cột lọc sử dụng xỉ than tổ ong cũng cho nồng độ COD đầu ra là 21,7  
mg/L, 33,9 mg/L, và 37,3 mg/L. Kết quả này cho thấy rằng cột lọc sử dụng xỉ than làm vật  
liệu đệm có nồng độ COD trong nước thải sau xử lý thấp hơn so với cột lọc sử dụng sỏi làm  
vật liệu đệm.  
Kết quả này cho thấy rằng hệ thống lọc sinh học loại bỏ rất tốt các chất hữu cơ hòa  
tan trong nước thải. Cột lọc sử dụng xỉ than làm vật liệu đệm loại bỏ chất ô nhiễm hữu cơ  
698  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 2(2) - 2018  
trong nước thải tốt hơn so với cột lọc sử dụng sỏi. Nguyên nhân cột lọc sử dụng xỉ than cho  
hiệu quả xử lý cao hơn cột lọc sử dụng sỏi có thể là do xỉ than có bề mặt riêng lớn nên vi  
sinh vật có điều kiện bám vào và phát triển màng sinh học tốt hơn so với sỏi. Chính vì vậy  
cột lọc xỉ than cho hiệu quả loại bỏ các chất ô nhiễm cao hơn. Nghiên cứu trước đây cũng  
cho rằng xỉ than có thể được dùng làm giá thể cho sự phát triển của vi sinh vật trong hệ  
thống lọc (Ahmedi và Pelivanoski, 2011).  
3.2.3. TKN và TP  
Hiệu quả xử lý các chất dinh dưỡng qua cột lọc sinh học đạt hiệu quả khá cao (Hình  
4). Nồng độ TKN đầu ra dao động từ 3,5 mg/L đến 5,4 mg/L đối với cột lọc sử dụng vật liệu  
đệm bằng sỏi và từ 3,0 mg/L đến 5,4 mg/L đối với cột lọc sử dụng vật liệu đệm bằng xỉ than  
(Hình 4a). Hiệu suất xử lý dao động từ 65,3% đến 80,8% đối với cột lọc sử dụng xỉ than và  
64,7% đến 77,2% đối với cột lọc sử dụng sỏi. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hiệu quả xử  
lý trung bình của TKN bằng cột lọc sử dụng xỉ than tổ ong cao hơn cột lọc sử dụng sỏi. Theo  
Weber-Shirk và Dick (1997b), nhiều nhóm vi khuẩn hóa dưỡng khác nhau có thể phát triển  
trong lớp vật liệu lọc. Các quá trình sinh học hiếu khí, thiếu khí, và kỵ khí có thể xảy ra dọc  
theo chiều cao của cột lọc (Langenbach, 2009).  
(a)  
Sỏi Xỉ than  
20  
Đầu vào  
15  
10  
5
Đầu ra  
0
2,4  
4,8  
7,2  
Tải trọng thủy lực, m3/m2/ngày  
(b)  
Sỏi Xỉ than  
10  
Đầu vào  
8
6
4
2
0
Đầu ra  
2,4  
4,8  
7,2  
Tải trọng thủy lực, m3/m2/ngày  
Hình 4. Các chất dinh dưỡng (a) TKN và (b) TP trước và sau xử lý  
Nồng độ đầu ra của TP trong nước thải dao động 3,2 mg/L đến 4,4 mg/L đối với cột  
lọc sinh học có vật liệu lọc là sỏi và 2,8 mg/L đến 4,3 mg/L đối với cột lọc sinh học có vật  
699  
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 2(2) - 2018  
liệu lọc là xỉ than (Hình 4b). Hiệu suất xử lý của cột lọc không có sự khác biệt có ý nghĩa (p  
> 0,05) dù kết quả thí nghiệm cho thấy cột lọc sử dụng xỉ than làm vật liệu đệm có cao hơn  
vài đơn vị. Theo đánh giá của Ahmedi và Pelivanoski (2011) thì một số vật liệu lọc có hàm  
lượng các ô-xít như CaO, Al2O3, Fe2O3 có thể hấp phụ phốt-pho. Sự hiện diện của cả quá  
trình lý-hóa-sinh trong cột lọc làm tăng hiệu quả xử lý của các chất ô nhiễm.  
3.2.4. Tổng lượng vi khuẩn đường ruột  
Hình 5 thể hiện mật số tổng lượng vi khuẩn đường ruột đầu vào và đầu ra của hai cột  
lọc. Mặc dù tổng lượng vi khuẩn đường ruột giảm đáng kể trong nước thải sau xử lý nhưng  
vẫn chưa đạt tiêu chuẩn thải (QCVN 14:2008/BTNMT). Khi tăng tải trọng thủy lực thì tổng  
lượng vi khuẩn đường ruột trong nước thải còn khá cao. Theo nghiên cứu của Langenbach  
và cs., 2009 thì hiệu quả loại bỏ Escherichia coli (E. coli) và Enteroccocus trong hệ thống  
lọc cát sinh học khoảng 1,9 – 3,0 tính theo thang logarit với đường kính vật liệu đệm là 0,35  
mm. Trong nghiên cứu này cho thấy rằng hiệu quả loại bỏ tổng lượng vi khuẩn đường ruột  
trong nước thải đạt khoảng 2,2 – 2,9 log đơn vị đối với cột lọc dùng xỉ than và 1,6 – 2,5 log  
đơn vị đối với cột lọc sử dụng sỏi. Nhìn chung, mật số tổng coliform trong nước thải sau xử  
lý qua cột lọc sử dụng vật liệu xỉ than luôn thấp hơn cột lọc sử dụng sỏi làm vật liệu đệm.  
Cơ chế loại bỏ vi khuẩn trong cột lọc sinh học đã được chứng minh bởi nhiều nghiên  
cứu trước đây. Hiệu suất loại bỏ các vi sinh vật phụ thuộc vào kích cỡ hạt của lớp vật liệu  
đệm (Langenbach và cs., 2009), chiều cao vật liệu đệm (Wang và cs., 2014), cạnh tranh thức  
ăn, sự săn mồi của các động vật nguyên sinh (Weber-Shirk và Dick, 1997b). Có thể thấy  
rằng, do kích cỡ vật liệu đệm được sử dụng trong nghiên cứu này là 3 – 5 mm và lớn hơn so  
với các nghiên cứu trước nên có thể làm giảm hiệu quả xử lý. Yếu tố tác động đến quá trình  
loại bỏ tổng lượng vi khuẩn đường ruột trong nghiên cứu này có thể là do các vi sinh vật  
bám trên bề mặt vật liệu lọc cũng như do cơ chế săn mồi và cạnh tranh chất nền với các vi  
sinh vật hình thành màng sinh học trên lớp vật liệu hoặc do động vật nguyên sinh.  
Sỏi Xỉ than  
10000000  
Đầu vào  
1000000  
Đầu ra  
100000  
10000  
1000  
100  
10  
1
2,4  
4,8  
7,2  
Tải trọng thủy lực, m3/m2/ngày  
Hình 5. Tổng coliform trong nước thải sinh hoạt trước và sau xử lý.  
Nhìn chung hiệu quả xử lý của cột lọc sử dụng xỉ than tổ ong cao hơn sỏi. Tuy nhiên  
hiệu quả xử lý ở các chỉ tiêu dinh dưỡng, COD, tổng lượng vi khuẩn đường ruột không có sự  
khác biệt có ý nghĩa (p > 0,05, pair T-test). Hiệu xuất xử lý SS và BOD5 qua cột lọc sử dụng  
xỉ than làm vật liệu đệm cao hơn và khác biệt có ý nghĩa so với cột lọc sử dụng sỏi (p < 0,05,  
700  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 2(2) - 2018  
pair T-test). Bên cạnh bề mặt không nhẵn của xỉ than so với sỏi thì trong xỉ than có các thành  
phần ô-xít kim loại nên vi sinh vật dễ bám và phát triển đồng thời có thể hấp phụ các chất ô  
nhiễm nên làm tăng hiệu quả xử lý.  
Bảng 2. Kiểm định sự khác biệt về hiệu suất xử lý của 2 cột lọc ứng với tải trọng thủy lực  
Kiểm định Pair t-test  
Khác biệt sai  
số chuẩn  
0,198  
Giá trị tính  
toán T  
-16,000  
-20,724  
-3,547  
Chỉ tiêu  
Khác biệt TB  
Bậc tự do  
P
SS  
BOD5  
COD  
TKN  
TP  
-3,175  
-5,173  
-3,784  
2,196  
-2,913  
-11,675  
2
2
2
2
2
2
0,004  
0,002  
0,071  
0,128  
0,141  
0,138  
0,250  
1,067  
0,870  
1,226  
2,524  
-2,376  
-2,410  
Tổng coliform  
4,845  
3.3. Đánh giá hoạt động của vi sinh vật  
Hoạt động của vi sinh vật phát triển trong lớp màng sinh học được đánh giá thông qua  
chỉ tiêu hoạt động của enzyme. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ hoạt đông của vi sinh  
vật trong cột lọc khá cao và giảm theo theo lớp vật liệu đệm từ trên xuống dưới. Điều này  
phù hợp với các nghiên cứu trước đây, trong đó, vi sinh vật hoạt động mạnh nhất ở lớp vật  
liệu tiếp xúc với mặt thoáng phía trên và giảm dần xuống phía dưới (Campos và cs., 2002).  
Điều này có thể giải thích là do nước thải được bơm vào từ trên xuống nên lượng thức ăn  
cung cấp cho vi sinh vật sẽ giảm dần theo độ cao. Hoạt động của vi sinh vật trong xỉ than  
nhiều hơn so với sỏi cho thấy được xỉ than làm giá bám cho vi sinh vật tốt hơn sỏi. Do đó,  
hiệu quả xử lý các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt của vật liệu lọc xỉ than cao hơn so  
với sỏi.  
0-10 cm  
40-50 cm  
Sỏi  
Xỉ than  
80 -90 cm  
0
5
10 15 20 25 30 35 40 45 50  
Flourescein, μg/g vật liệu  
Hình 6. Hoạt động của vi sinh vật ở các lớp vật liệu của hai cột lọc  
4. KẾT LUẬN  
Lọc sinh học sử dụng xỉ than làm vật liệu đệm xử lý nước thải sinh hoạt với hiệu quả khá  
cao. Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu suất xử lý SS, BOD5, TKN, TP lần lượt đạt 88,4%,  
93,9%, 85,8%, và 68,4%. Nồng độ BOD5 trong nước thải sau xử lý đạt QCVN  
14:2008/BTNMT ở lưu luợng nạp 2,4 m3/m2/ngày. Cột lọc sử dụng xỉ than làm vật liệu đệm  
cũng loại bỏ tổng lượng vi khuẩn đường ruột từ 2,2 – 2,9 log đơn vị . Kết quả phân tích  
701  
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 2(2) - 2018  
enzyme cũng cho thấy rằng hoạt động của vi sinh vật trong cột lọc xỉ than cao hơn so với bể  
lọc sỏi. Nghiên cứu này cho thấy rằng xỉ than có thể được tái sử dụng làm vật liệu đệm thay  
thế vật liệu cát, sỏi truyền thống trong hệ thống lọc để xử lý nước thải sinh họat từ các hộ gia  
đình hoặc các cụm dân cư có qui mô nhỏ. Bên cạnh khả năng nâng cao hiệu suất loại bỏ các  
chất ô nhiễm trong nước thải, việc tái sử dụng xỉ than còn góp phần làm giảm sự phát thải  
chất thải rắn, giúp bảo vệ cảnh quan đô thị và môi trường.  
LỜI CẢM ƠN  
Đề tài này được tài trợ bởi Dự án Nâng cấp Trường Đại học Cần Thơ VN14-P6 bằng nguồn  
vốn vay ODA từ chính phủ Nhật Bản.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Tài liệu tiếng Việt  
Nguyễn Thị Thanh Phượng, Nguyễn Văn Phước và Thiệu Cẩm Anh. (2010). Nghiên cứu đánh giá  
hiệu quả xử lý nước thải tinh bột bằng công nghệ lọc sinh học hiếu khí trên các vật liệu khác  
nhau. Tạp chí phát triển Khoa học và Công nghệ, 13(M2), 54-66.  
Phạm Ngọc Đăng, Tăng Thế Cường, Trần Thế Loãn, Nguyễn Hưng Thịnh, Vũ Đình Nam, Nguyễn  
Hoàng Ánh. (2017). Báo cáo về hiện trạng môi trường quốc gia năm 2016, Chuyên đề: Môi  
trường đô thị. ISBN: 978-604-952-138-6  
Tổng cục Môi trường. (2008). QCVN 14:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc giá về nước thải  
sinh hoạt. Hà Nội.  
2. Tài liệu tiếng nước ngoài  
Ahmedi F.,Pelivanoski, P. (2011). Sand, Gravel, Clay, and Coal Combustion Byproducts used as a  
Filter Material for Phosphorus Removal in Small Scale On-Site Wastewater Systems –An  
Overview. The 4th International Conference on Environmental and Geological Science and  
Engineering. Barcelona, Spain, September 2011. WSEAS.  
Calvo-Bado, L. A., Pettitt, T. R., Parsons, N. ,Petch,G. M., Morgan, J. A. W., Whipps, J. M. (2003).  
Spatial and Temporal Analysis of the Microbial Community in Slow Sand Filters Used for  
Treating Horticultural Irrigation Water. Applied and Environmental Microbiology, 69(4), 2116-  
2125.  
Campos, L. C., Su, M. F. J., Graham, N. J. D., Smith, S. R. (2002). Biomass development in slow  
sand filters. Water Research, 36(18), 4543-4551.  
Ellis, K. V. (1987). Slow sand filtration as a technique for the tertiary treatment of municipal sewages.  
Water Research, 21(4), 403-410.  
Ellis, K. V., Aydin, M. E. (1995). Penetration of solids and biological activity into slow sand filters.  
Water Research, 29(5), 1333-1341.  
Graham, N. J. D. (1988). Slow Sand Filtration: Recent development in water treatment technology.  
England: Ellis Horwood Limited.  
Hendel, B., Marxsen, J., Fiebig, D., Preuss, G. (2001). Extracellular enzyme activities during slow  
sand filtration in a water recharge plant. Water Research, 35(10), 2484-2488.  
Huismans, L., Wood. W. E. (1974). Slow sand filtration. WHO.  
Langenbach, K., Kuschk, P., Horn, H., Kästner, M. (2009). Slow Sand Filtration of Secondary  
Clarifier Effluent for Wastewater Reuse. Environmental Science & Technology, 43(15), 5896-  
5901.  
702  
TẠP CHÍ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP  
ISSN 2588-1256  
Tập 2(2) - 2018  
Pang, C. M., Liu, W. T. (2006). Biological Filtration Limits Carbon Availability and Affects  
Downstream Biofilm Formation and Community Structure. Applied and Environmental  
Microbiology, 72(9), 5702-5712.  
Singh, R. M. (2010). National  
Policy Recommendations for Promotion of Biobriquette  
Technology in Nepal. Technical report.  
Shnürer, J., Roswall, T. (1982). Flourescein diacetate hydrolysis as a measure of total microbial  
activity in soil and litter. Applied and Environmental Microbiology, 43(6): 1256–1261  
Wang, H., Narihiro, T., Straub, A. P., Pugh, C. R., Tamaki, H., Moor, J. F., Bradley, I. M.,  
Kamagata, Y., Liu, W. T. and Nguyen, T. H. (2014). MS2 Bacteriophage Reduction and  
Microbial Communities in Biosand Filters. Environmental Science & Technology, 48(12),  
6702-6709.  
Weber-Shirk, M. L. and Dick, R. I. (1997a). Physical - chemical mechanisms in slow sand filters.  
Journal - American Water Works Association, 89(1), 87-100.  
Weber-Shirk, M. L. and Dick, R. I. (1997b). Biological mechanisms in slow sand filters. Journal -  
American Water Works Association, 89(2): 72-83.  
Weber-Shirk, M. L. and Dick, R. I. (1999c). Bacterivory by a chrysophyte in slow sand filters. Water  
Research, 33(3), 631-638.  
703  
HUAF JOURNAL OF AGRICULTURAL SCIENCE & TECHNOLOGY  
ISSN 2588-1256  
Vol. 2(2) - 2018  
REUSING BEEHIVE CHARCOAL COMBUSTION RESIDUE AS  
BIOFILTER MEDIA FOR TREATMENT OF HOUSEHOLD DOMESTIC  
WASTEWATER  
Kim Lavane, Nguyen Thi Cam Ngan, Nguyen Thi Truc Le,  
Duong Thi Cam Thu, Ton Nu Nhat Minh  
Department of Environment and Natural Resources, Can Tho University  
Contact email: [email protected]  
ABSTRACT  
The biofilter is known as an effective and low-cost treatment method for on-site treatment of  
wastewater. The objective of this study is to assess the treatment efficiency of a bench scale biofilter  
system using beehive charcoal residue as the packing material to treat domestic wastewater. The  
system was constructed by using the PVC tube for filter columns. The filter columns were  
continuously fed with hydraulic loading rates of 2.4 m3/m2/day, 4.8 m3/m2/day và 7.2 m3/m2/day. At  
the end of the experiments, the packing materials were collected to investigate the activitites activities  
of microbes developing on the media surfaces. The experimental results showed that the effluent  
concentrations of contaminants were low and met the National Technical Regulation on Domestic  
Wastewater (QCVN 14:2008/BTNMT). The removal efficiencies of suspended solids (SS), chemical  
oxygen demand (COD), biochemical oxygen demand (BOD5), Total Kjeldahl Nitrogen (TKN), and  
total phosphorus (TP) in filter columns packed with beehive charcoal residues were 88.4%, 93.9%,  
85.8%, and 68.4%, respectively. The filter columns packed with beehive charcoal residues also  
removed total coliform from 2.2 to 2.9 log unit. In addition, the biofilters filled with beehive charcoal  
combustion residue performed better than that packed with fine gravel. The level of microbial  
activities in the filter columns packed with beehive charcoal combustion residue was higher than that  
packed with fine gravel. Ultimately, this study pointed out that beehive charcoal combustion residue  
could be reused for packing material in filter columns to enhance removal efficiencies of contaminants  
in domestic wastewater.  
Key words: beehive charcoal combustion residue, biofilter, domestic wastewater, packing material  
Received: 31st December 2017 Reviewed: 22nd March 2018  
Accepted: 10th May 2018  
704  
pdf 12 trang Mãnh Khiết 13/01/2024 20800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tái sử dụng xỉ than tổ ong làm vật liệu đệm trong lọc sinh học để xử lý nước thải sinh hoạt hộ gia đình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_su_dung_xi_than_to_ong_lam_vat_lieu_dem_trong_loc_sinh_h.pdf