Bài giảng Khoa học môi trường - Bài 2: Những vấn đề môi trường trên thế giới và ở Việt Nam
BÀI 2: NHỮNG VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG TRÊN THẾ GIỚI
VÀ Ở VIỆT NAM
2.1. Những vấn đề môi trường trên thế giới
Hiện nay, nhiều vấn đề MT đang diễn ra rất phức tạp ở tất cả các quốc gia
trên thế giới. Báo cáo tổng quan môi trường Toàn cầu năm 2000 của Chương trình
Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) viết tắt là "GEO - 2000" là một sản phẩm của
hơn 850 học giả trên khắp Thế giới và trên 30 cơ quan môi trường và các tổ chức
khác của Liên Hợp Quốc đã cùng phối hợp tham gia biên soạn. Đây là một báo cáo
đánh giá tổng hợp về môi trường Toàn cầu khi bước sang một thiên niên kỷ mới.
GEO - 2000 đã tổng kết những gì chúng ta đã đạt được với tư cách là những người
sử dụng và gìn giữ các hàng hoá và dịch vụ môi trường trong Thế kỷ XX và những
khó khăn khi loài người bước vào Thế kỷ XXI. Báo cáo đã khẳng định:
Thứ nhất: Các hệ sinh thái và sinh thái nhân văn toàn cầu bị đe dọa bởi sự
mất cân bằng sâu sắc trong năng suất và trong phân bố hàng hoá và dịch vụ. Một tỷ
lệ đáng kể nhân loại hiện nay vẫn đang sống trong sự nghèo khó và xu hướng được
dự báo là sự khác biệt sẽ ngày càng tăng giữa những người thu được lợi ích từ sự
phát triển kinh tế và công nghệ và những người không bền vững theo hai thái cực:
Sự phồn thịnh và sự cùng cực đang đe doạ sự ổn định của toàn bộ hệ thống nhân
văn và cùng với nó là môi trường toàn cầu.
Thứ hai: Thế giới hiện đang ngày càng biến đổi, trong đó sự phối hợp quản
lý môi trường ở quy mô quốc tế luôn bị tụt hậu so với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Những thành quả về môi trường thu được nhờ công nghệ và những chính sách mới
đang không theo kịp nhịp độ và quy mô gia tăng dân số và phát triển kinh tế.
Thứ ba: Nước cho sản xuất, khoảng 71% với 361 triệu km2 bề mặt trái đất
được bao phủ bởi mặt nước. Vì vậy, đã có nhà khoa học đề nghị thay vì gọi Trái
đất bằng "Trái nước". Tuy nhiên chỉ có 2,5% là nước ngọt, nhưng chủ yếu lại ở
dạng băng ở cực Bắc, Cực Nam và trên các núi cao, lượng nước ngọt con người có
thể sử dụng cho sản xuất và đời sống chỉ khoảng 0,26%. Do đó, nước ngọt càng trở
nên khan hiếm và dự báo sẽ nảy sinh những xung đột về nguồn nước trong thế kỷ
XXI .
Ngày 31 tháng 3 năm 2005, tức là sau 5 năm GEO-2000, tại Luân Đôn một
báo cáo nghiên cứu được thực hiện bởi 1.360 nhà khoa học của 95 Quốc gia đã
công bố với những cảnh báo hết sức nghiêm túc rằng:
- Vì nhu cầu của con người về thức ăn, nước sạch, gỗ, vật liệu và nhiên liệu,
nhiều vùng đã bị khai thác quá mức cho phép.
- Nguồn nước sạch đã giảm đáng kể trong vòng 40 năm trở lại đây. Con
người hiện đang sử dụng 40-50% lượng nước sạch.
- Ít nhất 1/4 nguồn cá đã được khai thác một cách vội vàng. Do vậy, ở một
số khu vực, lượng đánh bắt cá hiện chỉ còn ở mức dưới 1% so với trước đây.
- Từ năm 1980, khoảng 35% thực vật đã bị biến mất, 20% dải san hô ngầm
của thế giới đã bị phá huỷ và khoảng 20% khác đang bị đe doạ.
5
- Nạn phá rừng và những thay đổi khác có thể làm tăng bệnh sốt rét, dịch tả,
mở đường cho những bệnh mới nguy hiểm xuất hiện mà từ trước đến nay chưa
được biết đến ( HIV; cúm A H5N1; cúm A H1N1...)
2.1.1. Biến đổi khí hậu toàn cầu
Các nhà khoa học cho biết, trong vòng 100 năm trở lại đây, Trái Đất đã
nóng lên khoảng 0,60C. Năm 2006 là năm nóng nhất. Nhiệt độ trung bình ở Anh
cao hơn so với bất cứ thời điểm nào kể từ năm 1659. Các dấu hiệu xuất trên thế
giới hiện là:
+ Mùa Đông ít tuyết ở khu vực trượt tuyết thuộc dãy Alpơ.
+ Trong vòng 100 năm trở lại đây, Trái Đất đã nóng lên khoảng 0,60C
+ Hạn hán triền miên ở châu Phi.
+ Các sông băng trên núi tan chảy nhanh nhất trong vòng 5000 năm qua (hình
3.1).
+ Mực nước biển dâng cao
+ Các hiện tượng thời tiết trở nên bất thường và khó dự báo hơn.
+ Tần suất các thiên tai gia tăng.
Hình 2.1: Sông băng tan chảy
Điều lo ngại của các nhà khoa học là đến năm 2006 ở khắp mọi nơi trên
thế giới đều thấy những tác động phản hồi gây hậu quả xấu.
Năm 2007, Uỷ ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên Hợp quốc
(IPCC) và các nhà khoa học lo ngại rằng, những tác động phản hồi sẽ bắt đầu đẩy
khí hậu quá ngưỡng giới hạn an toàn mà không dễ gì khắc phục. Có 2 loại tác động
phản hồi giữ vai trò điều tiết khí hậu Trái đất trong tương lai. Đó là:
a. Tác động phản hồi "tiêu cực" sẽ đem lại lợi ích cho nhân loại vì nó diễn
ra nhưng không làm cho mọi thứ trở nên tồi tệ hơn. Ví dụ, thông thường ảnh
hưởng của CO2 đến quá trình thụ phấn của cây. Khi nồng độ CO2 tăng thì những
thực vật có tốc độ sinh trưởng cao sẽ hấp thụ nhiều hơn. Kết quả là tác động phản
hồi này sẽ hạn chế gia tăng hàm lượng CO2.
6
b. Tác động phản hồi "tích cực" làm cho mọi thứ tồi tệ hơn. Sự gia tăng
CO2 hay nhiệt độ toàn cầu gây ra một số biến đổi về hệ thống khí hậu, sau đó làm
lượng CO2 hay nhiệt độ tăng cao. Ví dụ, do nhiệt độ tăng những tảng băng nổi ở
biển Bắc cực tan ra, đại dương trở nên tối hơn. Đại dương tối sẽ hấp thụ nhiều ánh
nắng Mặt trời và nhiệt hơn, làm băng tan nhiều hơn và do đó, tăng chu kỳ tác động
phản hồi " tích cực".
Các nhà khoa học cho biết, tác động phản hồi tích cực lại xuất hiện nhiều
hơn những tác động phản hồi tiêu cực.
Tháng 3 năm 2006 các vệ tinh của Nasa đã quan trắc thấy lượng băng ở
biển Bắc cực thấp kỷ lục trong vòng 28 năm qua và băng biển không được phục
hồi trong mùa đông như những năm trước đây. Các nhà khoa học cho rằng, tốc độ
tan băng ở biển Bắc cực mạnh vào mùa đông và cũng mạnh vào mùa hè là biểu
hiện của phản hồi tích cực. Vấn đề trở nên nguy hiểm hơn là từ 12.000 năm nay,
lượng khí mêtan khổng lồ trong những vùng than bùn rộng hàng triệu km2 ở Sibêri
(Nga) và miền Bắc Canađa đều nằm dưới tầng băng vĩnh cửu, nhưng do nhiệt độ
Trái đất tăng và lớp băng vĩnh cửu bắt đầu " sôi" dữ dội vào mùa hè năm 2006,
băng mỏng dần và khí mêtan sẽ thoát vào khí quyển với lượng 100.000 tấn/ ngày,
gây ảnh hưởng tiêu cực gấp 20 lần CO2. Theo tính toán của các nhà khoa học, bản
thân Trái đất từ 200 năm gần đây đã hấp thụ hơn một nửa lượng phát thải CO2 do
con người tạo ra nhờ các "bể" các bon tự nhiên- chủ yếu là đại dương và đất liền,
non nửa các bon còn lại đã quay trở lại khí quyển, gây hiệu ứng nhà kính và làm
tăng nhiệt độ Trái đất. Tuy nhiên, vì nhiệt độ của Trái đất tăng nên có nhiều dấu
hiệu cho thấy, sự hấp thụ các bon của các bể này ngày càng yếu đi. Bởi vì khi có
nhiều CO2 hoà tan trong nước biển thì độ axit của nước biển cũng tăng nhanh do
hình thành axit H2CO3. Các sinh vật và động vật nổi ở đại dương thường sử dụng
cacbon hoà tan trong nước biển để tạo vỏ, nhưng tính axit của nước lại cản trở quá
trình này. Vì vậy, từ năm 2000 trở lại đây khi khi nhiệt độ nước biển tăng đáng kể
thì khả năng hấp thụ CO2 của thực vật phù du cho quá trình quang hợp đã bị suy
giảm khoảng 30%.
- Số lượng và mức độ những thảm hoạ do thiên tai (bão, lũ, sóng thần, hạn
hán, lốc...) gây nên trên toàn cầu đã gia tăng.
- Lưu lượng nước giảm 20-30%, ví dụ như ở Nam phi và vùng biển Địa
Trung Hải nơi nhiệt độ tăng 20 C.
- Có thêm 80 triệu người bị mắc bệnh sốt rét.
- Sản lượng nông nghiệp sẽ giảm 5-35%.
- 15-40% các loài có nguy cơ tuyệt chủng.
- Mỗi năm cần 40 tỷ USD đầu tư quốc tế để chống lại ảnh hưởng của khí hậu.
2.1.2. Sự vận động tầm xa của các chất gây ô nhiễm
Mỗi ngày mỗi người trung bình thở 23.000 lần, hít vào khoảng 2.000 lít không
khí. Không khí sạch cần cho sự sống của con người và hầu hết các sinh vật, nhưng
do các nguyên nhân tự nhiên và nhân sinh, không khí đã bị ô nhiễm ở nơi này hoặc
7
nơi khác và theo gió, theo mưa khuếch tán đi xa. Chất gây ô nhiễm không khí có
nguồn gốc khác nhau, tự nhiên và nhân sinh chứa các khí như oxyt lưu huỳnh
(SOx), oxyt cácbon (CO, CO2) do núi lửa phun ra; nitơ oxyt (NOx), bụi do cháy
rừng tự nhiên, bụi từ đất, bụi muối từ đại dương, khí mê tan (CH4) từ các đầm lầy,
cánh đồng lúa. Theo tính toán, lượng khí nhà kính quy ra CO2 trên toàn cầu được
minh hoạ ở bảng 2.1.
Bảng 2.1: Lượng khí nhà kính phát thải trên toàn cầu quy ra CO2
% so với tổng
Nguồn
Tỷ tấn
phát thải
Ngành năng lượng (tiêu dùng nhiên liệu hoá thạch: than
đá, dầu, khí trong CN, giao thông vận tải, sinh hoạt...)
Nông nghiệp
25,6
5,6
61
14
Thay đổi trong sử dụng đất (chủ yếu do phá rừng)
Các nguồn khác như núi lửa...
7,6
7,9
18
7
Nguồn: Uỷ ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu của LHQ (IPCC), 2006
2.1.3. Sự suy giảm tầng ôzôn
Tầng ôzôn (O3) có vai trò bảo vệ, chặn đứng các tia sóng ngắn. Bức xạ tia sóng
ngắn như tia cực tím, có nhiều tác động mang tính chất phá huỷ đối với con người,
động vật và thực vật cũng như các loại vật liệu khác. Tầng ôzôn hiện đang suy
thoái. Lỗ thủng tầng ôzôn ở Nam cực hiện nay rộng đến 20 triệu km2, gây ra nhiều
tác động về sinh thái và sức khoẻ con người. Ví dụ, mức cạn kiệt tầng ôzôn là 10%
thì mức bức xạ tia cực tím gây phá huỷ tăng 20%. Bức xạ tia cực tím có thể gây hại
cho mắt, làm đục thuỷ tinh thể và phá hoại võng mạc, gây ung thư da, làm tăng các
bệnh về đường hô hấp.
Hình 2.2: Cây chết do bị tác động của tia cực tím qua lỗ thủng ô zôn
8
Đồng thời, bức xạ tia cực tím tăng lên được coi là nguyên nhân làm suy yếu
các hệ miễn dịch của con người và động vật, đe doạ tới đời sống của động và thực
vật nổi trong môi trường nước sống nhờ quá trình chuyển hoá năng lượng qua
quang hợp để tạo ra thức ăn trong môi trường thuỷ sinh (hình 2.2).
2.1.4. Sự vận chuyển xuyên biên giới sản phẩm và chất thải nguy hại
Các chất thải nguy hại như các chất phóng xạ, hoá chất bảo vệ thực vật, các
kim loại nặng, rác thải bệnh viện, rác thải điện tử... được thải bỏ trong quá trình
sản xuất ở các nước công nghiệp phát triển.Ví dụ, chất thải điện tử thuộc loại chất
thải nguy hại đang tăng rất nhanh ở các nước thuộc Uỷ ban Châu Âu (EU), tới
5%/năm, gấp 3 lần so với mức tăng trung bình của chất thải sinh hoạt. Mỗi năm,
một người dân EU tạo ra 17-20kg chất thải điện tử, gồm chất thải điện, điện tử,
kim loại nặng, các hoá chất công nghiệp. Thay vì phải chôn lấp ở các nước sản
sinh ra chúng, tốn kém thì các nước này lại vận chuyển và đổ bỏ ở các nước đang
phát triển và chậm phát triển, đỡ tốn kém hơn và biến những nước này thành
những bãi rác.Tình trạng nhập khẩu trái phép chất thải vào nước ta dưới hình thức
phế liệu làm nguyên liệu sản xuất trong nước, kể cả thiết bị công nghiệp lạc hậu
dẫn đến nguy cơ nước ta thành bãi rác thải công nghiệp. Trong 5 năm gần đây đã
có hơn 3.500 container ắc quy chì axit đã qua sử dụng, nhập khẩu vào Việt Nam
qua các cửa khẩu quốc tế. Chỉ tính riêng trong khoảng thời gian từ năm 2003 đến
tháng 2/2006 đã có 2.278 container có trọng lượng 36.618 tấn ắc quy chì phế thải
được nhập khẩu qua cảng Hải Phòng dưới dạng "tạm nhập, tái xuất". Ngoài ra,
hàng nghìn tấn phế thải trá hình dưới hình thức phế liệu để tái chế thành nguyên
liệu sản xuất, trong đó có không ít chất thải nguy hại cũng được nhập khẩu công
khai vào nước ta.
2.1.5. Sự ô nhiễm môi trường
Sự phát triển đô thị, khu công nghiệp, du lịch và việc đổ bỏ các loại chất thải vào
đất, biển, các thuỷ vực đã gây ô nhiễm môi trường ở quy mô ngày càng rộng, đặc biệt là
các khu đô thị. Ô nhiễm không khí, rác thải, chất thải nguy hại, ô nhiễm tiếng ồn và nước
đang biến những khu vực này thành các điểm nóng về môi trường. Khoảng 30 - 60% dân
số đô thị ở các nước có thu nhập thấp vẫn còn thiếu nhà ở và các điều kiện vệ sinh. Sự phát
triển kinh tế nhanh ở Châu á đã biến Châu lục này thành một trong những nơi ô nhiễm nhất
thế giới. Theo báo cáo tại Hội nghị Yogyakarta, Indonexia tháng 12/2006 của 20 quốc gia
Châu Á, trung bình mỗi năm có hơn 500.000 người bị chết do ô nhiễm không khí. Kết quả
nhiên cứu ở 22 thành phố Châu Á đã đưa ra phát hiện quan trọng là nồng độ bụi hạt nhỏ
như PM10 và PM 2,5 ở các thành phố như Bắc Kinh; Dhaka; Hà Nội; Tp. Hồ Chí Minh;
Jakarta; Kathmưndu; Kolkata; New Dehhi và Thượng Hải đang ở mức nghiêm trọng.
Những hạt nhỏ này đi vào phổi và lưu lại một thời gian. Còn theo số liệu của tổ chức y tế
Thế giới (WHO) năm 2006 thì hiện nay mỗi năm trên toàn cầu có khoảng 800.000 người
chết non do ô nhiễm không khí, trong đó riêng ở Châu Á chiếm tới 500.000-600.000
người. Đặc biệt, do quá trình "ô tô hoá" và cơ giới hoá ở các đô thị Châu Á, lượng phát thải
9
lưu huỳnh Dioxit (SO2); nitơ Dioxit (NOx) trong không khí tăng cao và nồng độ khí ôzôn
(O3) trong tầng đối lưu, thành phần chính chứa trong khói hoá dầu sẽ tăng cao, nếu các
phương tiện giao thông đô thị tiếp tục tăng cùng với bụi mịn.
2.1.6. Sự suy giảm tính đa dạng sinh học trên Trái Đất
Các loài động và thực vật qua quá trình tiến hoá trên Trái Đất hàng trăm triệu năm
đã và đang góp phần quan trọng trong việc duy trì sự cân bằng môi trường sống trên Trái
Đất, ổn định khí hậu, làm sạch các nguồn nước, hạn chế xói mòn đất, làm tăng độ phì
nhiêu đất. Sự đa dạng của tự nhiên cũng là nguồn vật liệu quý giá cho các ngành công
nghiệp, dược phẩm, du lịch, là nguồn thực phẩm lâu dài của con người, và là nguồn gen
phong phú để tạo ra các giống loài mới. Đa dạng sinh học (ĐDSH) đang bị suy giảm mạnh
mẽ. Chỉ riêng rừng nhiệt đới mỗi năm đã làm mất đi 17.500 loài. Điều này có nghĩa là cứ 7
phút thì có một loài bị tiêu diệt .Khu vực các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) mặc dù chỉ
chiếm 3% diện tích bề mặt Trái đất nhưng là nơi cư trú tự nhiên của 40% loài động vật,
thực vật,là nơi cư trú của 1/3 rặng san hô trên thế giới (284.000km2) và hiện là 7 trong số
25 điểm nóng về ĐDSH của thế giới. Trong số 64.800 loài được biết đến ở khu vực này có
tới 1.312 loài đang bị nguy hiểm. ASEAN có 3 nước có tính ĐDSH rất cao là Inđônêxia,
Malaixia và Philippine. Theo Rodrigo U. Fuentes, Giám đốc điều hành trung tâm ĐDSH
thì tốc độ phá rừng ở khu vực này ít nhất cao gấp 2 lần các khu vực nhiệt đới khác. Việc
chuyển đổi những cánh rừng sang đất nông nghiệp là nguyên nhân chính gây mất ĐDSH.
Nếu tốc độ phá rừng như hiện nay cứ tiếp dẫn, đến thế kỷ tới ASEAN sẽ mất gần 3/4 độ
che phủ rừng và 42% ĐDSH.
2.1.7. Sự gia tăng dân số
Sự gia tăng dân số hiện nay ở một số nước đi đôi với đói nghèo, suy thoái
môi trường và tình hình kinh tế bất lợi đã gây ra xu hướng làm mất cân bằng
nghiêm trọng giữa dân số và môi trường. Theo số liệu của các nhà dân số học trên
thế giới thì cách 1 triệu năm trước Công nguyên, dân số trên Trái đất chỉ có
125.000 người. Sau 1 triệu năm, vào năm Thiên chúa giáng sinh (năm 0 theo Công
lịch) dân số thế giới mới đạt 200 triệu người.Đầu thế kỷ XIX, dân số Thế giới mới
có 1 tỷ người nhưng đến năm 1927 tăng lên 2 tỷ người; năm 1960: 3 tỷ; năm 1974:
4 tỷ; năm 1987: 5 tỷ và năm 1999 là 6 tỷ người, năm 2009: 6,7 tỷ người, trong đó
trên 1 tỷ người trong độ tuổi từ 15 - 24 tuổi. Mỗi năm dân số Thế giới tăng thêm
khoảng 78 triệu người. Theo dự tính đến năm 2010, dân số thế giới sẽ gần 7 tỷ
người và đến 2020 sẽ là 8 tỷ người và năm 2050 sẽ là 10,3 tỷ người (bảng 2.2).
Bảng 2.2: Quá trình tăng trưởng dân số và thu hẹp diện tích đất trên thế giới
Dự báo
2010 2020
Năm
-106
-105
-104
0
1650 1840 1930 1999
Dân số (triệu
người)
0,125
1,0
5,0 200 545 1.000 2.000 6.000 7.000 8.000
Diện tích đất
đai (ha.người)
120.000 15.000 3.000 75 27,55
15
7,5
2,5
2,15 1,87
Nguồn: Uỷ ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu của LHQ (IPCC), 2006
10
2.1.8. Sự suy giảm các nguồn tài nguyên, đặc biệt là nguồn tài nguyên rừng
Rừng, đất rừng và đồng cỏ hiện vẫn đang bị suy thoái hoặc bị triệt phá mạnh
mẽ, đất hoang bị biến thành sa mạc. Sự phá huỷ rừng vẫn đang diễn ra với mức độ
cao, trên Thế giới diện tích rừng có khoảng 40 triệu km2, song cho đến nay diện
tích này đã bị mất đi một nửa, trong số đó, rừng ôn đới chiếm khoảng 1/3 và rừng
nhiệt đới chiếm 2/3. Theo số liệu của FAO (2007) thì chỉ trong thập kỷ cuối cùng
của Thế kỷ XX, thế giới đã bị mất 93,91 triệu ha rừng, góp 25% vào các nguyên
nhân gây BĐKH (riêng châu Âu tăng 8,81 triệu ha) .
2.1.9. Ô nhiễm biển và đại dương
Đại dương thế giới có diện tích khoảng 361 triệu km2, chiếm 71% diện tích bề
mặt Trái đất và có khối lượng nước 1 tỷ 340 triệu km3. Độ sâu trung bình của đại
dương là 3.711 m, gần một nửa đại dương trên thế giới có độ sâu trên 3.000m. Khối
lượng các dạng nước không cân đối. Ví dụ, khối lượng nước sông hồ chỉ chiếm
0,02% là quá nhỏ bé so với nước biển và đại dương chiếm tới 97,4% ( bảng 2.3)
Bảng 2.3: Tỉ lệ khối lượng các dạng nước khác nhau
Các dạng nước
Khối lượng nước (%)
Đại dương
Băng hà
Nước ngầm
97,4
1,89
0,60
0,02
Sông hồ, cơ thể sống và khí quyển
Nguồn: Lưu Đức Hải,2008
Theo nhà hải dương học người Pháp- Jack Custo thì biển là một cái giếng lớn, nơi
tập trung tất cả những chất bẩn trên Trái đất. Người ta thường nói “ trăm sông đổ dồn về
biển”, điều đó có nghĩa là nước sông suối, nước ngầm mang các chất thải từ đất liền ra
biển. Trong biển và đại dương các dòng hải lưu lại mang những chất thải này đi mọi nơi.Ví
dụ, các nhà khoa học đã phát hiện dấu vết của thuốc BVTV sử dụng ở lục địa châu Phi có
mặt tại vịnh Bengal và biển Caribê do gió và nước mang đến. Do đó, ô nhiễm biển và đại
dương đã và đang trở thành vấn đề MT bức xúc trên thế giới và được hiểu như sau: “
Những chất thải do hoạt động của con người đổ một cách trực tiếp hay gián tiếp vào biển.
Những chất thải này có hại đến đời sống của sinh vật biển và sức khỏe con người, làm trở
ngại đến những hoạt động trên biển ( đánh cá, giao thông) và làm giảm sút chất lượng
nước biển” được gọi là ô nhiễm biển (hình 2.3)
.
Hình 2.3: Ô nhiễm đại dương
11
a) Sự cố tràn dầu: Dầu mỏ thường được khai thác trên đất liền, ngoài biển và
cách xa thị trường tiêu thụ, nên được vận chuyển với khối lượng lớn. Phương tiện vận
chuyển chủ yếu bằng tàu chở dầu và ống dẫn dầu xuyên lục địa, do đó thường xảy ra
nhiều sự cố, tai nạn làm tràn dầu trong khai thác, trong chuyên chở, đắm tàu, sự cố
đường ống dẫn xuyên biển... Ước tính lượng dầu mỏ chảy tràn vào biển khoảng từ 3,2
đến 6,1 triệu tấn/năm. Khi tràn dầu thường có 3 quá trình xảy ra:
- Sự lan tỏa: Là quá trình dầu được pha loãng với bề mặt nước. Dầu tràn lan
tỏa rất nhanh trên bề mặt nước, tạo lớp váng ngăn chặn ôxy từ không khí xâm nhập
vào nước, ảnh hưởng lớn đến đời sống thủy sinh vật. Ví dụ vụ tràn dầu ngày
07/12/2007 tại hàn Quốc làm cho khoảng 10.800 tấn dầu thô tràn ra biến Hoàng
hải. Chỉ 2 ngày sau khi tai nạn xảy ra, vết dầu loang đã trải dài 31 km, rộng 10m và
ở một số khu vực dầu có độ dày 10cm. Thảm hoạ này đã gây ảnh hưởng đến 30 bãi
biển và quá nửa số trang trại biển trong khu vực dầu tràn gần như bị mất trắng.
Chính phủ Hàn Quốc đã tuyên bố thảm hoạ quốc gia trong khu vực này. Chỉ tính
riêng cho công tác vệ sinh lượng dầu tràn đã lên tới 330 triệu USD.
- Bốc hơi: Bốc hơi làm giảm dung tích dầu tràn trong MT nước và với những
hydrocacbon dễ bay hơi, nó cũng được hỗ trợ bởi nhiệt độ cao trong không khí, tốc
độ gió và sự biến động của mặt nước biển làm xúc tiến bốc hơi dầu tràn vào khí
quyển. Đó là nguyên nhân làm tăng hàm lượng các thành phần nặng các thành
phần nặng và các thành phần không bốc hơi từ 34% lúc ban đầu lên tới 50%.
- Sự hòa tan: Là quá trình phân hủy các thành phần dầu vào thủy vực, đặc
biệt các thành phần nhẹ trong dầu. Nó gây ra sự nhiễm bẩn nước các vùng lân cận.
b) Ô nhiễm biển và đại dương bởi các chất phóng xạ: Trước đây, nhiều quốc
gia, nhiều người xem biển, đại dương là những hố rác khổng lồ. Những cường quốc
hạt nhân thường sử dụng đáy đại dương hoặc các khu vực nước đại dương để thử vũ
khí hạt nhân, hoặc đổ bỏ các chất thải phóng xạ và những chất này được các dòng hải
lưu đem đi khắp nơi, qua sinh vật thủy sinh đến người.
c) Ô nhiễm biển và đại dương do dư thừa các chất dinh dưỡng: Gây phú dưỡng,
ô nhiễm do HCBVTV sử dụng trên đồng ruộng, đặc biệt là ô nhiễm kim loại nặng do
công nghiệp, do khai khoáng... Ví dụ điển hình là bệnh Minamata ở Nhật Bản năm
1953 làm chết 5.000 người do ăn hải sản biển bị nhiễm thủy ngân(Hg).
2.1.10. Hiệu ứng nhà kính đang gia tăng
Vậy hiệu ứng nhà kính là gì? Như chúng ta đã biết, nhiệt độ bề mặt Trái đất
được tạo thành bởi sự cân bằng giữa năng lượng Mặt Trời chiếu xuống Trái đất và
năng lượng bức xạ nhiệt của mặt đất phản xạ vào khí quyển. Bức xạ Mặt trời là
bức xạ sóng ngắn nên nó dễ dàng xuyên qua các lớp khí CO2 và tầng Ôzôn rồi
xuống mặt đất, ngược lại, bức xạ nhiệt từ mặt đất phản xạ vào khí quyển là bức xạ
sóng dài, nó không có khả năng xuyên qua lớp khí CO2 và lại bị khí CO2 và hơi
nước trong không khí hấp thụ, do đó nhiệt độ của khí quyển bao quanh Trái đất sẽ
tăng lên tăng nhiệt độ bề mặt Trái đất (xem hình 2.4), hiện tượng này được gọi là
“hiệu ứng nhà kính”(green house effect), vì lớp cacbon đioxit ở đây có tác dụng
tương tự như lớp kính giữ nhiệt của nhà kính trồng rau xanh trong mùa đông.
12
Bức xạ từ nhiệt
từ mặt đất (sóng dài)
Bức xạ
mặt
Bức xạ nhiệt
từ mặt đất (sóng dài)
trời
(sóng
ngắn)
Khí quyển
A
B
Bề mặt trái đất
A. Khi trong khí quyển có nồng độ khí CO2 bình thường
B. Khi trong khí quyển có nồng độ khí CO2 lớn
Hình 2.4: Hiệu ứng nhà kính của CO2
Tính chất nguy hại của hiệu ứng nhà kính hiện nay là làm tăng nồng độ các
khí
này trong khí quyển sẽ có tác dụng làm tăng mức nhiệt độ từ ấm tới nóng, do đó
gây nên những vấn đề MT của thời đại. các khí nhà kính bao gồm: CO2, CFC, CH4,
N2O.
Hoffman và Wells (1987) cho biết, một số loại khí hiếm có khả năng làm tăng
nhiệt độ của Trái đất. Trong số 16 loại khí hiếm thì NH4 có khả năng lớn nhất, sau
đó là
N2O, CF3Cl, CF3Br, CF2Cl2 và cuối cùng là SO2.
2.2. Những vấn đề môi trường ở Việt Nam
2.2.1. Biến đổi khí hậu và dự báo biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Theo số liệu quan trắc, BĐKH ở Việt nam có những điểm đáng lưu ý sau:
a) Nhiệt độ: Trong khoảng 50 năm qua (1951-2000) nhiệt độ trung bình năm
ở Việt nam đã tăng lên 0,70C. Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỷ gần
đây(1961-2000) cao hơn trung bình năm của 3 thập kỷ trước đó (1931-1960).
Nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1991-2000 ở Hà Nội, Đà nẵng, Tp.HCM đều
cao hơn trung bình của thập kỷ 1931-1940 lần lượt là 0,8;0,4 và 0,60C. Năm 2007,
nhiệt độ trung bình năm ở cả 3 nơi trên đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931-
1940 là 0,8-1,30 C và cao hơn thập kỷ 1991-2000 là 0,4-0,50C.
13
b) Lượng mưa: Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa TB năm
trong 9 thập kỷ vừa qua (1991-2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng
khác nhau có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống. Trên lãnh thổ Việt
Nam, xu thế biến đổi của lượng mưa cũng rất khác nhau giữa các khu vực.
c) Mực nước biển: Theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua ở các
trạm cửa Ông và hòn Dấu cho thấy, mực nước biển trung bình đã tăng lên khoảng
20cm.
d) Số đợt không khí lạnh (KKL): KKL ảnh hưởng đến Việt Nam giảm đi rõ
rệt trong2 thập kỷ gần đây (cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI). Năm 1994 và năm
2007 chỉ có 15-16 đợt KKL, bằng 56% trung bình nhiều năm, 6/7 trường hợp có số
đợt KKL trong mỗi tháng mùa Đông( tháng XI-III) thấp dị thường(0-1 đợt) cũng
rơi vào 2 thập kỷ gần đây( 3/1990 ;1/1993; 2/1994; 2/1997;11/1997). Một biểu
hiện dị thường gần đây nhất về khí hậu trong bối cảnh BĐKH toàn cầu là đợt
KKL, gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 gây
thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp.
e) Bão: Những năm gần đây, số cơn bão có cường độ mạnh nhiều hơn, quỹ
đạo bão dịch chuyển dần về các vĩ độ phía Nam và mùa bão kết thúc muộn hơn,
nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển dị thường hơn. Ví dụ cơn bão Ketsana - bão số
9 đổ bộ vào các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Kong Tum từ 29/9 đến
1/10/2009, có đường đi rất lắt léo, rất khó dự báo. Thậm chí các nhà khoa học phải
nói rằng “hiện nay nhiều cơn bão đã lừa nhân loại”
g) Số ngày mưa phùn: Trung bình năm ở Hà Nội giảm dần trong thập kỷ
1981-1990 và chỉ còn gần một nửa(15 ngày/năm) trong 10 năm gần đây.
h) Dự báo cho Việt Nam
Đối với Việt Nam, tháng 2 năm 2007, Ngân hàng thế giới đưa ra dự báo:
- Việt Nam được dự đoán là một trong hai nước đang phát triển (và Banglađet) bị
tác động tồi tệ nhất trên thế giới, nếu nhiệt độ Trái đất tăng lên 10C và mức nước
biển dâng cao 1 mét. Những tác động xấu gây nên cho con người, đất nông nghiệp
và GDP như:
- Các hiện tượng thời tiết trở nên bất thường và khó dự báo hơn. Trong vòng
50 năm qua, nhiệt độ ở Việt Nam tăng 0,70 C ( trung bình của thế giới là 0,60C) và
mức nước biển dâng cao thêm 20cm ( trung bình của thế giới là 18cm).
Bảng 2.4: Dự báo tác động của việc dâng mực nước biển 1 mét ở Việt nam
Chịu tác động
(Giá trị tuyệt
đối)
Chịu tác động
Thông số
Tổng số
(tỷ lệ %)
Diện tích (km2)
328.535
78,137
154,787
5.904
16.977
8,427
15,805
634
5,17
10,8
10,21
10,74
Dân số (Tr. người)
GDP(tỷ USD)
Diện tích đô thị (km2)
14
Diện tích nông nghiệp
(km2)
Đất ngập nước (km2)
192.816
46.179
13.773
13.241
7,14
28,67
Nguồn : Dasguptaetal. 2007
- Với độ dâng nước biển 1m, khoảng 11 triệu người ở vùng ĐBSH và
ĐBSCL sẽ chịu tác động, ảnh hưởng đến 10% tổng sản phẩm thu nhập quốc nội
GDP, 29% diện
tích đất ngập nước (ĐNN), 7% diện tích đất nông nghiệp, 11% đô thị (bảng 2.4)
- Ngày càng có nhiều cơn bão và mức độ tàn phá mạnh hơn. Năm 2006 thiệt
hại do bão gây ra ở Việt Nam lên tới 1,2 tỷ USD. Từ 29 tháng 9 đến 1 tháng 10
năm 2009 bão số 9 có tên gọi quốc tế là Ketsana đổ bộ vào các tỉnh miền Trung và
Tây Nguyên với gió trên cấp 12, kéo theo lụt lớn, đã làm 146 người chết, 12 người
mất tích, 522 người bị thương và thiệt hại 12.000 tỷ đồng.Cơn bão số 11 có tên gọi
quốc tế là đổ bộ vào Phú Yên, Bình Định trong tháng 10/2009, gây lụt nghiêm
trọng và làm 123 người chết, hơn 2000 ngôi nhà bị phá hủy và nước cuốn trôi.
- Về nhiệt độ: Trên các khu vực, nhiệt độ TB năm có thể tăng lên 20C vào
năm 2050. Dự tính đến năm 2100 nhiệt độ sẽ tăng lên 30C.
- Về lượng mưa: Lượng mưa mùa mưa ở các khu vực, trừ Trung Bộ, đều
tăng 0-5% vào năm 2050, riêng Trung Bộ là 0-10%. Lượng mưa mùa khô ở các
vùng Tây bắc, Đông Bắc, đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Bắc Trung Bộ và cực nam
Trung Bộ có thể tăng hay giảm 5%, riêng ở Bắc và Trung Trung Bộ tăng 0-5%.
Đáng chú ý là ở những vùng thường xảy ra hạn hán vào mùa khô, hạn hán có nhiều
khả năngtăng lên cả về cường độ và diện tích.
- Về mực nước biển dâng: Trung bình trên toàn dải bờ biển Việt Nam, mực
nước biển có thể tăng lên 40cm vào năm 2050 và ước tính có thể tăng lên 100cm
vào năm 2100.
i) Các tác động của biến đổi khí hậu
Nhiệt độ tăng cao và lượng mưa thay đổi sẽ ảnh hưởng lớn tới nông nghiệp
và nguồn tài nguyên nước. Cũng trong vòng 50 năm qua, ảnh hưởng của ENSO
đến điều kiện thời tiết của nước ta khá nặng nề, cụ thể:
- Ảnh hưởng đến hoạt động của bão và áp thấp nhiệt đới: Trong 45
năm(1956-2000) có 311 cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng trực tiếp đến Việt
Nam, trung bình mỗi năm có 6,9 cơn, trung bình mỗi tháng có 0,58 cơn.
- Ảnh hưởng đến tần số front lạnh: Trong những năm El Nino và La Nina, số
front lạnh ảnh hưởng đến nước ta đều ít hơn bình thường.
- Ảnh hưởng đến nhiệt độ: Ở hầu hết các vùng trong cả nước, nhiệt độ trung
bình các tháng trong điều kiện El Nino đều cao hơn bình thường, mùa đông chênh
lệch rõ rệt hơn mùa hè, các khu vực phía Nam chịu ảnh hưởng rõ hơn ở phía Bắc.
Trái lại, trong điều kiện La Nina, nhiệt độ trung bình các tháng thấp hơn bình
thường, ở phía Bắc chịu ảnh hưởng nhiều hơn ở phía Nam.
15
- Ảnh hưởng đến lượng mưa: Mức thâm hụt lượng mưa trong từng đợt
ENSO được định nghĩa là hiệu số giữa tổng lượng mưa thực tế trong từng đợt
ENSO với tổng lượng mưa trung bình nhiều năm của cùng thời kỳ ở một điểm nào
đó, biểu thị bằng % (DR). Kết quả theo dõi cho thấy, hầu hết các đợt El Nino gây
thâm hụt lượng mưa ở hầu hết các vùng. DR phổ biến từ 25-50%, hầu hết các đợt
La Nina gây ra lượng mưa vượt trung bình nhiều năm ở các tỉnh ven biển Trung
Bộ và Tây Nam Bộ.
- Ảnh hưởng đến độ mặn nước biển vùng ven biển và hải đảo: Nhìn chung, El
Nino làm tăng độ mặn, trái lại La Nina làm giảm độ mặn của nước biển ở vùng ven
biển và hải đảo nước ta.
- Ảnh hưởng đến dòng chảy sông ngòi: Trong những năm El Nino dòng
chảy năm nhỏ hơn trung bình nhiều năm từ 10% trở lên, những năm El Nino mạnh
có thể giảm tới 50-60%. Trong những năm La Nina, dòng chảy năm các sông
thường lớn hơn trung bình nhiều năm, có năm ở một số sông lớn hơn 80-100%.
- Ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp: Trong điều kiện El Nino, năng suất
lúa bình quân của vụ Đông Xuân giảm so với vụ trước đó, nhất là ở vùng Trung du
Bắc Bộ, trái lại, năng suất lúa vụ mùa tăng, nhất là ở vùng Bắc Trung Bộ. Trong
điều kiện La Nina, năng suất lúa bình quân vụ Đông Xuân và vụ mùa đều tăng so
với vụ trước đó, trong đó vụ Đông Xuân rõ nhất ở đồng bằng Bắc Bộ, vụ mùa rõ
nhất ở đồng bằng sông Cửu Long.
- Ảnh hưởng đến đời sống và sức khoẻ con người: Theo thống kê, từ năm
1977 đến 2000, tổng số người bị chết và mất tích do thiên tai là 14.962, trong đó
xảy ra vào những năm ENSO chiếm 64% (El Nino 43%, La Nina 21%). Tỷ lệ số
người mắc bệnh sốt xuất huyết trên 100.000 người trong thời kỳ 1976-1998 có
quan hệ với hiện tượng El Nino với hệ số tương quan từ 0,4-0,6. Riêng đợt El Nino
1997-1998, cả nước có 51 tỉnh, thành phố có dịch sốt xuất huyết với tỷ lệ bình
quân 306/100.000 người.
Trước những diễn biến phức tạp của BĐKH Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu theo Quyết định số
158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008 có các mục tiêu sau:
- Mục tiêu tổng quát: Mục tiêu chiến lược của Chương trình là đánh giá được
mức độ tác động của BĐKH đối với các lĩnh vực, ngành và địa phương trong từng
giai đoạn và xây dựng được kế hoạch hành động có tính khả thi để ứng phó hiệu
quả với BĐKH cho từng giai đoạn ngắn hạn và dài hạn, nhằm đảm bảo sự phát
triển bền vững của đất nước, tận dụng các cơ hội phát triển nền kinh tế theo hướng
cacbon thấp và tham gia cùng cộng đồng quốc tế trong nỗ lực giảm nhẹ BĐKH,
bảo vệ hệ thống khí hậu Trái đất.
- Mục tiêu cụ thể:
a) Đánh giá được mức độ BĐKH Việt Nam do BĐKH toàn cầu và mức độ tác
động của BĐKH đối với các lĩnh vực, ngành và địa phương.
b) Xác định được các giải pháp ứng phó với BĐKH.
16
c) Tăng cường các hoạt động khoa học công nghệ nhằm xác lập cơ sở khoa
học cho các giải pháp ứng phó với BĐKH.
d) Củng cố và tăng cường năng lực tổ chức, thể chế, chính sách về ứng phó
với BĐKH.
đ) Nâng cao nhận thức, trách nhiệm tham gia của cộng đồng và phát triển nguồn
nhân lực.
e) Tăng cường hợp tác quốc tế nhằm tranh thủ sự giúp đỡ, hỗ trợ của quốc tế
trong ứng phó với BĐKH.
g) Tích hợp vấn đề BĐKH vào các Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển
kinh tế-xã hội, phát triển ngành và địa phương.
h) Xây dựng và triển khai các kế hoạch hành động của các Bộ, Ngành và địa
phương ứng phó với BĐKH, triển khai các dự án, trước tiên là các dự án thí điểm.
Trong số các nhiệm vụ, Dự án thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng
phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2009-2015 có Dự án số 6 là: “Xây dựng
chương trình đào tạo và giáo dục về biến đổi khí hậu trong chương trình giáo
dục các cấp’’ thuộc nhiệm vụ: Nâng cao nhận thức và đào tạo nguồn nhân lực.
Liên quan đến Ngành GD&ĐT Chương trình mục tiêu quốc gia nhấn mạnh:
- Phát triển những kế hoạch, những chương trình để nâng cao nhận thức cho
những nhà quản lý Nhà nước về giáo dục, các tổ chức xã hội và cộng đồng.
- Phát triển và lồng ghép các chương trình giáo dục và đào tạo về BĐKH vào
chương trình giáo dục của các trường phổ thông.
- Thiết lập các kênh truyền thông đại chúng theo những chuyên đề về BĐKH
để trao đổi thông tin.
- Tuyên truyền và nâng cao nhận thức về những vấn đề BĐKH trong cộng
đồng.
- Tuyên truyền và nâng cao nhận thức về vấn đề giới trong các hoạt động ứng
phó với BĐKH.
- Tiến hành các chương trình nâng cao nhận thức và chống lại BĐKH.
- Kế hoạch thích ứng và giảm nhẹ BĐKH là một bộ phận hữu cơ của phát
triển bền vững ngành giáo dục.
Hiện nay, Bộ GD&ĐT đã thành lập Ban chỉ đạo ứng phó với BĐKH và đang
tiến hành xây dựng “kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH” và dự án ưu tiên “
Đưa các nội dung ứng phó với BĐKH vào các chương trình giáo dục và đào tạo
giai đoạn 2011-2015”.
2.2.2. Suy thoái tài nguyên rừng, đất, nước và đa dạng sinh học
a) Tầm quan trọng của rừng
Rừng là hợp phần quan trọng nhất cấu thành nên sinh quyển. Nó có vai trò
cực kỳ quan trọng tạo cảnh quan và có tác động mạnh mẽ đến các yếu tố khí hậu,
đất đai. Chính vì vậy mà rừng không chỉ có chức năng trong phát triển kinh tế, xã
hội mà còn có ý nghĩa đặc biệt trong bảo vệ môi trường.
17
Trước hết, rừng có ảnh hưởng đến nhiệt độ, độ ẩm không khí, các thành
phần khí quyển và có ý nghĩa điều hoà khí hậu. Rừng tạo ra một hoàn cảnh tiểu khí
hậu có tác dụng tốt đến sức khoẻ con người. Rừng làm giảm nhiệt độ và làm tăng
độ ẩm không khí. Đặc biệt nhiều loài cây có khả năng tiết ra các chất phitonxit có
tác dụng diệt khuẩn như thông (Pinus sp), long não (Cinnamomum camphora),
bạch đàn (Eucalyptus sp), quế (Cinnamomum cassia). Rừng có vai trò bảo vệ
nguồn nước, bảo vệ đất chống xói mòn. Thảm thực vật có chức năng quan trọng
trong việc ngăn cản một phần nước mưa rơi xuống đất và có vai trò phân phối lại
lượng nước này. Các nghiên cứu cho thấy nước mưa được thực vật rừng giữ lại là
25% tổng lượng mưa. Thảm mục rừng là kho chứa các chất dinh dưỡng khoáng,
mùn và ảnh hưởng lớn đến độ phì nhiêu của đất.
Về ý nghĩa sinh thái - môi trường thì rừng là nguồn tài nguyên quý giá có thể tái
tạo hoặc sử dụng bền vững, chúng có nhiều chức năng sinh thái quan trọng không
thể thay thế; là lá phổi xanh của hành tinh, rừng kiểm soát chu trình nước và khí
hậu toàn cầu, rừng bảo vệ đất chống xói mòn rửa trôi, ngăn chặn hoang mạc hoá.
Rừng là nơi cư trú của nhiều loài sinh vật, từ những vi sinh vật đến những
động vật không xương sống, động vật có xương sống, vừa làm nhiệm vụ phân
huỷ, tổng hợp các chất dinh dưỡng nuôi sống cây trồng, vừa tạo nên tính đa
dạng sinh học cao, có vai trò quan trọng trong tạo lập cân bằng sinh thái. Vai trò
của rừng có thể minh hoạ theo sơ đồ:
Rừng nuôi đất và nước Đất và nước nuôi cây và con Cây và con nuôi con
người và tạo lập cân bằng sinh thái.
b) Tài nguyên rừng và các kiểu rừng ở Việt nam
Đất nước Việt nam trải dài trên nhiều vĩ tuyến và đai cao, với địa hình rất đa
dạng, 3/4 lãnh thổ là đồi núi, lại có khí hậu thay đổi từ nhiệt đới ẩm phía Nam đến
á nhiệt đới ở vùng cao phía Bắc, đã tạo nên sự đa dạng về HST tự nhiên và sự
phong phú về các loài sinh vật. Những HST này bao gồm nhiều loại rừng như rừng
cây lá rộng thường xanh, rừng nửa rụng lá, rừng rụng lá, rừng trên núi đá vôi, rừng
hỗn giao lá rộng và lá kim, rừng lá kim, rừng tre nứa, rừng ngập mặn, rừng tràm,
rừng ngập nước ngọt. Rừng ở Việt nam nói riêng và quốc tế nói chung có vai trò
cực kỳ to lớn:
- Rừng giữ cho không khí trong lành, rừng giống như một nhà máy sinh học "tự
nhiên", thường xuyên thu nhận CO2 và cung cấp O2 cho hô hấp của con người và thế
giới động vật khác.
- Rừng điều hoà nóng lạnh, mùa hè không khí trong rừng thấp hơn bên ngoài
khoảng 8-100C, ngược lại mùa Đông nhiệt độ trong rừng lại cao hơn bên ngoài
khoảng 0,1-0,50C. Ban ngày trong rừng mát hơn, ban đêm lại ấm hơn. Tác động
điều hoà này rất quan trọng đối với những vùng có chế độ nhiệt biến đổi nhiều với
khí hậu lục địa.
- Rừng điều tiết nước, phòng chống lũ lụt, chống xói mòn đất. Ở những vùng
có nhiều rừng, lượng mưa nhiều hơn so với vùng không có rừng. Khi mưa rơi
18
xuống, một phần nước bị giữ lại trên tán rừng, chúng bốc hơi làm tăng độ ẩm
không khí. Dòng chảy bề mặt trong đất có rừng ít hơn rất nhiều so với đất trống.
Đó là do hệ quả tổng hợp của tán lá, thân cây, hệ rễ, tầng thảm mục ngăn chặn
dòng chảy bề mặt. Phần lớn nước mưa rơi ( 50-80%) được ngấm sâu vào lòng đất
tạo thành nước ngầm chảy quanh năm.ở vùng núi,lũ quét thường xảy ra ở những
nơi không có rừng, gây xói mòn đất nghiêm trọng.
- Rừng phòng chống gió bão: Bão, lốc, gió khô, gió nóng, gió rét đều có hại
đến sản xuất nông nghiệp. Rừng làm giảm tốc độ gió, thay đổi hướng gió. Đặc biệt,
nhờ khả năng điều hoà nhiệt độ của rừng, giảm bốc hơi nước, tăng độ ẩm nên rừng
có khả năng giảm đáng kể mức độ gay gắt của gió khô, gió nóng.
- Rừng bảo vệ độ phì nhiêu và bồi dưỡng tiềm năng sản xuất của đất. Đất có
rừng không bị rửa trôi xói mòn bề mặt, các tính chất lý - hoá - sinh học của đất
được bảo tồn. Rừng lại tiếp tục cung cấp chất hữu cơ và nhiều nguồn dinh dưỡng
cho đất. Có thể nói: " rừng tốt tạo ra đất tốt và đất tốt nuôi lại rừng tốt".
- Rừng ngăn chặn và phòng chống cát di động ven biển: Đất cát nghèo dinh
dưỡng, bở rời nên dễ bị gió thổi. Do đó, trên vùng cát ven biển thường trồng phi
lao (Casuarina equisetifolia) hoặc keo lá tràm (Cassia euriculiformis) để chống cát
bay và cát chảy.
- Rừng bảo vệ đê biển và cải tạo vùng sình lầy ngập mặn. Bao gồm nhiều
loài cây ngập mặn như đước (Rhizophora apiculata), sú,vẹt dù (Bruguiera
gymnorrhiza) có tác dụng nhiều mặt trong chắn sóng biển, giữ bùn cát, tạo cơ hội
lấn biển. Ở ĐBSCL, nơi có rừng ngập mặn, mỗi năm đất liền tiến ra biển khoảng
50- 150m (Trần Kim Thạch, 1981).
- Rừng cải tạo đất chua phèn: Ở ĐBSCL mùa khô thường thiếu nước, hạn
hán gây cháy rừng, nhưng rừng Tràm (Melaleuca leucadendra) lại rất thích nghi và
phát triển mạnh, nuôi nguồn nước ngọt quý giá, tạo thế mạnh tự nhiên để ngăn bốc
phèn và chống khô hạn.
- Rừng cải tạo và khôi phục đất thải vùng mỏ. Khi khai thác mỏ đã thải loại
lượng lớn đất đá, không thích hợp cho cây trồng nông nghiệp và để cải tạo, trước
hết người ta nuôi dưỡng cây hoang dại hoặc trồng rừng để cải tạo, biến đổi dần
thành đất thuộc hoá.
Phân loại rừng:
Rừng tự nhiên cũng như rừng trồng hiện nay đều được phân chia làm 3 loại
rừng: Rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất
Hiện nay ngành lâm nghiệp đang chỉ đạo xây dựng 3 loại rừng thành một hệ thống
- Hệ thống rừng đặc dụng: Là rừng và đất rừng giành cho việc bảo vệ thiên
nhiên, bảo vệ di tích lịch sử, bảo vệ sức khoẻ, nghiên cứu khoa học hoặc phục vụ
các lợi ích đặc biệt khác. Rừng đặc dụng được chia ra 3 loại nhỏ như sau:
- RĐD là vườn quốc gia
- RĐD là khu bảo tồn
- RĐD là khu văn hoá và BVMT
19
- Hệ thống rừng phòng hộ: Là rừng và đất rừng giành cho việc bảo vệ,
phòng chống các nhân tố khí hậu có hại, BVMT, cân bằng sinh thái. RPH chia ra 3
loại như sau:
- RPH đầu nguồn
- RPH chắn gió chống cát bay
- RPH chắn sóng
Đến nay đã quy hoạch được 6,0 triệu ha rừng phòng hộ, trong đó rừng
phòng hộ đầu nguồn chiếm 5,6 triệu ha, còn lại 0,4 triệu ha là phòng hộ chống cát
bay, chắn sóng biển và phòng hộ MT. RPH được tổ chức theo hình thức các Ban
quản lý và được đầu tư từ ngân sách Nhà nước.
- Hệ thống rừng sản xuất: Là rừng và đất rừng dùng để kinh doanh sản xuất
gỗ và các lâm sản, đặc sản rừng khác. RSX chia ra 4 loại nhỏ như sau:
- RSX gỗ lớn
- RSX gỗ nhỏ
- RSX tre nứa
- RSX đặc sản
RĐD và RPH do Nhà nước thống nhất quản lý, còn rừng và đất rừng giành cho
sản xuất được Nhà nước giao hoặc cho thuê. Diện tích RSX hiện có là 4,04 triệu ha
(trong đó rừng tự nhiên là 3,17 triệu ha, rừng trồng là 0,87 ha). RSX được giao cho
các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân để sản xuất kinh doanh. Nhà nước có chính sách
cho vay vốn ưu đãi và hỗ trợ tạo nguồn nhân lực, hướng dẫn ứng dụng các tiến bộ kỹ
thuật và các thông tin về thị trường (bảng 2.5).
Bảng 2.5: Diện tích các loại rừng đến hết 2005 ( ha)
Độ che
phủ(%)
TT
Loại rừng
Diện tích
Tổng diện tích
Trong đó: - Rừng phòng hộ
- Rừng đặc dụng
- Rừng sản xuất
Rừng tự nhiên:
Trong đó: - Rừng phòng hộ
- Rừng đặc dụng
12.616.699
6.199682
1.929.303
4.487.714
10.283.172
5.328.450
1.849.049
3.105.674
2.333.526
871.232
37
1
2
3
4
- Rừng sản xuất
Rừng trồng
Trong đó: - Rừng phòng hộ
- Rừng đặc dụng
80.254
- Rừng sản xuất
1.382.040
6.411.990
3.377.417
417.716
Diện tích chưa có rừng
Trong đó: - Rừng phòng hộ
- Rừng đặc dụng
- Rừng sản xuất
2.616.857
Nguồn: Bộ NN&PTNT, 2006
20
Trước đây phần lớn đất nước Việt nam có rừng che phủ, nhưng chỉ khoảng một
thế kỷ qua rừng bị suy thoái nặng nề. Sau chiến tranh, diện tích rừng chỉ còn lại
khoảng 9,3 triệu ha, chiếm 28,2% diện tích cả nước. Diễn biến diện tích rừng ở Việt
nam được minh họa ở bảng 2.6
Bảng 2.6: Diễn biến diện tích rừng qua các năm (Đơn vị: 1.000ha)
Năm
1945
1976
1980
1985
1990
1995
2002
2004
2005
Loại rừng
Tổng diện
tích
Rừng trồng
Rừng tự
14,300 11,169 10,608 9,892 9,175 9,302 11,785 12,307 12,617
0,092 0,422 0,584 0,745 1,050 1,9195 2,219 2,334
14,300 11,076 10,186 9,3083 8,4307 8,2525 9,865 10,088 10,283
0
nhiên
Độ che phủ
(%) ha. người
43,0
0,57
33,8
0,31
32,1
0,19
30,0
0,14
27,8
0,12
28,2
0,12
35,8
0,14
36,7
0,15
37,0
0,15
Nguồn: Bộ NN&PTNT năm 2006
c) Nguyên nhân giảm diện tích rừng
Nguyên nhân mất rừng có nhiều, nhưng một số nguyên nhân chính là:
- Phá rừng để chuyển đổi mục đích sử dụng đất: Trong những năm qua, lũ
lụt, hạn hán gây ra ở nhiều nơi làm thiệt hại cả sinh mạng người và của cải vật chất
là do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, của nạn chặt phá rừng. Một số hoạt động
phát triển kinh tế thiếu cân nhắc như phá rừng ngập mặn để nuôi tôm, chặt rừng để
trồng cây công nghiệp như: Cao su, cà phê làm cho hậu quả thiên tai ngày càng
nặng nề hơn, các yếu tố môi trường sống ngày một xấu đi. Bảng 3.7 chỉ diễn biến
tình hình phá rừng, khai thác trái phép và diện tích bị thiệt hại qua các năm:
Bảng 2.7: Diễn biến về tình trạng phá rừng
200 200 200 200 200 200 200 200 Tổng
Nội dung
1
2
3
4
5
6
7
8
cộng
122 114 973 836 804 592 863 580
95 38
Diện tích thiệt hại, 8.25 6.63 4.43 3.66 8.82 844 178 165
ha
Số vụ phá rừng
70.237
2
3
0
9
2
8
43.693
1
3
6
1
8
9
4
1
Nguồn: Bộ NN&PTNT,2009
- Vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR):
Năm 2007 cả nước đã phát hiện 39.693 vụ vi phạm Luật BV&PTR. Riêng
các tỉnh từ Thanh Hoá đến Bình Thuận đã phát hiện 18.019 vụ, chiếm 45,4%.
Cũng năm 2007, cả nước đã có 19.937 vụ vi phạm về vận chuyển lâm sản trái
phép. Lượng lâm sản tịch thu được trong năm 2007 vào khoảng gần 40.000 m3 gỗ
tròn, gấp 5.000 m3 gỗ xẻ và hơn 2 tỷ đồng tiền bán các loại lâm sản khác đã bị tịch
thu. Trong số 4.874 vụ vi phạm đã phát hiện được vào 2 tháng đầu năm 2008 trên
21
phạm vi cả nước, có 584 vụ phá rừng làm nương rẫy, 473 vụ khai thác trái phép và
2.524 vụ khai thác vận chuyển gỗ trái phép.
- Cháy rừng: VN có nhiều loại rừng dễ bị cháy trong mùa khô như rừng
khộp Tây Nguyên, rừng tràm ở một số tỉnh phía Nam, rừng thông và một số loài
cây rừng trồng khác.Theo số liệu thống kê của Cục kiểm lâm, từ năm 1995 đến nay
trung bình mỗi năm rừng bị thiêu hủy khoảng 5.000 ha. Đặc biệt năm 1998 do ảnh
hưởng của hiện tượng El-Nino, nắng hạn gay gắt nên tổng số vụ cháy rừng trên cả
nước tới 1.681 vụ với diện tích rừng bị cháy là 20.357 ha. Năm 1999 diện tích rừng
bị cháy giảm 15 lần, năm 2000 giảm 20 lần. Cụ thể năm 2001 xảy ra 490 vụ cháy
rừng, làm thiệt hại 2.466 ha, năm 2002 xảy ra 1.098 vụ cháy rừng, thiệt hại 15.404
ha, năm 2003 xảy ra 1.158 vụ cháy rừng thiệt hại 1.785 ha, sáu tháng đầu năm
2008 đã xảy ra 232 vụ cháy rừng, thiệt hại 960 ha (bảng 2.8).
Bảng 2.8: Số vụ cháy và diện tích rừng bị thiệt hại
Diện tích thiệt
Năm
Số vụ cháy
Ghi chú
hại, ha
2.466,0
15.404,0
1.785,0
5.563,0
5.114,0
1.535,0
2.328,0
2001
2002
2003
2004
2005
490
1.098
1.158
899
1165
475
Rừng tràm U Minh
2006
2007
792
Sáu tháng đầu năm
2008
232
960,0
Nguồn Cục Kiểm lâm, 2009
- Xây dựng cơ bản: Việc mở rộng đường giao thông, xây dựng công trình
thủy lợi, khu công nghiệp, thủy điện, đường dây tải điện, nhà ở, các hồ chứa
nước... là những nguyên nhân trực tiếp gây mất rừng.
2.2.3. Suy thoái tài nguyên đất
Sự suy thoái tài nguyên rừng theo phản ứng dây truyền dẫn đến suy giảm tài
nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên đa dạng sinh học (ĐDSH) và nhiều hậu
quả sinh thái khác.
a) Hiện trạng tài nguyên đất
Việt Nam có diện tích tự nhiên 32.931.456 ha với 3/4 lãnh thổ là vùng đồi núi và
trung du, trong đó diện tích sông suối và núi đá không có rừng cây là 1.337.275 ha
(chiếm 4,06% diện tích đất tự nhiên), phần đất liền 31,2 triệu ha (chiếm 94,5%
diện tích tự nhiên), xếp hàng thứ 58 trong tổng số 200 nước trên thế giới, nhưng vì
dân số đông (81 triệu người) nên diện tích đất bình quân đầu người thuộc loại rất
thấp, chỉ bằng 1/6 bình quân của thế giới (bảng 2.9).
22
Bảng 2.9: Quỹ đất và hiện trạng sử dụng đất (tại thời điểm 01/01/2006) đơn vị:
1.000 ha
Trong đó: Đất
Tổng diện
đã giao và cho
tích
thuê
Cả nước
33121.2
24583.8
9412.2
6358.1
4151.8
50.6
2155.7
3054.1
14437.3
5386.9
6990
23781.2
21219.1
9288
6257.3
4127.5
24.9
2104.9
3030.7
11208.6
4589
4789.1
1830.5
691.5
13.1
Đất nông nghiệp
Đất sản xuất nông nghiệp
Đất trồng cây hàng năm
Đất trồng lúa
Đất cỏ dùng vào chăn nuôi
Đất trồng cây hàng năm khác
Đất trồng cây lâu năm
Đất lâm nghiệp
Rừng sản xuất
Rừng phòng hộ
Rừng đặc dụng
2060.4
701.6
14.1
Đất nuôi trồng thủy sản
Đất làm muối
Đất nông nghiệp khác
Đất phi nông nghiệp
Đất ở
Đất ở đô thị
Đất ở nông thôn
18.6
17.9
3256.9
602.7
106.7
496
1401
24
284.6
156.7
935.7
12.8
97.1
1140.1
3.2
1391.6
597.1
103.5
493.6
492.6
22.6
199.8
146.9
123.3
12.6
83.5
203.2
2.6
1170.5
20.9
1128.8
20.8
Đất chuyên dụng
Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp
Đất quốc phòng,an ninh
Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp
Đất có mục đích công cộng
Đất tôn giáo, tín ngưỡng
Đất nghĩa trang, nghĩa địa
Đất sông suối, mặt nước chuyên dụng
Đất phi nông nghiệp khác
Đất chưa sử dụng
5280.5
351.5
4537.3
391.7
Đất bằng chưa sử dụng
Đất đồi núi chưa sử dụng
Núi đá không có rừng cây
Nguồn : Niên giám thống kê 2006
23
Như vậy, hiện nay quỹ đất đã được sử dụng đến hết năm 2006 là 24.064.044
ha, chiếm 73,07% diện tích tự nhiên cả nước. Trong đó 66,6% sử dụng cho nông
lâm và thuỷ sản. Trong số 8.867.412 ha diện tích đất chưa sử dụng có tới
6.690.793 ha là đất đồi núi, chiếm 20,34% diện tích đất toàn quốc.
b) Các vấn đề về môi trường đất
Nước ta có khoảng 25 triệu ha đất dốc, chiếm hầu hết lãnh thổ miền núi và
trung du đặc biệt là Tây Bắc (92,8%). Đây là những khu vực rất nhạy cảm, dễ biến
động khi có sự thay đổi về điều kiện sinh thái, đặc biệt là thảm thực vật. Do đó, tài
nguyên đất ở các vùng này vẫn đang tiếp tục bị suy thoái trầm trọng, làm biến đổi
các tính chất đất và mất đất không còn tính năng sản xuất. Các loại hình thoái hoá
đất chủ đạo ở nước ta là:
- Xói mòn, rửa trôi, sạt và trượt lở đất (hình 3.4)
- Suy thoái vật lý (mất cấu trúc, đất bị chặt, bị thấm nước kém)
- Suy thoái hoá học (mặn hoá, chua hoá, phèn hoá)
- Mất chất dinh dưỡng khoáng và chất hữu cơ
- Đất bị chua
- Xuất hiện nhiều độc tố hại cây trồng như Fe3+, Al3+ và Mn2+
- Hoang mạc hoá
- Ô nhiễm đất cục bộ do chất thải đô thị, khu công nghiệp và làng nghề
- Suy thoái và ô nhiễm đất ở khu khai thác mỏ
Do rừng bị chặt phá và canh tác không hợp lý kéo dài, nên toàn quốc vẫn
còn khoảng 7 triệu ha đất trống đồi trọc. Việc giao đất lâm nghiệp tiến hành chậm,
đất bị tranh thủ khai thác bóc lột, nên tỷ lệ đất dốc bị thoái hoá rất cao (bảng 2.10).
Bảng 2.10: Phân bố đất dốc và xói mòn ở các vùng
Đất thoái hoá
Đất dốc
(50,%)
Diện tích
(triệu ha)
Đất có
rừng (%)
Vùng
Diện
tích
%
- Trung du miền núi Bắc
Bộ
- Bắc Trung Bộ
- Nam Trung Bộ
- Tây Nguyên
Cộng
9,8
5,2
4,4
5,5
95
80
70
90
9
7,84
3,64
2,86
3,30
80
70
65
60
12
13
23
24,9
17,64
Nguồn: Hội Khoa học đất Việt Nam,2004
24
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Khoa học môi trường - Bài 2: Những vấn đề môi trường trên thế giới và ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bai_giang_khoa_hoc_moi_truong_bai_2_nhung_van_de_moi_truong.pdf

