Bài giảng Khoa học môi trường - Bài 3: Tài nguyên

BÀI 3: TÀI NGUYÊN  
I. Khái niệm và phân loại tài nguyên  
Tài nguyên là tất cả các dạng vật chất, tri thức, thông tin được con người sử dụng để  
tạo ra của cải vật chất, hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới. Tài nguyên mang một giá trị  
lịch sử xã hội nhất định, thể hiện bằng sự thay đổi giá trị tài nguyên theo quá trình  
phát triển, sự gia tăng số lượng và loại hình được con người khai thác, sử dụng.  
Tài nguyên là đối tượng sản xuất của con người. Xã hội loài người càng phát triển thì  
số loại hình tài nguyên và số lượng mỗi loại tài nguyên được con người khai thác và  
sử dụng ngày càng gia tăng. Có thể nói, trong giai đoạn hiện nay, con người có khả  
năng khai thác và sử dụng hầu hết các dạng tài nguyên có mặt trên Trái đất.  
- Theo quan hệ với con người, tài nguyên có thể chia làm 02 loại lớn: tài nguyên  
thiên nhiên và tài nguyên xã hội.  
Tài nguyên xã hội là một dạng tài nguyên tái tạo đặc biệt của Trái đất, thể hiện bởi  
sức lao động chân tay và trí óc, khả năng tổ chức và chế độ xã hội, tập quán, tín  
ngưỡng của các cộng đồng người.  
- Theo phương thức và khả năng tái tạo, tài nguyên được chia thành 02 loại: tài  
nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo.  
Tài nguyên tái tạo như: nước ngọt, đất, sinh vật,… là loại tài nguyên mà sau một  
chu trình sử dụng sẽ trở lại dạng ban đầu. Tài nguyên tái tạo có thể tự duy trì hoặc tự  
bổ sung một cách liên tục khi được quản lý một cách hợp lý. Tuy nhiên, nếu sử dụng  
không hợp lý, có thể bị suy thoái không thể tái tạo được. Ví dụ: nước có thể bị ô  
nhiễm; đất có thể bị mặn hóa, sa mạc hóa,….  
Tài nguyên không tái tạo: là dạng tài nguyên bị biến đổi, giảm dần về số lượng và  
mất đi sau quá trình khai thác và sử dụng của con người. Ví dụ: khoáng sản sẽ cạn kiệt  
theo thời gian; tài nguyên gen di truyền của các loại sinh vật quý hiếm có thể mất đi  
cùng với sự khai thác quá mức và các thay đổi về môi trường sống….  
- Theo bản chất tự nhiên, tài nguyên được phân loại thành: tài nguyên nước, tài  
nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên  
năng lượng, tài nguyên khí hậu, cảnh quan, di sản văn hóa kiến trúc, tri thức khoa  
học và thông tin.  
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đang làm thay đổi giá trị của nhiều  
loại tài nguyên. Nhiều loại tài nguyên khai thác đến mức cạn kiệt, trở nên quý hiếm;  
nhiều loại tài nguyên có giá trị cao trước đây, nay trở thành phổ biến và rẻ tiền do  
tìm được phương pháp chế biến hiệu quả hơn hoặc được thay thế bằng loại khác.  
Vai trò và giá trị của tài nguyên xã hội như tài nguyên thông tin, văn hóa lịch sử  
đang có xu hướng gia tăng.  
II. Tài nguyên đất  
Đất là một dạng tài nguyên vật liệu của con người. Đất thường có 02 nghĩa: đất đai –  
nơi ở, xây dựng cơ sở hạ tầng của con người và thổ nhưỡng – mặt bằng để sản xuất  
nông lâm nghiệp.  
Đất đai là một nghĩa khác của tài nguyên đất, xác định điều kiện cần thiết cho việc  
xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở như: nhà ở, giao thông, mặt bằng sản xuất công  
nghiệp. Giá trị của đất đai được xác định bởi các điều kiện thuận lợi cho việc kiến  
thiết và xây dựng.  
Thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo phân lớp đặc biệt, hình thành do kết  
quả tác động của 5 yếu tố: (1) đá gốc, (2) động vật, thực vật, (3) khí hậu, (4) địa hình  
và (5) thời gian. Giá trị của thổ nhưỡng được tính bằng số lượng diện tích (ha, km2)  
và độ phì (độ màu mỡ thích hợp cho trồng cây công nghiệp và lương thực).  
* THỔ NHƯỠNG  
-Các thành phần chính:  
+ Các hạt khoáng chất: 40%  
+ Nước:  
+ Không khí:  
+ Humin (mùn):  
30%  
20%  
5%  
-Cấu trúc hình thái theo chiều từ trên xuống của phẩu diện: 6 tầng  
(1) Tầng thảm mục và rễ cỏ: được phân hủy ở mức độ khác nhau  
(2) Tầng mùn: thường có màu thẫm hơn, tập trung chất hữu cơ và chất dinh dưỡng  
của đất  
(3) Tầng rữa trôi: do một phần vật chất bị rữa trôi xuống tầng dưới  
(4) Tầng tích tụ: chứa các chất hòa tan và hạt sét bị rữa trôi từ tầng trên  
(5) Tầng đá mẹ: bị biến đổi ít nhiều nhưng vẫn giữ được cấu tạo của đá  
(6) Tầng đá gốc: chưa bị phong hóa hoặc biến đổi  
-Sự hình thành đất: là một quá trình lâu dài và phức tạp  
- Các quá trình hình thành đất: 3 nhóm  
(1) Quá trình phong hóa  
(2) Quá trình tích lũy và biến đổi chất hữu cơ trong đất  
(3) Quá trình di chuyển khoáng chất và vật liệu hữu cơ trong đất  
+ Những thách thức của TN Đất  
1.Trên Thế giới:  
Số liệu thống kê năm 1980:  
-Tổng diện tích 14.777 triệu ha với 1.527 triệu ha đất đóng băng và 13.251 triệu ha  
đất không phủ băng.  
-Trong đó, 12% tổng diện tích là đất canh tác, 24% là đồng cỏ, 32% là đất rừng và  
32% là đất cư trú và đầm lầy.  
-Diện tích đất có khả năng canh tác là 3.200 triệu ha, hiện mới khai thác 1.500 triệu  
ha.  
-Tỷ lệ đất đang canh tác trên đất có khả năng canh tác ở các nước phát triển là  
70%; ở các nước đang phát triển là 36%.  
-Nguyên nhân dẫn đến việc chưa khai thác hết diện tích đất có khả năng canh tác  
bao gồm: thiếu nước, khí hậu không phù hợp, thiếu vốn đầu tư.  
- Tài nguyên đất của thế giới hiện đang bị suy thoái nghiêm trọng do xói mòn, rửa  
trôi, bạc màu, nhiễm mặn, nhiễm phèn, ô nhiễm đất và biến đổi khí hậu.  
- Hiện nay, 10% đất có tiềm năng nông nghiệp đang bị sa mạc hóa, tốc độ dịch  
chuyển ranh giới sa mạc Sahara là 100m/năm, tương ứng với sự gia tăng diện tích  
sa mạc là 100.000 ha/năm.  
- Diện tích đất đang bị thoái hóa của Trung Quốc là 280 triệu ha, chiếm 30% diện  
tích lãnh thổ, bao gồm 36,67 triệu ha đất đồi bị xói mòn nặng, 6,67 triệu ha bị chua  
mặn, 4 triệu ha úng lầy.  
- Ấn Độ hàng năm bị mất khoảng 3,7 triệu ha đất canh tác do các nguyên nhân trên.  
2. Tại Việt Nam:  
-Diện tích tự nhiên: khoảng 33 triệu ha – Đứng thứ 58 TG  
-Dân số đông – Đứng thứ 13/205 quốc gia  
Tỷ lệ đất bình quân đầu người: 0,51  
-Diện tích đất NN: 6,9 triệu ha = 21% S tự nhiên  
DT đất NN bình quân đầu người: 0,4 ha  
Hiện tại chỉ còn 0,1 ha/người. Đây là chỉ tiêu thấp nhất TG, nhỏ hơn TG 12 lần  
(TG: 1,2 ha/người)  
-Theo vùng đồi núi, loại đất tốt đáng kể nhất là đất đỏ bazalt, chiếm 7,2% tổng diện  
tích.  
-Theo vùng đồng bằng, loại đất tốt là đất phù sa, chiếm 8,7% tổng diện tích.  
-Nếu cộng thêm một số diện tích tốt của đất khác thì VN có khoảng 20% DT đất tốt.  
Còn lại là các loại đất có nhiều trở ngại cho sản xuất như quá dốc, khô hạn, úng, mặn,  
phèn, nghèo dinh dưỡng, quá mỏng,…  
+ Ô nhiễm đất  
- Với đầy đủ các thành phần của một hệ sinh thái hoàn chỉnh, đất thường bị ô nhiễm  
và suy thoái bởi các hoạt động của con người.  
- Nguồn gốc phát sinh ô nhiễm: CTCN, CTSH, chất thải của các hoạt động NN, ô  
nhiễm nước và không khí từ các khu dân cư tập trung.  
- Các tác nhân gây ô nhiễm:  
Tác nhân hóa học: sự có mặt của dư lượng phân bón N, P, thuốc trừ sâu (clor hữu cơ,  
DDT, lindan, aldrin, photpho hữu cơ,…), CTCN và CTSH (KLN, độ kiềm, độ  
acid…).  
Tác nhân sinh học: trực khuẩn lỵ, thương hàn, các loại ký sinh trùng (giun, sán…)  
Tác nhân vật lý: Nhiệt độ (ảnh hưởng đến tốc độ phân hủy chất thải của sinh vật),  
chất phóng xạ (U, Th, Sr90, I131, Cs137).  
III. Tài nguyên nước  
1. Trên Thế Giới:  
- Tổng lượng: 1,37 tỷ km3; trong đó, thủy quyển 97,2%, khí quyển 0,001%, sinh  
quyển 0,002%, phần còn lại chứa trong thạch quyển.  
- Nước mặn: 97,4%;  
- Băng tuyết: 1,98%  
- Nước ngầm: 0,6%;  
- Ao hồ, sông suối: 0,02%.  
Lượng nước ngọt con người sử dụng thường có nguồn gốc ban đầu là nước mưa với  
tổng khối lượng mưa trên toàn bộ diện tích Trái đất là 105.000 km3/năm.  
Lượng nước con người sử dụng trong 1 năm khoảng 35.000 km3, trong đó 8% cho  
các hoạt động sinh hoạt, 23% cho công nghiệp và 63% cho hoạt động nông nghiệp.  
2. Tài nguyên nước ở VN  
-Khá phong phú. Lượng mưa trung bình: 2000 mm/năm: cao gấp 2,6 lần lượng mưa  
trung bình của vùng lục địa trên TG.  
-Tổng lượng mưa trên toàn bộ lãnh thổ là 650 km3/năm; tạo ra dòng chảy mặt trong  
vùng nội địa: 324 km3/năm.  
-Vùng có lượng mưa cao: Bắc Giang 4000-5000 mm/năm  
-Vùng có lượng mưa ít nhất: Ninh Thuận, Bình Thuận 600-700mm/năm  
-Nhận thêm lưu lượng từ Trung Quốc và Lào: 550 km3/năm  
TN nước mặt và nước ngầm có thể khai thác và sử dụng rất phong phú: nước mặt -  
150 km3 /năm; nước ngầm - 10 triệu m3/ngày  
Do dân số đông nên bình quân nước trên đầu người đạt 4200 m3/người – hạng trung  
bình thấp.  
+ Các vấn đề MT liên quan đến TN Nước  
Các VĐ MT liên quan tới TN nước quy mô toàn cầu:  
Nước phân bố không đều trên bề mặt Trái đất.  
- Lượng mưa TB ở sa mạc dưới 100mm/năm, trong khi lượng mưa ở nhiều vùng  
nhiệt đới (Ấn Độ) có thể đạt 5.000mm/năm. Do vậy, có nơi thiếu nước, hạn hán,  
trong khi nhiều vùng thường bị mưa nhiều và ngập lụt hàng năm.  
- Ở nhiều nước Trung Đông, nước ngọt được SX từ nhiều nhà máy cất nước biển  
hoặc phải mua từ các quốc gia khác, thậm chí phải lấy từ băng Nam Cực. Các biến  
đổi khí hậu hiện nay do con người gây ra đang dần làm trầm trọng thêm sự phân bố  
không đều tài nguyên nước ngọt của Trái đất.  
- Con người ngày càng khai thác và sử dụng nhiều tài nguyên nước hơn. Lượng  
nước ngầm khai thác trên TG năm 1990 gấp 30 lần năm 1960. Điều này làm cho  
nguồn nước ngọt sạch có nguy cơ suy giảm về trữ lượng, gây ra các thay đổi mạnh mẽ  
cân bằng nước tự nhiên.  
Các nguồn nước trên Trái đất đang bị ô nhiễm bởi các hoạt động của con người  
như: ô nhiễm nước mặt, nước ngầm, nước biển. Do vậy, vấn đề đảm bảo nguồn nước  
sạch cho dân cư đang là mục tiêu được quan tâm hàng đầu của các tổ chức MT quốc  
tế và các quốc gia. Từ 1980-1990, TG đã chi cho chương trình cung cấp nước sạch  
khoảng 300 tỷ USD, đảm bảo cung cấp nước sạch cho 79% dân cư đô thị và 41% dân  
cư nông thôn.  
+ Các tác nhân gây ô nhiễm TN Nước  
Các tác nhân gây ô nhiễm MT nước có thể chia ra làm nhiều loại: KLN (As, Pb, Cr,  
Sb, Cd, Hg, Mo, Al, Cu, Zn, Fe, Al, Mn,…), anion (CN-, F-, NO3-, Cl, SO42-), một  
số hóa chất độc (thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, dioxin), các sinh vật gây bệnh (vi  
khuẩn, ký sinh trùng gây bệnh).  
- KLN tích lũy theo chuỗi thức ăn trong cơ thể con người, khi đạt liều lượng nhất  
định sẽ gây bệnh.  
- Một số kim loại còn có khả năng gây ung thư Cr, Cd, Pb, Ni.  
- Một số anion gây ô nhiễm nguồn nước có độc tính cao, điển hình là cyanur (CN-).  
- F- khi có nồng độ cao gây độc, làm hỏng men răng; ở nồng độ thấp làm yếu men  
và gây ra sâu răng.  
- NO3- trong môi trường nước có thể chuyển thành NO2- gây bệnh methoglobin và  
hình thành hợp chất nitrozamen gây bệnh ung thư.  
- Cl-, SO42- không độc, nhưng ở nồng độ cao sẽ gây ra bệnh ung thư.  
- Các nhóm hợp chất phenol hoặc ancaloit rất độc với người và gia súc.  
- Các loại thuốc trừ sâu có khả năng tích lũy theo chuỗi thức ăn và gây độc tính cho  
sinh vật và con người. Một số loại clor hữu cơ như chất 2, 4 D là tác nhân gây ung  
thư.  
IV. Tài nguyên khí hậu, cảnh quan  
Tài nguyên khí hậu và cảnh quan bao gồm các yếu tố về thời tiết khí hậu (khí áp,  
nhiệt độ, ẩm độ, bức xạ Mặt trời, lượng mưa,…), địa hình, không gian trống, cảnh  
đẹp thiên nhiên,….  
- Các yếu tố khí hậu có vai trò to lớn trong đời sống và sự phát triển của sinh vật và  
con người. Tác động của khí hậu đến con người trước hết thông qua nhịp điệu của  
chu trình sống: nhịp điệu ngày đêm, nhịp điệu mùa trong năm,….  
- Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng mạnh mẽ tới tình trạng sức khỏe con người, tạo ra  
sự tăng độ tử vong ở một số bệnh tim mạch, các loại bệnh tật theo mùa….  
- Trong giai đoạn phát triển hiện nay của nền kinh tế và giao lưu quốc tế, khí hậu  
thời tiết đang trở thành một dạng tài nguyên vật chất quan trọng của con người. Khí  
hậu thời tiết thích hợp tạo ra các khu vực du lịch hoặc nuôi trồng một số sản phẩm  
động thực vật có giá trị kinh tế cao (hoa, cây thuốc, các nguồn gene quý hiếm  
khác).  
Địa hình cảnh quan là một dạng tài nguyên quan trọng, tạo ra không gian của môi  
trường bảo vệ, môi trường nghỉ ngơi.  
Địa hình hiện tại của bề mặt Trái đất là sản phẩm của quá trình địa chất lâu dài. Các  
loại hình thái chính của địa hình là đồi núi, đồng bằng, địa hình kaxtơ, địa hình ven  
bờ, các kho nước lớn (biển, sông, hồ).  
Mỗi một loại hình thái địa hình trên chứa đựng những tiềm năng phát triển kinh tế  
đặc thù như phát triển du lịch, phát triển nông – lâm – công nghiệp…  
V. Tài nguyên rừng  
- Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, rừng được phân thành các loại:  
Rừng phòng hộ: được sử dụng để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn,  
hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trường. Rừng phòng hộ được phân  
thành: rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát, rừng phòng hộ  
chắn sóng, lấn biển, rừng phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái.  
Rừng đặc dụng: được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh  
thái rừng quốc gia, nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam  
thắng cảnh, phục vụ nghỉ ngơi, du lịch. Rừng đặc dụng được phân thành: vườn quốc  
gia, khu rừng bảo tồn thiên nhiên, khu văn hóa xã hội, nghiên cứu thí nghiệm.  
Rừng sản xuất: được sử dụng để sản xuất, kinh doanh gỗ, các loại lâm sản khác,  
động vật rừng và kết hợp phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái.  
1. Thế giới:  
+ TN rừng trên TĐ ngày càng bị thu hẹp về diện tích và trữ lượng.  
- Đầu thế kỷ 20:  
- Năm 1958:  
- Năm 1973:  
- Năm 1995:  
6 tỷ ha  
4,4 tỷ ha  
3,8 tỷ ha  
2,3 tỷ ha  
+ Tốc độ mất rừng hàng năm của Thế giới là 20 triệu ha, trong đó rừng nhiệt đới bị  
suy giảm với tốc độ lớn nhất.  
+ Năm 1990, Châu Phi và Mỹ La Tinh còn lại 75% diện tích rừng nhiệt đới ban  
đầu, trong khi Châu Á chỉ còn lại 40%. + + Dự báo đến năm 2010, rừng nhiệt đới  
chỉ còn lại từ 20-25% diện tích ban đầu ở một số nước Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh  
và Đông Nam Á.  
+ Rừng ôn đới tuy không giảm về diện tích, nhưng chất lượng và trữ lượng gỗ bị  
suy giảm đáng kể do ô nhiễm không khí. Theo tính toán, giá trị kinh tế rừng ở Châu  
Âu giảm 30 tỷ USD/năm do suy giảm về trữ lượng gỗ và chất lượng rừng.  
2. Việt Nam  
-1943:14 triệu ha  
-1976:11 triệu ha  
-1985:9,3 triệu ha  
-1995:8 triệu ha  
-Hiện nay:  
- 43%  
- 34%  
- 30%  
- 28%  
- 38,5 %  
Nguyên nhân mất rừng:  
+ Tự nhiên: Thiên tai, sự cố MT,… cháy rừng, chết rừng.  
+ Nhân tạo:  
-Đốt rừng làm rẫy  
-Phá rừng  
-Khai thác quá mức, không quy hoạch, không kịp phục hồi…  
-Chiến tranh  
Vai trò của rừng đối với MT  
+Tạo cảnh quan Phát triển du lịch sinh thái  
+Cung cấp lâm sản Phát triển kinh tế  
+Điều hòa khí hậu  
Đối với từng khu rừng điều kiện tiểu khí hậu  
-Nhiệt độ KK nơi có rừng thấp hơn nhiệt độ đất trống 3-5oC mùa nóng: mát;  
mùa lạnh: ấm hơn.  
-Bốc hơi nước SH (từ TV) Điều hòa khí hậu. Rừng thông: 2-3 tấn hơn  
nước/ha.năm; Rừng nguyên sinh: 4-6 tấn hơi nước/ha.năm.  
-Giảm bốc hơi nước vật lý (từ sông suối, đất,…)  
Chống xói mòn, rữa trôi:  
-Rừng nguyên sinh giữ 30% lượng nước mưa  
-Rừng thứ sinh giữ 10% lượng nước mưa  
-Nơi không có rừng chỉ giữ 2-3% lượng nước mưa  
-Hệ số dòng chảy mặt trên đất có độ che phủ 35% = 2 lần hệ số dòng chảy mặt trên đất  
có độ che phủ 75%.  
-Lượng đất xói mòn của vùng đất có rừng = 10% lượng đất xói mòn của vùng không  
có rừng  
+Tạo điều kiện tốt cho đất:  
-Tạo độ xốp cho đất (do rễ)  
-Góp phần hình thành đất  
-Cung cấp nguồn hữu cơ, hợp chất dinh dưỡng cho đất (từ sự phân hủy lá cây, thân  
cây…)  
+Giảm nhẹ ô nhiễm:  
-Tạo O2: Rừng thông – 30 tấn O2/ha.năm; Rừng trồng – 3-10 tấn O2/ha.năm.  
-Tiêu thụ CO2: Rừng trên toàn TG mỗi năm tiêu thụ khoảng 100 tỷ tấn CO2.  
-Giảm bụi: Rừng thông hút 36 tấn bụi/ha.năm  
-Giảm tiếng ồn vành đai cách âm  
-Cản gió, thay đổi hướng gió phòng hộ  
+ Là nguồn gene vô tận của con người; nơi cư trú của nhiều loại ĐTV quý hiếm.  
DT rừng đảm bảo an toàn MT của một quốc gia tối thiểu là 45% tổng DT tự  
nhiên.  
VI. Tài nguyên khoáng sản  
- Tài nguyên khoáng sản là tích tụ vật chất dưới dạng hợp chất hoặc đơn chất trong  
vỏ Trái đất, mà ở điều kiện hiện tại, con người có đủ khả năng lấy ra các nguyên tố  
có ích hoặc sử dụng trực tiếp chúng trong đời sống hằng ngày.  
- Tài nguyên khoáng sản thường tập trung trong một khu vực gọi là mỏ khoáng sản.  
- Tài nguyên khoáng sản có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế của  
loài người.  
- Khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản có tác động mạnh mẽ tới môi trường  
sống.  
- Một mặt, tài nguyên khoáng sản là nguồn vật liệu để tạo nên các dạng vật chất có  
ích và của cải cho con người. Mặt khác, việc khai thác tài nguyên khoáng sản  
thường tạo ra các chất ô nhiễm như bụi, KLN, các hóa chất độc và hơi khí độc  
(SO2, CO, CH4,…).  
Tài nguyên khoáng sản được phân loại theo nhiều cách:  
Theo dạng tồn tại: rắn, khí (khí đốt, Argon, He), lỏng (Hg, dầu, nước khoáng).  
Theo nguồn gốc: nội sinh (sinh ra từ trong lòng Trái đất), ngoại sinh (sinh ra trên  
bền mặt Trái đất).  
Theo thành phần hóa học: khoáng sản kim loại (kim loại đen, kim loại màu, kim  
loại quý hiếm), khoáng sản phi kim loại (vật liệu khoáng, đá quý, vật liệu xây dựng),  
khoáng sản cháy (than, dầu, khí đốt, đá cháy).  
+ Khoáng sản VN:  
- Đa dạng về loại hình:  
* 80 loại hình mỏ KS * 3.500 mỏ KS các loại  
- Một số loại KS của VN:  
•Dầu: 3-5 tỷ tấn  
* Khí: 1.000 tỷ m3  
* Than nâu: 200 tỷ tấn  
*Vàng: 300 tấn  
•Than đá: 3,5 tỷ tấn  
•Than bùn: 1 tỷ tấn  
•Bauxit: 4 tỷ tấn  
*Đá vôi xi măng  
•Apatit: 100 triệu tấn  
•Đất hiếm: 100 triệu tấn kim loại quy đổi  
•Sắt: 550 triệu tấn ở mỏ Thạch Khê; 100 triệu tấn ở mỏ Quỷ Xạ  
•Cao lin, sét cao lin: 300 triệu tấn  
Vấn đề MT do khai thác và sử dụng KS  
Khai thác mất đất, mất rừng, ô nhiễm nước, không khí (bụi, khí độc), lãng phí tài  
nguyên  
Vận chuyển ô nhiễm nước, không khí và các vấn đề CTR  
Sử dụng: ô nhiễm không khí (SO2, bụi, khí độc), nước, CTR.  
Tóm lại:  
Khai thác và sử dụng KS   
-Làm cạn kiệt khoáng sản trong tương lai  
-Tàn phá MT  
-Gây ô nhiễm KK, nước và các vấn đề CTR  
VII. Tài nguyên năng lượng  
Năng lượng là một dạng tài nguyên vật chất, xuất phát từ hai nguồn chủ yếu là năng  
lượng Mặt trời và năng lượng lòng đất.  
Năng lượng Mặt trời tồn tại ở các dạng chính: bức xạ Mặt trời, năng lượng sinh học  
dưới dạng sinh khối động thực vật, năng lượng chuyển động của khí quyển và thủy  
quyển (gió, sóng, các dòng hải lưu, thủy triều, dòng chảy suối…), năng lượng hóa  
thạch nằm trong lòng đất (than, dầu, khí đốt, đá dầu).  
Năng lượng lòng đất bao gồm nhiệt độ cao của lòng đất với các dạng biểu hiện chính  
như: nguồn nước nóng, núi lửa và năng lượng phóng xạ của các mỏ U, Th, Po,…  
Nhu cầu về năng lượng của con người gia tăng nhanh chóng trong quá trình phát  
triển:  
- 100.000 năm trước Công nguyên: mức tiêu thụ khoảng 4.000-5.000  
Kcal/người.ngày  
- Thế kỷ 15: 26.000 Kcal/người.ngày  
- Giữa thế kỷ 19: 70.000 Kcal/người.ngày  
- Hiện nay: 200.000 Kcal/người.ngày  
Tiềm lực năng lượng cụ thể của mỗi quốc gia rất khác nhau. Thí dụ: tiềm lực năng  
lượng của Nhật và Pháp chủ yếu là năng lượng hạt nhân; Trung Quốc, Đức, Anh  
chủ yếu là than; Hoa Kỳ chủ yếu là dầu khí.  
Các dạng năng lượng của các quốc gia trên thế giới bao gồm:  
Than đá: là nguồn năng lượng chủ yếu của loài người với tổng trữ lượng trên 2.000  
tỷ tấn, tập trung chủ yếu ở các quốc gia Nga, Trung Quốc, Mỹ, Đức, Úc có khả năng  
đáp ứng nhu cầu con người khoảng 180 năm  
Dầu và khí đốt đang và sẽ là nguồn năng lượng quan trọng của loài người trong vài  
thập kỷ tới  
Thủy năng: được xem là năng lượng sạch của con người. Tổng trữ lượng thủy điện  
của thế giới vào khoảng 2.214.000 MW, riêng Việt Nam là 30.970 MW (1,4%).  
Năng lượng hạt nhân: là nguồn năng lượng giải phóng trong quá trình phân rã hạt  
nhân các nguyên tố U, Th hoặc tổng hợp nhiệt hạch. Theo tính toán, năng lượng giải  
phóng ra từ 1g U235 tương đương với năng lượng do đốt 2 tấn than đá. Nguồn năng  
lượng hạt nhân có ưu điểm không tạo nên các loại khí nhà kính như CO2, bụi. Tuy  
nhiên, các nhà máy điện hạt nhân hiện nay là nguồn gây nguy hiểm lớn đối với môi  
trường bởi sự rò rỉ chất phóng xạ khí, rắn, lỏng và các sự cố nổ nhà máy.  
Các nguồn năng lượng khác:  
Gió, bức xạ Mặt trời, thủy triều được xếp vào loại năng lượng sạch có công suất nhỏ,  
thích hợp cho một số khu vực xa các nguồn năng lượng truyền thống khác như: hải  
đảo, vùng núi xa khu vực đô thị…  
Gỗ, củi thích hợp cho sử dụng quy mô nhỏ của dân cư trong nền kinh tế công nghiệp  
kém phát triển.  
Địa nhiệt thích hợp với các vùng có núi lửa và hoạt động địa chất mạnh như Ý,  
Aizơlen, Kamchatka (Nga).  
Tỷ lệ sử dụng nguồn NL TG  
VIII. Tài nguyên biển  
- Tài nguyên biển và đại dương rất đa dạng, được chia ra thành các loại:  
Nguồn lợi hóa chất và khoáng chất chứa trong khối nước và đáy biển,  
Nguồn lợi nhiên liệu hóa thạch (chủ yếu là dầu và khí tự nhiên),  
Nguồn năng lượng sạch (khai thác từ gió, nhiệt độ nước biển, các dòng hải lưu và  
thủy triều).  
- Mặt biển và vùng thềm lục địa là đường giao thông thủy.  
- Biển còn là nơi chứa đựng tiềm năng cho phát triển du lịch, tham quan, nghỉ ngơi,  
giải trí, nguồn lợi sinh vật biển.  
Sinh vật biển là nguồn lợi quan trọng nhất của con người, gồm hàng loạt nhóm động  
vật, thực vật và vi sinh vật.  
Biển và đại dương là kho chứa hóa chất vô tận. Tổng lượng muối tan chứa trong  
nước biển là 48 triệu km3-, trong đó có muối ăn, iod và 60 nguyên tố hóa học khác.  
Hoạt động thăm dò và khai thác khoáng sản từ biển và đại dương đang được triển  
khai với quy mô ngày một gia tăng. Các loại khoáng sản khai thác chủ yếu từ biển là  
dầu khí, quặng Fe, Mn, quặng sa khoáng Au, Ti và các loại muối.  
Năng lượng sạch từ biển và đại dương hiện đang được khai thác trong vận tải biển,  
chạy máy phát điện và nhiều mục đích khác của con người  
Các vấn đề môi trường liên quan đến việc khai thác và sử dụng tài nguyên biển hiện  
nay trên thế giới:  
- Khai thác quá mức tài nguyên sinh học biển như: đánh cá quá mức, đánh bắt tận  
diệt một số loài động thực vật quý hiếm, khai thác quá mức rạn san hô…  
- Ô nhiễm biển từ các hoạt động khai thác dầu khí, vận tải biển, đổ chất thải độc hại  
và chất phóng xạ xuống biển, đưa nước thải và các chất thải từ lục địa ra biển. Biểu  
hiện rõ nhất của ô nhiễm biển là hiện tượng thủy triều đỏ đang xuất hiện ở nhiều  
vùng biển trên thế giới.  
pdf 10 trang myanh 25180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bài giảng Khoa học môi trường - Bài 3: Tài nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_khoa_hoc_moi_truong_bai_3_tai_nguyen.pdf