Nghiên cứu thành lập bản đồ ngập lụt từ ảnh viễn thám Radar áp dụng cho hạ du lưu vực Sông Trà khúc, Sông Vệ, tỉnh Quảng Ngãi

KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
NGHIÊN CỨU THÀNH LẬP BẢN ĐỒ NGẬP LỤT TỪ ẢNH  
VIỄN THÁM RADAR ÁP DỤNG CHO HẠ DU LƯU VỰC  
SÔNG TRÀ KHÚC, SÔNG VỆ, TỈNH QUẢNG NGÃI  
Nguyễn Thành Luân, Nguyễn Thanh Hùng, Vũ Đình Cương, Nguyễn Thu Huyền  
Phòng Thí nghiệm trọng điểm Quốc gia về Động lực học sông biển  
Phạm Quang Sơn,  
Viện Địa Chất, Viện hàn lâm khoa học Việt Nam  
Tóm tắt: Ảnh hưởng của lũ lụt đối với xã hội và môi trường tự nhiên là rất lớn, do đó việc lập  
bản đồ ngập lụt là rất quan trọng để từ đó chủ động đề ra các giải pháp phòng chống lũ. Dữ liệu  
viễn thám có thể được sử dụng để thành lập bản đồ ngập lụt một hiệu quả. Các kỹ thuật lập bản  
đồ ngập lụt khác nhau được sử dụng bằng các dữ liệu từ các cảm biến viễn thám radar chủ động  
như Sentinel-1, Alos Palsar. Các cặp dữ liệu không gian thu được từ Sentinel-1 đã được xử lý  
trong nghiên cứu này. Mỗi cặp bao gồm một hình ảnh trong trận lũ và một hình ảnh khác trước  
trận lũ. Cả hai hình ảnh trên cùng một khu vực đã được xử lý tạo ra một bản đồ ngập lũ, cho  
thấy sự lan rộng của lũ lụt vùng hạ du lưu vực sông Trà Khúc, sông Vệ tỉnh Quảng Ngãi.  
Từ khóa: lũ lụt, Quảng Ngãi, ảnh viễn thám, radar, Sentinel, Alos  
Summary: The impact of floods on society and the natural environment is great, thus building  
flood maps is very important so that we can actively take measures to mitigate flood damages.  
Remote sensing data can be used to efficiently create an inundation map. Different flood  
mapping techniques have been used with data from active radar-sensing sensors such as  
Sentinel-1, ALOS-PALSAR. The spatial data pairs obtained from Sentinel-1 were processed in  
this study. Each pair includes an image in the flood time and another image before the flood.  
Both images in the same area were processed to create a flood map. The flood inundation maps  
of the downstream of the Tra Khuc River and the Ve River in Quang Ngai Province is studied in  
this paper using remote sensing technique.  
Keywords: flood, Quang Ngai, remote sensing, radar, Sentinel, Alos  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
hạ du lưu vực sông Trà Khúc, sông Vệ, tỉnh  
Quảng Ngãi là một trọng điểm thường xuyên  
bị ngập lụt. Các sông đều có phần thượng lưu  
dốc, mạng lưới sông suối phát triển hình nan  
quạt, khả năng tập trung nước lũ nhanh. Mặt  
khác, vùng đồng bằng nhỏ hẹp và bị các dải  
cát ven biển che chắn ngăn cản việc thoát lũ và  
gây ra ngập lụt ở vùng đồng bằng. Việc xác  
định phạm vi, mức độ ngập lụt giúp cơ quan  
quản lý trong công tác phòng tránh và giảm  
nhẹ thiên tai trở nên khó khăn do địa bàn rộng  
lớn. Ngày nay việc ứng dụng công nghệ viễn  
thám trong xử lý, chiết tách thông tin ngập lụt  
đã trở thành công cụ rất hữu hiệu giúp cho các  
Lũ* lụt là một trong những dạng thiên tai xảy  
ra thường xuyên và gây hậu quả rất nghiêm  
trọng đối với phát triển xã hội. Trong khoảng  
chục năm gần đây, những trận ngập lụt xảy ra  
ngày càng gia tăng với cường độ mạnh như ở  
Trung Quốc (năm 1998), Tây Âu (1998,  
2000), Cộng Hòa Séc (năm 2002), Bangladesh  
(2001)… làm hàng loạt các công trình cơ sở hạ  
tầng như giao thông, thủy lợi, thông tin liên  
lạc, bệnh viện, nhà trường bị phá hủy. Khu vực  
Ngày nhận bài: 6/6/2017  
Ngày thông qua phản biện: 11/7/2017  
Ngày duyệt đăng: 26/7/2017  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017  
1
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
cơ quan quản lý đánh giá được chính xác tình khí quyển như ảnh quang học nên nó cho phép  
hình ngập lụt ở mỗi địa phương. Các kỹ thuật xác định được năng lượng bước sóng trong  
khác nhau đã được phát triển để lập bản đồ lũ mọi điều kiện thời tiết và môi trường vì thế  
lụt, chẳng hạn như với dữ liệu viễn thám ảnh SAR có thể được thu tại bất kỳ thời điểm  
quang học có thể sử dụng phương pháp ước nào mà không phải quan tâm tới thời tiết. Bên  
tính ngưỡng chỉ số EVI với ảnh MODIS hoặc cạnh đó, với đặc điểm là sử dụng nguồn năng  
ngưỡng chỉ số NDWI với ảnh Landsat, … để lượng chủ động nên cơ chế tạo ảnh của SAR  
phân tích mức độ ngập lụt. Tuy nhiên, việc sử hoàn toàn không phụ thuộc vào nguồn bức xạ  
dụng các cảm biến quang học thường không năng lượng mặt trời do đó ảnh Radar có thể  
đáng tin cậy do sự tương đồng về không gian thu được cả ngày lẫn đêm. Hơn nữa, do đặc  
giữa các khu vực bị ngập (Pricope, 2013), ảnh điểm hấp thụ mạnh sóng radar của nước, vì  
chụp thời điểm ngập lụt thường có mây vậy đối tượng nước thường có màu đen khi  
(Biggin và Blyth, 1996) và không có khả năng hiển thị trên ảnh SAR nên có thể nhận dạng và  
phát hiện nước ứ đọng trong thảm thực vật. tách biệt được vùng ngập rõ ràng. Nhờ đặc  
Nhờ sử dụng sóng radio có bước sóng dài, ảnh điểm này ảnh SAR luôn được khuyến nghị ứng  
radar độ mở tổng hợp (SAR) có thể thu được dụng để nghiên cứu ngập lụt. Với những ưu  
tín hiệu phản xạ từ bề mặt trong mọi điều kiện việt đó, nghiên cứu này tập trung vào kỹ thuật  
thời tiết như mây, mù, bụi khí quyển và cả chiết tách thông tin ngập lụt từ ảnh vệ tinh  
những trận mưa nặng hạt. Do ở bước sóng dài SAR cho hạ du lưu vực sông Trà Khúc, sông  
ảnh SAR không còn bị ảnh hưởng bởi tán xạ Vệ tỉnh Quảng Ngãi.  
Hình 1. Vị trí khu vực nghiên cứu  
2. TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP ngập điển hình trong các năm từ 2007 đến  
NGHIÊN CỨU  
2.1. Tài liệu sử dụng trong nghiên cứu  
2016 để xây dựng các bản đồ ngập lụt. Tuy  
nhiên, dữ liệu ảnh SAR lưu vực nghiên cứu  
thu thập được rất hạn chế, hoặc dữ liệu ảnh thu  
thập được, thậm chí vào mùa lũ nhưng không  
trùng với thời điểm có lũ. Các dữ liệu ảnh  
SAR (Bảng 1) được chụp bao gồm 01 cảnh sau  
thời điểm lũ và 01 cảnh trong thời điểm lũ.  
Các dữ liệu ảnh SAR được lựa chọn có tính  
Nghiên cứu này đã sử dụng các ảnh SAR gồm  
AlosPALSAR và Sentinel trong quá khứ kết  
hợp với bản đồ địa hình, bản đồ hành chính để  
chiết tách thông tin ngập lụt cho khu vực  
nghiên cứu. Nghiên cứu đã thu thập được ảnh  
vệ tinh chụp trong và sau một số trận mưa –  
2
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
đến đặc điểm phân cực và khả năng phát hiện ưu tiên cho bản đồ ngập lụt vì nó có độ nhạy  
vùng ngập nước tối đa từ ảnh vệ tinh. Ảnh thấp hơn so với những sai khác theo chiều  
ALOS-PALSAR và ảnh Sentinel 1A là hai đứng trên bề mặt nước gây ra bởi sóng (Gan,  
dạng ảnh radar với độ phân giải cao phục vụ nnk 2012).  
chiết tách thông tin ngập lụt. Tất cả ảnh SAR  
đều dùng phân cực HH, đây là phân cực được  
DEM, độ p hân giải 30m.  
- Tài liệu địa hình: mô hình số độ cao SRTM  
Bảng 1: Danh sách các ảnh SAR sử dụng trong nghiên cứu  
TT  
Số hi ệu  
cảnh ảnh  
Band/kênh Phân cực  
ảnh  
Thời gian  
thu ảnh  
Thời gian mưa  
lũ  
I
Ảnh AlosPalSAR  
1
2
3
4
5
09169_0280  
09169_0290  
09169_0290  
15879_0280  
15879_0290  
L
L
L
L
L
HH  
HH  
HV  
HH  
HH  
14/10/2007  
14/10/2007  
14/10/2007  
16/01/2009  
16/01/2009  
14-18/10/2007  
30/12/2008-  
02/01/2009  
II Ảnh Sentinel  
20161201T223539_20161201T22360  
8_014192_016EE9_6B8D  
C
HH, VV  
01/12/2016  
30/11 đến ngày  
1
3/12/2016  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
đồ ngập lụt qua 4 bước cơ bản: tăng cường chất  
lượng ảnh, nắn chỉnh hình học, phân ngưỡng,  
xây dựng bản đồ ngập (Hình 2).  
Để xây dựng bản đồ ngập từ các ảnh SAR,  
nghiên cứu này sử dụng các công cụ hiện đại để  
xử lý ảnh: ENVI, SNAP, ARCGIS. Dựa trên  
nguyên lý phản xạ gương của ảnh SAR chụp bề  
mặt Trái Đất: khi tín hiệu sóng radar truyền  
xuống bề mặt nước (bề mặt phẳng, không có  
sóng), năng lượng phản xạ trở lại vệ tinh rất  
thấp và hình ảnh vùng ngập nước có mầu tối  
xẫm. Ngược lại, các đối tượng khác có bề mặt  
gồ ghề hoặc có khả năng tán xạ rất mạnh (như  
các cấu trúc kim loại, cấu trúc xây dựng, khu đô  
thị, thực vật có mật độ dầy,vv…) các tia phản  
xạ trở lại vệ tinh có năng lượng mạnh và hình  
ảnh SAR thu nhận có tông mầu sáng. Trong  
phân loại ảnh SAR, nghiên cứu đã sử dụng  
phương pháp định ngưỡng giữa vùng nước/  
không nước để loại bỏ những pixel vùng không  
ngập nước. Ảnh phân loại vùng ngập nước  
(raster) được chuyển khuôn dạng sang vector để  
xử lý thành lập bản đồ ngập lụt trên các phần  
mềm GIS thông dụng (như Arc/Gis, Map/info).  
Toàn bộ quá trình xử lý ảnh đến thành lập bản  
Hình 2: Quy trình xử lý chiết tách thông tin  
thành lập bản đồ ngập từ ảnh vệ tinh  
a) Tăng cường chất lượng ảnh  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017  
3
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Nhiễu là một trong những thuộc tính của ảnh của các loại ảnh với nhau phục vụ cho việc  
radar gắn liền với tính “đơn sắc” của bức xạ sử xây dựng các tổ hợp ảnh ở bước tiếp theo. Do  
dụng trong kỹ thuật radar. Đối với người sử bản chất chụp ảnh nghiêng từ một phía nên  
ảnh radar giống như các loại ảnh vệ tinh  
quang học khi chụp nghiêng cũng bị ảnh  
hưởng làm sai lệch vị trí của địa hình. Sự sai  
lệch trên ảnh radar là sự dịch lại gần ăng ten  
thu hơn so với vị trí thực của nó. Ảnh hưởng  
của chênh cao địa hình tới vị trí điểm trên  
thực địa được tính theo công thức:  
dụng, đây là một trở ngại lớn trong khi phân  
tích giải đoán ảnh. Rất nhiều các phương pháp  
lọc được đưa ra nhằm khử nhiễu trển ảnh radar  
trong đó phải kể tới các phép lọc như Frost,  
Lee, Sigma, Gamma, Map v.v. Phép lọc  
Gamma tạo ra hình ảnh đã được loại bỏ đốm,  
nhiễu với thời gian thực hiện tương đối thấp  
(Lopes, nnk 1990). Việc xử lý làm giảm nhiễu  
phải bảo đảm sao cho lượng mất mát thông tin  
là ít nhất, do đó phải chọn bộ lọc thích hợp.  
Nghiên cứu này sử dụng phép lọc Lee, các  
hình ảnh được thực hiện với khoảng lọc  
Gamma ở mức 3 x 3. Với phép lọc này cho kết  
quả rất tốt phục vụ chiết tách thông tin ngập  
(Hình 3).  
(1)  
Trong đó:  
là độ cao của điểm  
góc nghiêng chụp ảnh (gới tới  
nếu địa hình bằng phẳng)  
Mỗi loại ảnh radar sẽ được chụp với góc  
nghiêng khác nhau thậm chí cùng một thiết  
bị cũng có những mode chụp với góc  
nghiêng khác nhau, cho nên ảnh hưởng của  
chênh cao địa hình đối với mỗi loại ảnh cũng  
khác nhau (Hình 4). Vì vậy, để hiệu chỉnh  
sai số do chênh cao địa hình gây ra khi nắn  
ảnh cần sử dụng mô hình số độ cao (DEM).  
Trên cơ sở nguyên lý đó, các phần mềm xử  
lý ảnh đã tích hợp sẵn các phương pháp nắn,  
hiệu chỉnh ảnh vào. Nghiên cứu này sử dụng  
phương pháp nắn ảnh “Ranger – Doppler  
Terrain Correction” được tích hợp trong  
phần mềm SNAP 5.0. Đây là phương pháp  
được khuyến nghị sử dụng trong nghiên cứu  
thành lập bản đồ ngập lụt từ ảnh SAR. Với  
phương pháp này, nghiên cứu sử dụng nguồn  
dữ liệu mô hình số độ cao SRTM 30m toàn  
cầu, tự động được tải về cơ sở dữ liệu phần  
mềm; phương pháp lấy mẫu địa hình: nội suy  
song tuyến tính; độ phân giải mỗi pixel 10m  
ở hệ tọa độ toàn cầu WGS 84. Ảnh sau khi  
được nắn chỉnh đưa về hệ quy chiếu ở đây là  
UTM WGS 84 Zone 49 phục vụ các bước  
Hình 3: Tăng cường chất lượng ảnh SAR  
trước khi nắn chỉnh  
a) Trước khi lọc nhiễu b) Sau khi lọc nhiễu  
b) Nắn ảnh  
Công tác nắn chỉnh hình học nhằm mục đích  
xử lý những biến dạng hình học sinh ra trong  
quá trình chụp ảnh và ảnh hưởng của địa  
hình, đồng thời đưa ảnh về hệ tọa độ bản đồ.  
Việc nắn chỉnh hình học có ý nghĩa hết sức  
quan trọng, không những để đảm bảo độ tiếp theo trong xử lý ảnh, thành lập bản đồ  
chính xác về vị trí tọa độ của các đối tượng  
trên ảnh mà còn để đảm bảo sự chồng khít  
ngập lụt khu vực nghiên cứu.  
4
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Hình 4: Ảnh hưởng của chênh cao địa hình tới  
vị trí điểm trên thực địa  
c) Phân ngưỡng và trích rút thông tin ngập lụt  
Sự phân ngưỡng ảnh vệ tinh SAR là một thành  
phần quan trọng trong phân tích và diễn giải  
dữ liệu tự động. Các phương pháp phân  
ngưỡng khác nhau đã được đề xuất trong nhiều  
tài liệu. Một số phổ biến nhất là phát hiện  
sườn, vùng đang phát triển và kỹ thuật tạo  
ngưỡng (Sahoo, nnk 1988). Tuy nhiên, những  
cách tiếp cận này có những sai sót phổ biển.  
Ví dụ, kỹ thuật phát hiện sườn rất phụ thuộc  
vào vị trí của sườn ban đầu hoặc thậm chí là  
hiểu biết về vị trí của nó trước. Cách tiếp cận  
vùng phát triển cũng phụ thuộc vào người sử  
dụng khi nó phát triển và sát nhập các vùng  
nhỏ lân cận (Oliver và Shaun Quegan, 2004).  
Hơn nữa, phân đoạn dựa trên việc tạo ngưỡng  
của các mức màu xám thường không phù hợp  
với ảnh SAR vì có nhiễu đốm (Fjortoft và nnk,  
2003). Nghiên cứu này khắc phục những vấn  
đề trên bằng cách loại bỏ cơ bản các nhiễu  
đốm ở bước tăng cường chất lượng ảnh, vì vậy  
ở bước phân ngưỡng thuận lợi hơn để phân  
dựa trên mức xám của ảnh. Đối với ảnh  
ALOS-PALSAR tiến hành lấy mẫu để tính  
trung bình các thông số ngưỡng max và min  
của từng ảnh, từ đó trích xuất ra vùng ngập lụt  
(Hình 6a). Với ảnh Sentinel, nghiên cứu áp  
dụng công thức phân ngưỡng thông thường:  
255 * (Sigma0_VV< DN), với DN =0,1. Kết  
quả phân ngưỡng tách nước và không nước  
như hình 5. Sau khi tách thông tin ngập và  
không ngập, phân loại và tiến hành trích rút  
thông tin dữ liệu ngập để xây dựng bản đồ  
ngập khu vực nghiên cứu.  
Hình 5. Kết quả phân ngưỡng tách nước và  
không nước  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
Qua xử lý dữ liệu ảnh SAR, cho thấy các ảnh  
phân cực HV (chiều ngang - thẳng đứng) cho  
thông tin về vùng ngập nước chi tiết hơn loại  
ảnh phân cực HH (chiều ngang - chiều ngang).  
Đối với ảnh radar, bề mặt nước được sử dụng  
làm đối tượng để xác định trực tiếp diện tích  
ngập hoặc diện tích nước vì các giá trị phản xạ  
của nước rất thấp mang tính chất phản xạ  
gương. Như vậy, các khu vực bị ngập lụt xuất  
hiện tông màu tối do tán xạ ngược thấp, trong  
khi bề mặt đất hoặc các đối tượng khác xuất  
hiện tông màu sáng vì mặt đất thô vàthảm thực  
vật sản xuất khuếch tán năng lượng truyền đến  
của thiết bị phát dẫn đến phản xạ mạnh. Với  
ảnh ALOS-PALSAR, do thời điểm chụp là sau  
thời điểm lũ nên các dữ liệu thu nhận từ mặt đất  
là những phản xạ rất thấp và thậm chí khó phát  
hiện khi xử lý thông thường. Lúc này, việc  
chiết tách thông tin ngập lụt chủ yếu thu nhận  
được từ những dấu vết lũ đi qua để lại trên các  
đối tượng như cây cối. Chính vì vậy, những  
nhiễu đốm xuất hiện nhiều hơn trong quá trình  
xử lý ảnh và vì vậy bản đồ ngập lụt có rất nhiều  
những vết ngập, hoặc ô ngập nhỏ (Hình 6a).  
Với ảnh Sentinel, thời điểm chụp ảnh đúng vào  
thời điểm mưa lũ gây ngập do vậy, nước trên bề  
mặt hoàn toàn có thể nhận biết bằng mắt  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017  
5
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
thường khi xử lý ảnh. Việc hiệu chỉnh thông tin huyện Tư Nghĩa - Mộ Đức – Đức Phổ ở phía  
ngập sau khi xử lý dễ dàng hơn so với ảnh Nam, các huyện Bình Sơn - Sơn Tịnh ở phía  
ALOS-PALSAR, và phần ngập được hiệu Bắc và một số tuyến tỉnh lộ, các tuyến đường  
chỉnh thông qua lớp thông tin địa hình, hành liên huyện đều bị ngập nặng. Điều đó đã lý  
chính khu vực nghiên cứu. Vì vậy, các ô ngập giải tình trạng giao thông trên tuyến trục Bắc –  
trên bản đồ thành lập từ ảnh Sentinel rõ cho Nam thường gặp khó khăn vào mùa mưa khi  
từng vùng hơn (Hình 6b).  
đi qua địa phận tỉnh Quảng Ngãi do tình trạng  
mưa - ngập lụt diễn ra nặng nề. Kết quả phân  
tích từ ảnh cũng cho thấy diện ngập năm 2009  
gấp ba lần so với năm 2016 (Bảng 2). Có sự  
chênh lệch lớn như vậy là bởi vì ảnh chụp hai  
thời điểm khác nhau. Với ảnh Sentinel chụp  
vào ngày 1/12/2016, thời điểm thu nhận được  
ảnh thì lũ sông Vệ đang lên cao và gây tràn  
vào nội đồng, trong khi trên sông Trà Khúc  
mới chỉ trên báo động 2 nên chưa gây lũ lớn  
gây ngập các huyện hạ du lưu vực sông Trà  
Khúc. Lúc này trên ảnh vẫn phát hiện ngập là  
do mưa gây ngập úng cục bộ ở các huyện Sơn  
Tịnh, Tư Nghĩa, TP Quảng Ngãi. Trên ảnh  
AlosPALSAR chụp sau lũ vào ngày  
16/01/2009, diện ngập phân tích được chủ yếu  
từ vết lũ để lại sau trận lũ xảy ra trước đó, lũ  
xảy ra trên diện lớn cả sông Trà Khúc, sông  
Vệ. Do vậy, diện tích ngập năm 2009 lớn hơn  
nhiều so với ảnh chụp năm 2016. Điều này  
cũng cho thấy, để có thông tin ngập lụt chính  
xác cần có những ảnh chụp trùng với thời  
điểm lũ, kết quả phân tích, chiết tách thông tin  
ngập sẽ khách quan và độ chính xác cao hơn  
so với những ảnh chụp sau lũ.  
Về tình hình ngập lụt, kết quả phân tích các  
bản đồ ngập lụt cho thấy đặc điểm chung ở  
đồng bằng ven biển Quảng Ngãi những vùng  
ngập nước trùng với các ô trũng thấp, thuộc  
lưu vực các sông lớn của tỉnh (như sông Trà  
Bồng, sông Trà Khúc, sông Vệ, sông Trà Câu,  
Hình 6a, b). Vùng ngập lụt phân bố thành từng  
dải kéo dài, ở hầu khắp các huyện ven biển và  
vùng núi Ba Tơ. Những huyện có vùng ngập  
lụt lớn là Bình Sơn (sông Trà Bồng), Sơn  
Tịnh, Tư Nghĩa, Nghiã Hành (sông Trà Khúc),  
Mộ Đức, Đức Phổ và Ba Tơ (sông Vệ – Trà  
Câu). Trong đó khu vực ngập nặng nhất được  
xác định thuộc lưu vực sông Vệ – Trà Câu (các  
huyện Mộ Đức - Đức Phổ); tiếp đó là khu vực  
phía Nam thành phố Quảng Ngãi – huyện Tư  
Nghĩa… là những nơi có địa hình thấp. Ngược  
lại, các khu dân cư phân bố trên vùng địa hình  
cao, chủ yếu là các cồn cát (cao độ >10m)  
thường không ngập. Qua phân tích bản đồ  
phân bố vùng ngập lụt, còn cho thấy nhiều trục  
giao thông quan trọng trên địa phận Quảng  
Ngãi nằm trong vùng ngập nặng. Ví dụ như  
tuyến Quốc lộ-1 (QL-1) nằm trên khu vực các  
a) ảnh AlosPalSAR ngày 16/01/2009  
b) ảnh Sentinel -1A ngày 01/12/2016  
Hình 6: Bản đồ ngập từ ảnh AlosPALSAR và ảnh Sentinel  
6
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Bảng 2: Tổng hợp diện tích ngập các tỉnh từ ảnh SAR (đơn vị: ha)  
Huyện  
Năm 2009 (Ảnh ALOS PALS AR)  
Năm 2016 (Ảnh Sentinel)  
Ba Tơ  
6643.14  
8546.80  
12782.46  
2417.54  
9084.78  
5979.06  
323.59  
166.91  
756.18  
5359.48  
40.49  
Bình Sơn  
Đức Phổ  
Minh Long  
Mộ Đức  
Nghĩa Hành  
Sơn Hà  
4676.60  
2494.08  
407.29  
4608.91  
400.61  
1.64  
Sơn Tịnh  
TP Quảng Ngãi  
Trà Bồng  
Tư Nghĩa  
Tổng  
8962.65  
1000.80  
263.69  
6770.80  
62775.32  
3262.80  
22175.01  
4. KẾT LUẬN  
được trùng thời điểm có lũ. Hiện tại lưu vực  
nghiên cứu chỉ có duy nhất 01 ảnh radar chụp  
năm 2016 trùng với thời điểm có mưa lũ nên  
kết quả phân tích vẫn còn hạn chế. Nếu có  
thêm ảnh chụp đúng thời điểm lũ các năm  
trước đây sẽ nâng cao được độ chính xác trong  
việc thành lập bản đồ ngập lụt cho khu vực  
này. Trong điều kiện hiện nay, để chủ động  
được ảnh phục vụ công tác thành lập bản đồ  
ngập lụt cũng như theo dõi, giám sát lũ lụt,  
thiên tai ở các lưu vực cần thêm các công cụ  
hỗ trợ khác như công nghệ bay chụp như  
UAVs, Flycam…nhằm nâng cao hơn nữa chất  
lượng nghiên cứu đối với lĩnh vực này.  
Nghiên cứu đã xử lý, chiết tách và thành lập  
bản đồ ngập lụt từ ảnh viễn thám radar áp  
dụng cho hạ du lưu vực sông Trà Khúc, sông  
Vệ tỉnh Quảng Ngãi. Kết quả xử lý, phân tích  
ảnh cho thấy mặt nước phản xạ rất yếu nên  
thường dễ nhận dạng trên ảnh radar do tông  
màu rất tối. Kết quả cho thấy vùng đồng bằng  
thấp hạ du sông Trà Khúc, sông Vệ với các ô  
trũng thấp kéo dài toàn bộ các huyện ven biển,  
nên khi có mưa lớn dễ gây ngập lụt và lan  
rộng. Vệ tinh Sentinel chụp được trùng vào  
thời điểm mưa lũ nên cho kết quả phân tích  
khá tốt, phản ánh rất trực quan diện ngập vùng  
đồng bằng ven biển của tỉnh Quảng Ngãi,  
trong đó khu vực ngập nặng nhất thuộc lưu  
vực sông Vệ – Trà Câu (các huyện Mộ Đức -  
Đức Phổ).  
Lời cảm ơn: Bài báo này là một phần kết quả  
của đề tài nghiên cứu cấp Bộ Nông nghiệp và  
Phát triển nông thôn: Nghiên cứu ứng dụng  
công nghệ GIS và viễn thám để theo dõi, đánh  
giá, hoàn thiện và nâng cao độ chính xác của  
công tác dự báo ngập lụt phục vụ công tác  
quản lý phòng chống lũ lụt vùng hạ du các  
sông; do PGS.TS Nguyễn Thanh Hùng- Phòng  
Thí nghiệm trọng điểm Quốc gia về động lực  
học sông biển là chủ nhiệm.  
Việc ứng dụng ảnh viễn thám thành lập bản đồ  
ngập lụt hạ du lưu vực sông Trà Khúc, sông  
Vệ cho thấy tính ưu việt của viễn thám radar.  
Tuy nhiên, do các vệ tinh chụp theo các chu kỳ  
khác nhau nên không phải lúc nào cũng chụp  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017  
7
CHUYỂN GIAO  
CÔNG NGHỆ  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Biggin D S and Blyth K, 1996, A comparison of ERS-1 satellite radar and aerial  
photography for river flood mapping J. Chartered Inst. Water Env. Man. 10 59–64  
[2] Fjortoft. R , Y. Delignon, W. Pieczynski, M. Sigelle, and F. Tupin, “Unsupervised  
classification of radar images using hidden markov chains and hidden markov random  
fields,” IEEE Trans. on Geoscience and Re- mote Sensing, vol. 41, no. 3, pp. 675–686,  
March 2003.  
[3] Gan T Y, Zunic F, Kuo C-C and Strobl T, 2012, Flood mapping of Danube River at  
Romania using single and multi-date ERS2-SAR images, Int. J. Appl. Earth Obs.  
Geoinform. 18 69–81  
[4] Lopes A, Nezry E, Touzi R and Laur H, 1990, Maximum a posteriori speckle filtering and  
first order texture models in SAR images, 10th Annual Int. Symp. on Geosci. and Remote  
Sens. pp. 2409–12  
[5] Luận văn tốt nghiệp: Nghiên cứu ứng dụng công nghệ viễn thám và mô hình thuỷ văn thuỷ  
lực để thành lập bản đồ ngập lụt lưu vực sông Kôn – Hà Thanh, tỉnh Bình Định, Đại học  
Khoa học Tự nhiên.  
[6] Oliver C. and Shaun Quegan, Understanding Synthetic Aperture Radar Images, SciTech,  
NC 27613, 2004.  
[7] Pricope N G, 2013, Variable-source flood pulsing in a semi-arid transboundary watershed:  
the Chobe River, Botswana and Namibia Environ. Monit. Assess. 185 1883–906  
[8] Sahoo P. K., S. Soltani, and A. K. C. Wong, “A survey of thresholding techniques,”  
Comput. Vision Graph. Image Process., vol. 41, no. 2, pp. 233–260, 1988.  
[9] Touzi R., A. Lopes, and P. Bousquet, “A statistical and geometrical edge detector for  
sar images,” IEEE Trans. on Geoscience and Remote Sensing, vol. 26, no. 6, pp.764–  
737, 1988.  
8
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017  
pdf 8 trang Mãnh Khiết 13/01/2024 20880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu thành lập bản đồ ngập lụt từ ảnh viễn thám Radar áp dụng cho hạ du lưu vực Sông Trà khúc, Sông Vệ, tỉnh Quảng Ngãi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_thanh_lap_ban_do_ngap_lut_tu_anh_vien_tham_radar.pdf