Nghiên cứu thành lập bản đồ ngập lụt từ ảnh viễn thám Radar áp dụng cho hạ du lưu vực Sông Trà khúc, Sông Vệ, tỉnh Quảng Ngãi
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
NGHIÊN CỨU THÀNH LẬP BẢN ĐỒ NGẬP LỤT TỪ ẢNH
VIỄN THÁM RADAR ÁP DỤNG CHO HẠ DU LƯU VỰC
SÔNG TRÀ KHÚC, SÔNG VỆ, TỈNH QUẢNG NGÃI
Nguyễn Thành Luân, Nguyễn Thanh Hùng, Vũ Đình Cương, Nguyễn Thu Huyền
Phòng Thí nghiệm trọng điểm Quốc gia về Động lực học sông biển
Phạm Quang Sơn,
Viện Địa Chất, Viện hàn lâm khoa học Việt Nam
Tóm tắt: Ảnh hưởng của lũ lụt đối với xã hội và môi trường tự nhiên là rất lớn, do đó việc lập
bản đồ ngập lụt là rất quan trọng để từ đó chủ động đề ra các giải pháp phòng chống lũ. Dữ liệu
viễn thám có thể được sử dụng để thành lập bản đồ ngập lụt một hiệu quả. Các kỹ thuật lập bản
đồ ngập lụt khác nhau được sử dụng bằng các dữ liệu từ các cảm biến viễn thám radar chủ động
như Sentinel-1, Alos Palsar. Các cặp dữ liệu không gian thu được từ Sentinel-1 đã được xử lý
trong nghiên cứu này. Mỗi cặp bao gồm một hình ảnh trong trận lũ và một hình ảnh khác trước
trận lũ. Cả hai hình ảnh trên cùng một khu vực đã được xử lý tạo ra một bản đồ ngập lũ, cho
thấy sự lan rộng của lũ lụt vùng hạ du lưu vực sông Trà Khúc, sông Vệ tỉnh Quảng Ngãi.
Từ khóa: lũ lụt, Quảng Ngãi, ảnh viễn thám, radar, Sentinel, Alos
Summary: The impact of floods on society and the natural environment is great, thus building
flood maps is very important so that we can actively take measures to mitigate flood damages.
Remote sensing data can be used to efficiently create an inundation map. Different flood
mapping techniques have been used with data from active radar-sensing sensors such as
Sentinel-1, ALOS-PALSAR. The spatial data pairs obtained from Sentinel-1 were processed in
this study. Each pair includes an image in the flood time and another image before the flood.
Both images in the same area were processed to create a flood map. The flood inundation maps
of the downstream of the Tra Khuc River and the Ve River in Quang Ngai Province is studied in
this paper using remote sensing technique.
Keywords: flood, Quang Ngai, remote sensing, radar, Sentinel, Alos
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
hạ du lưu vực sông Trà Khúc, sông Vệ, tỉnh
Quảng Ngãi là một trọng điểm thường xuyên
bị ngập lụt. Các sông đều có phần thượng lưu
dốc, mạng lưới sông suối phát triển hình nan
quạt, khả năng tập trung nước lũ nhanh. Mặt
khác, vùng đồng bằng nhỏ hẹp và bị các dải
cát ven biển che chắn ngăn cản việc thoát lũ và
gây ra ngập lụt ở vùng đồng bằng. Việc xác
định phạm vi, mức độ ngập lụt giúp cơ quan
quản lý trong công tác phòng tránh và giảm
nhẹ thiên tai trở nên khó khăn do địa bàn rộng
lớn. Ngày nay việc ứng dụng công nghệ viễn
thám trong xử lý, chiết tách thông tin ngập lụt
đã trở thành công cụ rất hữu hiệu giúp cho các
Lũ* lụt là một trong những dạng thiên tai xảy
ra thường xuyên và gây hậu quả rất nghiêm
trọng đối với phát triển xã hội. Trong khoảng
chục năm gần đây, những trận ngập lụt xảy ra
ngày càng gia tăng với cường độ mạnh như ở
Trung Quốc (năm 1998), Tây Âu (1998,
2000), Cộng Hòa Séc (năm 2002), Bangladesh
(2001)… làm hàng loạt các công trình cơ sở hạ
tầng như giao thông, thủy lợi, thông tin liên
lạc, bệnh viện, nhà trường bị phá hủy. Khu vực
Ngày nhận bài: 6/6/2017
Ngày thông qua phản biện: 11/7/2017
Ngày duyệt đăng: 26/7/2017
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017
1
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
cơ quan quản lý đánh giá được chính xác tình khí quyển như ảnh quang học nên nó cho phép
hình ngập lụt ở mỗi địa phương. Các kỹ thuật xác định được năng lượng bước sóng trong
khác nhau đã được phát triển để lập bản đồ lũ mọi điều kiện thời tiết và môi trường vì thế
lụt, chẳng hạn như với dữ liệu viễn thám ảnh SAR có thể được thu tại bất kỳ thời điểm
quang học có thể sử dụng phương pháp ước nào mà không phải quan tâm tới thời tiết. Bên
tính ngưỡng chỉ số EVI với ảnh MODIS hoặc cạnh đó, với đặc điểm là sử dụng nguồn năng
ngưỡng chỉ số NDWI với ảnh Landsat, … để lượng chủ động nên cơ chế tạo ảnh của SAR
phân tích mức độ ngập lụt. Tuy nhiên, việc sử hoàn toàn không phụ thuộc vào nguồn bức xạ
dụng các cảm biến quang học thường không năng lượng mặt trời do đó ảnh Radar có thể
đáng tin cậy do sự tương đồng về không gian thu được cả ngày lẫn đêm. Hơn nữa, do đặc
giữa các khu vực bị ngập (Pricope, 2013), ảnh điểm hấp thụ mạnh sóng radar của nước, vì
chụp thời điểm ngập lụt thường có mây vậy đối tượng nước thường có màu đen khi
(Biggin và Blyth, 1996) và không có khả năng hiển thị trên ảnh SAR nên có thể nhận dạng và
phát hiện nước ứ đọng trong thảm thực vật. tách biệt được vùng ngập rõ ràng. Nhờ đặc
Nhờ sử dụng sóng radio có bước sóng dài, ảnh điểm này ảnh SAR luôn được khuyến nghị ứng
radar độ mở tổng hợp (SAR) có thể thu được dụng để nghiên cứu ngập lụt. Với những ưu
tín hiệu phản xạ từ bề mặt trong mọi điều kiện việt đó, nghiên cứu này tập trung vào kỹ thuật
thời tiết như mây, mù, bụi khí quyển và cả chiết tách thông tin ngập lụt từ ảnh vệ tinh
những trận mưa nặng hạt. Do ở bước sóng dài SAR cho hạ du lưu vực sông Trà Khúc, sông
ảnh SAR không còn bị ảnh hưởng bởi tán xạ Vệ tỉnh Quảng Ngãi.
Hình 1. Vị trí khu vực nghiên cứu
2. TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP ngập điển hình trong các năm từ 2007 đến
NGHIÊN CỨU
2.1. Tài liệu sử dụng trong nghiên cứu
2016 để xây dựng các bản đồ ngập lụt. Tuy
nhiên, dữ liệu ảnh SAR lưu vực nghiên cứu
thu thập được rất hạn chế, hoặc dữ liệu ảnh thu
thập được, thậm chí vào mùa lũ nhưng không
trùng với thời điểm có lũ. Các dữ liệu ảnh
SAR (Bảng 1) được chụp bao gồm 01 cảnh sau
thời điểm lũ và 01 cảnh trong thời điểm lũ.
Các dữ liệu ảnh SAR được lựa chọn có tính
Nghiên cứu này đã sử dụng các ảnh SAR gồm
AlosPALSAR và Sentinel trong quá khứ kết
hợp với bản đồ địa hình, bản đồ hành chính để
chiết tách thông tin ngập lụt cho khu vực
nghiên cứu. Nghiên cứu đã thu thập được ảnh
vệ tinh chụp trong và sau một số trận mưa –
2
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
đến đặc điểm phân cực và khả năng phát hiện ưu tiên cho bản đồ ngập lụt vì nó có độ nhạy
vùng ngập nước tối đa từ ảnh vệ tinh. Ảnh thấp hơn so với những sai khác theo chiều
ALOS-PALSAR và ảnh Sentinel 1A là hai đứng trên bề mặt nước gây ra bởi sóng (Gan,
dạng ảnh radar với độ phân giải cao phục vụ nnk 2012).
chiết tách thông tin ngập lụt. Tất cả ảnh SAR
đều dùng phân cực HH, đây là phân cực được
DEM, độ p hân giải 30m.
- Tài liệu địa hình: mô hình số độ cao SRTM
Bảng 1: Danh sách các ảnh SAR sử dụng trong nghiên cứu
TT
Số hi ệu
cảnh ảnh
Band/kênh Phân cực
ảnh
Thời gian
thu ảnh
Thời gian mưa
lũ
I
Ảnh AlosPalSAR
1
2
3
4
5
09169_0280
09169_0290
09169_0290
15879_0280
15879_0290
L
L
L
L
L
HH
HH
HV
HH
HH
14/10/2007
14/10/2007
14/10/2007
16/01/2009
16/01/2009
14-18/10/2007
30/12/2008-
02/01/2009
II Ảnh Sentinel
20161201T223539_20161201T22360
8_014192_016EE9_6B8D
C
HH, VV
01/12/2016
30/11 đến ngày
1
3/12/2016
2.2. Phương pháp nghiên cứu
đồ ngập lụt qua 4 bước cơ bản: tăng cường chất
lượng ảnh, nắn chỉnh hình học, phân ngưỡng,
xây dựng bản đồ ngập (Hình 2).
Để xây dựng bản đồ ngập từ các ảnh SAR,
nghiên cứu này sử dụng các công cụ hiện đại để
xử lý ảnh: ENVI, SNAP, ARCGIS. Dựa trên
nguyên lý phản xạ gương của ảnh SAR chụp bề
mặt Trái Đất: khi tín hiệu sóng radar truyền
xuống bề mặt nước (bề mặt phẳng, không có
sóng), năng lượng phản xạ trở lại vệ tinh rất
thấp và hình ảnh vùng ngập nước có mầu tối
xẫm. Ngược lại, các đối tượng khác có bề mặt
gồ ghề hoặc có khả năng tán xạ rất mạnh (như
các cấu trúc kim loại, cấu trúc xây dựng, khu đô
thị, thực vật có mật độ dầy,vv…) các tia phản
xạ trở lại vệ tinh có năng lượng mạnh và hình
ảnh SAR thu nhận có tông mầu sáng. Trong
phân loại ảnh SAR, nghiên cứu đã sử dụng
phương pháp định ngưỡng giữa vùng nước/
không nước để loại bỏ những pixel vùng không
ngập nước. Ảnh phân loại vùng ngập nước
(raster) được chuyển khuôn dạng sang vector để
xử lý thành lập bản đồ ngập lụt trên các phần
mềm GIS thông dụng (như Arc/Gis, Map/info).
Toàn bộ quá trình xử lý ảnh đến thành lập bản
Hình 2: Quy trình xử lý chiết tách thông tin
thành lập bản đồ ngập từ ảnh vệ tinh
a) Tăng cường chất lượng ảnh
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017
3
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
Nhiễu là một trong những thuộc tính của ảnh của các loại ảnh với nhau phục vụ cho việc
radar gắn liền với tính “đơn sắc” của bức xạ sử xây dựng các tổ hợp ảnh ở bước tiếp theo. Do
dụng trong kỹ thuật radar. Đối với người sử bản chất chụp ảnh nghiêng từ một phía nên
ảnh radar giống như các loại ảnh vệ tinh
quang học khi chụp nghiêng cũng bị ảnh
hưởng làm sai lệch vị trí của địa hình. Sự sai
lệch trên ảnh radar là sự dịch lại gần ăng ten
thu hơn so với vị trí thực của nó. Ảnh hưởng
của chênh cao địa hình tới vị trí điểm trên
thực địa được tính theo công thức:
dụng, đây là một trở ngại lớn trong khi phân
tích giải đoán ảnh. Rất nhiều các phương pháp
lọc được đưa ra nhằm khử nhiễu trển ảnh radar
trong đó phải kể tới các phép lọc như Frost,
Lee, Sigma, Gamma, Map v.v. Phép lọc
Gamma tạo ra hình ảnh đã được loại bỏ đốm,
nhiễu với thời gian thực hiện tương đối thấp
(Lopes, nnk 1990). Việc xử lý làm giảm nhiễu
phải bảo đảm sao cho lượng mất mát thông tin
là ít nhất, do đó phải chọn bộ lọc thích hợp.
Nghiên cứu này sử dụng phép lọc Lee, các
hình ảnh được thực hiện với khoảng lọc
Gamma ở mức 3 x 3. Với phép lọc này cho kết
quả rất tốt phục vụ chiết tách thông tin ngập
(Hình 3).
(1)
Trong đó:
là độ cao của điểm
góc nghiêng chụp ảnh (gới tới
nếu địa hình bằng phẳng)
Mỗi loại ảnh radar sẽ được chụp với góc
nghiêng khác nhau thậm chí cùng một thiết
bị cũng có những mode chụp với góc
nghiêng khác nhau, cho nên ảnh hưởng của
chênh cao địa hình đối với mỗi loại ảnh cũng
khác nhau (Hình 4). Vì vậy, để hiệu chỉnh
sai số do chênh cao địa hình gây ra khi nắn
ảnh cần sử dụng mô hình số độ cao (DEM).
Trên cơ sở nguyên lý đó, các phần mềm xử
lý ảnh đã tích hợp sẵn các phương pháp nắn,
hiệu chỉnh ảnh vào. Nghiên cứu này sử dụng
phương pháp nắn ảnh “Ranger – Doppler
Terrain Correction” được tích hợp trong
phần mềm SNAP 5.0. Đây là phương pháp
được khuyến nghị sử dụng trong nghiên cứu
thành lập bản đồ ngập lụt từ ảnh SAR. Với
phương pháp này, nghiên cứu sử dụng nguồn
dữ liệu mô hình số độ cao SRTM 30m toàn
cầu, tự động được tải về cơ sở dữ liệu phần
mềm; phương pháp lấy mẫu địa hình: nội suy
song tuyến tính; độ phân giải mỗi pixel 10m
ở hệ tọa độ toàn cầu WGS 84. Ảnh sau khi
được nắn chỉnh đưa về hệ quy chiếu ở đây là
UTM WGS 84 Zone 49 phục vụ các bước
Hình 3: Tăng cường chất lượng ảnh SAR
trước khi nắn chỉnh
a) Trước khi lọc nhiễu b) Sau khi lọc nhiễu
b) Nắn ảnh
Công tác nắn chỉnh hình học nhằm mục đích
xử lý những biến dạng hình học sinh ra trong
quá trình chụp ảnh và ảnh hưởng của địa
hình, đồng thời đưa ảnh về hệ tọa độ bản đồ.
Việc nắn chỉnh hình học có ý nghĩa hết sức
quan trọng, không những để đảm bảo độ tiếp theo trong xử lý ảnh, thành lập bản đồ
chính xác về vị trí tọa độ của các đối tượng
trên ảnh mà còn để đảm bảo sự chồng khít
ngập lụt khu vực nghiên cứu.
4
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
Hình 4: Ảnh hưởng của chênh cao địa hình tới
vị trí điểm trên thực địa
c) Phân ngưỡng và trích rút thông tin ngập lụt
Sự phân ngưỡng ảnh vệ tinh SAR là một thành
phần quan trọng trong phân tích và diễn giải
dữ liệu tự động. Các phương pháp phân
ngưỡng khác nhau đã được đề xuất trong nhiều
tài liệu. Một số phổ biến nhất là phát hiện
sườn, vùng đang phát triển và kỹ thuật tạo
ngưỡng (Sahoo, nnk 1988). Tuy nhiên, những
cách tiếp cận này có những sai sót phổ biển.
Ví dụ, kỹ thuật phát hiện sườn rất phụ thuộc
vào vị trí của sườn ban đầu hoặc thậm chí là
hiểu biết về vị trí của nó trước. Cách tiếp cận
vùng phát triển cũng phụ thuộc vào người sử
dụng khi nó phát triển và sát nhập các vùng
nhỏ lân cận (Oliver và Shaun Quegan, 2004).
Hơn nữa, phân đoạn dựa trên việc tạo ngưỡng
của các mức màu xám thường không phù hợp
với ảnh SAR vì có nhiễu đốm (Fjortoft và nnk,
2003). Nghiên cứu này khắc phục những vấn
đề trên bằng cách loại bỏ cơ bản các nhiễu
đốm ở bước tăng cường chất lượng ảnh, vì vậy
ở bước phân ngưỡng thuận lợi hơn để phân
dựa trên mức xám của ảnh. Đối với ảnh
ALOS-PALSAR tiến hành lấy mẫu để tính
trung bình các thông số ngưỡng max và min
của từng ảnh, từ đó trích xuất ra vùng ngập lụt
(Hình 6a). Với ảnh Sentinel, nghiên cứu áp
dụng công thức phân ngưỡng thông thường:
255 * (Sigma0_VV< DN), với DN =0,1. Kết
quả phân ngưỡng tách nước và không nước
như hình 5. Sau khi tách thông tin ngập và
không ngập, phân loại và tiến hành trích rút
thông tin dữ liệu ngập để xây dựng bản đồ
ngập khu vực nghiên cứu.
Hình 5. Kết quả phân ngưỡng tách nước và
không nước
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Qua xử lý dữ liệu ảnh SAR, cho thấy các ảnh
phân cực HV (chiều ngang - thẳng đứng) cho
thông tin về vùng ngập nước chi tiết hơn loại
ảnh phân cực HH (chiều ngang - chiều ngang).
Đối với ảnh radar, bề mặt nước được sử dụng
làm đối tượng để xác định trực tiếp diện tích
ngập hoặc diện tích nước vì các giá trị phản xạ
của nước rất thấp mang tính chất phản xạ
gương. Như vậy, các khu vực bị ngập lụt xuất
hiện tông màu tối do tán xạ ngược thấp, trong
khi bề mặt đất hoặc các đối tượng khác xuất
hiện tông màu sáng vì mặt đất thô vàthảm thực
vật sản xuất khuếch tán năng lượng truyền đến
của thiết bị phát dẫn đến phản xạ mạnh. Với
ảnh ALOS-PALSAR, do thời điểm chụp là sau
thời điểm lũ nên các dữ liệu thu nhận từ mặt đất
là những phản xạ rất thấp và thậm chí khó phát
hiện khi xử lý thông thường. Lúc này, việc
chiết tách thông tin ngập lụt chủ yếu thu nhận
được từ những dấu vết lũ đi qua để lại trên các
đối tượng như cây cối. Chính vì vậy, những
nhiễu đốm xuất hiện nhiều hơn trong quá trình
xử lý ảnh và vì vậy bản đồ ngập lụt có rất nhiều
những vết ngập, hoặc ô ngập nhỏ (Hình 6a).
Với ảnh Sentinel, thời điểm chụp ảnh đúng vào
thời điểm mưa lũ gây ngập do vậy, nước trên bề
mặt hoàn toàn có thể nhận biết bằng mắt
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017
5
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
thường khi xử lý ảnh. Việc hiệu chỉnh thông tin huyện Tư Nghĩa - Mộ Đức – Đức Phổ ở phía
ngập sau khi xử lý dễ dàng hơn so với ảnh Nam, các huyện Bình Sơn - Sơn Tịnh ở phía
ALOS-PALSAR, và phần ngập được hiệu Bắc và một số tuyến tỉnh lộ, các tuyến đường
chỉnh thông qua lớp thông tin địa hình, hành liên huyện đều bị ngập nặng. Điều đó đã lý
chính khu vực nghiên cứu. Vì vậy, các ô ngập giải tình trạng giao thông trên tuyến trục Bắc –
trên bản đồ thành lập từ ảnh Sentinel rõ cho Nam thường gặp khó khăn vào mùa mưa khi
từng vùng hơn (Hình 6b).
đi qua địa phận tỉnh Quảng Ngãi do tình trạng
mưa - ngập lụt diễn ra nặng nề. Kết quả phân
tích từ ảnh cũng cho thấy diện ngập năm 2009
gấp ba lần so với năm 2016 (Bảng 2). Có sự
chênh lệch lớn như vậy là bởi vì ảnh chụp hai
thời điểm khác nhau. Với ảnh Sentinel chụp
vào ngày 1/12/2016, thời điểm thu nhận được
ảnh thì lũ sông Vệ đang lên cao và gây tràn
vào nội đồng, trong khi trên sông Trà Khúc
mới chỉ trên báo động 2 nên chưa gây lũ lớn
gây ngập các huyện hạ du lưu vực sông Trà
Khúc. Lúc này trên ảnh vẫn phát hiện ngập là
do mưa gây ngập úng cục bộ ở các huyện Sơn
Tịnh, Tư Nghĩa, TP Quảng Ngãi. Trên ảnh
AlosPALSAR chụp sau lũ vào ngày
16/01/2009, diện ngập phân tích được chủ yếu
từ vết lũ để lại sau trận lũ xảy ra trước đó, lũ
xảy ra trên diện lớn cả sông Trà Khúc, sông
Vệ. Do vậy, diện tích ngập năm 2009 lớn hơn
nhiều so với ảnh chụp năm 2016. Điều này
cũng cho thấy, để có thông tin ngập lụt chính
xác cần có những ảnh chụp trùng với thời
điểm lũ, kết quả phân tích, chiết tách thông tin
ngập sẽ khách quan và độ chính xác cao hơn
so với những ảnh chụp sau lũ.
Về tình hình ngập lụt, kết quả phân tích các
bản đồ ngập lụt cho thấy đặc điểm chung ở
đồng bằng ven biển Quảng Ngãi những vùng
ngập nước trùng với các ô trũng thấp, thuộc
lưu vực các sông lớn của tỉnh (như sông Trà
Bồng, sông Trà Khúc, sông Vệ, sông Trà Câu,
Hình 6a, b). Vùng ngập lụt phân bố thành từng
dải kéo dài, ở hầu khắp các huyện ven biển và
vùng núi Ba Tơ. Những huyện có vùng ngập
lụt lớn là Bình Sơn (sông Trà Bồng), Sơn
Tịnh, Tư Nghĩa, Nghiã Hành (sông Trà Khúc),
Mộ Đức, Đức Phổ và Ba Tơ (sông Vệ – Trà
Câu). Trong đó khu vực ngập nặng nhất được
xác định thuộc lưu vực sông Vệ – Trà Câu (các
huyện Mộ Đức - Đức Phổ); tiếp đó là khu vực
phía Nam thành phố Quảng Ngãi – huyện Tư
Nghĩa… là những nơi có địa hình thấp. Ngược
lại, các khu dân cư phân bố trên vùng địa hình
cao, chủ yếu là các cồn cát (cao độ >10m)
thường không ngập. Qua phân tích bản đồ
phân bố vùng ngập lụt, còn cho thấy nhiều trục
giao thông quan trọng trên địa phận Quảng
Ngãi nằm trong vùng ngập nặng. Ví dụ như
tuyến Quốc lộ-1 (QL-1) nằm trên khu vực các
a) ảnh AlosPalSAR ngày 16/01/2009
b) ảnh Sentinel -1A ngày 01/12/2016
Hình 6: Bản đồ ngập từ ảnh AlosPALSAR và ảnh Sentinel
6
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
Bảng 2: Tổng hợp diện tích ngập các tỉnh từ ảnh SAR (đơn vị: ha)
Huyện
Năm 2009 (Ảnh ALOS PALS AR)
Năm 2016 (Ảnh Sentinel)
Ba Tơ
6643.14
8546.80
12782.46
2417.54
9084.78
5979.06
323.59
166.91
756.18
5359.48
40.49
Bình Sơn
Đức Phổ
Minh Long
Mộ Đức
Nghĩa Hành
Sơn Hà
4676.60
2494.08
407.29
4608.91
400.61
1.64
Sơn Tịnh
TP Quảng Ngãi
Trà Bồng
Tư Nghĩa
Tổng
8962.65
1000.80
263.69
6770.80
62775.32
3262.80
22175.01
4. KẾT LUẬN
được trùng thời điểm có lũ. Hiện tại lưu vực
nghiên cứu chỉ có duy nhất 01 ảnh radar chụp
năm 2016 trùng với thời điểm có mưa lũ nên
kết quả phân tích vẫn còn hạn chế. Nếu có
thêm ảnh chụp đúng thời điểm lũ các năm
trước đây sẽ nâng cao được độ chính xác trong
việc thành lập bản đồ ngập lụt cho khu vực
này. Trong điều kiện hiện nay, để chủ động
được ảnh phục vụ công tác thành lập bản đồ
ngập lụt cũng như theo dõi, giám sát lũ lụt,
thiên tai ở các lưu vực cần thêm các công cụ
hỗ trợ khác như công nghệ bay chụp như
UAVs, Flycam…nhằm nâng cao hơn nữa chất
lượng nghiên cứu đối với lĩnh vực này.
Nghiên cứu đã xử lý, chiết tách và thành lập
bản đồ ngập lụt từ ảnh viễn thám radar áp
dụng cho hạ du lưu vực sông Trà Khúc, sông
Vệ tỉnh Quảng Ngãi. Kết quả xử lý, phân tích
ảnh cho thấy mặt nước phản xạ rất yếu nên
thường dễ nhận dạng trên ảnh radar do tông
màu rất tối. Kết quả cho thấy vùng đồng bằng
thấp hạ du sông Trà Khúc, sông Vệ với các ô
trũng thấp kéo dài toàn bộ các huyện ven biển,
nên khi có mưa lớn dễ gây ngập lụt và lan
rộng. Vệ tinh Sentinel chụp được trùng vào
thời điểm mưa lũ nên cho kết quả phân tích
khá tốt, phản ánh rất trực quan diện ngập vùng
đồng bằng ven biển của tỉnh Quảng Ngãi,
trong đó khu vực ngập nặng nhất thuộc lưu
vực sông Vệ – Trà Câu (các huyện Mộ Đức -
Đức Phổ).
Lời cảm ơn: Bài báo này là một phần kết quả
của đề tài nghiên cứu cấp Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn: Nghiên cứu ứng dụng
công nghệ GIS và viễn thám để theo dõi, đánh
giá, hoàn thiện và nâng cao độ chính xác của
công tác dự báo ngập lụt phục vụ công tác
quản lý phòng chống lũ lụt vùng hạ du các
sông; do PGS.TS Nguyễn Thanh Hùng- Phòng
Thí nghiệm trọng điểm Quốc gia về động lực
học sông biển là chủ nhiệm.
Việc ứng dụng ảnh viễn thám thành lập bản đồ
ngập lụt hạ du lưu vực sông Trà Khúc, sông
Vệ cho thấy tính ưu việt của viễn thám radar.
Tuy nhiên, do các vệ tinh chụp theo các chu kỳ
khác nhau nên không phải lúc nào cũng chụp
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017
7
CHUYỂN GIAO
CÔNG NGHỆ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Biggin D S and Blyth K, 1996, A comparison of ERS-1 satellite radar and aerial
photography for river flood mapping J. Chartered Inst. Water Env. Man. 10 59–64
[2] Fjortoft. R , Y. Delignon, W. Pieczynski, M. Sigelle, and F. Tupin, “Unsupervised
classification of radar images using hidden markov chains and hidden markov random
fields,” IEEE Trans. on Geoscience and Re- mote Sensing, vol. 41, no. 3, pp. 675–686,
March 2003.
[3] Gan T Y, Zunic F, Kuo C-C and Strobl T, 2012, Flood mapping of Danube River at
Romania using single and multi-date ERS2-SAR images, Int. J. Appl. Earth Obs.
Geoinform. 18 69–81
[4] Lopes A, Nezry E, Touzi R and Laur H, 1990, Maximum a posteriori speckle filtering and
first order texture models in SAR images, 10th Annual Int. Symp. on Geosci. and Remote
Sens. pp. 2409–12
[5] Luận văn tốt nghiệp: Nghiên cứu ứng dụng công nghệ viễn thám và mô hình thuỷ văn thuỷ
lực để thành lập bản đồ ngập lụt lưu vực sông Kôn – Hà Thanh, tỉnh Bình Định, Đại học
Khoa học Tự nhiên.
[6] Oliver C. and Shaun Quegan, Understanding Synthetic Aperture Radar Images, SciTech,
NC 27613, 2004.
[7] Pricope N G, 2013, Variable-source flood pulsing in a semi-arid transboundary watershed:
the Chobe River, Botswana and Namibia Environ. Monit. Assess. 185 1883–906
[8] Sahoo P. K., S. Soltani, and A. K. C. Wong, “A survey of thresholding techniques,”
Comput. Vision Graph. Image Process., vol. 41, no. 2, pp. 233–260, 1988.
[9] Touzi R., A. Lopes, and P. Bousquet, “A statistical and geometrical edge detector for
sar images,” IEEE Trans. on Geoscience and Remote Sensing, vol. 26, no. 6, pp.764–
737, 1988.
8
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu thành lập bản đồ ngập lụt từ ảnh viễn thám Radar áp dụng cho hạ du lưu vực Sông Trà khúc, Sông Vệ, tỉnh Quảng Ngãi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nghien_cuu_thanh_lap_ban_do_ngap_lut_tu_anh_vien_tham_radar.pdf

