Đánh giá khả năng làm giảm nhẹ ô nhiễm Dioxin và Asen của cỏ Vetiver tại sân bay Biên Hòa

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
Đánh giá khả năng làm giảm nhẹ ô nhiễm Dioxin và Asen  
của cỏ Vetiver tại sân bay Biên Hòa  
Nguyễn Quốc Định, Nguyễn Thị Thanh Thảo, Ngô Thị Thúy Hường*  
1Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, 67 Chiến Thắng, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 22 tháng 6 năm 2018  
Chỉnh sửa ngày 27 tháng 7 năm 2018; Chấp nhận đăng ngày 02 tháng 8 năm 2018  
Tóm tắt: Nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng của cỏ Monto vetiver (Chrysopogon  
zizanioides L.) trong việc giảm nhẹ ô nhiễm dioxin và xử lý ô nhiễm Asen của cỏ Vetiver. Thí  
nghiệm được tiến hành ngoài thực tế, gồm 3 lô, mỗi lô 100 m2. Cỏ Monto vetiver được trồng ngày  
25/11/2014 trên lô 1 và 2, có hàm lượng dioxin ban đầu khoảng 1000-1800 ppt TEQ, hàm lượng  
As khoảng 25-30 mg/kg đất khô. Trong đó, lô 1 trồng cỏ và có bổ sung chế phẩm DECOM1 (hỗn  
hợp muối dinh dưỡng và mùn hữu cơ), lô 2 trồng cỏ và không bổ sung DECOM1, và lô đối chứng,  
lô 3, không trồng cỏ. Kết quả phân tích dioxin trong mẫu đất, mẫu rễ và chồi cỏ cho thấy cỏ  
Vetiver có khả năng hấp thụ dioxin vào rễ cỏ và một phần được vận chuyển lên chồi cỏ, dioxin  
trong đất giảm nhiều tại lô trồng cỏ, đặc biệt lô 1 có xu hướng giảm mạnh hơn. Tương quan giữa  
hàm lượng dioxin trong mẫu đất và mẫu rễ (p = 0,02, r = 0,53) cho thấy mối liên hệ giữa chúng.  
Bên cạnh đó, kết quả phân tích Asen trong mẫu đất, rễ và chồi cỏ cũng cho thấy khả năng hấp thụ  
và xử lý Asen của cỏ Vetiver trong các vùng đất ô nhiễm Asen.  
Tóm lại, có thể bước đầu kết luận rằng cỏ Monto Vetiver có khả năng làm giảm nhẹ ô nhiễm  
dioxin và Asen trong các vùng đất bị ô nhiễm ở mức độ vừa.  
Từ khóa: Cỏ Vetiver, đất ô nhiễm dioxin, ô nhiễm Asen, xử lý bằng thực vật.  
1. Mở đầu  
sinh sản, dị tật bẩm sinh v.v., mà còn ảnh  
hưởng tới cả thế hệ sau [1].  
Sự tồn lưu dioxin trong môi trường đã và  
đang gây ra những tổn thương lâu dài cho hàng  
triệu người dân Việt Nam. Phơi nhiễm chất độc  
da cam/dioxin không chỉ ảnh hưởng tới sức  
khỏe của người bị phơi nhiễm, gây ra các loại  
bệnh như: ung thư, suy giảm miễn dịch, tai biến  
Theo một số nghiên cứu, Việt Nam là một  
trong số những nước bị ảnh hưởng nặng nề bởi  
chất độc da cam/dioxin [2, 3, 4]. Trong giai  
đoạn 1961-1971, có tới trên 2,6 triệu ha, chiếm  
15,2% diện tích toàn miền Nam Việt Nam bị  
phun rải một khối lượng các chất diệt cỏ  
khoảng 95 triệu kg [1], bao gồm chủ yếu là chất  
Da cam, chất Xanh và chất Trắng. Riêng chất  
da cam có khối lượng khoảng 49,3 triệu lít,  
tương đương khoảng 63 triệu kg, đã được phun  
_______  
Tác giả liên hệ. ĐT.: 84-917709596.  
1
N.Q. Định và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
2
rải trên 1,68 triệu ha; như vậy, mật độ phun rải  
các nghiên cứu đã chứng mình rằng rằng cỏ  
Vetiver có thể cô lập và phân hủy một số chất  
diệt cỏ, đặc biệt là Atrazine [14] hay loại bỏ các  
chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy khác từ môi  
trường nước và đất, chẳng hạn như chất 2,4,6-  
trinitrotoluene [15] và hydrocarbon trong dầu  
mỏ [16]. Việc sử dụng thực vật trong xử lý ô  
nhiễm dioxin chưa thực sự được nghiên cứu cả  
trên thế giới và Việt Nam. Duy nhất có nỗ lực  
và thành công của Tiến sỹ Phùng Tửu Bôi trong  
việc trồng hàng rào xanh bằng cây bồ kết gai để  
ngăn cản người và súc vật vào tiếp cận sân bay  
A Lưới và hạn chế sự lan toả của dioxin; tuy  
nhiên, kết quả chưa được kiểm chứng. Như vậy,  
cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về  
việc sử dụng thực vật cũng như cỏ Vetiver này  
để xử lý ô nhiễm dioxin, và các nghiên cứu hiện  
trường đánh giá khả năng xử lý Asen của cỏ  
Vetiver ở Việt Nam đang còn thiếu vắng.  
gấp 17 lần liều lượng được Bộ Tư lệnh Lục  
quân Mỹ khuyến cáo sử dụng năm 1967 (2,2  
kg/ha). TCDD (tetrachlorodibenzodioxin, aka  
dioxin) trong chất da cam là chất độc nhất trong  
nhóm các chất dioxin, có thể gây ra những vấn  
đề nghiêm trọng cho môi trường và sức khỏe  
con người. Ước tính có khoảng 170 kg TCDD  
đã được phun rải ở nam Việt Nam [2, 3]. Tuy  
nhiên, theo Stellman và cs [5] con số đó là  
khoảng 366 kg TCDD và vẫn chưa kể đến các  
nguồn chất diệt cỏ khác đã được phun rải. Gần  
đây, Việt Nam đã có rất nhiều nỗ lực để khắc  
phục và làm sạch các vùng bị nhiễm độc dioxin.  
Một số công nghệ xử lý đã được áp dụng tại các  
điểm nóng (sân bay Biên Hòa, Đà Nẵng và Phù  
Cát), như công nghệ chôn lấp tích cực, nghiền  
bi, công nghệ khắc phục bằng vi sinh vật và  
công nghệ giải hấp nhiệt trong mố (GEF/  
UNDP, 2013). Tuy nhiên, những công nghệ tiên  
tiến này rất đắt đỏ và chỉ phù hợp trong xử lý  
các điểm nóng với hàm lượng dioxin cao (quy  
mô vừa và nhỏ). Do vậy, việc nghiên cứu nhằm  
tìm ra công nghệ xử lý bằng thực vật để làm  
giảm nhẹ cũng như khắc phục ô nhiễm dioxin  
và các chất độc hóa học trong đất ở mức độ  
trung bình và thấp là rất cần thiết.  
Do đó, mục tiêu của nghiên cứu này là để  
tìm hiểu khả năng của cỏ Vetiver trong việc xử  
lý ô nhiễm dioxin và Asen trong đất. Sự thành  
công của nghiên cứu này sẽ đưa ra được công  
nghệ có chi phí thấp, nhưng hiệu quả, thân thiện  
với môi trường và bền vững, có khả năng áp  
dụng vào thực tế ở quy mô lớn nhằm khắc phục  
ô nhiễm dioxin trong đất ở mức độ trung bình  
và thấp ở miền Nam Việt Nam. Bên cạnh đó,  
củng cố thêm luận cứ về khả năng xử lý ô  
nhiễm Asen trong đất của cỏ Vetiver thông qua  
thử nghiệm tại hiện trường.  
Bên cạnh đó, ô nhiễm Asen do tự nhiên  
cũng như do hoạt động sản xuất của con người  
cũng đang là vấn đề cấp thiết cần phải có các  
biện pháp khắc phục, bởi những ảnh hưởng  
nghiêm trọng của nó lên sức khỏe cộng đồng và  
môi trường. Ngoài ra, Asen cũng có chứa trong  
chất Xanh mà Mỹ đã phun rải tại Việt Nam  
trong chiến tranh. Do vậy, các vùng đất nhiễm  
dioxin do chiến tranh cũng thường bị ô nhiễm  
Asen. Với những đặc tính sinh lý, hình thái đặc  
biệt của mình, cỏ Vetiver (Chrysopogon  
zizanioides L.) đã được sử dụng rộng rãi trên  
thế giới cũng như tại Việt Nam trong việc phục  
hồi môi trường sau khai thác mỏ [6], xử lý nước  
thải [7], kiểm soát chất lượng môi trường nước  
nuôi thủy sản [8] và xử lý kim loại nặng trong  
các loại đất và nước [9, 10, 11, 12]. Mặc dù  
vậy, việc xử lý Asen trong đất bằng thực vật chỉ  
mới được nghiên cứu ở một số loài có khả năng  
tích lũy cao thuộc họ dương xỉ [13]. Gần đây,  
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Địa điểm và đối tượng nghiên cứu  
Vì trong chất Xanh (Dimetylaxenic axit hay  
Cacodylic) Mỹ sử dụng để phun rải trong chiến  
tranh tại Việt Nam có chứa As, nên việc tiến  
hành thí nghiệm về dioxin và As được tiến hành  
trên cùng 1 khu đất. Thí nghiệm được tiến hành  
tại khu vực Pacer Ivy, góc phía Tây Nam sân  
bay Biên Hòa. Đây là tập kết và dồn dịch các  
chất diệt cỏ chưa sử sụng để vận chuyển về Mỹ.  
Diện tích của khu thí nghiệm là 300 m2 với hàm  
lượng dioxin ở mức trung bình (khoảng 1000 –  
N.Q. Định và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
3
2000 ppt TEQ), hàm lượng Asen ở mức cao (25  
hỗn hợp mùn và các muối vô cơ nhằm tăng  
– 30 mg/kg đất khô).  
cường sự phát triển của các sinh vật bản địa  
trong quyển rễ.  
Đối tượng nghiên cứu là cỏ Vetiver. Với  
các đặc điểm đặc biệt như có bộ rễ rất lớn, có  
khả năng chịu được điều kiện môi trường khắc  
nghiệt, là nơi sống lý tưởng cho các vi sinh vật  
(VSV) và nấm trong quyển rễ …, cỏ Vetiver có  
thể tạo lên sự kết hợp thuận lợi, tối ưu cho quá  
trình hấp thu và phân huỷ các chất độc hoá học  
trong đất.  
2.3. Thu mẫu đất và mẫu sinh phẩm  
Mỗi lô thí nghiệm sẽ được lấy 01 mẫu đất  
ban đầu (trước khi trồng cỏ). Quy trình thu mẫu  
được thực hiện theo các hướng dẫn tiêu chuẩn  
của UNEP [17] và UNEP/POPs/COP.5/INF/27  
[18]. Cụ thể, mỗi lô được chia thành 3 ô, mỗi ô  
khoảng 33 m2 và thu 10 mẫu thành phần (mẫu  
lõi khoan tay sâu 60-cm), được nghiền nhỏ, trộn  
đều trong khay inox, san phẳng, chia thành 30 ô  
và lấy khoảng 1 kg mẫu từ các ô đó bằng thìa.  
Mẫu sau đó được chuyển về phòng thí nghiệm  
để xử lý và phân tích.  
2.2. Chuẩn bị đất, thu mẫu ban đầu và thiết kế  
lô thí nghiệm  
Đất trong khu vực nghiên cứu rất khô cằn  
với nhiều sỏi đá lớn. Do vậy, trước khi tiến  
hành thí nghiệm, khu đất được cày xới, trộn đảo  
bằng máy xúc và nhặt bớt sỏi đá và cỏ dại. Đất  
sau đó được san phẳng bằng máy san, phân lô  
và tiến hành lấy các mẫu ban đầu trước khi  
trồng cỏ. Cỏ trồng theo hàng cách nhau khoảng  
50 cm, khóm cách khóm khoảng 25 - 30 cm,  
mỗi khóm 3 – 5 nhánh. Sau khi trồng cỏ được  
tưới nước từ 1-2 lần mỗi ngày để giữ ẩm.  
Tổng số mẫu 39 mẫu đất và 42 mẫu sinh  
phẩm (21 mẫu rễ và 21 mẫu chồi) được thu và  
kiểm tra hàm lượng dioxin và Asen định kỳ 5  
tháng 1 lần. Mẫu đất, chồi và rễ được thu 3 lần  
lặp trên mỗi lô (Lô 1: MT1-MT3; Lô 2: MT4-  
MT6; Lô 3: MT7-MT9) và ở cùng vị trí như  
trong Hình 1. Mẫu sinh phẩm sau khi lấy được  
rửa sạch bụi đất bám bằng nước, tráng bằng  
hexan và acetone để loại bỏ dioxin bám trên bề  
mặt rễ và chồi. Mẫu sau khi ráo nước được trữ  
lạnh trong các túi zipper và chuyển về phòng thí  
nghiệm để phân tích dioxin.  
Khu thí nghiệm được chia thành 3 lô, hai lô  
được trồng cỏ và 1 lô không trồng cỏ (L3) để  
đối sánh. Trong 02 lô trồng cỏ có một lô được  
bón chế phẩm sinh học DECOM1 (L1) và lô  
còn lại thì không (L2) (Hình 1). DECOM1 là  
Hình 1. Sơ đồ thiết kế thí nghiệm và vị trí lấy mẫu đất và sinh phẩm.  
N.Q. Định và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
4
2.4. Phân tích dioxin  
tế. Mẫu đất và sinh phẩm được cân một lượng  
nhất định vào ống nghiệm đã ghi nhãn tương  
ứng, sau đó được vô cơ hóa bằng hỗn hợp axit  
HNO3 65%, HCl 37% và bổ sung thêm 300 µl  
H2O2. Sau đó, phá mẫu ở nhiệt độ 100°C đến  
khi mẫu được vô cơ hoá hoàn toàn, để nguội rồi  
lọc mẫu và xác định hàm lượng As bằng  
phương pháp phân tích Quang phổ Plasma trên  
thiết bị Agilent ICP-MS7700x – USA.  
Tất cả các mẫu được xử lý và phân tích 17  
đồng phân của dioxin và furan theo khuyến cáo  
của Tổ chức y tế thế giới (WHO, 2005) tại  
phòng thí nghiệm dioxin, Trung tâm Quan trắc  
Môi trường, Tổng cục Môi trường. Quy trình  
chuẩn bị và phân tích dioxin tuân theo phương  
pháp tiêu chuẩn của US EPA và UNEP [19,  
20]. Kết quả sau đó được chuyển thành hàm  
lượng độc tương đương (TEQ) trên đơn vị trọng  
lượng khô (đất) và tươi (rễ, chồi), sử dụng hệ số  
đương lượng độc (TEF) của WHO [21].  
Phương pháp 1613B của US EPA nhằm xác  
định dioxin và furan chứa bốn đến tám clo bằng  
cách pha loãng đồng vị sắc kí khí phân giải cao  
ghép nối khối phổ phân giải cao  
(HRGC/HRMS) được điều chỉnh để phù hợp  
với các trang thiết bị tiên tiến có sẵn và đã được  
kiểm chứng trước khi đưa vào sử dụng.  
2.6. Xử lý số liệu  
Số liệu được trình bày dưới dạng giá trị  
trung bình ± SEM (sai số chuẩn). Phân tích  
phương sai hai nhân tố được áp dụng để xác  
định sự sai khác giữa các lô thí nghiệm và giữa  
các thời điểm lấy mẫu. Sau khi xác định có sự  
sai khác, tiến hành phương pháp hậu kiểm  
Student–Newman–Keuls  
test  
(GraphPad  
Software, SanDiego, CA).  
2.5. Phân tích Asen  
3. Kết quả và thảo luận  
Asen tổng số trong mẫu đất và cỏ được  
phân tích theo phương pháp ICP-MS [23, 24]  
có điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực  
3.1. Khả năng làm giảm nhẹ dioxin của cỏ  
Vetiver  
Bảng 1. Hàm lượng dioxin/ furan (pg WHO-TEQ/g trọng lượng khô) trong đất trước khi trồng cỏ  
Kí hiệu mẫu  
MT1  
2378-TCDD  
1.221  
1.143  
686  
TEQwho  
1.235  
1.169  
695  
%TCDD  
98,9  
97,7  
98,7  
98,5  
98,8  
99,5  
99,5  
99,3  
99,7  
99,4  
99,5  
99,6  
MT2  
MT3  
Trung bình lô 1  
1.017  
1.059  
2.782  
1.618  
1.819  
4.414  
2.815  
1.624  
2.950  
1.033  
1.072  
2.796  
1.626  
1.831  
4.425  
2.832  
1.632  
2.961  
MT4  
MT5  
MT6  
Trung bình lô 2  
MT7  
MT8  
MT9  
Trung bình lô 3  
N.Q. Định và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
5
Kết quả phân tích dioxin trong mẫu khảo sát  
được trình bày trong Bảng 1 cho thấy sự phân  
bố không đều với 8 trong 9 mẫu (khoảng 89%)  
có hàm lượng dioxin vượt quá 1000 ppt TEQ  
(Giới hạn định lượng của dioxin trong đất cần  
khoanh vùng và xử lý theo TCVN 8183: 2009).  
Hàm lượng dioxin ban đầu của lô 1 và 2 có xu  
hướng thấp hơn lô 3 và cũng ít dao động hơn  
nên được chọn cho việc trồng cỏ thí nghiệm (Lô  
1: nghiệm thức 1, cỏ có bổ sung chế phẩm  
DECOM1; Lô 2: nghiệm thức 2, cỏ không bổ  
sung DECOM1; Hình 1), còn lô 3 làm đối  
chứng. Tuy nhiên, hàm lượng dioxin khảo sát  
ban đầu này chỉ mang tính tham khảo và phục  
vụ cho việc xác định địa điểm thí nghiệm. Do  
vậy, khả năng làm giảm nhẹ dioxin của cỏ  
Vetiver sẽ chỉ dựa trên việc so sánh kết quả  
phân tích dioxin của các đợt thu mẫu kiểm tra  
định kỳ sau khi trồng cỏ 6 tháng, 11 tháng và  
18 tháng (đợt 1, đợt 2 và đợt 3).  
hơn so với sau khi trồng cỏ 6 tháng (đợt 1) và  
18 tháng (đợt 3) ở cả 2 lô, nhưng không thấy có  
sự sai khác giữa mẫu rễ đợt 1 và đợt 3 (mẫu lấy  
vào tháng 5; Hình 2). Sự biến động theo thời  
gian lấy mẫu có liên quan chặt chẽ tới thời kỳ  
sinh trưởng của cỏ, cụ thể ở đợt 1 và đợt 3 là  
thời điểm sinh trưởng tích cực của cỏ nên cỏ  
hấp thụ dioxin mạnh hơn so với đợt 2 (tháng  
10), là thời điểm cỏ bắt đầu tàn lụi. Hàm lượng  
dioxin trong rễ cỏ lô 2 luôn cao hơn lô 1 nhưng  
mức độ giảm của hàm lượng dioxin ở đợt 2 so  
với đợt 1 lại mạnh hơn ở lô 1 so với lô 2 (giảm  
47% ở lô 1 so với 33% ở lô 2). Kết quả này có  
thể do sự hoạt động của vi sinh vật trong quyển  
rễ tại lô 1 làm cho dioxin trong vùng đất tiếp  
xúc với rễ giảm mạnh hơn so với lô 2, như một  
kết quả, hàm lượng dioxin hấp thu vào rễ ở lô 1  
thấp hơn và cũng giảm mạnh hơn ở lô 2. Kết  
quả phân tích vi sinh vật cũng cho thấy tại  
nghiệm thức có bón DECOM1 thì vi sinh vật  
tổng số cao hơn và có tính đa dạng hơn nghiệm  
thức 2. Đối với hiện tượng hàm lượng dioxin  
trong rễ ở cả 2 lô giảm ở đợt 2, ngoài vai trò  
của vi sinh vật, có thể do chu kỳ sinh trưởng  
của cây cỏ và đặc biệt là do cơ chế sinh hóa của  
cỏ Vetiver trong việc chống lại sự nhiễm độc  
của dioxin. Một phần dioxin được hấp thụ trong  
rễ có thể bị đào thải, một phần được vận chuyển  
lên chồi, lá và một phần có thể được chuyển  
hóa thành các chất ít độc hơn trong quá trình  
trao đổi chất của cây cỏ.  
Để đánh giá khả năng làm giảm nhẹ dioxin  
của cỏ Vetiver, 3 mẫu rễ và 3 mẫu chồi cỏ được  
lấy trước khi trồng để phân tích hàm lượng  
dioxin. Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng  
dioxin trong các mẫu này rất thấp (<1 pg TEQ/g  
trọng lượng tươi) hoặc không thể phát hiện ra.  
Điều đáng chú ý là các chất dioxin này không  
có nguồn gốc từ chất diệt cỏ mang tên chất độc  
da cam, do có hàm lượng chất 2,3,7,8-TCDD  
rất thấp, hầu hết các mẫu đều thấp hơn 10%.  
Kết quả cho thấy hàm lượng dioxin trong  
mẫu rễ sau khi trồng cỏ 11 tháng (đợt 2) thấp  
Hình 2. a) Hàm lượng 2,3,7,8-TCDD (pg/g trọng lượng tươi) và b) Hàm lượng dioxin/ furan (pg WHO-TEQ/g  
trọng lượng tươi) trong mẫu rễ cỏ Vetiver.  
N.Q. Định và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
6
Kết quả phân tích hàm lượng dioxin trong  
ở lô 2 giảm tới 97% và lô 1 giảm 89% so với  
lần 1. Sau 18 tháng, hàm lượng dioxin trong  
mẫu chồi tăng trở lại do sau 1 năm cỏ lại bắt  
đầu chu kỳ sinh trưởng mới. Hiện tượng dioxin  
trong chồi giảm mạnh vào cuối năm cũng có thể  
lý giải dựa trên chu kỳ sinh trưởng của cỏ, lý  
thuyết độc học của thực vật và cả sự phân giải  
dioxin do quang hóa. Cây cỏ hấp thu mạnh các  
chất độc trong giai đoạn sinh trưởng tích cực  
của chúng và sau đó tốc độ hấp thụ giảm dần,  
đồng thời quá trình thải độc và chuyển hóa bắt  
đầu tăng nhanh, trong đó có quá trình quang  
hóa, để cây cỏ có thể thích nghi được với môi  
trường đất nhiễm độc.  
mẫu chồi cho thấy có sự di chuyển của chất độc  
dioxin từ rễ lên chồi (Bảng 2). Mặc dù, hàm  
lượng dioxin trong các mẫu chồi thấp hơn rất  
nhiều so với trong mẫu rễ, nhưng nó cũng  
tương tự như hàm lượng dioxin trong mẫu rễ,  
tăng lên rõ rệt sau 6 tháng trồng và lô 2 tăng  
cao hơn nhiều so với lô 1, cao hơn khoảng 8,5  
lần. Điều này cũng có thể lý giải là do vai trò  
hoạt động của các vi sinh vật trong quyển rễ ở  
lô 1 nhiều hơn ở lô 2 dẫn đến hàm lượng dioxin  
trong rễ cỏ ở lô 1 thấp hơn và kết quả là hàm  
lượng dioxin trong chồi cỏ ở lô 1 cũng thấp  
hơn. Sau 11 tháng (đợt 2), lượng dioxin trong  
chồi giảm mạnh ở cả hai nghiệm thức, đặc biệt  
Bảng 2. Hàm lượng dioxin/ furan trong mẫu chồi qua các đợt thu mẫu tại Lô 1 (có bón DECOM1) và Lô 2  
(không bón DECOM1) (pg WHO-TEQ/g trọng lượng tươi)  
Kí hiệu mẫu  
G1-C1  
2378-TCDD  
11,80  
39,02  
11,48  
20,77  
33,24  
41,41  
63,32  
45,99  
1,71  
TEQwho  
11,84  
53,49  
13,34  
26,22  
271,92  
347,30  
65,19  
228,13  
1,74  
%TCDD  
99,7  
73,0  
86,1  
86,2  
12,2  
11,9  
97,1  
40,4  
98,3  
98,6  
99,0  
98,6  
99,3  
96,6  
82,3  
92,7  
98,8  
98,9  
99,2  
99,0  
99,1  
99,7  
99,7  
99,5  
G1-C2  
G1-C3  
Trung bình lô 1  
G2-C1  
Đợt 1  
(sau 6 tháng)  
G2-C2  
G2-C3  
Trung bình lô 2  
G1-C1  
G1-C2  
2,82  
2,86  
G1-C3  
4,08  
4,12  
Trung bình lô 1  
G2-C1  
2,87  
5,69  
3,90  
2,91  
5,73  
4,04  
Đợt 2  
(sau 11 tháng)  
G2-C2  
G2-C3  
7,61  
9,25  
Trung bình lô 2  
G1-C1  
5,73  
6,34  
3,34  
3,38  
G1-C2  
3,83  
3,87  
G1-C3  
3,02  
3,05  
Trung bình lô 1  
G2-C1  
3,40  
3,44  
Đợt 3  
(sau 18 tháng)  
3,34  
3,36  
G2-C2  
3,54  
3,55  
G2-C3  
11,99  
6,29  
12,02  
6,31  
Trung bình lô 2  
N.Q. Định và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
7
Hàm lượng dioxin trong mẫu đất giảm dần  
từ đợt 1 tới đợt 3 ở cả lô 1 và lô 2 (Hình 3). Đợt  
2, dioxin giảm khá nhiều so với mẫu đất thu đợt  
1, giảm khoảng 40% ở lô 1, còn ở lô 2 và lô đối  
chứng giảm khoảng 17%. Đến đợt thu mẫu thứ  
3, hàm lượng dioxin trong các mẫu đất cũng  
cho thấy một sự giảm xuống so với đợt 2 nhưng  
không rõ ràng, lô 2 giảm khoảng 9% so với đợt  
2, giảm nhiều hơn lô 1. Tuy nhiên, khi xét trong  
cả đợt thí nghiệm thì lô cỏ bón chế phẩm  
DECOM1, hàm lượng dioxin trong đất có xu  
hướng giảm nhanh hơn, giảm tới 38% (tương  
đương khoảng 702 pg TEQ) và lô 2 không bón  
chế phẩm giảm 24% (tương đương khoảng 735  
pg TEQ) sau một năm, ngược lại lô đối chứng  
hầu như không giảm (Hình 3). Như vậy, với lô  
bón DECOM1, lượng vi sinh vật tổng số có  
tăng cao hơn các lô khác, và đây có thể là nhân  
tố khiến hàm lượng dioxin trong lô này giảm  
nhanh hơn so với các lô khác.  
thấy hàm lượng dioxin trong đất quyết định  
hàm lượng dioxin được hấp thụ vào rễ cỏ. Do  
vậy, từ nghiên cứu này có thể bước đầu khẳng  
định rằng cỏ Vetiver giống Monto có thể làm  
giảm lượng dioxin trong đất. Khi Vetiver được  
kết hợp với chế phẩm DECOM1 có xu hướng  
giảm nhanh nhưng chưa thật rõ nét. Tuy nhiên,  
để có thể luận giải tốt hơn về khả năng làm  
giảm nhẹ ô nhiễm dioxin của cỏ Vetiver thì cần  
phải có nhiều nghiên cứu khác, chuyên sâu hơn  
về cơ chế hấp thụ, vv.  
3.2. Khả năng giảm nhẹ ô nhiễm Asen của cỏ  
Vetiver  
Khả năng xử lý ô nhiễm kim loại nặng của  
cây cỏ Vetiver đã được nghiên cứu khá nhiều  
trên thế giới cũng như ở Việt Nam [9, 10, 11,  
12]. Các nghiên cứu đều cho thấy hiệu quả xử  
lý ô nhiễm kim loại nặng của cỏ Vetiver. Ngoài  
ra, các nghiên cứu tại Việt Nam cũng cho thấy,  
một số loài thực vật thuộc họ dương xỉ có khả  
năng hấp thụ Asen trong đất rất cao và được coi  
là các loài siêu tích lũy (Pteris vittata và  
Pityrogramma calomelanos), chứa tới hơn  
0,1% As trong phần trên mặt đất của cây [13].  
Tóm lại, dựa vào kết quả thí nghiệm có thể  
khẳng định cỏ Monto Vetiver có khả năng hấp  
thụ dioxin vào bộ rễ khổng lồ của nó và lượng  
dioxin hấp thụ có thể sẽ được phân giải hoặc  
chuyển hóa thành các chất ít độc hơn. Hơn nữa,  
sự tìm thấy mối tương quan giữa hàm lượng  
dioxin trong đất và trong rễ (p<0,05) cũng cho  
Hình 3. a) Hàm lượng 2,3,7,8-TCDD (pg/g trọng lượng khô), và b) Hàm lượng dioxin/ furan (pg WHO-  
TEQ/g trọng lượng khô) trong các mẫu đất lấy tại các lô thí nghiệm.  
N.Q. Định và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
8
Nghiên cứu này cũng cho thấy khả năng  
và 34,8±1,09 mg/kg xuống còn 18,6±3,1;  
17,0±1,4 và 18,2±2,5 mg/kg, tương ứng trong  
lô 1, 2 và 3. So sánh giữa hàm lượng Asen  
trong mẫu đất đợt 2 và đợt 3 thấy rõ sự giảm  
xuống ở các lô 1 và 2 nhưng không thấy có sự  
giảm xuống ở lô 3. Kết hợp với kết quả phân  
tích sinh phẩm, có thể thấy rằng việc trồng cỏ  
Vetiver có khả năng làm giảm nhẹ ô nhiễm As  
trong đất; lô bổ sung chế phẩm DECOM1 có xu  
hướng giảm nhanh hơn, tuy sự khác biệt không  
nhiều, giảm 63% ở lô 1 và 59% ở lô 2 và 50% ở  
lô 3 so với lần lấy mẫu thứ nhất (5/2015), sau 1  
năm. Sở dĩ không thấy có sự khác biệt giữa lô 1  
và lô 2 về sự giảm As trong đất là do cơ chế  
loại bỏ As trong đất chủ yếu do sự hấp thu vào  
trong thân và rễ cây, vai trò của vi sinh vật  
không đáng kể. Như vậy, có thể sơ bộ kết luận  
rằng, cỏ Monto vetiver có thể làm giảm nồng  
độ As ở trong các vùng đất ô nhiễm Asen.  
hấp thụ Asen từ đất của cỏ Vetiver. Cụ thể là,  
hàm lượng Asen trong rễ và chồi cỏ tăng lên  
nhiều sau 6 tháng trồng so với mẫu trắng ban  
đầu (Mẫu trắng, rễ: 9,6 và chồi: 4,9 mg/kg) và  
cũng có xu hướng giảm xuống ở các lần lấy  
mẫu tiếp theo, sau 11 tháng và 18 tháng (Hình  
4). Hiện tượng này có thể lý giải dựa trên lý  
thuyết độc học của thực vật và sự phân giải chất  
độc do hoạt động của vi sinh vật. Cây cỏ hấp  
thu mạnh các chất độc trong giai đoạn sinh  
trưởng tích cực của chúng và sau đó tốc độ hấp  
thu này giảm dần, đồng thời quá trình thải độc  
và chuyển hóa bắt đầu tăng nhanh, trong đó có  
sự đóng góp của các vi sinh vật, để cây cỏ có thể  
thích nghi được với môi trường đất nhiễm độc.  
Hàm lượng Asen trong đất ở các lô thí  
nghiệm giảm xuống rõ rệt qua các đợt thu mẫu  
(Hình 5), đặc biệt là giữa đợt 1 và 2 (p<0,0001),  
giảm xuống gần một nửa; từ 36,6±4,2; 30,8±4,2  
Hình 4. Hàm lượng Asen (mg/kg trọng lượng tươi) trong mẫu rễ (a) và mẫu chồi (b) qua các đợt thu mẫu.  
Hình 5. Hàm lượng Asen (mg/kg trọng lượng khô) trong các mẫu đất lấy tại các lô thí nghiệm  
qua các đợt thu mẫu.  
Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
[5] J.M. Stellman, S.D. Stellman, R. Christian, T.  
Weber, & C. Tomasallo, The extent and patterns  
of usage of Agent Orange and other herbicides in  
Vietnam, Nature 422 (2003) 681.  
4. Kết luận  
Từ kết quả đạt được của thí nghiệm có thể  
[6] Đặng Văn Minh và Nguyễn Duy Hải, Nghiên cứu  
biện pháp xử lý sinh khối cây dương xỉ và Vetiver  
hấp phụ kim loại nặng sau khi trồng trên đất sau  
khai khoáng. Tạp chí Khoa học và Công nghệ 119  
(2014) 113.  
[7] Phan Ngọc Vân Anh, Phạm Hồng Đức Phước, Lê  
Quốc Tuấn, Cỏ vetiver (Vetiverit picnioides L.):  
một giải pháp sinh học mới trong xử lý nước thải  
1 (2002) 1.  
[8] Nguyễn, Văn Trường, Nghiên cứu khả năng sử  
dụng cỏ vetiver (Vetiveria zizanioides L.) để kiểm  
soát chất lượng môi trường nước ao nuôi tôm tại  
xã Tam Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng  
Nam. Doctoral dissertation, Trường Đại học Sư  
phạm, Đại học Đà Nẵng, 2012.  
[9] Truong, P.N., and D. Baker, Vetiver grass for the  
stabilization and rehabilitation of acid sulfate  
soils. In Proc. Second National Conf. Acid Sulfate  
Soils, Coffs Harbour, Australia, (1996) 196.  
bước đầu kết luận rằng cỏ Vetiver có khả năng  
làm giảm nhẹ ô nhiễm dioxin trong đất vùng ô  
nhiễm ở mức độ vừa. Tuy nhiên, để áp dụng  
rộng rãi công nghệ thân thiện với môi trường và  
giá thành thấp này trong xử lý các vùng đất ô  
nhiễm dioxin tại Việt Nam cũng như những nơi  
khác, thì cần thiết thực hiện thêm một số các  
nghiên cứu chuyên sâu khác.  
Bên cạnh đó, kết quả cũng khẳng định được  
khả năng hấp thụ và xử lý ô nhiễm Asen của cỏ  
Vetiver trong điều kiện thí nghiệm thực tế, bị  
chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan về thời  
tiết, khí hậu, các yếu tố nhân sinh không thể  
kiểm soát.  
Vai trò của chế phẩm DECOM1 trong thí  
nghiệm chưa thật rõ ràng. Cần làm rõ thêm.  
[10] P.N. Truong, D.H. Barker, A.J. Watson, S.  
Sombatpanit, B. Northcutt, & A.R. Maglinao,  
Vetiver grass technology for mine tailings  
rehabilitation. In First Asia-Pacific Conference on  
Ground and Water Bioengineering for Erosion  
Control and Slope Stabilization, Manila,  
Philippines, April 1999. Science Publishers, Inc,  
2004.  
[11] Võ Văn Minh, Lê Văn Khoa, Phytoremediation of  
Cadmium and Lead contaminated soil types by  
Vetiver grass. VNU Journal of Science, Earth  
Sciences 25 (2009) 98.  
Lời cảm ơn  
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Bộ Tài  
nguyên và Môi trường dưới dạng kinh phí của  
đề tài Khoa học Công nghệ cấp Bộ, mã số  
chương trình TNMT.04/10-15, mã số đề tài  
TNMT.04.66. Đặc biệt, chúng tôi xin chân  
thành cảm ơn các thành viên của Đề tài, phòng  
thí nghiệm Dioxin (Tổng cục Môi trường) và  
Trung đoàn 935 đối với sự đóng góp vô cùng  
quý giá của họ.  
[12] Võ Văn Minh, Hiệu quả xử lý đồng của cỏ vetiver  
trong các môi trường đất khác nhau. Tạp chí Khoa  
học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng 38 (2010)  
117.  
[13] Bui, Thi Kim Anh, Dinh Kim Dang, Trung Kien  
Nguyen, Ngoc Minh Nguyen, Quang Trung  
Tài liệu tham khảo  
Nguyen,  
and  
Hong  
Chuyen  
Nguyen,  
[1] Văn phòng Ban chỉ đạo 33, Báo cáo tổng thể về  
tình hình ô nhiễm dioxin tại ba điểm nóng: sân  
bay Biên Hòa, Đà Nẵng và Phù Cát (2013).  
[2] A.H. Westing (Ed.), Herbicides in War, The  
Long-Term Ecological and Human Consequences,  
Taylor and Francis, London and Philadelphia,  
1984.  
Phytoremediation of heavy metal polluted soil and  
water in Vietnam, The Journal of Vietnamese  
Environment 6 (2014) 47.  
[14] S. Marcacci, M. Raveton, P. Ravanel & J.P.  
Schwitzguébel, Conjugation of atrazine in vetiver  
(Chrysopogon zizanioides Nash) grown in  
hydroponics. Environmental and Experimental  
Botany 56 (2006) 205.  
[3] M. Gough, Dioxin, Agent Orange: The  
Facts.Plenum Press.New York, 1986.  
[15] K.C. Makris, K.M. Shakya, R. Datta, D. Sarkar, &  
D. Pachanoor, Chemically catalyzed uptake of 2,  
[4] P.F. Cecil, Herbicidal warfare: The ranch hand  
project in Vietnam, Praeger Publishers, New  
York, 1986.  
9
N.Q. Định và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
10  
4, 6-trinitrotoluene by Vetiveria zizanioides.  
Environmental pollution 148 (2007) 101.  
[20] United Nations Environment Program (UNEP),  
Guidance for Analysis of Persistent Organic  
Pollutants  
(POPs),  
Chemicals  
Branch.  
[16] C. Infante, I. Hernández-Valencia, L. López, &  
M. Toro, Phytoremediation of Petroleum  
Hydrocarbon–Contaminated Soils in Venezuela.  
UNEP/DTIE, Geneva, Switzerland, 2007b.  
[21] M. Van den Berg, L.S. Birnbaum, M. Denison, M.  
De Vito, W. Farland, M. Feeley, & M. Rose, The  
2005 World Health Organization reevaluation of  
human and mammalian toxic equivalency factors  
for dioxins and dioxin-like compounds.  
Toxicological Sciences 93 (2006) 223.  
Phytotechnologies:  
Remediation  
of  
Environmental Contaminants (2012) 99.  
[17] United Nations Environment Program (UNEP),  
Guidance on the Global Monitoring Plan for  
Persistent Organic Pollutants, 2007a.  
[22] Perkin-Elmer Corporation, Analysis of Soils and  
Sediments: Total Cations. AY-3 in Analytical  
[18] UNEP/POPS/COP.5/INF/27,  
Draft  
Revised  
Guidance on the Global Monitoring Plan for  
Persistent Organic Pollutants, 2011.  
Methods  
for  
Atomic  
Absorption  
Spectrophotometry, USA (1996) 136.  
[19] US EPA, Method 1613, Revision B: Tetra-  
through octachlorinated dioxins and furans by  
isotope dilution HRGC/HRMS, EPA 821-B94-  
0059. Office of Water, US Environmental  
Protection Agency, Washington, DC, 1994.  
[23] P.J.C. Favas, J. Pratas, M.N.V. Prasad,  
Accumulation of arsenic by aquatic plants in  
large-scale field conditions: Opportunities for  
phytoremediation and bioindication. Science of  
the Total Environment 433 (2012) 390.  
Đánh giá khả năng làm giảm nhẹ ô nhiễm Dioxin và Asen  
của cỏ Vetiver tại sân bay Biên Hòa  
Nguyen Quoc Dinh, Nguyen Thi Thanh Thao, Ngo Thi Thuy Huong  
Vietnam Institute of Geosciences and Mineral Resources, 67 Chien Thang, Ha Dong, Hanoi, Vietnam  
Abstract: This study aims to initially assess the potential use of Monto vetiver (Chrysopogon  
zizanioides L.) in mitigating dioxin contamination and the treatment of arsenic contaminated soils. The  
experiment was carried out in the field, consisting of 3 lots of 100 m2 each. Monto vetiver grass was  
planted on November 25, 2014 in two groups, lots 1 and 2, with the initial dioxin levels in soil of  
about 1000-1800 ppt TEQ, arsenic is about 25-30 mg/kg dry soil. Of which, The first group (G1)  
received DECOM 1, a soil supplement promoting growth of indigenous microorganisms in the  
rhizosphere, and the second group (G2) as a control, without supplement; the third group, lots 3, was  
left as blank (without Vetiver). The analyzed results showed that Vetiver grass was able to absorb  
dioxin into grass roots and was then transported to grass shoots; dioxin in soil was significantly  
decreased in both G1 and G2 and was slightly stronger in G1 compared to G2. The correlation  
between dioxin content in soil samples and root samples (p = 0.02, r = 0.53) showed the tight  
relationship between them. In addition, the results also showed that Vetiver can take up arsenic into its  
roots and tranported to the shoots and the abiliy of Vetiver in remediation of arsenic contaminated soils.  
In conclusion, the results confirm that Monto vetiver is suitable for phytoremediation of  
moderately dioxin and arsenic contaminated sites, particularly when combined with DECOM1  
Keywords: Vetiver grass; dioxin contaminated soils; Arsenic pollution; Phytoremediation.  
pdf 10 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 16640 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá khả năng làm giảm nhẹ ô nhiễm Dioxin và Asen của cỏ Vetiver tại sân bay Biên Hòa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_kha_nang_lam_giam_nhe_o_nhiem_dioxin_va_asen_cua_co.pdf