Ứng dụng mô hình hồi quy logistic dự báo ống bể trên hệ thống phân phối nước
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH HỒI QUY LOGISTIC DỰ BÁO ỐNG BỂ
TR ÊN HỆ THỐNG PHÂN PHỐI NƯỚC
Phạm Thị Minh Lành
ĐH Bách Khoa Tp. Hồ Chí Minh
Phạm Hà Hải
ĐH Kiến Trúc Tp. Hồ Chí Minh
Vũ Thị Vân Anh
ĐH Tài nguyên và Môi trường TPHCM
Trương Thị Thu Hằng
ĐH Thủy Lợi, số 2 Trường Sa
Nguyễn Quang Trưởng và Lê Đình Hồng
ĐH Bách Khoa Tp. Hồ Chí Minh
Tóm tắt: Hiện tượng bể ống cấp nước thường xuyên xảy ra trên các hệ thống phân phối không
những gây nên những tổn thất về mặt kinh tế cho các công ty cấp nước mà còn là nguy cơ để các
chất ô nhiễm xâm nhập vào đường ống cấp nước. Một số mô hình đã được phát triển để xác định
khả năng xảy ra ống hỏng từ số liệu thống kê hoặc thực nghiệm, tuy nhiên đa số các mô hình đều
giới hạn cho vật liệu ống kim loại, trong khi số lượng ống nhựa như uPVC, HDPE được sử dụng
rất nhiều trên mạng lưới lại bị bỏ qua. Trong bài báo này sẽ đề xuất mô hình hồi quy logistics để
xác định mối liên quan giữa hiện tượng ống bể và các đặc điểm của đường ống trên mạng lưới
phân phối, từ đó đưa ra dự báo về xác suất bể ống cho tất cả các loại vật liệu ống dẫn trên mạng
lưới cấp nước. Kết quả của mô hình được kiểm chứng cho mạng lưới phân phối nước quận Hải
Châu thành phố Đà Nẵng.
Từ khóa: ống cấp nước; mô hình hồi quy logistic; hệ thống phân phối nước; phần mềm R.
Abstract: Pipe failure phenomenon often have on water distribution systems, it is not only
causes economic losses to water supply companies, but also the risk of pathogen contaminant
intrusion into the pipe. Some models were applied to define probability of pipe failure by statistic
data or experimental data, but most models are limited to metal materials, however the number
of plastic as UPVC, HDPE is used popular on the network again ignored. In this paper, we
propose a logistic regression model to determine the relationship between the likelihood of pipe
failure and pipe characteristics on the water distribution systems for all pipe materials. Results
of model will be apply for water distribution system in Hai Chau district, Da Nang city.
Keywords: water supply pipe; Logistic Regression Model; water distribution systems; R software.
1. GIỚI THIỆU *
cạnh đó hoạt động sửa chữa cũng làm ảnh
hưởng đáng kể đến chất lượng phục vụ của hệ
thống, chưa kể đến khả năng làm gián đoạn
giao thông của khu vực đặt ống. Để giảm thiểu
chi phí quản lí đồng thời ngăn chặn nguy cơ
lan truyền bệnh qua hệ thống phân phối nước,
cần phải có một kế hoạch bảo dưỡng hợp lí và
thay thế kịp thời các đường ống có nguy cơ
giảm hiệu suất làm việc hay không còn khả
năng phục vụ. Một trong những cơ sở quan
trọng để xây dựng quy trình này là dự báo khả
Mỗi ngày, các công ty cấp nước đều ghi nhận
các sự cố bể vỡ trên tuyến ống đặc biệt là các
tuyến ống dịch vụ và vẫn tốn thêm chi phí để
tìm rò bể trên các tuyến ống cấp I, II [1]. Đôi
khi chi phí để sửa chữa đoạn ống nhiều lần sẽ
cao hơn so với việc lắp đặt ống mới [2]. Bên
Ngày nhận bài: 27/6/2017
Ngày thông qua phản biện: 22/7/2017
Ngày duyệt đăng: 28/7/2017
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017
1
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
năng ống bể trên hệ thống phân phối nước. ANN để tăng hiệu suất mô hình [6], kết quả
Vậy nên, nghiên cứu được thực hiện với các cho thấy tuổi ống ảnh hưởng đến điều kiện
mục tiêu sau:
đánh giá là 20,95%, vật liệu là 17,49 % và tỉ lệ
bể ống 13,13%, mục đích cung cấp nước của
từng đoạn ống cũng được cho là ảnh hưởng tới
khả năng bể ống là 2,85%. Một trong những
nhược điểm của mô hình ANN là thời gian
chạy mô hình lớn và chi phí cho khảo sát số
- Đánh giá các yếu tố liên quan tới khả năng
hỏng của ống dẫn nước cấp.
- Đề xu ất mô hình dự báo ống bể trên hệ thống
phân phối.
Nghiên cứu được giới hạn trong các nội dung liệu đầu vào khá cao, vậy nên mô hình mới chỉ
sau:
đáp ứng cho nghiên cứu học thuật.
- Bỏ qua đặc điểm hình học của điểm bể (bể
do vết nứt dọc, vết nứt vòng hay vết nứt
ngang).
Các mô hình hồi quy tuyến tính được áp dụng
phổ biến cho dự báo khả năng làm việc của
ống do nội dung phương pháp đơn giản và
được Andreou,1987 đánh giá đạt kết quả chính
xác đến 70% [7], đồng thời tác giả cũng nhận
định ống hỏng phụ thuộc vào đường kính, vị
trí đặt ống, nguyên nhân gây bể và không phụ
thuộc vào độ tuổi. Những kết luận đánh giá về
tỉ lệ bể bị ảnh hưởng bởi lần vỡ thứ hai cũng
được đưa ra từ mô hình tuyến tinh, những ống
bể sớm sau giai đoạn cài đặt sẽ có tỉ lệ nguy cơ
cao hơn những ổng bể ở giai đoạn sau này [8].
- Ống dẫn làm việc trong điều kiện bình
thường, không xét tới sự cố bất thường gây
nên bể ống và các trường hợp bể tại phụ tùng
đấu nối.
- Khu vực áp dụng là dự báo khả năng ống
hỏng trên mạng lưới cấp nước quận Hải Châu,
thành phố Đà Nẵng.
2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU
Ống cấp nước bị bể là tập hợp của các yếu tố
đã phân tích ở trên, để đánh giá mức độ ảnh
hưởng của các yếu tố này bằng phương pháp
thống kê tác giả thường sử dụng các mô hình
số mũ, hồi quy tuyến tính, mô hình Bayesian,
Poisson. Mỗi mô hình có một ưu điểm riêng và
phù hợp với số liệu khảo sát.
So sánh hiệu quả các mô hình hồi quy tuyến
tính, Poisson, số mũ tác giả [9] đề xu ất mô
hình số mũ thời gian và Poisson là mô hình dự
báo chính xác nguy cơ bể, đặc biệt là đếm
được số lần không bể. Đường kính ống , vật
liệu, khu vực bao phủ là rừng, đất nông
nghiêp, giao thông, và biến đo đếm được như
nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm của đất là một
trong nhưng nguyên nhân gây nên bể vỡ trong
hệ thống. Nghiên cứu này lại đưa ra kết luận
khác với tác giả [8]: tỉ lệ bể vỡ tăng theo thời
gian tính từ lần bể cuối cùng.
Nhận định ban đầu cho rằng khả năng ống
hỏng phụ thuộc vào thời gian làm việc, tác giả
[3] đã đưa ra mô hình số mũ để mô tả hiện
tượng này và mô hình này tiếp tục được phát
triển bởi Ossman năm 2011 [4], từ lịch sử bể
ống để dự báo xác suất hỏng trong tương lai
tuy nhiên dữ liệu khảo sát chưa đề cấp tới các
yếu tố liên quan tới môi trường làm việc của
ống như điều kiện áp suất, môi trường trong và
ngoài ống. Một số nghiên cứu tiếp cận theo
Hồi quy Bayesian là mô hình mới được áp
dùng trong các nghiên cứu gần đây, với những
ưu điểm của mô hình đã giúp bài toán có kết
quả chính xác hơn các phương pháp trước.
Đánh giá các yếu ảnh hưởng là các biến không
phương pháp mạng ANN để xác định hiệu suất chắc chắn [10] chạy mô hình tính được hệ số
làm việc của hệ thống cũng như tỉ lệ hỏng ống ảnh hưởng của điều kiện ống và môi trường
trong thời gian làm việc [5], ngoài ra còn đề xung quanh cho từng loại vật liệu. Kết quả cho
xuất đưa phân tích phân tầng vào mô hình thấy ảnh hưởng của các tính chất vật lí ống
2
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
dẫn quan trọng hơn tác động của môi trường Nội dung 2: Dự báo xác suất hỏng của ống (P)
đặt ống, đặc biệt các vật liệu CI và DI có khả làm việc trong môi trường thực tế.
năng bể cao hơn do tác động của nhiệt độ và
lượng mưa.
Nghiên cứu được thực hiện qua các bước như
hình 1. Nội dung nghiên cứu sẽ tập trung nhiều
Phân tích các nghiên cứu trước đây, đề tài đưa hơn tới đặc điểm hình học của mạng lưới ống
ra một số kết luận sau:
dẫn cũng như vị trí tuyến đường đặt ống, tổng
chiều dài trong một DMA của mạng.
- Để xác định được tỉ lệ ăn mòn trên các ống
thực tế rất khó thực hiện nên các nghiên cứu
hiện nay mới dừng ở hai vật liệu là ống gang
và ống thép. Bên cạnh đó, đa số các đường
ống cấp nước được chôn dưới mặt đất nên chi
phí lấy mẫu sẽ rất tốn kém, các mẫu ống
thường chỉ khảo sát trên một tuyến đường như
vậy tính chất đại diện của mẫu nghiên cứu
chưa cao. Vậy nên các kết luận về bể vỡ ống
do ăn mòn hay không phải do ăn mòn cần phải
được nghiên cứu nhiều hơn trong tương lai.
Các yếu tố liên quan tới
xác suất bể ống cấp
Phân tích điều kiện
ống cấp nước
Mô hình hồi quy
Mô hình dự báo
ống bể
logistic
Mô tả số liệu
Áp dụng mô hình
Kiểm định mô hình
Kiểm chứng mô
hình
- Thông số đại diện cho ăn mòn là độ tuổi ống
dẫn và đã được chứng minh là có mối tương
quan giữa tuổi bể vỡ và khả năng xuất hiện bể
ống, không những thế những ống bể sớm thì
tuổi thọ ống dẫn sẽ ngắn hơn những ống bể
muộn hơn. Yếu tố vật liệu ống, môi trường
làm việc và vị trí đặt quan trọng hơn là độ tuổi
khi xem xét khả năng bể vỡ.
Kết luận
Hình 1. Nội dung nghiên cứu dự báo ống hỏng
trên HTPPN
Hệ thống cấp nước của Việt Nam bắt đầu số
hóa khoảng từ năm 2013 và vẫn đang trong
giai đoạn hoàn chỉnh, đồng bộ hóa thông tin,
vậy nên trong quá trình thu thập dữ liệu có
những số liệu không có khả năng thu thập
cũng như thời gian thực hiện không cho phép
nên giới hạn đề tài đặt ra là phân tích trên
những số liệu thu thập được từ hệ thống thông
tin GIS của hệ thống cấp nước. Vì vậy kết quả
của đề tài có thể không đánh giá chi tiết được
các điều kiện liên quan như chỉ số dẫn điện, độ
ẩm của môi trường đất bên ngoài hay chỉ số
oxy hóa tan của nước trong đường ống, giá trị
lực tác dụng từ nền đường cho từng đoạn ống.
Tuy nhiên mô hình đề xuất trong nghiên cứu
lại có tính áp dụng thực tế tốt hơn, từ những
dữ liệu GIS của công ty cấp nước hoàn toàn có
thể ước lượng khả năng ống bể mà không phải
- Đường kính ống dẫn là một trong những
thông tin đáng tin cậy để dự báo khả năng bể
vỡ, các tác giả cho thấy tỉ lệ ống hỏng tăng
theo đường kính với những ống có đường kính
nhỏ 300mm, tuy nhiên kết quả này được lưu ý
là còn phụ thuộc vào diện tích thành phố khảo
sát. Áp suất làm việc trong ống cũng cần xem
xét cụ thể hơn về mức độ ảnh hưởng tới khả
năng ống bể.
Cải thiện kết quả của các nghiên cứu trước đây
và phát triển mô hình dự báo ống bể trong điều
kiện Việt Nam, tác giả đặt ra nội dung chính
cần nghiên cứu như sau:
Nội dung 1: mức độ ảnh hưởng của các yếu tố
tới sự kiện ống hỏng trên hệ thống cấp nước và
trong các yếu tố đó thì yếu tố nào ảnh hưởng
nhiều nhất tới sự kiện ống hỏng.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017
3
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
thu thập hay khảo sát cụ thể từng vị trí đặt ống sự kiện ống hỏng.
trên mạng lưới.
Vật liệu ống dẫn (Mat)
Các yếu tố ảnh hưởng tới ống hỏng được xem
Tính chất cơ học của vật liệu là khác nhau, vật
xét trong đề tài bao gồm các đặc trưng vật lí
của hệ thống (D, L, Mat), chỉ số độ tuổi (A)
đại diện cho tỉ lệ ăn mòn và giá trị áp suất
trung bình làm việc của ống (P). Ngoài ra các
đại lượng đặc trưng cho đặc điểm hình học của
mạng lưới bao gồm vị trí tuyến đường đặt ống
(R), số đoạn ống kết nối trên một tuyến ống
(N0), tổng chiều dài ống trong một DMA và số
lần bể vỡ trước đây (Prior) cũng được khảo sát
để đưa vào mô hình thống kê.
liệu kim loại được cho là dễ ăn mòn hơn trong
môi trường ẩm ướt trong khi vật liệu nhựa lại
dễ bị lão hóa và khả năng chịu tải được cho là
kém hơn [20]. Trong mạng lưới phân phối
nước đô thị, những ống truyền tải thường sử
dụng vật liệu kim loại như SS, ST đặc biệt là
vật liệu gan g xám (CI) tron g thời gian trước
đây được sử dụng phổ biến, nên đa số các
nghiên cứu bể ống hiện nay cũng tập trung
xem xét vật liệu này. Tuy nhiên, nghiên cứu
ống hỏng cần có dự báo rộng hơn trong tương
lai nên hướng tiếp cận cần đa dạng hơn cho tất
cả các loại vật liệu. Trong nghiên cứu này, các
vật liệu trong số liệu thống kê đều được xem
Độ tuổi ống dẫn (A)
Tuổi ống không phải là yếu tố ảnh hưởng trực
tiếp tới nguy cơ ống bể nhưng là giá trị hiển
thị dễ nhất để nhận biết khả năng làm việc của
ống. Với cùng một độ tuổi nhưng điều kiện vật xét, bao gồm SS, ST, DI, CI, uPVC, HDPE và
lí khác nhau và môi trường làm việc khác nhau cả những ống AC (xi măng amiăng).
thì xác suất xẩy ra ống hỏng cũng không giống
nhau. Nhưng nếu dùng độ tuổi để xem xét thời
Đường kính ống dẫn D(mm)
Là đại lượng đặc trưng cho cho khả năng vận
điểm xảy ra bể vỡ nhiều đột ngột trong một
chuyển nước của đường ống, với nhận định
giai đoạn nhất định thì cũng có thể phát hiện ra
ban đầu cho thấy xác suất ống hỏng sẽ giảm
những yếu tố ảnh hưởng đặc biệt hoặc dự báo
khi đường kính ống tăng. Theo yêu cầu sản
một sự kiện bất thường trong tương lai. Vậy
xuất, chiều dày thành ống cũng tăng theo độ
lớn của đường kính.
nên cần thiết phải đưa biến độ tuổi vào trong
dữ liệu khảo sát.
Áp lực làm việc trung bình trong DMA (m)
Số lượng nút đấu nối t rên một tuyến ống
dẫn (N0)
Áp lực làm việc thay đổi theo cấp ống phân
phối và thời gian làm việc, không những thế
áp lực ống dẫn cũng có thể thay đổi khi xảy ra
áp va hoặc khu vực lắp đặt sửa chữa ống
thường xuyên. Ngoài lực tác động lên thành
ống, giá trị áp lực nước trong ống dẫn còn làm
ảnh hưởng tới mức độ xáo trộn hóa chất và
lắng cặn. Áp lực yếu hoặc bằng 0 sẽ tạo điều
kiện cho cặn bám dính vào thành ống làm
giảm khả năng làm việc, khi áp lực dao động
lại gây nên hiện tượng bào mòn vật liệu ống
[17]. Quá trình lặp lại nhiều lần theo thời gian
làm bề mặt ống dẫn không còn trơn nhẵn như
lúc mới lắp đặt, một số vị trí bị lồi do lắng cặn,
một số vịtrị khác lại bị bào mòn. Bề mặt vật liệu
Tổn thất cục bộ xuất hiện tại các vị trí chuyển
hướng nước chảy và tổn thất này thường được
bỏ qua trên mạng lưới đường ống dẫn nước và
trong tính toán cũng cho thấy giá trị này không
làm ảnh hưởng nhiều tới áp lực làm việc trên
đường ống. Tuy nhiên nếu xét về mặt xáo trộn
dòng chảy trong ống thì qua mỗi nút dòng
chảy có sự xáo trộn nhất định. Nếu đánh giá tỉ
lệ ăn mòn bề mặt trong của ống dẫn ngoài tác
động của nồng độ hóa học và tính chất vật lý
của nước thì xáo trộn dòng chảy giúp hóa chất
được trộn đều hơn trên đường ống và giảm
hiện tượng lắng cặn. Vậy nên số lượng điểm
đấu nối trên một tuyến ống cũng ảnh hưởng tới
4
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
ngày càng khả năng chịu tải khả năng bể ống
Chiều dài ống dẫn L(km)
mỗi đoạn ống khảo sát.
3.ĐỀXUẤT MÔ HÌNHDỰBÁOỐNG HỎNG
Có nhiều quan điểm khác nhau khi dự báo xác Giới thiệu phần mềm R
suất hỏng theo chiều dài ống, nghiên cứu gần
Được phát triển từ năm 1996 bởi Ross Ihaka
đây nhất cho rằng ống hỏng tăng khi chiều dài
giảm nhưng có nghiên cứu lại cho rằng ống
hỏng không tăng theo chiều dài mà tăng theo
chiều dài bình phương. Trên phương diện thủy
lực cho thấy, dọc theo chiều dài đường ống áp
lực dòng chảy trong ống giảm dần như vậy nguy
cơ hỏng ống do tải trọng nước bên trong ống
cũng giảm. Tuy nhiên nếu xét tới các tác độngtừ
bên ngoài thì đoạn ống càng ngắn, ngoại lực tác
dụng lên thành ống càng nhỏ khi đó nguy cơ ống
hỏng lại tỉ lệthuận với chiều dài.
và Robert Gentleman [11] phần mềm R là một
ngôn ngữ phân tích thống kê mới thay thế cho
các phần mềm thống kê thương mại như SPSS,
SAS, Stata, Stastistica. Ngôn ngữ R nhanh
chóng được các nhà thống kê học hưởng ứng
và tham gia xây dựng các công cụ hỗ trợ cho
phần mềm, sau hơn 10 năm R đã trở thành
ngôn ngữ thống kê phổ biến cho các nhà
nghiên cứu.
R là phần mềm có mã nguồn mở sử dụng cho
thống kê và biểu diễn biểu đồ, có thể chạy trên
môi trường Window, MacOS và UNIX. Phần
Tuyến đường đặt ống R
Mỗi tuyến đường đặt ống là một đại lượng đặc mềm có thể đọc dữ liệu trực tiếp hoặc đọc file
trưng cho môi trường đất xung quanh ống cũng từ Excel (.csv); SA S; SP SS; Stata; text;….
như tải trọng tác dụng bên ngoài ống dẫn nước.
Môi trường R có thể làm việc với các biến số
cũng như biến ký tự chữ cái, mỗi đối tượng
được tạo ra sẽ lưu trong bộ nhớ cho đến khi
thoát khỏi môi trường R. Phần mềm linh hoạt
trong quá trình xử lý số liệu thống kê bằng
cách phân loại thành các nhóm, thay thế biến
từ kí tự sang số và ngược lại, nhập tách dữ liệu
hoặc loại bỏ các số liệu trống.
Tổng chiều dài đường ống trong một DMA
Mỗi DM A đặc trưng cho số lượng đối tượng
phục vụ và khoanh vùng khu vực thủy lực, từ
đó được sử dụng để kiểm soát rò rỉ trên hệ
thống phân phối. Quy mô của mỗi DMA sẽ
quyết định công suất phục vụ của từng đường
ống, với cùng một loại đường kính và chiều
dài ống nhưng số lượng đối tượng đấu nối
nhiều thì chế độ thủy lực trên đường ống sẽ
thay đổi nhiều hơn so với những ống có đối
tượng đấu nối ít và điều này có ảnh hưởng
đáng kể tới khả năng xảy ra ống hỏng.
Với các ưu điểm trên, đề tài lựa chọn ngôn
ngữ R để xây dựng hai mô hình hồi quy
logistic từ đó dự báo xác suất ống hỏng và so
sánh với dữ liệu thực tế.
Mô hình hồi quy logistic
Lịch sử bể ống (Prior)
Trong các nghiên cứu về dự báo ống hỏng chủ
yếu là phân tích tương quan giữa nguy cơ ống
hỏng và các yếu tố ảnh hưởng tới nguy cơ
hỏng. Đối tượng phân tích thường được thể
hiện qua biến số nhị phân như hỏng/không
hỏng, xảy ra/không xảy ra. Yếu tố ảnh hưởng
là biến liên tục (tuổi ống, đường kính, chiều
dài, số điểm đấu nối,…). Trong các nghiên
cứu trước đây thường áp dụng mô hình tuyến
tính bằng cách quy đổi biến ống hỏng về thành
biến liên tục là số lần hỏng trên 1km ống trong
Theo công bố các nghiên cứu trước đây, lịch
sử bể vỡ có ảnh hưởng đáng kể tới khả năng
ống hỏng trong tương lai, với những ống đã bị
bể thì khả năng xảy ra lần bể tiếp theo sẽ cao
hơn những ống chưa bể lần nào.
Như vậy cần xác định tương quan giữa 9 biến
ảnh hưởng tới 1 biến ống hỏng :
F~ A + N0 + D + Mat + P + L+ La+ R + Prior
Từ đó dự báo xác suất xảy ra ống hỏng Pf trên
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017
5
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
1 năm [12], tuy nhiên cách quy đổi này chưa Logit. Yếu tố nguy cơ là xác suất xảy ra một
xác định được xác suất hỏng cho từng đường sự kiện theo thời gian và chỉ số khả năng Odds
ống mà chỉ dừng lại ở việc ước tính độ tương cho biết xác suất biến cố xẩy ra trên xác xuất
quan giữa yếu tố ảnh hưởng và tỉ lệ ống hỏng biến cố không xảy ra
trên mạng lưới.
n
x
i i
P
Hồi quy logistic là một thuật toán phân lớp
được sử dụng để dự báo biến nhị phân, có thể
coi đây là một trường hợp đặc biệt của hồi quy
tuyến tính. Trong hồi quy logistic, biến Y chỉ
có hai trạng thái 0 (ống không hỏng) và 1 (ống
hỏng). D.R. Cox là người đầu tiên đưa ra mô
hình hồi quy logistic vào năm 1969, mô hình
được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu tự
nhiên cũng như xã hội. Ý nghĩa mô hình này
bao gồm:
Odds
e i1
1P
Chỉ số “logit (P) = log (Odds)” là đại lượng
đặc trưng của mô hình logistic. Mô hình này
được viết cho một biến như sau:
n
i1
logit( P) x
i i
n
x
i1
n
i i
e
P
hay
x
i i
- Mô tả mối liên quan giữa biến tiên lượng
(A, N0, Mat, D, P, ,L, R , La, Prior là biến
liên tục) và biến phụ thuộc (xác suất ống
1e i1
Trong đó: α - Tỉ lệ hiện hành
hỏng F là biến nhị phân), không tuân theo βi- Tỉ số liên quan tới một đơn vị tăng của Xi
luật phân phối chuẩn.
Tuy nhiên trong thực tế, giá trị dự báo không
- Kiểm soát biến nhiễu (Prior)
chỉ phụ thuộc vào một yếu tố mà là tập hợp
của nhiều biến nên phương trình của mô hình
hồi quy logistic đa biến được áp dụng cho
trường hợp này:
- Phát triển mô hình tiên lượng. Mô hình
không sử dụng bình phương tối thiểu (OLS) để
dự đoán tham số mà sử dụng ước lượng cực
đại (MLE).
L
e
logit(P) x x ... x L
1 1 2 2 P P
µ
vậy P
L
1e
Có thể khái quát mô hình hồi quy logistic được
áp dụng cho bài toán dự báo ống hỏng như sơ
đồ sau:
µ
Dấu mũ P để chỉ số ước tính chứ không phải
là xác suất quan sát. Nếu mô hình mô tả số liệu
µ
đầy đủ thì khác biệt giữa P và P nhỏ, nếu
không thích hợp thì độ khác biệt này
(deviance) có thể cao. Đánh giá mô hình hồi
quy logistic bằng hai chỉ số :
F = 0|1
Logit(F)=
Mô hình
n
hồi quy
logistic
X L
i
i
Yếu tố:
X
i1
- Tương tự như hệ số tương quan bình phương
thì AIC là hệ số phạt để đo mô hình hồi quy
logistic tối tưu. Mô hình nào có AIC nhỏ nhất
là mô hình tốt nhất.
L
e
P
f
L
1e
Hiệu quả mô hình
- Chỉ số Null deviance hay Residual deviance
càng thấp thì cho mô hình càng tốt.
Hình 2. Mô hình hồi quy logistic
Kiểm chứng mô hình
Số liệu khảo sát được thu thập từ mạng lưới
phân phối của quận Hải Châu (HC) thuộc
Các thông số cơ bản của mô hình hồi quy
logistic đó là yếu tố nguy cơ, chỉ số Odds và
6
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
thành phố Đà Nẵng. Tổng chiều dài mạng lưới x10 cột). Nguyên nhân dẫn đến bể ống từ hồ
là 304,27 km ống trong đó ống uPVC có chiều sơ sửa chữa ống bể của công ty bao gồm bể do
dài lớn nhất là 80,6 km ống với tổng số lần bể bản thân vật liệu ống, do yếu tố bên ngoài tác
vỡ ghi nhận là 162 cho tất cả các loại đường động và bể tại các nút đấu nối. Mục tiêu đề tài
ống có đường kính lớn hơn hoặc bằng 100mm. tập trung phân tích hỏng do ống bị lão hóa
Vật liệu có chiều dài ống ngắn nhất là SS theo thời gian nên F=1 trong Bảng 1 chỉ bao
(0,81km) với độ tuổi trung bình là 5,75 tuổi.
gồm các số liệu ống hỏng do nguyên nhân này.
Số liệu thống kê bao gồm các yếu tố ảnh - Nếu ống hỏng tại độ tuổi A thì F=1, nếu
hưởng A, N0, Mat, D, P, L, R, La, Prior và số không hỏng thì F=0 lúc này A là tuổi ống tính
liệu ống hỏng F của quận HC là (1979 hàng đến thời
Bảng 1. Dữ liệu mẫu sử dụng cho mô hình dự báo
F
(1)
0
0
0
1
1
1
1
A
(2)
16.07
5.75
10.76
6.46
13.28
15.44
16.84
N0
(3)
8
Mat
(4)
uPVC
uPVC
uPVC
DI
ST
uPVC
uPVC
D
(5)
P
(6)
8.9
8.9
L
(7)
R
(8)
La
(9)
Prior
(10)
No
No
No
No
No
No
1st
100
100
150
100
150
300
300
0.002
0.000
0.000
0.074
0.012
0.137
0.137
1299
1299
1267
1179
1259
1140
1140
31.85
31.85
31.85
62.56
18.36
22.94
22.94
8
10
11
35
15
15
8.9
16.27
8.06
12.81
11.83
- N0, L, R lần lượt là số điểm đấu nối, chiều Số liệu khảo sát ống hỏng được ghi nhận
dài ống dẫn, tuyến đường được đặt ống lấy từ trong 7 năm từ cuối năm 2010 đến tháng 4
dữ liệu GIS của công ty.
năm 2016 cho thấy tỉ lệ ống bể trung bình
của các loại vật liệu có sự khác nhau như
Hình 3. Qua biểu đồ thống kê tỉ lệ bể vỡ qua
các năm cho thấy giá trị này có xu thế giảm
theo từng loại vật liệu ống, trong đó ống AC
có tỉ lệ bể vỡ lớn nhất còn ống CI lại có số
lượng bể vỡ trên mạng lưới nhỏ nhất. Số lần
hỏng ống ghi nhận được trên mạng lưới lớn
nhất là ống uPVC (79 lần bể trong 6 năm)
tuy nhiên do tổng chiều dài vật liệu uPVC là
- Mat là vật liệu ống dẫn, bao gồm AC, CI, DI,
HDPE, SS, ST và uPVC
- D là đường kính ống dẫn. Đề tài tập trung
nghiên cứu các đường ống có đường kính
D≥100mm vì số liệu bể vỡ gh i nhận trên các
ống có đường kính nhỏ hơn đa số là do
khách hàng hoặc các công trình thi công gần
tuyến ống.
- P là giá trị áp lực trung bình làm việc của lớn nhất trên mạng lưới nên tỉ lệ bể đối với
đoạn ống được nội suy từ dữ liệu cảm biến áp vật liệu này chỉ đứng thứ 3, số liệu bể không
lực trên mạng lưới.
được ghi nhận trên ống sắt SS. Các nghiên
cứu trước đây cho thấy ống có vật liệu DI có
khả năng bể cao hơn các vật liệu khác và kết
luận này cũng đúng cho dữ liệu quận Hải
Châu, Đà Nẵng.
- Cột Prior ghi nhận nếu ống hỏng lần thứ nhất
là No, nếu ống hỏng lần thứ 2 thì lịch sử bể vỡ
Prior=1st tương tự cho ống hỏng lần thứ 3 thì
Prior=2nd.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017
7
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
Hình 3.Thống kê số lần bể vỡ theo chiều dài
ống trên mạng lưới
Từ số liệu thống kê, so sánh độ tuổi ống dẫn
trong nhóm hỏng và không hỏng Hình 4 cho
thấy tuổi ống trong nhóm hỏng (F=1) nhỏ hơn
nhóm không hỏng (F=0), số liệu F=1 có phần
diện tích 25% phía dưới trung vị lớn hơn, điều
này chứng tỏ xu hướng ống hỏng ở độ tuổi trẻ
nhiều hơn độ tuổi già, còn trong tập F=0 thì
trung vị chia hai phần tương đối đồng đều. Số
liệu ống không hỏng của quận HC xuất hiện
hai giá giới hạn hộp không nằm tron g giới hạn
hộp, để xem xét hai giá trị này có phải giá trị
ngoại vi (Outlier) hay không cần kiểm định số
liệu để biết rõ hơn.
Hình 5. Biểu đồ quan hệ giữa A~Mat
quận HC
Những ống có thời gian làm việc lâu nhất so
với các ống khác trên mạng lưới là vật liệu
uPVC (HC:17,42. Được cho là vật liệu có độ
bền cao và linh hoạt trong quá trình thi công
lắp đặt, HDPE mới được đưa vào sử dụng phổ
biến trong những năm gần đây, nhưng số liệu
khảo sát lại cho thấy tuổi ống nhỏ nhất (0,36
tuổi) lại xuất hiện trên vật liệu này, bên cạnh
đó xét tổng quát thì thời gian làm việc thực tế
của ống cũng nhỏ hơn các vật liệu khác. Một
phần nguyên nhân là do kĩ thuật thi công mối
hàn không đúng kết hợp với tải trọng khu vực
đặt ống và môi trường đất gây nên bể ống.
Số liệu bể cũng không tuyến tính với chiều dài
mạng lưới, năm 2012 tỉ lệ bể vỡ ống tăng đột
biến, nhưng đến năm 2015 lại giảm xuống
mức thấp nhất trong các năm. Lượng ống bể
giảm do mạng lưới được cải thiện về công
nghệ cũng như phương pháp quản lí. Tuổi ống
khảo sát lớn nhất tại quận HC là 36,5 tuổi và
nhỏ nhất là 0,36 tuổi trong đó tuổi hỏng ống
trung bình khoảng 10 tuổi.
Biểu đồ phân bố mật độ dùng để đo tần số xuất
hiện của một biến số từ đó thấy rõ sự thay đổi
hay biến động của dữ liệu, qua đó có thể phát
hiện sai sót trong số liệu đầu vào. Hình 6 cho
thấy số lượng ống bể giảm từ đường kính 100-
Hình 4. Biểu đồ so sánh độ tuổi (A)
ống hỏng và không hỏng
8
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
200 mm nhưng lại tăng ở D300mm.
biến liên tục là độ tuổi (A) của ống dẫn và biến
chữ (Mat) là vật liệu ống để phân tích ý nghĩa
kết quả của mô hình đề xuất, sau đó ứng dụng
mô hình hồi quy logistic cho tổ hợp các yếu tố
ảnh hưởng và dự báo xác suất hỏng cho từng
ống trong tập số liệu.
Kiểm chứng mô hình hồi quy logistic
Sử dụng hàm glm trong phần mềm R để phân
tích số liệu ống hỏng và không hỏng. Nghiên
cứu tiến hành phân tích hai biến đại diện cho
Hình 6. Biểu đồ phân bố các yếu tố của hệ thống cấp nước Hải Châu
-1,47-0,16( A)
1, 47-0,16( A)
Phân tích mức độ ảnh hưởng của biến tuổi thọ
đến nguy cơ hỏng ống
e
Logit(p) =-1,47 - 0,16.(A) Vậy p
1e
Theo đó, khi A=5 thì p=0,094 và A= 5 -
sd(A)= 0,48 (giảm 1 độ lệch chuẩn) thì p=0,18
vậy xác suất hỏng ống tăng 0,48/0,094 =
5,13%.
Với F=0 thì độ tuổi ống dẫn được tính đến
thời điểm khảo sát, số liệu ống hỏng F=1 thì
độ tuổi A được ghi nhận tại thời điểm ống
hỏng. Xem xét tương quan giữa biến F và A
trong mô hình hồi quy logistic có kết quả như
Bảng 2. Như vậy, khi độ tuổi tăng một độ
lệch chuẩn thì khả năng ống bể ống giảm
37%. Qua mô hình có thể biểu diễn mối
tương quan giữa tuổi ống và nguy cơ ống
hỏng theo phương trình sau:
Bảng 2. Kết quả mô hình logistic F~A
Deviance Residuals:
Min
1Q Median
3Q Max
-0.6242 -0.3768 -0.2872 -0.2271 2.9428
Coefficients:
Estimate Std. Error z value Pr(>|z|)
(Intercept) -1.47323 0.21103 -6.981 2.93e-12 ***
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017
9
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
nhiêu phần trăm, có thể tóm tắt kết quả trong
bảng 4.
A
-0.16324 0.02471 -6.605 3.97e-11 ***
---
Signif. codes: 0 ‘ ***’ 0. 001 ‘ **’ 0. 01 ‘ *’ 0. 05 ‘ .’ 0. 1 ‘ ’ 1
(Dispersion parameter for binomial family taken to be 1)
Null deviance: 809.40 on 1978 degrees of freedom
Residual deviance: 762.47 on 1977 degrees of freedom
AIC: 766.47
Bảng 4. Mô hình hồi quy logistic quận Hải Châu
Ước lượng hồi
µ
Mat
$
P 1 - e
quy ( )
β
CI
DI
HDPE
SS
ST
uPVC
-0.6371
-2.1691
-1.3381
-12.9566
-2.9444
-1.0454
47.12%
88.57%
73.77%
100%
94.74%
64.84%
Number of Fisher Scoring iterations: 6
Phân tích mức độ ảnh hưởng của biến vật liệu
đến nguy cơ hỏng ống
Xem xét ảnh hưởng của vật liệu tới khả năng
bể ống cấp nước được thực hiện và cho kết
quả như Bảng 3.
Phân tích tổng hợp ảnh hưởng của các biến
đến nguy cơ hỏng ống
Bảng 3. Kết quả mô hình logistic F~Mat
Deviance Residuals:
Ống hỏng là tổng hợp của nhiều yếu tố tác
động nên không chỉ đánh giá tác động riêng lẻ
của từng yếu tố mà cần một đánh giá tổng hợp
để xem xét vấn đề toàn diện hơn. Kết quả
chạy mô hình hồi quy logistic cho biến phụ
thuộc F và các biến độc lập được thể hiện
trong Hình 7.
Min
1Q Median
3Q Max
-0.6039 -0.3686 -0.3686 -0.2126 3.0214
Coefficients:
Estimate Std. Error z value Pr(>|z|)
(Intercept) -1.6094 0.7746 -2.078 0.0377
MatCI
MatDI
MatHDPE
MatSS
MatST
MatuPVC
---
-0.6371 0.8370 -0.761 0.4466
-2.1691 0.8531 -2.542 0.0110
-1.3381 0.8136 -1.645 0.1000
-12.9566 624.1943 -0.021 0.9834
-2.9444 1.0513 -2.801 0.0051
-1.0454 0.7855 -1.331 0.1832
Kết quả cho thấy độ lệch ước số hồi quy của
biến Prior và N0 nhiều nhất và chỉ số ống hỏng
tuyến tính với P, La là khác nhau. Tuy nhiên
để đưa ra mức độ ảnh hưởng cụ thể của các
biến số này tương đối phức tạp, cần có một
phương pháp tốt hơn để đánh giá khả năng ống
hỏng do yếu tố nào là chính, yếu tố nào là phụ.
Signif. codes: 0 ‘ ***’ 0. 001 ‘ **’ 0. 01 ‘ *’ 0. 05 ‘ .’ 0. 1 ‘ ’ 1
(Dispersion parameter for binomial family taken to be 1)
Null deviance: 809.40 on 1978 degrees of freedom
Residual deviance: 782.16 on 1972 degrees of freedom
AIC: 796.16
Phương trình hồi quy cho quận Hải Châu được
viết như sau:
F=18,13 + 0,0002.R + 0,002.D + 0,018.N0 +
0,34P + 1,37L - 0,22A - 0,08.La -
20,55.Prior(No/1st) - 1,28.Prior(2nd/1st) -
0,95.Prior(3rd/1st)
0,72.Prior(5th/1st)
16,30.Mat(SS/AC)-
2,072,15.Mat(DI/AC) - 2,15.Mat(HDPE/AC) -
0,712,15.Mat(uPVC/AC)
0,522,15.Mat(CI/AC)
-
-
0,76.Prior(4th/1st)
0,39.Prior(6th/1st)
2,15.Mat(ST/AC)
-
-
-
Number of Fisher Scoring iterations: 13
Chỉ số Pr >0.05 chỉ ra rằng sự khác biệt về
nguy cơ bể vỡ ống của vật liệu CI, HDPE,
SS và uPVC so với vật liệu AC. Tương tự
như biến độ tuổi thì biến vật liệu cũng có
quan hệ nghịch biến với khả năng bể vỡ ống.
Mô hình so sánh khả năng hỏng của các loại
vật liệu thấp hơn (∆P) so với vật liệu AC bao
-
Áp dụng phương trình hồi quy cho các số liệu
khảo sát để dự báo khả năng xảy ra ống hỏng
10
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
trên mạng lưới cấp nước, từ đó so sánh với số khả năng ống hỏng sẽ giảm trên các tuyến dài
liệu hỏng thực tế để kiểm chứng hiệu quả của có số lượng điểm đấu nối ít. Xác suất xuất hiện
mô hình đề xu ất. Dùng lệnh predict trong R hỏng ống tập trung tại các ống có đường kính
cho mô hình hồi quy, kết quả dự báo hỏng cho nhỏ hơn hoặc bằng 400mm, cũng có một vài
từng đoạn ống như Hình 8.
giá trị xuất hiện ở cỡ đường kính lớn nhưng đa
số nguy cơ ống hỏng <50% (tính đến thời
điểm khảo sát).
Xác suất dự báo ống hỏng được tính cho từng
số liệu trong dữ liệu khảo sát và dao động từ
0%-100%, kết quả được thể hiện trong Hình 8,
µ
µ
Ước số hồi quy 0
Ước số hồi quy 0
Hình 7. Biểu đồ so sánh ước số hồi quy của các yếu tố
Hình 8. Xác suất dự báo ống hỏng theo NO và D
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017
11
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
Kiểm tra sự phù hợp giữa kết quả mô hình và số liệu thực tế
Bảng 5. Kết quả kiểm tra hỗn hợp xác suất ống hỏng dự báo và thực tế
Dữ liệu thực tế
Quận Hải Châu
Ống không hỏng (0)
Ống hỏng(1)
Ống không hỏng (0)
Ống hỏng (1)
1871
5
73
30
Mô hình dự báo
Trong số ống hỏng dự báo bằng mô hình hồi để đánh giá phân định giữa giá trị ống hỏng và
quy logistic thì bao nhiêu ống hỏng thật ở không hỏng. Giá trị này được đánh giá theo
ngoài thực tế và bao nhiêu ống không hỏng lại giới hạn từ 0,5-1 như Bảng 6. AUC được tính
được mô hình dự báo là hỏng, vấn đề này cần toán bằng hàm auc trong phần mềm R cho
phải được kiểm tra để đánh giá hiệu suất của thấy kết quả dự báo ống hỏng cho quận Hải
mô hình dự báo. Giới hạn được cho là mô hình Châu được chấp nhận ở mức độ tốt. Qua đó
dự báo chính xác là Pf = 50%, kết quả được thể cho thấy mô hình hồi quy logistics áp dụng
hình trong Bảng 5.
cho dự báo ống hỏng trên hệ thống phân phối
là phù hợp.
Mô hình dựa báo cho quận Hải Châu có 1871
ống không hỏng và dữ liệu thực tế cũng cho
thấy các ống này không hỏng, có 5 ống không
hỏng nhưng mô hình lại dự báo ống hỏng, dự
báo sai 0,27%.
Các số liệu dự báo sai này của mô hình có được
chấp nhận hay không sẽ được xác định theo hai
tiêu chí là đường cong ROC (Receiver Operating
Characteristic Curve) và chỉ số AUC.
Đường cong ROC là đường cong thể hiện độ
nhạy (sensitivity) và độ đặc hiệu (specificity)
của kết quả dự báo, một dự báo tốt khi diện
tích dưới đường cong là lớn nhất. Chỉ số AUC
(Area Under the Curve) là một giá trị biểu diễn
diện tích dưới đường cong ROC được sử dụng
Hình 8. Đường cong ROC cho HTTPN
Hải Châu
Bảng 6. Diện tích dưới đường cong(AUC) để đánh giá hiệu suất của mô hình
AUC
>0,9
Ý nghĩa diễn giải
Rất tốt
AUC. HC
0,8-0,9
0,7-0,8
0,6-0,7
0,5-0,6
Tốt
0.8843
Trung bình
Không tốt
Kết quả không sử dụng được
12
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
KẾT LUẬN
Để giảm khả năng ống bể cần tác động tới yếu
tố độ tuổi, chiều dài ống, tổng chiều dài trong
mộ DMA và áp lực làm việc. Với những ống
đã bể vỡ trong lịch sử thì cần thiết phải xem
xét p hương án thay thế mới trong các lần hỏng
sau vì giá trị này có ảnh hưởng lớn nhất đến
khả năng xảy ra bể ống.
Mô hình dự báo sử dụng cho tập số liệu quận
Hải Châu cho thấy các biến liên quan tới bể ống
bao gồm độ tuổi (A), vật liệu (Mat), đường kính
(D), chiều dài ống trong một DMA (La), lịch sử
bể vỡ (Prior), chiều dài ống dẫn (L), áp lực làm
việc trung bình của từng đoạn ống (P) và số
điểm đấu nối trên một tuyến (N0).
Sử dụng số liệu thống kê thu thập được từ
GIS của mạng lưới cấp nước quận Hải Châu,
áp dụng mô hình dự báo nghiên cứu đã đề
xu ất được mối quan hệ giữa các thông số
trong điều kiện làm việc của ống và sự cố
ống hỏng. Tuy nhiên, do hạn chế trong quá
trình thu thập thông tin nên các biến độc lập
chưa mô tả hết được các yếu tố liên quan đến
biến phụ thuộc như các tải trọng xe chạy trên
đường là bao nhiêu thì ảnh hưởng tới xác
suất ống hỏng hay chỉ số về điều kiện địa
chất thủy văn tại từng vị trí đặt ống. Bên
cạnh đó mô hình cũng không đánh giá cụ thể
chiều dày còn lại hay tỉ lệ ăn mòn của từng
đoạn ống theo độ tuổi vì giá trị này không có
số liệu khảo sát thực tế.
Mô hình hồi quy logistic áp dụng cho biến F với
hai giá trị 1(hỏng) và 0(không hỏng) đã đưa ra
mối quan hệtuyến tính của biến này với các biến
còn lại. Quan hệnày đồng biến vớithông số chiều
dài, áp lực làm việc, đường kính, vịtrí đặt ống, số
điểm đấu nối trên tuyến ống, tổng chiều dài ống
trong một DMA vànghịch biến với các giá trịcòn
lại. Từ đó xác định xác suất xảy ra hỏng ống trên
mô hình, các giá trị dự báo được so sánh với số
liệu thực tế cho thấy dự báo đúng 70%-84%.
Đề tài đã đưa ra kết quả dự báo ống hỏng theo
dữ liệu khảo sát thực và kiểm chứng độ chính
xác bằng đường cong ROC và tiêu chuẩn
AUC, mô hình logistic cho kết quả nằm trong
giới hạn tốt
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] A. Wood and B. J. Lence, “Using Water Main Break Data to Improve Asset Management
for Small and Medium Utilities: District of Maple Ridge, B.C.,” J. Infrastruct. Syst., vol.
15, no. 2, pp. 111–119, 2009.
[2] T. M. W. A. Pelliccia, “Water main repair/replacement for Binghamton,N. Y.,”
Vicksburg,Miss.39180, 1981.
[3] N. S. Bubbis, “Maintenance and Operating Problems of Winnipeg,” J. Am. Water Work.
Assoc., vol. 41, no. 5, pp. 429–436, 1948.
[4] H. O. and K. Bainbridge, “Comparison of Statistical Deterioration Models for Water
Distribution Networks,” J. Perform. Constr. Facil., vol. 25, no. May, pp. 259–266, 2011.
[5] H. Al-barqawi and T. Zayed, “Infrastructure Managementꢀ: Integrated AHP / ANN Model
to Evaluate Municipal Water Mains ’ Performance,” no. December, pp. 305–318, 2008.
[6] D.Achim;F. Ghotb; and K. J. McManus, “Prediction of water pipe asset life using neural
networks,” J. Infrastruct. Syst., vol. 13, no. 1, pp. 26–30, 2007.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017
13
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
[7] T. Wengström, “Comparative analysis of Pipe Break Rates A Literature review,” Chalmers
Univ. Technol., 1993.
[8] B. I. C. Goulter, “Analysis of water distribution pipe failure type in Winnipeg, Cananda,”
J. Transp. Eng., vol. 115, no. 2, pp. 95–111, 1989.
[9] S. Yamijala, “Statisticcal estimation of water distribution system pipe break risk,” Texas
A&M University, 2007.
[10] G. Kabir, S. Tesfamariam, and R. Sadiq, “Bayesian Model Averaging for the Prediction of
Water Main Failure for Small to Large Candian Municialities,” Can. J. Civ. Eng., vol. 43,
no. 3, pp. 233–240, 2016.
[11] R. I. Gentleman, “R-paper.pdf,” J. Comput. Graph. Statastics, vol. 5, no. 3, pp. 299–
314, 1996.
[12] G. Kabir, S. Tesfamariam, J. Loeppky, and R. Sadiq, “Integrating Bayesian Linear
Regression with Ordered Weighted Averaging: Uncertainty Analysis for Predicting Water
Main Failures,” ASCE-ASME J. Risk Uncertain. Eng. Syst. Part A Civ. Eng., vol. 1, no. 3,
p. 4015007, 2015.
14
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 39 - 2017
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng mô hình hồi quy logistic dự báo ống bể trên hệ thống phân phối nước", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
ung_dung_mo_hinh_hoi_quy_logistic_du_bao_ong_be_tren_he_thon.pdf

