Nghiên cứu phương thức giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính khu vực giáp ranh giữa Thành phố Hà Nội và tỉnh Hòa Bình

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 28-39  
Nghiên cứu phương thức giải quyết tranh chấp đất đai liên  
quan đến địa giới hành chính khu vực giáp ranh  
giữa thành phố Hà Nội và tỉnh Hòa Bình  
Phan Thị Nguyệt Quế1,2,*, Đinh Thị Bảo Hoa1, Hoàng Văn Soát2  
1Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, 334 Nguyêñ Trai, Hꢀ Nꢁi, Viêṭ Nam  
̃
2Trung tâm Biên giới vꢀ Địa giới, Cục Đo đạc, Bản đồ vꢀ Thông tin Địa lý Việt Nam,  
Bꢁ Tꢀi nguyên vꢀ Môi trường  
Nhận ngày 26 tháng 3 năm 2018  
Chỉnh sửa ngày 17 tháng 4 năm 2018; Chấp nhận đăng ngày 19 tháng 4 năm 2018  
Tóm tắt: Thực hiện Chỉ thị 364-CT, các tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính các  
cấp cơ bản đã được giải quyết và kết quả là lập được bộ hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính cấp xã,  
huyện, tỉnh thể hiện được các tính chất đầy đủ, pháp lý, chính xác và thống nhất. Về nguyên nhân  
tồn tại các điểm tranh chấp đất đai liên quan đến đường địa giới hành chính cấp tỉnh kéo dài và  
chưa được giải quyết dứt điểm là do hai địa phương có liên quan chưa thống nhất được đường địa  
giới hành chính chung.  
Tranh chấp đất đai giữa thành phố Hà Nội và tỉnh Hòa Bình còn tồn tại trên 7 khu vực, mỗi khu  
vực có đặc điểm khác nhau về địa hình, dân cư, lịch sử, văn hóa, kinh tế xã hội nên được lựa chọn  
là khu vực nghiên cứu. Bài báo này trình bày phương thức giải quyết tranh chấp đất đai liên quan  
đến địa giới hành chính giữa thành phố Hà Nội và tỉnh Hòa Bình, làm bài học kinh nghiệm cho  
việc giải quyết tranh chấp tại các địa phương khác trong cả nước.  
Từ khóa: Địa giới hành chính, tranh chấp đất đai, quan điểm.  
1. Đặt vấn đề  
nhau. Việt Nam có chung đường biên giới trên  
đất liền với các nước Cộng hòa nhân dân Trung  
Hoa, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Vương  
quốc Campuchia; biên giới trên biển giáp với  
nhiều nước trên Biển Đông.  
Phân định và quản lý địa giới hành chính là  
một trong những nội dung cơ bản của công tác  
quản lý hành chính nhà nước. Các quốc gia trên  
thế giới đều phân chia lãnh thổ của mình thành  
các đơn vị hành chính và cấp hành chính khác  
Tại điều 110, chương IX Hiến pháp nước  
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013  
nêu rõ [1] “1. Các đơn vị hành chính của nước  
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được  
phân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành  
phố trực thuộc trung ương; Tỉnh chia thành  
_______  
Tác giả liên hệ. ĐT.: 84-983225155.  
28  
P.T.N. Quế và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 28-39  
29  
huyện, thị xã và thành phố thuôc̣ tinh ; thành  
đến địa giới hành chính do lịch sử để lại và  
những tranh chấp mới phát sinh.  
̉
phố trực thuộc trung ương chia thành quận  
,
huyêṇ , thị xã và đơn vị hành chính tương  
Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành  
Thông tư số 48/2014/TT-BTNMT ngày  
22/8/2014 quy định kỹ thuật về xác định địa  
giới hành chính, cắm mốc địa giới và lập hồ sơ  
địa giới hành chính các cấp [3].  
đương; Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã  
và thành phố thuôc̣ tinh chia thành phường va  
̉
̀
xã; quận chia thành phường. Đơn vị hành  
chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành  
lập. 2. Việc thành lập, giải thể, nhập, chia,  
điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính phải lấy  
ý kiến Nhân dân địa phương và theo trình tự,  
thủ tục do luật định”.  
Theo Khoản 4 Điều 29 Luật đất đai 2013  
quy định [4]: “Tranh chấp địa giới hành chính  
giữa các đơn vị hành chính do Ủy ban nhân  
dân của các đơn vị hành chính đó cùng phối  
hợp giải quyết. Trường hợp không đạt được  
sự nhất trí về phân định địa giới hành chính  
hoặc việc giải quyết làm thay đổi địa giới  
hành chính thì thẩm quyền giải quyết được  
quy định như sau:  
Như vậy, tổ chức các đơn vị hành chính -  
lãnh thổ là một bộ phận của tổ chức cấu trúc  
hành chính Nhà nước, thể hiện sự phân chia  
quyền lực giữa Nhà nước TW với các cộng  
đồng lãnh thổ địa phương. Đó là một vấn đề rất  
quan trọng của mỗi quốc gia. Mặc dù ranh giới  
hành chính đã được phân định nhưng vấn đề  
tranh chấp đất đai ở những khu vực giáp ranh  
vẫn thường xảy ra. Theo quy định của pháp luật  
hiện hành có ba loại hình tranh chấp đất đai: 1)  
Tranh chấp về quyền sử dụng đất đai; 2) Tranh  
chấp về tài sản có liên quan đến quyền sử dụng  
đất; 3) Tranh chấp về quyền sử dụng đất có liên  
quan đến địa giới đơn vị hành chính (xã, huyện,  
tỉnh).  
a) Trường hợp tranh chấp liên quan đến địa  
giới của đơn vị hành chính tỉnh, thành phố trực  
thuộc trung ương thì Chính phủ trình Quốc hội  
quyết định;  
b) Trường hợp tranh chấp liên quan đến địa  
giới của đơn vị hành chính huyện, quận, thị xã,  
thành phố thuộc tỉnh; xã, phường, thị trấn thì  
Chính phủ trình Ủy ban thường vụ Quốc hội  
quyết định.  
Bộ Tài nguyên và Môi trường, cơ quan  
quản lý đất đai của tỉnh, thành phố trực thuộc  
trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố  
thuộc tỉnh có trách nhiệm cung cấp tài liệu cần  
thiết và phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm  
quyền để giải quyết tranh chấp địa giới hành  
chính”.  
Nghiên cứu này về giải quyết tranh chấp đất  
đai liên quan đến đường địa giới hành chính  
(loại 3);  
Hiện nay trên cả nước còn tồn tại nhiều khu  
vực địa giới hành chính các cấp bị biến dạng do  
tác động của quá trình phát triển kinh tế - xã  
hội, vận động của địa chất tự nhiên, lũ lụt và  
các khu vực tranh chấp địa giới hành chính mới  
phát sinh do nhiều nguyên nhân. Một trong số  
những nguyên nhân đó là sự không thống nhất  
giữa ranh giới hiện trạng quản lý với ranh giới  
trên hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính  
Quy định trên về giải quyết tranh chấp đất  
đai liên quan đến địa giới hành chính đã được  
chuyển từ Mục 2 Chương VI về giải quyết tranh  
chấp của Luật đất đai 2003 sang Mục 1 Chương  
III Luật đất đai 2013, nằm trong các quy định  
cụ thể của quản lý hành chính nhà nước.  
Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số  
513/QĐ-TTg ngày 02 tháng 5 năm 2012 phê  
duyệt Dự án “Hoàn thiện, hiện đại hóa hồ sơ,  
bản đồ địa giới hành chính và xây dựng cơ sở  
dữ liệu về địa giới hành chính các cấp” [2],  
trong đó có nhiệm vụ quan trọng là giải quyết  
dứt điểm những tranh chấp đất đai liên quan  
Theo Khoản 1 Điều 137 Luật đất đai 2003  
quy định [5]: “a) Trường hợp tranh chấp liên  
quan đến địa giới của đơn vị hành chính tỉnh,  
thành phố trực thuộc trung ương thì do Quốc  
hội quyết định;  
b) Trường hợp tranh chấp liên quan đến địa  
giới của đơn vị hành chính huyện, quận, thị xã,  
P.T.N. Quế vꢀ nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 28-39  
30  
thành phố thuộc tỉnh, xã, phường, thị trấn thì do  
Chính phủ quyết định”.  
tỉnh Hòa Bình và thị trấn Xuân Mai, huyện  
Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.  
Trước năm 2012, tranh chấp khu vực giáp  
ranh giữa thành phố Hà Nội và tỉnh Hòa Bình  
đã được giải quyết, bài báo này nghiên cứu  
phương thức giải quyết để tìm giải pháp phù  
hợp cho các khu vực khác đang còn tranh chấp.  
Khu vực núi Giang Bò (đồi Ngõng Cối) là  
khu vực giáp ranh giữa xã Liên Sơn, huyện  
Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình với xã Nam Phương  
Tiến, huyện Chương Mỹ thành phố Hà Nội.  
3. Phương pháp nghiên cứu, cơ sở pháp lý và  
dữ liệu  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
Nghiên cứu phương thức giải quyết tranh  
chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính ở  
Việt Nam.  
3.1. Phương pháp nghiên cứu  
- Phương pháp tổng hợp phân tích tài liệu:  
phân tích các tài liệu lịch sử, pháp lý có liên  
quan đến các khu vực tranh chấp trên đường địa  
giới hành chính giữa các tỉnh.  
Khu vực nghiên cứu là địa bàn giáp ranh  
giữa thành phố Hà Nội và tỉnh Hòa Bình bao  
gồn các khu vực sau; [6]  
Nghiên cứu điều kiện tự nhiên của từng  
vùng như địa hình; thủy hệ và các đối tượng  
liên quan như mạng lưới sông ngòi, đập các  
loại, cống, đê, bờ dốc tự nhiên, bờ cạp, các bãi  
ven hồ, sông; giao thông và các đối tượng liên  
quan như đường giao thông, cầu, cống dưới  
đường; tiềm năng về tài nguyên, khoáng sản,  
đất đai, cây trồng; điều kiện khí hậu. Nghiên  
cứu điều kiện xã hội như phân bố dân cư, tình  
hình trật tự an toàn xã hội, an ninh chính trị, điều  
kiện phát triển kinh tế, truyền thống văn hóa,  
phong tục tập quán, sắc tộc, tôn giáo.  
Khu vực núi đá Chẹ là khu vực giáp ranh  
giữa xã Hợp Thịnh, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa  
Bình với xã Khánh Thượng, Huyện Ba Vì,  
thành phố Hà Nội.  
Khu vực núi Ô Môn là khu vực giáp ranh  
giữa xã Trung Sơn, xã Cao Dương, huyện  
Lương Sơn tỉnh Hòa Bình với xã Tuy Lai,  
huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội.  
Khu vực hồ Đồng Sương là khu vực giáp  
ranh giữa xã Thành Lập, huyện Lương Sơn tỉnh  
Hòa Bình với xã Trần Phú, huyện Chương Mỹ  
thành phố Hà Nội  
- Phương pháp thống kê: Nghiên cứu các  
báo cáo về các loại tài liệu thống kê giữa các  
bên liên quan.  
Khu vực Trường Cao đẳng kỹ thuật cộng  
đồng Hà Tây là khu vực giáp ranh giữa xã  
Nhuận Trạch, huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình  
với xã Thủy Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ,  
thành phố Hà Nội.  
- Phương pháp khảo sát thực địa: Khảo sát  
tại thực địa để nghiên cứu hiện trạng quản lý  
khu vực tranh chấp về địa giới hành chính,  
trong đó có nội dung mô tả đường địa giới hành  
chính nơi có tranh chấp, kèm theo tọa độ cụ thể  
của một số vị trí đặc trưng.  
Khu vực đồi Lau là khu vực giáp ranh giữa  
xã Hoa Sơn , huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình  
̀
với xã Đông Yên , huyện Quốc Oai thành phố  
Hà Nội.  
- Phương pháp so sánh, đánh giá: từ các kết  
quả nghiên cứu thực địa, các báo cáo thống kê,  
các báo cáo của các bên liên quan, các tài liệu  
lịch sử và đối chiếu với tài liệu pháp lý là bộ hồ  
sơ, bản đồ địa giới hành chính các cấp được lập  
theo Chỉ thị 364-CT để đánh giá và đưa ra ý  
kiến đề xuất giải quyết; cân đối giữa dân số và  
diện tích, phù hợp với nguyện vọng của nhân  
dân khu vực nơi đang tranh chấp.  
Khu vực Tân Mai  
Điểm cầu Ké - cầu Năm Lu là khu vực giáp  
ranh xã Hòa Sơn, huyện Lương Sơn tỉnh Hòa  
Bình với thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ  
thành phố Hà Nội.  
Điểm Lữ đoꢀn Tăng Thiết Giáp là khu vực  
giáp ranh giữa xã Hòa Sơn, huyện Lương Sơn  
P.T.N. Quế và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 28-39  
31  
- Phương pháp bản đồ: Bản đồ địa giới hành  
chính được lập theo Chỉ thị 364-CT trên nền  
bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25.000; 1:50.000 hệ  
HN72 là tài liệu pháp lý được thành lập từ  
những năm 1980 đến 1998; thời điểm xảy ra  
tranh chấp năm 2009 có nhiều thay đổi về cơ sở  
hạ tầng, phân bố dân cư. Khu vực nghiên cứu  
đã có bản đồ được thành lập mới tỷ lệ từ  
1:25.000, 1:50.000 hệ VN2000, nội dung bản  
đồ tương đối phù hợp với thực tế. Để phục vụ  
cho việc giải quyết tranh chấp phải rà soát, thu  
thập các thông tin biến động về hiện trạng quản  
lý trong khu vực tranh chấp về địa giới hành  
chính; chuyển vẽ hiện trạng quản lý của các bên  
liên quan lên bản đồ hệ VN2000 nhằm xác định  
cụ thể khu vực còn chồng lấn cần giải quyết.  
Đây là phương pháp được lựa chọn để làm cơ  
sở phục vụ cho việc giải quyết đất đai liên quan  
đến đường địa giới hành chính.  
quyết, về việc giải quyết, nguyên tắc giải quyết  
tranh chấp về địa giới hành chính.  
4. Kết quả và thảo luận  
4.1. Thực trạng tranh chấp  
Khu vực núi đá Chẹ:  
Mô tả tình hình chung: Diện tích chồng lấn  
khoảng 10,45 ha (số liệu đo trên bản đồ số).  
Dân số có khoảng 40 hộ dân sống đan xen.  
- Báo cáo hiện trạng của tỉnh Hòa Bình:  
Khu vực chưa thống nhất có diện tích 1,5ha; do  
các đơn vị khai thác đá thuộc 02 xã khai thác;  
khu vực còn lại 17,5ha (núi Chẹ và đồi Cáp)  
không có tranh chấp, do nhân dân tại Kỳ Sơn  
sinh sống. Khu vực xóm Tôm có 48 hộ với 198  
nhân khẩu thuộc xã Hợp Thịnh.  
- Báo cáo hiện trạng của thành phố Hà Nội:  
Khu vực chưa thống nhất có diện tích khoảng  
36 ha, gồm núi đá Chẹ - đầm Tôm - đồi Dê -  
đồi Cáp. Trong đó:  
3.2. Cơ sở pháp lý  
Việc giải quyết tranh chấp đất đai liên quan  
đến đường địa giới hành chính các khu vực giáp  
ranh giữa Hà Nội và Hòa Bình căn cứ vào các  
văn bản sau:  
Khu đồi Dê: Diện tích khoảng 10,2 ha là  
khu dân cư, có 30 hộ dân xóm Tôm xã Hợp  
Thịnh, huyện Kỳ Sơn làm nhà ở.  
- Công văn số 713/VPQH ngày 10 tháng 4  
năm 2006 của Văn phòng Quốc hội về trình tự  
giải quyết tranh chấp địa giới hành chính cấp  
tỉnh.  
Chú giải cho hình 1-8  
Địa giới tỉnh, thành phố  
xác định  
Địa giới tỉnh, thành phố  
chưa xác định  
- Công văn số 2170/VPCP-NC ngày 24  
tháng 4 năm 2006 của Văn phòng Chính phủ về  
việc giải quyết tranh chấp địa giới hành chính.  
Địa giới tỉnh, thành phố  
theo quan điểm của tỉnh  
Hòa Bình  
Địa giới tỉnh, thành phố  
theo quan điểm của thành  
phố Hà Nội  
- Báo cáo số 31/BC-CP ngày 03 tháng 4  
năm 2006 của Chính phủ về việc xin ý kiến Ủy  
ban thường vụ Quốc hội về một số nguyên tắc  
giải quyết tranh chấp địa giới hành chính một  
số tỉnh.  
3.3. Dữ liệu  
Khu vực tranh chấp về địa  
giới hành chính  
Dữ liệu tiến hành giải quyết tranh chấp đất  
đai liên quan đến đường địa giới giữa tỉnh Hòa  
Bình và thành phố Hà Nội sử dụng bản đồ hệ  
VN-2000, tỷ lệ 1:25.000. Các văn bản do cơ  
quan có thẩm quyền ban hành về trình tự giải  
Đường địa giới đề xuất giải  
quyết  
P.T.N. Quế vꢀ nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 28-39  
32  
Khu núi Chẹ, đầm Tôm: Diện tích khoảng  
Khu vực núi Ô Môn:  
11 ha; do các Công ty khai thác đá của 2 địa  
phương chia nhau khai thác.  
Mô tả tình hình chung: Diện tích chồng lấn  
khoảng 520,67 ha (số liệu đo trên bản đồ số).  
Dân số có khoảng 40 hộ dân sống đan xen.  
Khu đồi Cáp: Diện tích khoảng 14,8 ha; do  
các hộ dân tỉnh Hòa Bình sinh sống và canh tác.  
- Báo cáo hiện trạng của tỉnh Hòa Bình:  
Khu vực xã Trung Sơn do nhân dân xã Trung  
Sơn canh tác từ trước năm 1995, có 04 doanh  
nghiệp được cấp phép khai thác đá, có 06 hộ  
dân được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng  
đất lâm nghiệp. Diện tích khoảng 300 ha, chủ  
yếu là núi đá còn lại là đất nông nghiệp và thổ  
cư. Khu vực xã Cao Dương do toàn bộ nhân  
dân xã Cao Dương, huyện Kim Bôi (nay thuộc  
huyện Lương Sơn) quản lý.  
Về dân số: Khu vực đồi Dê dân cư 02 tỉnh  
đan xem (30 hộ xóm Tôm xã Hợp Thịnh và 10  
hộ xã Khánh Thượng).  
Quan điểm giải quyết:  
- Quan điểm của tỉnh Hòa Bình: Đề nghị  
quản lý theo hiện trạng mà tỉnh Hòa Bình đang  
quản lý bao gồm: 1/2 núi đá Chẹ, hồ nước cạnh  
núi đá Chẹ, dân cư khu vực đồi Dê, đồi Cáp.  
- Quan điểm của thành phố Hà Nội: Phần  
đất dân xóm Tôm thuộc khu đồi Dê do nhân  
dân Kỳ Sơn sử dụng có diện tích khoảng 10,2  
ha nhất trí để tỉnh Hòa Bình quản lý. Phần diện  
tích thuộc khu núi đá Chẹ, đầm Tôm, đồi Cáp  
có diện tích 25 ha đề nghị huyện Ba Vì, TP. Hà  
Nội quản lý.  
- Báo cáo hiện trạng của thành phố Hà Nội:  
Không có hộ dân nào của xã Tuy Lai. Diện tích  
khoảng 527 ha.  
Quan điểm giải quyết:  
- Quan điểm của tỉnh Hòa Bình: đề nghị  
giải quyết theo hiện trạng quản lý (tỉnh Hòa  
Bình quản lý toàn bộ khu vực).  
- Quan điểm của thành phố Hà Nội: đề nghị  
quản lý toàn bộ khu vực trên (chuyển khu vực  
trên về huyện Mỹ Đức quản lý theo các yếu tố  
pháp lý và lịch sử).  
Hình 1. Khu vực núi đá Chẹ.  
Hình 2. Khu vực núi Ô Môn.  
P.T.N. Quế và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 28-39  
33  
Khu vực hồ Đồng Sương:  
Khu vực Trường Cao đẳng kỹ thuật cꢁng đồng  
Hà Tây:  
Mô tả tình hình chung: Diện tích chồng lấn  
khoảng 186,22 ha (số liệu đo trên bản đồ số).  
Dân số có khoảng 200 hộ dân. Khu vực này  
hiện đang do xã Trần Phú, huyện Chương Mỹ,  
thành phố Hà Nội đang khai thác và quản lý.  
Trong đó có một số hộ, đất ruộng canh tác xen  
cư, xen canh giữa hai tỉnh, thành phố.  
Mô tả tình hình chung: Diện tích chồng lấn  
khoảng 31,91 ha (số liệu đo trên bản đồ số).  
Dân số có khoảng 93 hộ dân và trường cao  
đẳng kỹ thuật cộng đồng Hà Tây.  
- Báo cáo hiện trạng của tỉnh Hòa Bình:  
Diện tích chồng lấn khoảng 19,43 ha. Dân số  
khoảng 167 hộ với 454 nhân khẩu. Trong đó, xã  
Nhuận Trạch là 84 nhân khẩu, xã Thủy Xuân Tiên  
là 268 nhân khẩu, số còn lại là dân sống đan xen  
của tỉnh Hòa Bình và thành phố Hà Nội.  
- Báo cáo hiện trạng của tỉnh Hòa Bình:  
tranh chấp tại khu vực đồi Vàng, huyện Chương  
Mỹ quy hoạch và thi công bãi rác thải lấn vào  
đất của xóm Đồng Sương, xã Thành Lập tổng  
diện tích khoảng 20 ha.  
- Báo cáo hiện trạng của thành phố Hà Nội:  
Diện tích chồng lấn khoảng 30,32 ha, UBND  
tỉnh Hà Tây đã cấp sổ 75,25 ha. Dân số là 93  
hộ, 380 nhân khẩu của xã Thủy Xuân Tiên, cán  
bộ, nhân viên trường Cao đẳng và xí nghiệp cao  
su Vạn Hoa.  
- Báo cáo hiện trạng của thành phố Hà Nội:  
Diện tích chồng lấn khoảng 154,3 ha; có  
khoảng 18 hộ dân trồng rừng và 46 hộ dân  
trồng lúa (dân của xã Trần Phú).  
Quan điểm giải quyết:  
Quan điểm giải quyết:  
- Quan điểm của Hòa Bình: Đề nghị được  
quản lý theo hiện trạng khu vực dọc theo QL-21  
(đường Hồ Chí Minh) và điều chỉnh một phần  
sườn núi phía Nam (khu vực núi đã san ủi).  
- Quan điểm của tỉnh Hòa Bình: Đề nghị  
được quản lý toàn bộ khu vực.  
- Quan điểm của thành phố Hà Nội: Đề nghị  
được quản lý theo hiện trạng và căn cứ theo biên  
bản đã thỏa thuận, hiệp thương giữa Chủ tịch hai  
xã Thủy Xuân Tiên với xã Nhuận Trạch đã ký.  
- Quan điểm của thành phố Hà Nội: Đề nghị  
được quản lý toàn bộ khu vực nêu trên.  
Hình 4. Khu vực Trường Cao đẳng kỹ thuật cộng  
đồng Hà Tây.  
Hình 3. Khu vực hồ Đồng Sương.  
P.T.N. Quế vꢀ nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 28-39  
34  
Khu vực đồi Lau: Mô tả tình hình chung:  
Diện tích chồng lấn khoảng 12,44 ha (số liệu đo  
trên bản đồ số). Dân số có khoảng 34 hộ dân  
thuộc xã Hòa Sơn đang sinh sống, đã được cấp  
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong khu  
nhà Vòm của công ty phòng chống sốt rét do  
thành phố Hà Nội quản lý.  
Quan điểm giải quyết:  
- Quan điểm của tỉnh Hòa Bình: Đề nghị  
được quản lý toàn bộ 34 hộ dân và khu nhà  
Vòm.  
- Quan điểm của thành phố Hà Nội: chuyển  
34 hộ dân cho tỉnh Hòa Bình quản lý, khu nhà  
Vòm thuộc thành phố Hà Nội quản lý. Đoạn địa  
giới hành chính đi theo khu vực đồi Lau chuyển  
vẽ theo đường phân thủy như biên bản tổng kết  
sau khi thực hiện chỉ thị 364-CT.  
Hình 6. Khu vực cầu Ké - cầu Năm Lu.  
- Quan điểm giải quyết của thành phố Hà  
Nội: Chuyển toàn bộ khu nhà máy Gạch cho  
tỉnh Hòa Bình quản lý, phần còn lại thuộc thành  
phố Hà Nội quản lý (giải quyết theo quan điểm  
quản lý hiện trạng).  
Điểm Lữ đoꢀn Tăng Thiết Giáp:  
Mô tả tình hình chung: Diện tích chồng lấn  
khoảng 139,42 ha (số liệu đo trên bản đồ số).  
Dân số có khoảng 300 hộ.  
- Báo cáo hiện trạng của tỉnh Hòa Bình:  
Diện tích khu vực chồng lấn khoảng 143 ha.  
Khu vực tiểu khu Năm Lu và tiểu khu Liên Sơn  
là 68,4 ha (đất khu dân cư, Trại màu, Nhà máy  
thức ăn gia súc, Vườn ươm). Khu vực Lữ đoàn  
201 có diện tích tranh chấp khoảng 45,57 ha, đã  
được huyện Lương Sơn cấp sổ 20 ha. Khu vực  
trường bắn TB4 (khu vực đồi Lau, đồi Voi)  
huyện Lương Sơn đã cấp sổ khoảng 245,1 ha,  
diện tích tranh chấp 30 ha.  
Hình 5. Khu vực đồi Lau.  
Khu vực Tân Mai  
- Báo cáo hiện trạng của thành phố Hà Nội:  
Diện tích khu vực chồng lấn khoảng 190,96 ha.  
Dân số có khoảng 400 hộ với 1944 nhân khẩu.  
huyện Lương Sơn quản lý 95 hộ với 400 nhân  
khẩu và đã cấp sổ 55/95 hộ. TT. Xuân Mai  
quản lý 1544 nhân khẩu.  
Điểm cầu Ké - cầu Năm Lu: Mô tả tình hình  
chung: Diện tích chồng lấn khoảng 108,78 ha  
(số liệu đo trên bản đồ số). Dân số có khoảng  
400 hộ. Dân cư đang sống đan xen tại khu vực  
dọc theo quốc lộ 6 (từ cầu Ké đến cầu Năm Lu),  
có một số nhà máy công nghiệp.  
Quan điểm giải quyết:  
- Quan điểm của tỉnh Hòa Bình: Tuyến xuất  
phát từ ngã 4 địa giới 4 xã: Nhuận Trạch, Hòa  
Sơn (huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình) và xã  
Thủy Xuân Tiên, thị trấn Xuân Mai (huyện  
Chương Mỹ, thành phố Hà Nội), đường địa giới  
có hướng Đông Bắc chạy theo đường bờ ruộng,  
Quan điểm giải quyết:  
- Quan điểm giải quyết của tỉnh Hòa Bình:  
Đề nghị được quản lý toàn bộ khu vực nêu trên.  
P.T.N. Quế và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 28-39  
35  
đường hợp thuỷ, phân thuỷ rồi kết thúc tại ngã  
3 địa giới 3 xã: Hòa Sơn (huyện Lương Sơn,  
tỉnh Hòa Bình) và xã Đông Yên (huyện Quốc  
Oai, thành phố Hà Nội), thị trấn Xuân Mai  
(huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội), tổng  
chiều dài tuyến là 4.900m, được chia làm 3  
đoạn như sau:  
Đoạn 1. Khởi đầu từ ngã 4 địa giới 4 xã:  
Nhuận Trạch, Hòa Sơn (huyện Lương Sơn, tỉnh  
Hòa Bình) và xã Thủy Xuân Tiên, thị trấn Xuân  
Mai (huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội),  
đường địa giới có hướng Tây Bắc chạy theo  
đường bờ ruộng, qua tim cầu Năm Lu (Tại Km  
37+635 trên đường 6) rồi kết thúc tại điểm đặc  
trưng số 1, đoạn này dài 1.000m.  
Khu vực Núi Giang Bò (đồi Ngõng Cối):  
Mô tả tình hình chung: Diện tích chồng lấn  
khoảng 809,48 ha (số liệu đo trên bản đồ số).  
Dân số có khoảng 50 hộ. Khu vực này chủ yếu  
do dân của xã Nam Phương Tiến, huyện  
Chương Mỹ, thành phố Hà Nội quản lý và khai  
thác sử dụng.  
- Báo cáo hiện trạng của tỉnh Hòa Bình: dân  
xã Nam Phương Tiến xâm canh vào đất của xã  
Liên Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình  
khoảng 400 ha, chủ yếu trồng rừng. Phần diện  
tích giáp ranh sân Golf Long Sơn bị lấn chiếm.  
Khu tại ngã ba, 3 xã giáp với téc nước Nông  
trường Lương Mỹ, hiện có khoảng 2,5 ha chưa  
được xác định rõ ràng về địa giới giữa xã Liên  
Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình với xã  
Hoàng Văn Thụ, huyện Chương Mỹ, thành phố  
Hà Nội.  
Đoạn 2. Từ điểm đặc trưng số 1, đường địa  
giới có hướng Đông Bắc chạy dọc theo tim suối  
Cái rồi kết thúc tại điểm đặc trưng số 2, đoạn  
này dài 1.200m.  
Đoạn 3. Từ điểm đặc trưng số 2, đường địa  
giới có hướng Đông Bắc đi qua yên ngựa và  
đường phân thuỷ của núi Luốt qua cao điểm  
183 rồi tiếp tục theo đường phân thuỷ rồi kết  
thúc tại ngã 3 địa giới 3 xã: Hòa Sơn (huyện  
Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình) và xã Đông Yên  
(huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội), xã Thuỷ  
Xuân Tiên (huyện Chương Mỹ, thành phố Hà  
Nội), đoạn này dài 2.700m.  
- Báo cáo hiện trạng của thành phố Hà Nội:  
Diện tích 858 ha, có khoảng 50 hộ dân của xã  
Nam Phương Tiến sinh sống.  
Quan điểm giải quyết:  
- Quan điểm giải quyết của tỉnh Hòa Bình:  
Đề nghị được quản lý toàn bộ khu vực trên.  
- Quan điểm giải quyết của thành phố Hà  
Nội: Đề nghị quản lý theo hiện trạng, thành phố  
Hà Nội quản lý toàn bộ khu vực.  
- Quan điểm của thành phố Hà Nội: Giữ  
nguyên hiện trạng hai bên đang quản lý.  
Hình 8. Khu vực núi Giang Bò (đồi Ngõng Cối).  
Hình 7. Khu vực Lữ đoàn Tăng Thiết Giáp.  
P.T.N. Quế vꢀ nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 28-39  
36  
4.2. Nhận xét chung  
Đông Nam rồi Bắc - Đông Bắc đi theo đường  
vào kho mìn, rồi theo ranh giới giữa ruộng sắn  
với vườn keo đến đường mòn và đi theo đường  
mòn đến ngã ba giữa đường đất với đường mòn  
vào kho mìn có tọa độ (X = 2324696;  
Y = 533505).  
Nhìn chung, trong quá trình hiệp thương  
các bên liên quan thường sử dụng các yếu tố có  
lợi cho mình về lịch sử, xâm canh xâm cư, hành  
vi hành chính, các văn bản của cơ quan nhà  
nước đan xen nhau nên gặp khó khăn trong quá  
trình giải quyết.  
Kết quả giải quyết: giao toꢀn bꢁ cho tỉnh  
Hòa Bình theo hiện trạng đang quản lý (Hình 1).  
Khu vực có xảy ra tranh chấp đất đai liên  
quan đến đường địa giới hành chính cần căn cứ  
vào hồ sơ, bản đồ, mốc địa giới hành chính  
hiện có để làm cơ sở pháp lý để giải quyết  
tranh chấp.  
Khu vực núi Ô Môn: Giữa xã Trung Sơn,  
xã Cao Dương, huyện Lương Sơn tỉnh Hòa  
Bình với xã Tuy Lai, huyện Mỹ Đức thành phố  
Hà Nội. Khởi đầu từ điểm trên yên ngựa có tọa  
độ (X = 2298201; Y = 567296), theo hướng  
chung Nam - Đông Nam đường địa giới đi theo  
sống núi liên tục qua các đỉnh cao 215,0 m;  
212,0 m; 208,0 m; 312,2 m; 317,0 m; 230,0 m;  
222,0 m đến điểm cao 210,0 m chuyển hướng  
chung Nam - Tây Nam, đường địa giới đi theo  
dông núi đến ranh giới giữa đầm và hồ Ngái  
Lạng, đi theo ranh giới giữa đầm và hồ Ngái  
Lạng lên dông núi đến đỉnh núi có tọa độ  
(X = 2291911; Y = 568721).  
4.3. Giải pháp hình thꢀnh địa giới hꢀnh chính  
mới sau khi hiệp thương  
Đoàn khảo sát liên ngành đã xem xét các  
báo cáo, tài liệu và khảo sát tại thực địa, tùy  
theo đặc điểm địa hình, phân bố dân cư, các yếu  
tố kinh tế văn hóa xã hội để đưa ra nhiều  
phương án giải quyết khác nhau và đề xuất trình  
Chính phủ.  
Kết quả giải quyết: giao toꢀn bꢁ cho tỉnh  
Hòa Bình theo hiện trạng đang quản lý (Hình 2).  
Kết quả xác định đường địa giới hành chính  
được xác định giữa thành phố Hà Nội và tỉnh  
Hòa Bình được Thủ tướng Chính phủ ban hành  
tại Quyết định số 1860/QĐ-TTg ngày 21 tháng  
10 năm 2011 về việc xác định địa giới hành  
chính giữa thành phố Hà Nội và tỉnh Hòa Bình  
tại bảy khu vực chồng lấn do lịch sử để lại [7].  
Khu vực hồ Đồng Sương: Giữa xã Thành  
Lập, huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình với xã  
Trần Phú, huyện Chương Mỹ thành phố Hà  
Nội. Khởi đầu từ điểm ngoặt bờ đê hồ Đồng  
Sương có tọa độ (X = 2302734; Y = 566275)  
theo hướng chung Tây - Tây Nam và Nam,  
đường địa giới đi theo chân bờ đê, qua chân bờ  
đập, rồi theo mép hồ Đồng Sương, theo suối,  
theo sống núi qua các đỉnh cao 56,9 m, 64,4 m  
đến gặp đường tại điểm có tọa độ  
(X = 2299649; Y = 565513). Từ đây đường địa  
giới chuyển hướng Tây Nam rồi Đông Nam đi  
theo đường đến điểm có tọa độ (X = 2299454;  
Y = 565730) rồi theo hướng chung Đông Bắc đi  
theo dông đồi, men theo khu dân cư đến gặp  
khe suối thì chuyển hướng Đông - Đông Nam  
đi theo khe, rồi theo hiện trạng hai bên đang  
quản lý đến đường Hồ Chí Minh. Từ đây theo  
hướng Bắc - Đông Bắc, đường địa giới đi theo  
đường Hồ Chí Minh đến gặp suối thì chuyển  
hướng Đông Nam và Nam đi theo suối đến  
đường đá đổi hướng Đông đi theo đường đá lên  
Khu vực núi đá Chẹ: Giữa xã Hợp Thịnh,  
huyện Kỳ Sơn tỉnh Hòa Bình với xã Khánh  
Thượng huyện Ba Vì thành phố Hà Nội. Khởi  
đầu từ điểm giữa sông Đà có tọa độ  
(X = 2323834; Y = 532528), theo hướng Đông  
Bắc đường địa giới đi đến bờ sông Đà tại điểm  
có tọa độ (X = 2324096; Y = 532818) rồi đi đến  
góc hồ có tọa độ (X = 2324304; Y = 533033),  
chuyển hướng Đông Nam, Đông - Đông Bắc  
đường địa giới đi men theo chân núi đá (đường  
bờ nước) đến điểm khe cạn gặp hồ thì chuyển  
hướng Bắc đi theo khe cạn đến khu dân cư thì  
đổi hướng Tây Bắc đi ven khu dân cư đến gặp  
đường nhựa, tiếp tục đổi hướng Đông đi theo  
đường nhựa đến ngã ba đường nhựa với đường  
đất có tọa độ (X = 2324527; Y = 533240). Từ  
đây đường địa giới theo hướng Đông Bắc,  
P.T.N. Quế và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 28-39  
37  
đỉnh đồi cao 243 m có tọa độ (X = 2299394; Y  
Kết quả giải quyết: cân đối giao mꢁt phần  
= 567267).  
cho thꢀnh phố Hꢀ Nꢁi quản lý, mꢁt phần giao  
cho tỉnh Hòa Bình quản lý (Hình 5).  
Kết quả giải quyết: phần lớn diện tích giao  
cho tỉnh Hòa Bình quản lý, phần còn lại giao  
cho thꢀnh phố Hꢀ Nꢁi quản lý (Hình 3).  
Khu vực Tân Mai  
Khu vực Trường Cao đẳng kỹ thuật cộng  
đồng Hà Tây: Giữa xã Nhuận Trạch, huyện  
Lương Sơn tỉnh Hòa Bình với xã Thủy Xuân  
Tiên, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.  
Khởi đầu từ giao điểm giữa đường Hồ Chí  
Minh với mép ngoài tường bao khu hiệu bộ của  
Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây, theo  
hướng Tây Nam đường địa giới đi theo mép  
ngoài tường bao khu hiệu bộ đến giao điểm  
giữa tường bao với đường đất lớn. Từ đây  
đường địa giới chuyển hướng Tây Bắc và Bắc  
đi theo đường đất lớn đến ngã ba đường đất lớn  
có tọa độ (X = 2307568; Y = 559682); chuyển  
hướng Tây đường địa giới đi theo đường đất  
lớn đến ngã ba đường có tọa độ (X = 2307560;  
Y = 559613), chuyển hướng Tây Bắc đi theo  
đường đất lớn, rồi theo mương đến đường ranh  
giới hiện trạng hai bên đang quản lý.  
Điểm cầu Ké - cầu Năm Lu: Giữa thị trấn  
Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà  
Nội với xã Hòa Sơn, huyện Lương Sơn tỉnh  
Hòa Bình. Khởi đầu từ điểm giữa suối có tọa độ  
(X = 2309882; Y = 557674) theo hướng Tây  
Bắc, đường địa giới đi theo suối đến điểm có  
tọa độ (X = 2309934; Y = 557638), chuyển  
hướng chung Tây Nam đi theo đường đất lớn  
đến ngã ba đường có tọa độ (X = 2309754,  
Y = 557529), chuyển hướng Nam - Đông Nam  
đi theo đường đến quốc lộ 6 rồi chuyển hướng  
Tây - Tây Nam đi theo quốc lộ 6 đến điểm có  
tọa độ (X = 2309431; Y = 557283). Từ đây  
đường địa giới đi theo hướng Nam đến sông  
Bùi thì chuyển hướng Nam và Đông - Đông  
Bắc đi theo sông Bùi đến điểm có tọa độ  
(X = 2309158; Y = 557987).  
Kết quả giải quyết: cân đối giao nhꢀ máy  
gạch cho tỉnh Hòa Bình quản lý, công ty thức ăn  
gia súc giao cho thꢀnh phố Hꢀ Nꢁi quản lý. Số  
hꢁ dân đan xen sẽ được giao về theo phạm vi  
quản lý hꢀnh chính (Hình 6).  
Kết quả giải quyết: giao toꢀn bꢁ cho thành  
phố Hꢀ Nꢁi theo hiện trạng quản lý (Hình 4).  
Khu vực đồi Lau: giữa xã Hoa Sơn, huyện  
̀
Lương Sơn tỉnh Hòa Bình với xã Đông Yên  
,
huyện Quốc Oai thành phố Hà Nội. Khởi đầu từ  
đỉnh đồi Lau, theo hướng Đông - Đông Bắc  
đường địa giới đi đến ranh giới giữa nhà ông  
Vũ Viết Tuận (xã Hòa Sơn, huyện Lương Sơn)  
và nhà bà Lê Thị Giảo (xã Đông Yên, huyện  
Quốc Oai), đi theo ranh giới giữa nhà ông Vũ  
Viết Tuận và nhà bà Lê Thị Giảo đến đường Hồ  
Chí Minh, chuyển hướng Bắc - Tây Bắc đường  
địa giới đi theo đường Hồ Chí Minh đến điểm  
giáp ranh giữa khu nhà Vòm với khu dân cư có  
tọa độ (X = 2314590; Y = 559089). Từ đây theo  
hướng Đông Bắc đường địa giới đi theo ranh  
giới giữa khu nhà Vòm với khu dân cư đến  
điểm có tọa độ (X = 2314664; Y = 559203) thì  
đổi hướng Nam - Đông Nam đi theo tường bao  
khu K12 đến điểm có tọa độ (X = 2314442;  
Y = 559427).  
Điểm Lữ đoꢀn Tăng thiết giáp: Giữa thị  
trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ thành phố  
Hà Nội với xã Hòa Sơn, huyện Lương Sơn tỉnh  
Hòa Bình. Khởi đầu từ đỉnh núi Luốt theo  
hướng Tây - Tây Nam đường địa giới đi theo  
dông núi đến ngã ba giữa đường đất lớn với  
ranh giới của khu doanh trại quân đội có tọa độ  
(X = 2312282; Y = 558325), chuyển hướng Tây  
và Tây Nam, đường địa giới đi theo ranh giới  
của khu doanh trại Quân đội rồi đi theo đường  
nhựa đến điểm có tọa độ (X = 2312170;  
Y = 557778). Từ đây đường địa giới theo hướng  
Đông Nam và Tây Bắc đi bao quanh khu dân cư  
thuộc xã Hòa Sơn rồi chuyển hướng Tây Nam,  
Đông Nam và Nam - Tây Nam đi theo đường  
nhựa đến gặp đường đất lớn, tiếp tục đi theo  
đường đất lớn rồi theo ranh giới của khu doanh  
trại quân đội, theo khe đến gặp đường nhựa tại  
điểm có tọa độ (X = 2310358; Y = 558053).  
P.T.N. Quế vꢀ nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 28-39  
38  
Kết quả giải quyết: giao toꢀn bꢁ cho thꢀnh  
phố Hꢀ Nꢁi quản lý (Hình 7).  
vọng của các bên liên quan như vậy sẽ đáp ứng  
được mức độ ổn định về chính trị, đảm bảo phát  
triển về kinh tế, giữ vững được lòng tin của  
nhân dân đối với các cấp chính quyền.  
Khu vực núi Giang Bò (đồi Ngõng Cối):  
Giữa xã Liên Sơn, huyện Lương Sơn tỉnh Hòa  
Bình với xã Nam Phương Tiến, huyện Chương  
Mỹ thành phố Hà Nội. Khởi đầu từ giao điểm  
giữa đường mòn với suối có tọa độ  
(X = 2303320; Y = 560067), theo hướng chung  
Tây Nam đường địa giới đi theo suối, theo khe  
đến sống núi rồi chuyển hướng chung Nam -  
Tây Nam đi theo phân thủy đến đỉnh cao 715,0  
m. Từ đây theo hướng Đông Nam và Đông -  
Đông Bắc đường địa giới đi theo phân thủy của  
dãy núi Giang Bò qua các đỉnh cao 660,9 m,  
605,6 m rồi chuyển hướng Bắc - Đông Bắc đi  
theo phân thủy qua đỉnh cao 463,3 m đến gặp  
đường mòn tại điểm có tọa độ (X = 2303471;  
Y = 560909).  
Khu vực giáp ranh giữa một số đơn vị hành  
chính cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã bị biến dạng  
còn nhiều và tiếp tục phát sinh trong quá trình  
phát triển kinh tế - xã hội, vận động địa chất tự  
nhiên, lũ lụt. Tình hình trên dẫn đến hiện tượng  
bỏ sót hoặc chồng chéo trong quản lý theo lãnh  
thổ, ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống của nhân  
dân và không đảm bảo an ninh, phát sinh nhiều  
bất cập, dễ gây bức xúc trong nhân dân. Do đó,  
việc giải quyết các tranh chấp đất đai liên quan  
đến đường địa giới hành chính đòi hỏi phải  
được tập trung giải quyết kịp thời. Nên áp dụng  
phương thức đã giải quyết giữa thành phố Hà  
Nội và tỉnh Hòa Bình để tham khảo và làm bài  
học kinh nghiệm.  
Kết quả giải quyết: phần phía Bắc núi Giang  
Bò giao cho thꢀnh phố Hꢀ Nꢁi; phần phía Nam  
núi Giang Bò giao cho tỉnh Hòa Bình quản lý  
(hình 8).  
Tài liệu tham khảo  
Sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành  
Quyết định cho đến nay công tác quản lý địa  
giới hành chính phần giáp ranh giữa thành phố  
Hà Nội và tỉnh Hòa Bình theo phạm vi đã được  
giải quyết rất ổn định, dân cư và đời sống kinh  
tế xã hội phát triển, đảm bảo trật tự an ninh.  
[1] Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt  
Nam ban hành ngày 28 tháng 11 năm 2013;  
[2] Quyết định số 513/QĐ-TTg ngày 02 tháng 5 năm  
2012 về việc phê duyệt Dự án “Hoàn thiện, hiện đại  
hóa hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính và xây dựng  
cơ sở dữ liệu về địa giới hành chính”.  
[3] Thông tư số 48/2014/TT-BTNMT ngày 22/8/2014  
quy định kỹ thuật về xác định địa giới hành chính,  
cắm mốc địa giới và lập hồ sơ địa giới hành chính  
các cấp”.  
5. Kết luận và kiến nghị  
[4] Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29 tháng 11  
Qua việc nghiên cứu phương thức giải  
quyết tranh chấp đất đai liên quan đến đường  
địa giới hành chính tại khu vực giáp ranh giữa  
Thành phố Hà Nội và tỉnh Hòa Bình ta thấy  
việc giải quyết tranh chấp phải đáp ứng:  
năm 2013.  
[5] Luật Đất đai số 13/2003/QH11 ngày 26 tháng 11  
năm 2013.  
[6] Báo cáo kết quả rà soát, thu thập thông tin biến động,  
hiện trạng và phương án đề xuất giải quyết dứt điểm  
tranh chấp địa giới hành chính giữa các tỉnh. Tháng 9  
năm 2009. Trung tâm Biên giới và Địa giới.  
Đảm bảo lợi ích chung của quốc gia, có tính  
đến đề nghị hợp lý của địa phương.  
[7] Quyết định số 1860/QĐ-TTg ngày 21 tháng 10 năm  
2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc xác định địa  
giới hành chính giữa thành phố Hà Nội và tỉnh Hòa  
Bình tại bảy khu vực chồng lấn do lịch sử để lại.  
Tôn trọng hiện trạng và thực tế quản lý.  
Cơ quan TW và các cấp chính quyền địa  
phương phải đồng thời phối hợp, có phương án  
giải quyết thấu tình đạt lý phù hợp với nguyện  
P.T.N. Quế và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 28-39  
39  
Resolving Land Disputes Related to Administrative  
Boundaries between Hanoi City and Hoa Binh Province  
Phan Thi Nguyet Que1,2, Dinh Thi Bao Hoa1, Hoang Van Soat2  
1Faculty of Geography, VNU University of Science, 334 Nguyen Trai, Hanoi, Vietnam  
2Center of National and Administrative Boundaries, Department of Survey,  
Mapping and Geographic Information Vietnam, Ministry of Natural Resources and Environment  
Abstract: Implementing Directive 364-CT on resolving land disputes related to administrative  
boundaries of provinces, districts and communes has been resolved. Based on that the records and  
maps of administrative boundaries were established with the full nature, legal, accurate and uniform  
stipulated. However, due to many reasons, the administrative boundary lines are still not clearly  
identified in the field.  
Land disputes between Hanoi city and Hoabinh province exist in 7 regions, each region has  
different characteristics of topography, population, history, culture, economic and social, therefore  
different solution will be applied for each region. This paper presents approaches for resolving the  
issue which involves administrative boundaries between Hanoi city and Hoabinh province. The  
research results later can be considered as a professor experience in land disputes resolving in the  
other provinces in the country...  
Keywords: Administrative boundaries, land disputes relation, opinion.  
pdf 12 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 23480 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu phương thức giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính khu vực giáp ranh giữa Thành phố Hà Nội và tỉnh Hòa Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_phuong_thuc_giai_quyet_tranh_chap_dat_dai_lien_qu.pdf