Tiến hóa các hệ thống cồn cát và vai trò của chúng đối với lịch sử bồi tụ châu thổ sông Mekong trong holocen muộn

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 59-73  
Tiến hóa các hệ thống cồn cát và vai trò của chúng đối với  
lịch sử bồi tụ châu thổ sông Mekong trong holocen muộn  
Nguyễn Thị Huyền Trang*, Trần Nghi, Đinh Xuân Thành,  
Trần Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Thị Tuyến  
Trương Đại học Khoa học Tự Nhiên, ĐHQGHN, 334 Nguyễn Trãi, Hà Nội, Việt Nam  
̀
Nhận ngày 17 tháng 4 năm 2018  
Chỉnh sửa ngày 07 tháng 5 năm 2018; Chấp nhận đăng ngày 09 tháng 5 năm 2018  
Tóm tắt: Hệ thống cồn cát trên đồng bằng sông Mekong đóng vai trò là các mốc đánh dấu quá  
trình phát triển của châu thổ về phía biển từ hơn 5.000 năm trở lại đây. Các thế hệ giồng cát chính  
là dấu ấn các thế hệ đường bờ cổ trong quá trình châu thổ bồi tụ. Nghiên cứu này trình bày một số  
kết quả nghiên cứu mới về lịch sử tiến hóa hệ thống cồn cát trên đồng bằng châu thổ sông Mekong  
dựa trên phân tích tổng hợp các số liệu địa chất, địa mạo, tân kiến tạo và định tuổi tuyệt đối bằng  
phương pháp huỳnh quang kích thích (OSL) và 14C. Những kết quả mới đã ghi nhận năm thế hệ  
cồn cát với tuổi tương ứng 5.000 năm, 2.500 năm, 1.000 năm, 500 năm và thế hệ cồn cát đang  
hình thành tại đường bờ hiện đại. Càng về phía biển tuổi các cồn cát càng trẻ. Hiện nay, tại khu  
vực tiền châu thổ đang hình thành một hệ thống cồn ngầm phân bố về phía nam và đông nam của  
các cửa sông. Các tính toán dựa trên tuổi tuyệt đối các thế hệ cồn cát cổ cho phép dự đoán trong  
200 năm tới các cồn cát ngầm này sẽ nổi cao và được nối với đất liền ở độ cao 5m như các cồn cát  
hiện tại. Lúc đó, châu thổ sông Mekong lại bước sang giai đoạn bồi tụ mạnh mẽ và tiền châu thổ  
hiện tại sẽ biến thành đồng bằng châu thổ thấp.  
Từ khóa: Giồng cát1, cồn cát2, châu thổ sông Mekong, đường bờ cổ.  
1. Mở đầu  
(2012) xác định bằng phương pháp nhiệt huỳnh  
quang kích thích [1], [2]. Tuy nhiên với khối  
lượng tài liệu đồ sộ thu được như vậy nhưng  
vẫn chưa được khai thác một cách triệt để vào  
mục tiêu nghiên cứu trầm tích luận nhằm làm  
sáng tỏ sự hình thành và phát triển các cồn cát,  
sự tăng trưởng các đường bờ cổ và chu kỳ trầm  
tích trong mối quan hệ với sự thay đổi mực  
nước biển. Nội dung bài báo sẽ trình bày chi tiết  
đặc điểm các cồn cát và cồn ngầm châu thổ  
sông Mekong giúp thiết lập lịch sử tiến hóa hệ  
thống cồn cát từ đó dự báo xu thế biến đổi châu  
Đồng bằng châu thổ1sông Mekong đặc  
trưng bởi hệ thống giồng cát hình cánh cung  
song song với bờ biển (Hình 1). Tuổi của các  
giồng cát đã được Toru Tamura, Yoshi Saito,  
_______  
Tác giả liên hệ. ĐT.: 84-987878409.  
Thuật ngữ “giồng cát” trong bài báo này dùng để chỉ  
1
những cồn cát cửa sông cổ hiện nằm trên đất liền.  
59  
N.T.H. Trang và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 59-73  
60  
thổ sông Mekong trong tương lai nhằm đề xuất  
vốn là các cồn ngầm dưới đáy biển, do quá trình  
tương tác của sóng biển và dòng chảy ven bờ,  
tại đới sóng đổ tốc độ dòng ngang bằng 0, động  
lực sóng đạt cực đại. Tại đó, trầm tích cát được  
tích tụ tạo nên một cồn cát ngầm trước cửa  
sông. Vào mùa nước dâng do bão, cồn cát ngầm  
được tôn cao ngang mực nước biển. Khi bão  
tan, mực nước hạ thấp xuống mức bình thường  
cồn cát tạo thành cồn nổi.  
giải pháp bảo vệ bờ biển. Sự tồn tại các giồng  
cát chứng tỏ ở đó từng là bờ biển, càng gần biển  
thì tuổi các giồng cát càng trẻ. Các đặc điểm địa  
hình, địa mạo và đặc điểm trầm tích của hệ  
thống cồn cát phản ánh chế độ tương tác động  
lực sông, biển và có thể một phần tác động của  
gió. Kết quả động lực sông thắng thế tạo nên  
các cồn cát dần tiến ra biển. Hệ thống cồn cát  
Hình 1. Bản đồ địa hình (3D) đồng bằng châu thổ sông Mekong và vị trí các giồng cát.  
N.T.H. Trang và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 59-73  
61  
phản về phổ màu có đối sánh với các thực thể  
ngoài thực địa.  
2. Cơ sở tài liệu và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Cơ sở tài liệu  
2/ Các phương pháp nghiên cứu trầm tích  
luận nhằm xác định thành phần vật chất, nguồn  
gốc, môi trường động lực thành tạo các thế hệ  
cồn cát, bao gồm: phân tích độ hạt trầm tích bở  
rời (xác định hàm lượng: sạn, cát, bột, sét, Md,  
So, Sk), phân tích lát mỏng thạch học (xác định  
thành phần khoáng vật, Md, So, Sk, hàm lượng  
thạch anh (Q), hàm lượng xi măng (Li), hệ số  
mài tròn (Ro), độ trưởng thành (Mt)…) (bảng  
1) và phân tích tướng trầm tích.  
Các số liệu nghiên cứu chủ yếu dựa trên tài  
liệu, số liệu thuộc đề tài KC09.13/11-15 và các  
công bố trong và ngoài nước khác. Các số liệu  
này bao gồm số liệu tuổi tuyệt đối (tuổi huỳnh  
14  
quang kích thích - OSL, tuổi C), tài liệu phân  
tích địa tầng dựa trên mô tả mẫu lõi khoan và  
trầm tích tầng mặt (Bảng 1). Ngoài ra các dữ  
liệu ảnh Google Earth, ảnh vệ tinh và bản đồ độ  
đâu đáy biển tỷ lệ 1:50.000 được sử dụng để  
xác định vị trí, hình dạng các hệ thống cồn cát  
trong khu vực.  
3/ Phương pháp xác định tuổi trầm tích.  
Tuổi hình thành các cồn cát được xác định nhờ  
phương pháp xác định tuổi huỳnh quang kích  
thích OSL là thời gian cuối cùng các thành tạo  
này được xuất lộ; trong khi đó phân tích đồng  
vị 14C từ di tích thực vật sống tại chỗ và vỏ sò  
nguyên dạng sẽ cho phép xác định được tuổi  
lắng đọng của các trầm tích chứa các di tích  
sinh vật đó (trong điều kiện không có quá trình  
tái trầm tích xảy ra).  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
1/ Phương pháp phân tích ảnh vệ tinh  
Landsat và Spot. Các ảnh vệ tinh được sử  
dụng trong nghiên cứu này là ảnh đa phổ có độ  
phân giải đáp ứng được các yêu cầu cho nghiên  
cứu địa mạo và địa chất khu vực tỉ lệ nhỏ. Các  
hệ cồn cát vị trí đường bờ và ranh giới  
đất/nước được xác định dựa trên sự tương  
Bảng 1. Các số liệu phân tích mẫu  
Đối tượng  
lấy mẫu  
Độ sâu  
(m)  
Phân tích độ hạt  
(số mẫu)  
*Tuổi C14  
(ngàn năm)  
**Tuổi OSL  
(ngàn năm/số  
mẫu)  
Phân tích lát  
mỏng thạch  
học  
Eh, pH,  
Kt  
Giồng cát  
Đồng bằng  
châu thổ  
Mẫu lõi  
0-20  
0-15  
215  
150  
10  
15  
5/47  
120  
-
-
50  
30  
0-50  
130  
15  
-
80  
50  
khoan  
Chú thích: Mẫu phân tích độ hạt và lát mỏng thạch học, Eh, pH, Kt sử dụng kết quả đề tài KC09-13/11-15 [3]; Mẫu xác  
định tuổi C14 sử dụng kết quả của Nguyễn Địch Dỹ, 2010 [4]; Mẫu OSL sử dụng của Tamura, Yoshi Saito, 2012 [1], [2]  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1. Đồng bằng châu thổ  
Tướng giồng cát  
Đồng bằng châu thổ sông Mekong có địa  
hình nghiêng thoải về phía biển trên đó nổi lên  
các giồng cát, chạy theo hình vòng cung và  
song song với bờ biển (Hình 1). Càng về phía  
biển, các giồng này càng cao và càng rộng.  
Giồng cát được phân bố theo từng thế hệ, mỗi  
thế hệ đánh dấu một đường bờ cổ. Khoảng cách  
giữa 2 giồng cát 1,9-4,9km, trung bình 2,4km.  
Từ những số liệu phân tích thu được,  
nghiên cứu đã xác định các trầm tích của đồng  
bằng châu thổ sông Mekong bao gồm hai đơn  
vị tướng: (1) Tướng giồng cát và (2) Tướng bột  
sét bãi bồi châu thổ. Chi tiết về các tướng được  
mô tả cụ thể như sau:  
N.T.H. Trang và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 59-73  
62  
Do sự chia cắt bởi các giồng và hệ thống trục  
Đới trong và đới ngoài có địa hình thấp  
nghiêng thoải về phía đồng bằng bãi bồi. Chúng  
gồm 2 tướng: tướng sét màu xám xanh đen  
chứa than bùn đầm lầy ven biển phủ trên tướng  
cát bột chọn lọc trung bình của 2 rìa giồng cát.  
Đới trung tâm của giồng cát ① gồm tướng cát  
hạt nhỏ có độ mài tròn và chọn lọc tốt (So =  
1,2-1,5, Ro = 0,6-0,8) (Hình 3a, 3b, 3c, 3d).  
Thành phần cấp hạt của đới trong cát là chủ yếu  
(60-90%), còn lại là bột sét và vụn vỏ sò vì vậy  
đã tạo nên màu vàng nâu đặc trưng cho môi  
trường oxi hóa. Kích thước hạt trung bình (Md)  
dao động từ 0,1 đến 0,21mm. Trầm tích luôn  
luôn có độ chọn lọc tốt (So≤1,5) và mài tròn từ  
trung bình đến tốt (Ro>0,5). Thành phần  
khoáng vật chủ yếu là thạch anh, chiếm từ 60-  
70%, felspat 20-25%, mảnh đá khoảng 10-15%  
(Hình 3c, 3d). Trầm tích giồng cát thường  
nghèo di tích thực vật và vi cổ sinh.  
lộ, kênh rạch chằng chịt nên địa hình khá phức  
tạp. Các giồng cát có hình dạng đơn hoặc phân  
nhánh, dài một vài km đến 28 km, rộng thường  
gặp 0,4-1km, cao phổ biến 1,5-3,5m, cong lồi về  
phía Đông Nam. Các giồng này thường được cấu  
tạo bởi cát xốp, dày một vài mét đến 15m. Giồng  
cát phát triển với mật độ cao hơn (1,9-2,1km/  
giồng) ở các vùng Ba Lai-Định An, thấp hơn  
vùng Cửa Đại-Ba Lai và thấp nhất ở vùng  
Tranh Đề-Mỹ Thạnh.  
Cấu trúc của một giồng cát được thể hiện  
theo hai phương khác nhau: (1) Phương vuông  
góc với trục dài giồng cát có 3 đới (Hình 2): đới  
trung tâm ①, đới trong ② và đới ngoài ③.  
- Đới trung tâm ① gồm tướng cát hạt nhỏ  
đồng nhất, chọn lọc và mài tròn tốt  
- Đới trong ② và đới ngoài ③  
Hình 2. Cấu trúc của giồng cát theo phương nằm ngang và phương thẳng đứng.  
Hình 3a. Giồng cát đồng bằng châu thổ Trà Vinh [3].  
Hình 3b. Giồng cát hiện đại ở Ba Động – Trà Vinh [3].  
N.T.H. Trang và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 59-73  
63  
Hình 3c. Trầm tích cồn chắn cửa sông (giồng cát) gặp trong lỗ khoan nông vùng Duyên Hải, Trà Vinh.  
Hình 3d. Ảnh lát mỏng trầm tích cát giồng cát mẫu GC12 và GC19 vùng Duyên Hải, Trà Vinh (N+, 10x).  
Nhóm tướng (3) phân bố trên địa hình sườn châu  
thổ (độ sâu 7-23m nước, rộng khoảng 5km) với  
đặc trưng độ dốc lớn, hẹp (Vùng II, Hình 4a).  
Tướng bột sét bãi bồi châu thổ  
Tướng bột sét bãi bồi châu thổ có địa hình  
bằng phẳng nghiêng thoải về phía biển. Trên  
đồng bằng châu thổ sông Mekong nhóm tướng  
này chiếm một diện tích rộng lớn và đóng vai  
trò quyết định. Chúng được thành tạo trong  
những thời kỳ ngập lụt do nước biển dâng khi  
bão xuất hiện và nước sông dâng cao do mưa lũ  
dài ngày. Trầm tích bột sét bãi bồi châu thổ  
thường có màu nâu và màu xám đen, chọn lọc  
kém. Trên diện tích bằng phẳng này phát triển  
nhiều hệ thống kênh rạch chằng chịt [5]. Đây là  
dấu tích của các lạch triều ven biển chúng nối tiếp  
nhau liên tục từ đất liền ra đến bờ biển hiện đại.  
Cồn cát cửa sông hiện đại  
Cồn cát cửa sông hiện đại có hai dạng: cồn  
cát ngầm và cồn cát nổi (Hình 5a, 5b). Những  
cồn cát ngầm là những “mầm” cát của cồn cát  
chắn cửa sông, phân bố thành từng chuỗi nằm  
trên trường cát tiền châu thổ dưới tác dụng của  
động lực sóng và dòng chảy ven bờ. Các cồn  
cát dạng này thường phân bố về phía nam và  
đông nam của các cửa sông (Hình 5a). Trong  
vùng nghiên cứu phát hiện được một số dạng  
cồn chắn sau:  
- Dạng cồn ngầm đang chìm dưới mặt nước  
cách khá xa cửa sông được phát hiện trên các  
băng đo sâu và bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ  
1:50.000 [6]. Dạng này hiện phân bố trước các  
cửa sông Cửa Đại (Hình 6a), Hàm Luông và  
Mỹ Thạnh (Hình 6b). Các cồn ngầm này kéo  
dài từ 1-2km theo hướng nam và cách bờ biển  
khoảng 5-6km.  
3.2. Châu thổ ngập nước hiện đại  
Châu thổ ngập nước bao gồm 3 nhóm tướng  
cơ bản: (1) nhóm tướng cồn cát cửa sông, (2)  
nhóm tướng bùn cát tiền châu thổ và (3) nhóm  
tướng bùn sườn châu thổ. Hai nhóm tướng đầu  
(1) và (2) phân bố trên địa hình tiền châu thổ  
(độ sâu từ 0-7m nước, cách bờ từ 15-25km)  
bằng phẳng, nghiêng thoải (Vùng I, Hình 4a).  
N.T.H. Trang và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 59-73  
64  
- Dạng cồn cát cửa sông nổi mập mở trên  
- Dạng cồn cát đã nổi tương đối trên mực  
nước biển trung bình, hiện đã gần nối liền với  
bờ biển hiện đại, chỉ cách với đất liền bởi một  
lạch triều nhỏ. Cồn cát dạng này phát hiện ở  
phía nam Cửa Tiểu (Hình 4b) với chiều dài  
khoảng 3,5km và rộng 1,6km.  
mặt biển được phát hiện trên ảnh vệ tinh và bản  
đồ địa hình đáy biển gặp ở phía nam cửa Cung  
Hầu (Hình 4a, 6c). Cồn cát này kéo dài khoảng  
5m theo hướng bắc nam, đỉnh cồn cách bờ biển  
khoảng 4km.  
Hình 4a. Sơ đồ mô hình số độ cao (3D) vùng châu thổ ngầm sông Mekong, vị trí hệ thống cồn ngầm  
và các tuyến vẽ mặt cắt địa hình (thu nhỏ từ tỷ lệ 1:50.000).  
Hình 4b. Mặt cắt địa hình đáy biển vùng cửa Hàm Luông theo đường CC’, quan sát rõ địa hình nổi cao  
của cồn ngầm trước cửa Hàm Luông.  
N.T.H. Trang và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 59-73  
65  
Hình 5a. Cồn cát ngầm cửa sông gần nổi cao  
phía đông nam Cung Hầu (Google Earth).  
Hình 5b. Cồn cát ngầm cửa sông nay được nổi cao  
phía nam Cửa Tiểu (Google Earth).  
Hình 6a. Cồn cát ngầm cửa sông phía đông nam  
Hình 6b. Cồn cát ngầm cửa sông phía đông  
Cửa Đại [6].  
nam cửa Mỹ Thạnh [6].  
Hình 6c. Cồn cát ngầm cửa sông gần nổi cao phía đông nam Cung Hầu [6].  
Các cồn chắn cửa sông là sản phẩm của quá  
trình tái trầm tích do hoạt động của sóng và các  
dòng chảy ven bờ. Các thể cát có độ chọn lọc  
tốt (So<1,5), độ mài tròn từ trung bình đến tốt  
(Ro>0,4) đã chứng minh cho môi trường thủy  
động lực có sóng mạnh và lặp lại lâu dài.  
N.T.H. Trang và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 59-73  
66  
Tiền châu thổ và sườn châu thổ  
Tiền châu thổ và sườn châu thổ thay đổi từ  
độ sâu 0-25m nước, phân bố thành một hình  
quạt bao quanh đường bờ hiện đại gồm hai  
nhóm tướng:  
(1) Tướng bùn cát tiền châu thổ phân bố ở  
độ sâu 0-6m nước, địa hình bằng phẳng.  
(2) Tường bùn sườn châu thổ phân bố ở  
sườn dốc châu thổ từ độ sâu 6-23m nước.  
Tiến hóa hệ thống giồng cát và cồn cát  
Lịch sử hình thành và phát triển cồn cát  
Trên cơ sở phân tích địa mạo, cổ địa lý,  
trình tự hình thành và số liệu định tuổi tuyệt  
đối, tập thể tác giả đã khôi phục lịch sử hình  
thành và tiến hóa các cồn cát diễn ra theo 4 giai  
đoạn sau đây (Hình 7):  
Giai đoạn 1: Tôn cao đáy biển nhờ dư thừa  
trầm tích. Giai đoạn này đánh dấu một quá trình  
vận chuyển và lắng đọng trầm tích trong điều  
kiện sông Mekong dư thừa trầm tích. Bờ biển  
được dịch chuyển ra phía ngoài và đáy biển  
được tôn cao khiến cho độ sâu dáy biển đạt tới  
ngưỡng của đới sóng đổ: D=½h, trong đó: D là  
độ sâu đáy biển, h là độ cao sóng.  
Giai đoạn 2: Hình thành cồn cát ngầm. Khi  
sóng từ ngoài khơi vào đến độ sâu đáy biển nhỏ  
hơn ½ độ cao bước sóng, tốc độ truyền sóng ở  
đỉnh và ở đáy mặt sóng không đồng nhất (đỉnh  
sóng có tốc độ lan truyền nhanh hơn so với đáy  
do ma sát và độ nhám (bottom roughness) của  
đáy biển) con sóng bị biến dạng, chiều cao tăng  
lên và đổ về phía trước khiến cho trầm tích đáy  
biển bị xáo trộn, vật liệu cát lắng đọng. Dần dần  
“mầm” cát được vun cao thành cồn cát ngầm.  
Hình 7. Cơ chế hình thành và lịch sử phát triển các cồn  
cát cửa sông khu vực sông Mekong.  
- Giai đoạn 4: Quá trình trầm tích theo  
phương thức hồi quy xảy ra trong khu vực  
lagoon cửa sông. Trầm tích bùn bồi tụ từ ven  
rìa cồn trong ra và từ rìa cồn ngoài vào. Dần dần  
cồn cát được mở rộng còn cửa sông bị thu hẹp tạo  
thành hai lạch triều chảy ra biển (hình 8).  
- Giai đoạn 3: Cồn cát ngầm nổi cao thành  
đảo chắn. Trong giai đoạn thời tiết bình thường,  
độ cao cồn ngầm chỉ đạt tới độ cao MNB trung  
bình của thủy triều. Khi có những cơn bão xuất  
hiện mực nước biển dâng cao từ 2-3m so với  
mực nước biển bình thường. Lúc này sóng bão  
và dòng chảy ven bờ vun cao cồn cát ngầm đạt  
tới độ cao mực nước dâng do bão. Đến khi thời  
tiết trở lại bình thường, cồn cát ngầm trở thành  
cồn nổi cao trên mực nước biển từ 2-3m [7].  
Lịch sử hình thành các thế hệ đường bờ cổ  
và tốc độ bồi tụ của đồng bằng châu thổ sông  
Mekong  
Trên cơ sở nghiên cứu tuổi tuyệt đối các thế  
hệ giồng cát trên đồng bằng châu thổ [8],[9] cho  
thấy châu thổ sông Mekong không phải tăng  
trưởng một cách liên tục về phía biển mà theo 5  
đới bờ cổ được ghi nhận trên địa hình-địa mạo  
N.T.H. Trang và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 59-73  
67  
của đồng bằng châu thổ sông Mekong: đới bờ  
5.000 năm, 2.500 năm, 1.000 năm, 500 năm và  
đường bờ hiện tại (Hình 8, 9). Tại mỗi đới bờ  
Sông Tiền và Sông Hậu đã tạo ra các quạt châu  
thổ hay gọi là thùy châu thổ. Bốn thế hệ quạt  
châu thổ nối tiếp và phủ chồng lùi lên nhau tạo  
nên một mặt cắt địa chất trầm tích có ranh giới  
chéo từ đất liền ra biển. Các giồng cát có tuổi  
trẻ dần từ đất liền ra biển có ranh giới chéo từ  
dưới lên trên mặt. Tuy nhiên xét trong cấu trúc  
của mặt cắt thẳng đứng các đơn vị tướng  
(ĐBCT, TCT, Sườn châu thổ) thì có ranh giới  
chuyển tướng nằm ngang [10]. Mỗi đơn vị  
tướng của châu thổ đều có tuổi trẻ dần từ lục  
địa ra biển. Riêng nhóm tướng đồng bằng  
châu thổ có bề dày mỏng dần từ trong ra đến  
0m hải đồ.  
Hình 8. Sơ đồ các giồng cát và tuổi OSL của chúng theo Toru Tamura (2012) [1]  
Bảng 2. Tiến hóa các giồng cát trong mối quan hệ với sự thay đổi mực nước biển  
Đường bờ Tuổi giồng cát  
So  
Q(%)  
Ro  
Li  
Mt  
MNB  
-1m  
cổ (năm)  
Hiện tại  
500  
(năm)  
0
1.25  
1.27  
1.29  
1.30  
1.33  
1.35  
1.58  
1.65  
1.67  
1.75  
1.90  
79,0  
76.8  
16.5  
15.6  
70.5  
69.2  
67.6  
68.1  
65.3  
61.5  
55.2  
0.75  
0.76  
0.77  
0.74  
0.75  
0.68  
0.67  
0.63  
0.65  
0.55  
0.51  
0.01  
0.02  
0.03  
0.05  
0.07  
0.06  
0.09  
0.11  
0.10  
0.12  
0.15  
1.22  
1.18  
1.63  
1.11  
1.04  
0.97  
0.81  
0.74  
0.74  
0.62  
0.52  
290±20  
520±30  
970±50  
1110±60  
1320±70  
2450±120  
2730±140  
3330±170  
4840±230  
5570±260  
1000  
2500  
5000  
-2m  
+5m  
N.T.H. Trang và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 59-73  
68  
Lịch sử hình thành năm thế hệ đường bờ cổ  
thấp +2,5m và dừng lại trong khoảng thời gian  
gắn liền với các giai đoạn dâng cao và hạ thấp  
mực nước biển, cụ thể:  
từ 3.000-2.500 năm BP.  
- Đường bờ cổ 1.000 năm BP, nằm cách xa  
đường bờ hiện đại 50km. Được dánh dấu bằng  
hệ thống các giồng cát có tuổi 1.110±60,  
1.090±60, 970±50 (Hình 9c), tương ứng với  
mực nước biển đã hạ sâu -2m nước so với mực  
nước biển hiện đại, dừng lại trong khoảng thời  
gian từ 1.500-1.000 năm.  
- Đường bờ cổ 5.000 năm BP. Đường bờ cổ  
5.000 năm BP được xác định bằng phương  
pháp OSL từ các giồng cát ở khu vực Cai Lậy  
có tuổi 5.570±260, 4.840±230, 4.550±220 năm  
BP (Hình 9a). Đường bờ biển này đánh dấu  
mực nước biển đâng cao cực đại +5m của pha  
biển tiến Flandrian (Holocen giữa) và dừng lại  
trong khoảng thời gian từ 6.000-5.000 năm BP.  
- Đường bờ cổ 500 năm BP, nằm cách  
đường bờ hiện đại 20km. Tương ứng với mực  
nước biển ấn định ở độ sâu -1m nước so với  
mực nước biển hiện đại và hệ thống giồng cát  
có tuổi 502±30, 400±20, 290±20 (Hình 9d).  
- Đường bờ cổ 2.500 năm BP. Được đánh  
dấu bằng hệ thống các giồng cát có tuổi  
3.330±170, 3.570±190, 2.780±140 năm BP  
(Hình 9b), tương ứng với mực nước biển hạ  
a
b
d
c
N.T.H. Trang và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 59-73  
69  
e
Hình 9. Các vị trí đường bờ cổ trên đồng bằng châu thổ sông Mekong.  
a. Đường bờ 6.000-5.000 BP  
b. Đường bờ 3.000-2.500 BP  
c. Đường bờ 1.500-1.000 BP  
d. Đường bờ 1.000-500 BP  
e. Đường bờ hiện tại  
Tốc độ dịch chuyển của đường bờ về phía  
biển từ khoảng 5.000 năm đến nay được tính  
toán dựa trên công bố tuổi tuyết đối OSL của  
trầm tích các giồng cát phân bố trên vùng đồng  
bằng châu thổ [1] (Bảng 3). Kết quả tính toán  
cho thấy tốc độ dịch chuyển trung bình thay đổi  
từ 10,93m/năm (Tiền Giang) đến 24,27m/năm  
(Bắc Bến Tre). Khu vực Trà Vinh có tốc độ  
dịch chuyển ổn định nhất ở cả ba đới bắc, trung  
tâm và phía nam (từ 17,01-18,1m/năm). Trong  
đó tốc độ dịch chuyển ở đới phía bắc là ổn định  
nhất theo thời gian (khoảng 16-17m/năm) trong  
khi tốc độ dịch chuyển ở phía đới trung tâm  
giảm dần và ở đới phía nam lại tăng dần theo  
thời gian. Khác với ở Trà Vinh, tốc độ dịch  
chuyển đường bờ ở khu vực Bến Tre lại rất  
khác nhau giữa ba đới: bắc, trung tâm và nam.  
Trong khi đới phía bắc có tốc độ dịch chuyển  
lớn nhất (trung bình 24,27m/năm), đới phía  
nam có tốc độ dịch chuyển trung bình (trung  
bình 16,66m/năm) thì đới trung tâm tốc dộ dịch  
chuyển đường bờ lại thấp nhất (trung bình chỉ  
đạt 11,02m/năm).  
Dựa trên 5 đường bờ được xác định trên  
Hình 9e, tốc độ dịch chuyển các đường bờ cổ  
qua từng giai đoạn (5.000 năm tới 2.500 năm,  
2.500 năm tới 1.000 năm, 1.000 năm tới 500  
năm và 500m tới bờ hiện tại) được tính toán thể  
hiện ở bảng 4. Khu vực trung tâm châu thổ (Trà  
Vinh) là vị trí có tốc độ bồi tụ cao nhất ở giai  
đoạn từ 5.000 năm tới 2.500 năm và 1.000 năm  
tới 500 năm. Khu vực trung tâm rìa bắc châu  
thổ (Bến Tre) lại là khu vực có tốc độ bồi tụ cao  
nhất ở giai đoạn 2.500 năm tới 1.000 năm và  
giai đoạn 500 năm tới hiện tại, tuy nhiên đây  
cũng là khu vực có sự biến động lớn về tốc độ  
dịch chuyển đường bờ. Khu vực rìa nam châu  
thổ có tốc độc dịch chuyển đường bờ giảm dần  
qua các giai đoạn từ 2.500 năm tới 1.000 năm  
tới 500 năm và tới hiện tại.  
N.T.H. Trang và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 59-73  
70  
Bảng 3. Tốc độ dịch chuyển đường bờ về phía biển từ 5.000 năm tới nay tính theo tuổi của hệ thống giồng cát ven biển  
Khoảng  
Tuổi  
cách tới bờ  
Tốc độ  
Tỉnh  
Khu vực  
giồng cát  
(năm BP)  
biển hiện tại (m/năm)  
(km)  
4.840  
1.760  
400  
52,89  
23,04  
12,01  
1,50  
10,93  
13,09  
30,03  
8,81  
Tiền  
Giang  
170  
1.200  
800  
29,12  
16,33  
9,178  
26,99  
16,55  
11,10  
5,07  
24,27  
20,41  
32,78  
11,02  
13,03  
10,18  
7,79  
Bắc  
280  
2.450  
1.270  
1.090  
650  
Bến Tre  
Trung  
tâm  
3.330  
1.370  
3.570  
2.320  
1.620  
1.590  
770  
55,48  
30,36  
60,73  
38,72  
26,13  
20,03  
13,04  
50,33  
14,98  
2,25  
16,66  
22,16  
17,01  
16,69  
16,13  
12,60  
16,94  
18,10  
28,81  
12,51  
17,32  
20,97  
34,48  
Nam  
Bắc  
Trà Vinh  
2.780  
520  
Trung  
tâm  
180  
3.330  
1.110  
290  
57,69  
23,28  
10,00  
Nam  
Bảng 4. Tốc độ dịch chuyển các đường bờ cổ từ 5000 năm đến nay  
Đường  
bờ (năm) thành tạo  
(năm)  
Thời gian  
Khu vực Bến Tre  
(Rìa bắc châu thổ)  
Khu vực Trà Vinh  
(Trung tâm châu thổ)  
Khu vực Sóc Trăng  
(Rìa nam châu thổ)  
Khoảng  
Vận tốc  
Khoảng  
Vận tốc  
Khoảng  
Vận tốc  
cách (km)  
(m/năm) cách (km)  
(m/năm) cách (km)  
(m/năm)  
5.000  
2.500  
2.500  
1.500  
1.000  
500  
32,692  
25,641  
7,372  
13,08  
17,09  
14,74  
28,85  
44,872  
25,000  
9,615  
17,95  
16,67  
19,23  
21,15  
25,000  
7,692  
6,41  
16,67  
15,38  
12,82  
500  
500  
14,423  
10,577  
Hiện tại  
N.T.H. Trang và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 59-73  
71  
Hình 10. Hệ thống giồng cát 400 năm và 144 năm cách ngày nay  
vùng đồng bằng ven biển Trà Vinh.  
Dự báo xu thế biến đổi các thế hệ cồn cát châu  
thổ sông Mekong  
của đường bờ về phía biển cho thấy kết quả  
dự đoán có độ tin cậy khá cao.  
Trong điều kiện nguồn trầm tích không thay  
đổi so với giai đoạn trước đắp đập thủy điện và  
mực nước biển tăng với tốc độ hiện tại (khoảng  
2mm/năm) [11] thì đường bờ biển châu thổ từ  
Cửa Tiểu đến Cửa Trần Đề vẫn tiến ra biển theo  
chu kỳ theo mô hình tích tụ trầm tích hướng  
tâm (Hình 10). Trường hợp cụ thể được dự báo  
cho vùng bờ biển Trà Vinh. Dựa trên kết quả  
phân tích tuổi tuyệt đối (Hình 7, Hình 10), tốc  
độ bồi tụ trung bình từ khoảng 400 năm đến  
144 năm cách ngày nay ở vùng đồng bằng ven  
biển phía bắc Trà Vinh trung bình là  
26,8m/năm. Với tốc độ này thì trong khoảng  
200 năm nữa đường bờ biển sẽ ở vị trí cồn cát  
trước cửa sông Cung Hầu cách bờ 5.355m. Với  
tốc độ tích tụ theo chiều thẳng đứng của các  
giồng cát được xác định cũng từ kết quả phân  
tích tuổi tuyệt đối là 24,24mm/năm thì trong  
khoảng 200 năm tới cồn cát trước cửa sông  
Cung Hầu sẽ cao khoảng 4,85m (24,24mm/năm  
x 200 năm)/1000 tương tự độ cao của giồng cát  
ven biển hiện tại. Sự phù hợp giữa tốc độ tích  
tụ thẳng đứng và tốc độ dịch chuyển ngang  
4. Kết luận  
Dựa trên những kết quả mới thu được đã  
cho phép tập thể tác giả rút ra một số kết luận  
sau:  
Trên đồng bằng châu thổ sông Mekong ghi  
nhận 5 thế hệ cồn cát với tuổi tương ứng 5.000  
năm, 2.500 năm, 1.000 năm, 500 năm và thế hệ  
cồn cát tại đường bờ hiện đại. Càng về phía  
biển tuổi các cồn cát càng trẻ. Hệ thống cồn cát  
đóng vai trò là các mốc đánh dấu quá trình phát  
triển của châu thổ về phía biển từ hơn 5.000  
năm trở lại đây. Trong khoảng thời gian này,  
đồng bằng châu thổ tăng trưởng không liên tục  
theo thời gian mà theo các chu kỳ hình thành  
cồn cát với khoảng cách trung bình 5km và thời  
gian thành tạo từ 200-250 năm đến 450-500  
năm /1 thế hệ giồng.  
Mỗi chu kỳ của cồn cát cửa sông trải qua 4  
giai đoạn: (1) Giai đoạn tôn cao địa hình đáy  
biển; (2) giai đoạn hình thành cồn cát ngầm; (3)  
giai đoạn cồn cát ngầm nổi cao trên MNB trung  
N.T.H. Trang và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 59-73  
72  
[4] Nguyễn Địch Dỹ, Nghiên cứu biến động cửa sông  
và môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng  
ven biển châu thổ Sông Cửu Lòng, phục vụ phát  
triển bền vững kinh tế - xã hội. Đề tài khoa học  
công nghệ cấp Nhà nước, mã số KC09.06/06-  
10, 2010.  
erosion of the Mekong River delta to human  
activities, Scientific Reports 5, 14745, 2015.  
bình; (4) giai đoạn bồi tụ trầm tích hồi quy tạo  
đồng bằng châu thổ thấp và lạch triều.  
Một thế hệ giồng cát đặc trưng bởi tổ hợp  
cộng sinh tướng cát giồng cát và tướng bột sét  
bãi bồi châu thổ. Hiện nay đáy biển ven bờ  
thuộc tiền châu thổ đang hình thành một hệ  
thống cồn cát ngầm về phía nam tây nam các  
cửa sông. Tính toán dựa trên tuổi các giồng cát  
cổ cho phép dự báo trong khoảng 200 năm tới  
cồn cát ngầm sẽ nổi cao như cồn cát ở đường  
bờ hiện đại với độ cao khoảng 5m.  
[6] Trung tâm Trắc địa Bản đồ biển là Bản đồ địa  
hình đáy biển. Bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ  
1/50.000 thuộc vùng lãnh hải.  
[7] Erban, L.E., Steven M Gorelick, Howard A  
Zebker,  
Groundwater  
extraction,  
land  
Lời cảm ơn  
subsidence, and sea-level rise in the Mekong  
Delta, Vietnam, Environmental Research  
Letters. 9, 084010, 2014, (6 pp).  
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Trường  
Đại học Khoa học Tự nhiên trong đề tài mã số  
TN.17.14.  
[8] Kondolf G.M, Annandale. G., Rubin Z. K.,  
Sediment starvation from dams in the lower  
Mekong River Basin: Magnitude of the effect and  
potential mitigation opportunities, E-proceedings  
of the 36th IAHR World Congress 28 June-3 July,  
2015, The Hague, the Netherlands.  
Tài liệu tham khảo  
[9] Kondolf G. M., Rubin Z. K., and Minear J. T.,  
Dams on the Mekong: Cumulative sediment  
starvation, Water Resources Research, 50:1–12,  
2014.  
[10] Tran Nghi, Nguyen Dich Dy, Doan Dinh Lam,  
Dinh Xuan Thanh, Nguyen Dinh Thai, Tran Thi  
Thanh Nhan, Giap Thi Kim Chi, Nguyen Thi  
Huyen Trang, Evolution of holocene depositional  
environments in the coastal area from the Tien  
river to the Hau river mouths. VNU Journal of  
Science, Earth Sciences. Vol 26, No.4 (E.S),  
2010, Page: 185-201.  
[1] Tamura, T., Yoshiki Saito, Mark D. Bateman, V.  
Lap Nguyen, T.K. Oanh Ta, Dan Matsumoto,  
Mekong River delta, Marine Geology 326–328,  
2012, 140–153.  
[2] Tamura, T., Saito, Y., Nguyen, V.L., Ta, T.K.O.,  
Le, M.D., Bateman, M.D., Matsumoto, D.,  
Mekong River delta. Geology 40, 2012, 303–306.  
[11] Bộ Tài nguyên và Môi trường, Kịch bản biến đổi  
khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam, NXB Tài  
nguyên-Môi trường và Bản đồ Việt Nam, 2012.  
[3] Đinh Xuân Thành, Nghiên cứu lịch sử tiến hóa  
châu thổ ngầm sông Mekong trong Holocen phục  
vụ phát triển bền vững. Đề tài khoa học công nghệ  
cấp nhà nước, mã số KC09.13/11-15, 2015.  
                     
N.T.H. Trang và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 59-73  
73  
Sandy Ridges System Evolution of Mekong Delta, Southern  
Vietnam and Its Role in Contructing History of Mekong Delta  
in Late Holocene  
Nguyen Thi Huyen Trang, Tran Nghi, Dinh Xuan Thanh,  
Tran Thi Thanh Nhan, Nguyen Thi Tuyen  
VNU University of science, 334 Nguyen Trai, Hanoi, Vietnam  
Abtract: Sandy ridges sytem in the Mekong delta take an importance role in making progading  
process of delta toward the sea from 5,000 years BP. The generations of sandy ridges are the imprints  
of the ancient shoreline generations. There are five generations of sandy ridges with the age of 5,000  
years, 2,500 years, 1,000 years, 500 years and finally the present sandy ridge which are forming at the  
modern shoreline. The nearer to the sea is younger. Currently, a series of delta front bars is forming to  
the south and southeast of river mouths. The delta front bar is predicted to reach 5m high in the next  
200 years and connect to the mainland as the present sandy ridge, based on obsolute age data of the  
ancient sandy ridges. At that time, the Mekong delta will enter a period of intense accretion and the  
current delta front will turn into a lower delta plain. However, human activities such as hydropower  
dam construction on the mainstream of the Mekong river and sand exploitation in river channel are  
causing seriously decrease sediment discharge.  
Keywords: Sandy ridge, delta front bar, Mekong delta, ancient shoreline.  
pdf 15 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 24100 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tiến hóa các hệ thống cồn cát và vai trò của chúng đối với lịch sử bồi tụ châu thổ sông Mekong trong holocen muộn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftien_hoa_cac_he_thong_con_cat_va_vai_tro_cua_chung_doi_voi_l.pdf