Nghiên cứu giải pháp hạn chế bồi lắng trước cửa lấy nước trước đập dâng sau đoạn sông cong áp dụng cho đầu mối lấy nước của hệ thống thủy lợi bắc Nghệ An

KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP HẠN CHẾ BỒI LẮNG TRƯỚC CỬA LẤY  
NƯỚC TRƯỚC ĐẬP DÂNG SAU ĐOẠN SÔNG CONG ÁP DỤNG CHO  
ĐẦU MỐI LẤY NƯỚC CỦA HỆ THỐNG THỦY LỢI BẮC NGHỆ AN  
PGS .TS . Lê Văn Nghị  
Viện khoa học thủy lợi Việt Nam  
Tóm tắt: Của lấy nước thường đặt ở các đoạn sông thẳng hoặc trước đỉnh cong của bờ lõm  
nhằm tăng khả năng lấy nước và giảm bồi lấp. Nhưng do điều kiện địa hình, địa chất mà phải bố  
trí ở phía sau của đỉnh cong. Trường hợp điển hình là của lấy nước của hệ thống thủy lợi Bắc  
Nghệ An – cụm đầu mối Đô Lương. Bài báo này trình bày giải pháp hạn chế bồi lắng trước cửa  
lấy nước bằng việc xác định tuyến bờ sông hợp lý theo lý thuyết của dòng chảy trên sông cong  
áp dụng cho cụm công trình đầu mối Đô Lương – Nghệ An. Kết quả đã được kiểm chứng trên mô  
hình vật lý tỷ lệ 1/70.  
1. MỞ ĐẦU *  
Đô lương là điển hình về sự bồi lắng, hàng  
năm phải đầu tư nạo vét sau mỗi mùa lũ.  
Cùng với sự cố kẹt cửa van xả cát năm  
1979, bãi bồi thượng lưu cửa lấy nước  
càng phát triển tạo nên khu bãi mới có  
đường bờ nhô cong ra lòng sông (chiếm  
1/3 lòng dẫn phía bên trái), chắn hướng  
dòng chảy vào cửa lấy nước, làm thay đổi  
hình thái dòng chảy khu vực công trình,  
giảm hiệu quả lấy nước tưới. Cùng với hệ  
thống kênh và công trình đầu mối đã  
xuống cấp, cụm đầu mối Đô Lương nay  
được cải t ạo nâng cấp nhằm đáp ứng yêu  
cầu về lấy nước và giảm bồi lắng trước  
của lấy nước cống Tràng Sơn.  
Các cửa lấy nước ven sông đặt sau đỉnh cong  
của bờ lõm, đặc biệt là lấy nước trước đập  
dâng thường bị bồi lắng nghiêm trọng. Với  
quán tính của dòng chảy cong cùng tác động  
của đập dâng làm biến đổi mạnh mẽ lòng dẫn  
và đường bờ khu vực cửa lấy nước, gây bồi  
lắng nghiêm trọng, cụm đầu mối Đập dâng Đô  
Lương là trường hợp điển hình.  
Cụm đầu mối Bara Đô Lương, tỉnh Nghệ An  
gồm đập dâng dài khoảng 350m, 01 cửa xả  
cát và cửa lấy nước Tràng Sơn đặt bên bờ  
trái thượng lưu đập dâng qua cống Mụ Bà  
cấp nước tưới cho 4 huyện Đô Lương, Yên  
Thành, Diễn Châu và Quỳnh Lưu. Công  
trình được xây dựng, vận hành từ năm 1939.  
Công trình được nâng cấp tại tuyến đập dâng  
hiện hữu, thuộc địa phận hai xã Tràng Sơn  
và Đặng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ  
An. Đập dâng dài 334.50 m (không kể các  
trụ pin) gồm 01 khoang tràn tràn tự do có  
chiều rộng thông nước 295.50 m, cao trình  
đỉnh ngưỡng tràn +10.50 m. Cửa xả cát gồm  
02 khoang có cửa van, mỗi khoang có chiều  
rộng thông nước +21.00 m; cao trình ngưỡng  
cửa van +7.26 m. Cống lấy nước Tràng Sơn:  
Trong 80 năm hoạt động đập dâng Đô  
Lương đã gây ra nhiều biến động lòng dẫn  
và bờ sông, như sự chuyển đổi lạch, cắt  
bãi và bồi lắng (Hình 1). Hiện tượng bồi  
lắng trước cửa lấy nước của cụm đầu mối  
Ngày nhận bài: 16/11/2016  
Ngày thông qua phản biện: 23/12/2016  
Ngày duyệt đăng: 28/12/2016  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
1
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
nằm bên trái sát tường cánh thượng lưu cửa luật của dòng chảy ở đoạn sông cong, nên  
lấy nước, tim cống dọc theo kênh chính, vị không đảm bảo được yêu cầu đã đặt ra.  
trí cửa vào tại K0+000.  
Qua nghiên cứu thí nghiệm trên mô hình  
Tuyến kè bờ thượng lưu cửa lấy nước dài vật lý kết hợp với lý thuyết về dòng chảy  
gần 700m được thiết kế nối t iếp từ tuyến trên đoạn sông cong đã đề xu ất tuyến kè  
kè hiện hữu cùng với việc nạo vét bãi bồi phù hợp cho kết quả thí nghiệm bồi nhỏ  
hiện trạng ở thượng lưu đầu mối đến cao nhất và đảm bảo được yêu cầu thuận dòng  
trình +7.26m tạo dòng chảy thuận dòng vào khi xả cát và lấy nước.  
cửa lấy nước và giảm bồi lắng cho thượng Bài bào này trình bày kết quả lựa chọn tuyến  
lưu cửa lấy nước, t ăng hiệu quả xả cát kè bờ trái đập dâng Đô Lương phía cống  
trong mùa lũ. Qua nghiên cứu các giai Tràng Sơn, nhằm đảm bảo yêu cầu thuận dòng  
đoạn khác nhau đường bờ được các đơn vị tạo điều kiện cho cống Tràng Sơn lấy nước và  
tư vấn thiết kế đề xuất không trên cơ sở qui giảm bồi lắng, xói lở.  
Địa hình năm 1959  
Địa hình năm 1979  
B
A
c
Lạch chính là lạch phải;  
Lạch chính là lạch trái;  
Dòng chảy hướng từ lạch phải hướng thẳng Dòng lạch trái mạnh, cắt 1 phần đuôi bãi  
sang cửa lấy nước ở phía bờ trái.  
giữa. Cửa xả cát hỏng. Tạo nên bãi bồi lớn ở  
bờ trái thượng lưu đập và cửa lấy nước.  
Địa hình năm 2013: lạch chính là lạch trái,  
dòng chảy sau nhập lưu theo quán tính sông  
cong hướng sang phía bờ phải, gây bồi bờ trái  
thượng lưu cửa lấy nước.  
Bãi bồi TL CLN  
Đường bờ hiện trạng  
Hình 1. Mặt bằng khu vực đâp Đô Lương qua các thời kỳ  
2. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU, CÁC tổng thể, tỷ lệ 1/70, lòng cứng kết hợp lòng  
TRƯỜNG HỢP THÍ NGHIỆM  
mềm cục bộ, tương tự theo tiêu chuẩn Froude,  
đảm bảo làm việc trong khu vực bình phương  
sức cản.  
2.1. Mô hình thí nghiệm  
Mô hình vật lý cụm đầu mối Đô Lương được  
xây dựng tại Trung tâm Nghiên cứu Thủy lực,  
Phòng thí nghiệm trọng điểm Quốc gia về  
động lực học sông biển là mô chính thái –  
Mô hình bao gồm lòng dẫn, đập dâng, cống  
lấy nước và kênh hạ lưu cống. Phạm vi mô  
phỏng theo chiều dòng chảy là 3000m, bao  
2
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
gồm phầm thượng lưu từ phía trên bãi giữa giai đoạn TKCS, do đơn vị lập dự án là Viện  
(khu vực sông Cả chưa tách làm 2 nhánh) tới Thủy Công đường bờ được bố trí lùi vào trong  
hạ lưu đập dâng Đô Lương, phạm vi hạ lưu bãi, cách đường bờ hiện trạng 120m.  
qua đoạn lòng sông đã từng bị xó i lở, cách vị  
- Tuyến TKKT: được đề xuất trong giai đoạn  
trí tuyến đập hiện trạng khoảng 700m. Chiều  
TKKT, do liên doanh tư vấn Quốc tế Suny và  
rộng mô hình bao gồm toàn bộ đập dâng Đô  
HEC 2, đường bờ được bố trí lùi sâu vào trong  
Lương, cống Tràng Sơn và khoảng 200m kênh  
bãi, cách đường bờ hiện trạng 135m.  
Chính; đường kè bờ, đê hai bên bờ sông Cả,  
- Tuyến TNMH: được đề xuất từ kết quả thực  
tổng chiều rộng thực tế mô phỏng B=1200m.  
nghiệm mô hình vât lý, đường bờ bố trí lùi vào  
Mô hình đủ lớn để bao hết các khu vực có tác  
trong bãi, cách đường bờ hiện trạng 90m, tiến  
động đến của lấy nước, bao bãi giữa, các đoạn  
ra lòng sông so với tuyến 2 là 45m. Được xác  
sông cong (Hình 2).  
định dựa trên qui luật chuyển tiếp của hai đỉnh  
cong. Giữa hai đỉnh cong cần 1 đoạn thẳng  
chuyển tiếp dài (2-3)B. Trong trường hợp này  
được chọn là 2,5B. B là chiều rộng lạch sông  
có đỉnh cong.  
Hình 2. Tổng thểmặt bằng mô hình thí nghiệm  
2.2. Các phương án nghiên cứu  
Tuyến bờ thượng lưu cửa lấy nước được thiết  
kế, nạo vét sâu vào trong bãi, nối tiếp từ tuyến  
kè hiện trạng nhằm: Hướng dòng chảy vào cửa  
lấy nước và trước 2 khoang xả cát bám sát bờ,  
thẳng góc với cửa xả cát; tránh tạo hiện tượng  
tách dòng; tạo ra một đường bờ ổn định không  
gây bồi lắng trước cửa lấy nước. Để đạt được  
mục tiêu tăng cường lượng bùn cát xả qua đập  
Đô Lương, cống xả cát đã được mở rộng hơn so  
với hiện trạng gồm 02 khoang. Tuyến kè này  
được nghiên cứu trong các giai đoạn của dự án  
với nhiều giải pháp bao gồm cả bố trí hệ thống  
kè mỏ hàn ở phía bãi giữa nhằm đẩy dòng chảy  
về phía chân kè, nhưng không có hiệu quả.  
Tuyến kè Tràng Sơn được nghiên cứu thí  
nghiệm, đánh giá bồi lắng, khả năng tác động  
đến xả cát, trên mô hình gồm 03 phương án  
trong các giai đoạn thiết kế của dự án: Giai  
đoạn thiết kế cơ sơ (TKCS), giai đoạn thiết kế  
kỹ thuật (TKKT), giai đoạn thí nghiệm mô  
hình (TNMH), cụ thể như sau:  
Hình 3. Chi tiết bố trí tuyến kè hoàn thiện  
ở bờ trái thượng lưu đập  
3. KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM  
Với 3 tuyến đường bờ được đề xuất trong các  
giai đoạn khác nhau được thí nghiệm trên mô  
hình lòng cứng nước trong để đo đạc các thông  
số thủy lực và thí nghiệm trên mô hình với  
- Tuyến TKCS: là tuyến kè được đề xu ất trong  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
3
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
dòng nước đục để xem xét đánh giá khả năng Lương khác nhau. Kết quả thí nghiệm với các  
bồi lấp trở lại của bãi bồi hiện trạng dưới tác cấp mực nước, lưu lượng cụ thể được trình bày  
động của việc mở rộng của xả cát trong các như trong bảng 1.  
trường hợp mực nước lưu lượng qua đập Đô  
Bảng 1. Các cấp lưu lượng, mực nước thí nghiệm  
Mực nước  
thượng lưu  
Mực nước Hoạt động  
Cống  
Tràng  
Sơn  
Đóng HT  
Đóng HT  
Đóng HT  
Mở lấy  
nước Qc  
Tần suất  
(P%)  
QsôngCả  
(m3/s)  
TT  
hạ lưu  
ZHL (m)  
18.92  
cửa van  
xả cát  
Ghi chú  
Z
HL (m)  
1
2
3
5%  
10%  
50%  
8070  
6070  
3450  
18.95  
18.06  
14.91  
Mở HT  
Mở HT  
Mở HT  
Mở CXC  
số 2  
Mùa lũ  
Mùa lũ  
Mùa lũ  
18.02  
14.84  
4
1400  
11.90  
11.21  
Mùa kiệt  
Mở CXC  
số 2  
Mở lấy  
nước Qc vận hành  
xả cát  
5
800  
11.42  
9.56  
tháng kiệt  
bình quân  
Mở CXC  
số 2  
Mở lấy  
nước Qc  
6
279  
10.65  
7.63  
90%  
3.1. Phân bố lưu tốc, lưu hướng các phương 0.9÷1.1m/s (Q=1400m3/s). Lưu tốc đáy của  
án đường bờ  
dòng cạnh bờ đạt 0.7÷1.3m/s, chỉ nhỏ hơn từ  
0.2÷0.5m/s so với lưu tốc của bó dòng chủ lưu  
liền kề. Lưu tốc phương án kè TKKT phân bố  
khá đồng đều trên toàn mặt cắt ngang sông,  
giảm dần dọc theo chiều dòng chảy trên đoạn  
thiết kế nạo vét +7.26m và nhỏ hơn lưu tốc  
phương án kè TKCS từ 0.5÷1.1m/s.  
- Về lưu hướng: với tuyến TKCS và tuyến  
TKKT, dòng chảy tách bờ ở ngay đầu đoạn  
đường bờ thiết kế mới. Phương án TKCS dòng  
tách sớm hơn và rõ rệt hơn kè TKKT. Càng về  
cuối kè, dòng tách bờ càn g xa, sát bờ là khu  
dòng chậm, phạm vi khoảng 70m với lũ cấp lũ  
ngang bãi.  
- Với tuyến TNMH, dòng chảy có lưu tốc phân  
bố đều hơn trên mặt cắt ngang sông nhất là  
phía bên trái, giá trị lưu tốc trung bình mặt cắt  
từ đầu tuyến kè mới tới thượng lưu công trình  
đạt từ 1.0÷1.45m/s (với Q = 800 ÷ 3450m3/s),  
tăng từ 0.1÷0.4m/s, tương đương từ 10÷30%  
so với phương án kè TKKT. Khu vực từ đầu  
tuyến kè tới đỉnh cong kè, giá trị lưu tốc trung  
bình và giá trị lưu tốc lớn nhất xấp xỉ nhau đạt  
từ 1.2÷2.0m/s, giá trị lưu tốc của dòng chủ lưu  
và dòng sát bờ là tương tự nhau, rõ rệt nhất ở  
cấp lũ thường xuyên Q=3450m3/s. Lưu tốc đáy  
lớn nhất của dòng chảy bên bờ trái đạt từ  
1.0÷2.0m/s, Vdaymax = 2m/s ứng với Q =  
3450m3/s, tăng từ 0.1÷0.6m/s so với kè TKKT.  
- Về lưu tốc dòng chảy: Với tuyến TKCS, lưu  
tốc trung bình dòng chủ lưu đạt từ 1.5÷2.6m/s  
(Q50% 3500m3/s), và từ 1.2÷1.9m/s (Q =  
=
1400m3/s), lưu tốc lớn nhất xuất hiện ở khu  
vực sông có bờ kè cong nhất (ngang đuôi bãi  
giữa) và giảm dần dọc theo chiều dòng chảy  
trên đoạn lòng sông được nạo vét +7.26m. Lưu  
tốc đáy của dòng sát bờ đạt 1.5m/s (lũ thường  
xuyên) và 1.0m/s (lũ nhỏ MN +12.0m). Lưu  
tốc dòng ven bờ nhỏ hơn lưu tốc của bó dòng  
chủ lưu liền kề từ 0.5÷1.2m/s.  
Với tuyến TKKT, lưu tốc trung bình dòng chủ  
lưu đạt 1.1÷1.5m/s (Q50%=3500m3/s), và đạt  
4
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
với lưu tốc giảm khoảng 30%÷40% so với lưu  
tốc dòng chủ lưu, đạt xấp xỉ và nhỏ hơn giá trị  
lưu tốc không xói của bùn cát trung bình trong  
sông. Bùn cát có nhiều thành phần hạt khác  
nhau, những hạt lớn hơn chìm trước tạo nên độ  
nhám đáy sông, kéo các lớp hạt tiếp theo lắng  
chìm, hình thành nên khu bồi lắng xuống ở khu  
dòng chậm bám theo đường bờ kè (0).  
Với cả 2 phương án tuyến TKCS và TKKT  
luôn tồn tại hiện tượng tách dòng là do bờ kè  
được thiết kế bạt sâu vào trong bãi, tăng mặt  
cắt ướt lòng sông, tạo nên đoạn sông cong  
ngược với đoạn sông thượng lưu, tạo thành  
hình thế sông mới gồm 2 đoạn cong ngược  
liên tiếp nhau, không có đoạn sông thẳng đủ  
dài để chuyển tiếp. (0).  
3.2. Kết quả thí nghiệm bồi lắng  
Thí nghiệm với dòng nước đục mô phỏng bùn  
cát cho thấy:  
(1). Tuyến TKCS (tuy ến kè lùi sâu vào trong  
bãi 120m)  
Hình thành bãi bồi khu vực chân kè thượng  
lưu kéo dài từ vị trí cách đầu tuyến kè khoảng  
200m đến tường chắn cát, đường biên bãi bồi  
kéo dài khoảng 600m có hướng song song với  
đường biên của địa hình nạo vét +7.26m,  
cong hướng về cửa xả cát. Khoảng lớn nhất  
cách từ biên bãi bồi ở chân kè đến đỉnh kè  
TKCS là 40m.  
Hình 4. Bình đồ lưu tốc dòng chảy thượng lưu  
đập dâng ứng với 3 phương án tuyến kè –  
Q
P50%=3500m3/s  
Giữa khu bồi ở thượng lưu đập và khu bồi  
bên bờ trái hình thành nên lạch mới của dòng  
chảy rộng khoảng 50m (bằng chiều rộng của  
cửa xả cát). Lạch mới được tạo ra do dòng  
chảy được hút mạnh về cửa xả cát, có phương  
hợp với phương bờ kè 1 góc khoảng 450,  
tương tự như lạch dòng chảy trước cửa xả cát  
hiện trạng, chỉ thay đổi về phương và vị trí  
dịch ra xa phía ngoài sông do tác dụng của  
cửa xả cát được mở rộng gấp 2 lần so với cửa  
xả cát hiện trạng (0).  
Hình 5. Thếsông cong hiện trạngvà tuyến kèthiết  
kếchưa tuân theo quy luật động lựcdòng chảy  
- Xu thế chung về quá trình hình thành, phát  
triển bãi bồi bên bờ kè trái là do hiện tượng  
dòng chảy tách dần bờ kè (dòng không bám  
theo bờ kè thiết kế), ven bờ kè là dòng chậm  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
5
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
a. Phương án kè TKCS  
b. Phương án kè TKKT  
Hình 6. Xu hướng dòng tách khỏi bờ kè thiết kế  
(2) Tuyến TKKT (tuyến kè lùi sâu vào bãi phương án thiết kế. Khoảng lớn nhất cách từ  
sông so với PA1, vị trí vào lớn nhất là 15m).  
biên bãi bồi ở chân kè đến đỉnh kè TKKT là  
52m (khoảng cách chênh lệch 12m so với  
phương án thiết kế chính là phạm vi đường kè  
TKKT được lùi sâu vào bãi).  
Hình thành bãi bồi khu vực chân kè thượng  
lưu với đường biên bãi bồi có hướng song  
song với đường kè bờ. Mức độ bồi ở khu vực  
cạnh bờ giảm hơn so với phương án thiết kế Với phương án kè TKKT, xu hướng bồi trên  
(cao trình đỉnh bồi khoảng 8.3m thấp hơn diện rộng toàn phạm vi khu vực bãi sông thiết  
0.4m so với phương án kè TKCS) tuy nhiên vị kế nạo vét +7.26m, không hình thành nên lạch  
trí đường biên khu bồi bên bờ tương tự như chảy rõ rệt như phương án kè TKCS.  
Kè  
Bồi lắng theo khu vực  
B
ồ
i trên di
ệ
n r
ộ
ng toàn  
B=40m  
B=50m  
B=52m  
tuyến TKCS  
tuyến TKKT  
Hình 7. Phạm vi, mức độ bồi lắng bờ kè trái  
(3) Tuyến TNMHTuyến kè thí nghiệm kiến nghị  
lượng đào khoảng 120000m3)  
Tuyến kè tiến ra lòng sông ở vị trí đỉnh cong Bùn cát không bồi lắng dàn trải ở khắp khu vực  
khoàng 45m so với tuyến kè TKKT (giảm khối chân kè và bãi nạo vét cao trình +7.26m như  
6
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
PAHT, tuy vẫn hình thành các khu bồi có xu tính dòng chảy luôn tách khỏi đầu đoạn cong hạ  
hướng giống như PATK, nhiên mức độ bồi giảm lưu tức đầu bờ kè thiết kế, lưu tốc dòng chảy  
nhỏ hơn nhiều về phạm vi và mức độ bồi lắng. cạnh bờ giảm nhỏ từ 30%÷40% so với dòng  
Khu vực kè bờ trái, khu bồi chỉ còn xuất hiện ở chảy chính tạo nên khu dòng chậm ven bờ, xu  
khoảng 1/3 đoạn cuối kè, từ sau vị trí đỉnh cong hướng gây bồi dọc theo bờkè.  
kè tới tường chắn cát. Chiều dài phạm vi bồi  
Tuyến kè TKKT xấu hơn tuyến kè theo TKCS  
giảm từ 730m còn khoảng 350m, chiều rộng tính  
trên phương diện chống bồi do: Lưu tốc dòng  
tới chân khu bồi giảm từ 70m còn 37m.  
chảy giảm trên toàn mặt cắt sông so với  
phương án kè TKCS, đạt từ 0.7÷1.5m/s. Bùn  
cát bồi lắng trên diện rộng hơn, phạm vi bồi  
trên toàn bộ bãi thiết kế nạo, đường bờ xu  
hướng nhanh trở về như hiện trạng, ảnh hưởng  
tới khả năng lấy nước của cống Tràng Sơn.  
- Tuyến kè thí nghiệm mô hình: Tuyến kè được  
thiết kế theo qui luật của bờ sông cong khi xác  
định được 02 đỉnh cong của dòng chảy cần một  
đoạn thẳng thẳng chuyển tiếp có chiều dài  
L=3.B (B bán kính cong của đỉnh thứ nhất của  
lòng dẫn), dòng chảy không bị tách dòng từ  
đoạn sông cong thượng lưu mà chỉ dần tách nhẹ  
Hình 8. Các khu vực bồi lắng bờ trái thượng  
lưu Đô Lương – tuyến TNMH  
từ sau đỉnh cong của bờ về cửa lấy nước. Bùn  
cát không bồi lắng dàn trải ở khắp khu vực chân  
kè và bãi nạo vét cao trình +7.26m như tuyến  
TKKT mà chỉ hình thành từ sau vị trí đỉnh cong  
của bờ với mức độ, phạm vi giảm nhỏ so với  
tuyến kè TKCS. Chiều dài phạm vi bồi giảm từ  
730m còn khoảng 350m, chiều rộng tính tới  
chân khu bồi giảm từ 70m còn 37m.  
4. NHẬN XÉT, KẾT LUẬN  
- Khi bố trí tuyến kè lùi quá sâu vào trong bãi  
(kè TKCS và TKKT): luôn tồn tại hiện tượng  
tách dòng ở khu vực chuyển tiếp từ kè hiện trạng  
sang kè thiết kế. Hiện tượng này là do bờ kè  
được thiết kế lùi sâu vào trong bãi, sông mở rộng  
mặt cắt ướt, tạo nên đoạn sông cong ngược với  
đoạn sông thượng lưu, tạo thành hình thế sông  
mới gồm 2 đoạn cong ngược liên tiếp nhau,  
không có đoạn sông thẳng chuyển tiếp theo quy  
luật động lực của sông cong. Do đó theo quán  
Tuyến kè thí nghiệm mô hình kiến nghị đã  
được Chủ đầu tư, Ban CPO, tư vấn thiết kế,  
thẩm tra và các bên liên quan đánh giá cao, là  
tuyến áp dụng thiết kế công trình kè bờ trái  
thượng lưu đập dâng Đô Lương trong giai  
đoạn bản vẽ thi công và xây dựng.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] P.G. Kixelep, A.D Altsul, nnk (2008), Sổ tay tính toán thủy lực, NXB xây dựng.  
[2] Lê Văn Nghị, nnk (2016), Kết quả thí nghiệm mô hình thủy lực cụm đầu mối Bara Đô  
Lương, Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về động lực hóc sông biển.  
[3] Lương Phương Hậu, Trần Đình Hợi (2004), Động lực học dòng sông và chỉnh trị sông,  
NXB Nông nghiệp.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 37 - 2017  
7
pdf 7 trang Mãnh Khiết 13/01/2024 8920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu giải pháp hạn chế bồi lắng trước cửa lấy nước trước đập dâng sau đoạn sông cong áp dụng cho đầu mối lấy nước của hệ thống thủy lợi bắc Nghệ An", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_giai_phap_han_che_boi_lang_truoc_cua_lay_nuoc_tru.pdf