Đánh giá tài nguyên đất và nước xã Na Ư, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên phục vụ xây dựng mô hình phát triển bền vững tích hợp 3E+1

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
Đánh giá tài nguyên đất và nước xã Na Ư, huyện Điện Biên,  
tỉnh Điện Biên phục vụ xây dựng mô hình phát triển bền vững  
tích hợp 3E+1  
Nguyễn Đức Hoài¹, Nguyễn Quốc Biên1,2, Lê Thuỳ Linh2, Nguyễn Thị Lý2, Lương  
Lê Huy3, Hà Tiên3, Nguyễn Tài Tuệ1,2, Lưu Việt Dũng2, Nguyễn Thị Hoàng Hà1,2,  
Nguyễn Thị Thu Hà1,2, Mai Trọng Nhuận2, Trần Đăng Quy1,2,3  
¹Khoa Địa chất - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, 334 Nguyễn Trãi, Hà Nội, Việt Nam  
²Phòng thí nghiệm Trọng điểm Địa môi trường và Ứng phó biến đổi khí hậu,  
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, 334 Nguyễn Trãi, Hà Nội, Việt Nam  
³Trung tâm Nghiên cứu Biển và Đảo, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN,  
334 Nguyễn Trãi, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 14 tháng 7 năm 2018  
Chỉnh sửa ngày 17 tháng 8 năm 2018; Chấp nhận đăng ngày 06 tháng 9 năm 2018  
Tóm tắt: Na Ư là một xã biên giới Việt - Lào nằm ở phía tây của tỉnh Điện Biên. Việc xây dựng  
mô hình phát triển bền vững tích hợp kinh tế, môi trường, hệ sinh thái và an ninh phi truyền thống  
(3E+1) là nhu cầu cấp thiết nhằm thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng địa phương, trong đó tài  
nguyên đất và nước là những yếu tố đầu vào quan trọng. Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá  
tài nguyên đất và nước của xã Na Ư nhằm định hướng sử dụng bền vững phục vụ cho việc xây  
dựng mô hình trên. Kết quả nghiên cứu cho thấy Na Ư có địa hình dốc, đất cho sản xuất nông  
nghiệp hạn chế, tổng N từ nghèo đến trung bình, tổng P từ trung bình đến giàu, tổng K₂O từ khá  
đến giàu và chất hữu cơ từ giàu đến rất giàu, các kim loại nặng (Pb, Cu, Zn, Cd, Mn, Fe, As) nằm  
trong giới hạn cho phép. Tài nguyên nước tương đối dồi dào, có chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu sinh  
hoạt và sản xuất nông nghiệp. Nhằm hướng đến việc xây dựng mô hình phát triển bền vững tích hợp  
3E+1 cần tăng cường sử dụng đất nông nghiệp bằng việc thâm canh tăng vụ, sử dụng phân bón hữu  
cơ và vi lượng thích hợp đi đôi với các giải pháp thuỷ lợi cung cấp nguồn nước tưới cho sản xuất.  
Từ khoá: phát triển bền vững, 3E+1, tài nguyên đất, tài nguyên nước, Na Ư.  
1. Đặt vấn đề  
nước ngày càng cạn kiệt và dễ làm nảy sinh các  
vấn đềan ninh phi truyền thống như nguồn  
nước, lương thực, xung đột môi trường và văn  
hoá. Vì vậy, các quốc gia luôn hướng đến mục  
Trong bối cảnh biến động toàn cầu hiện  
nay, các nguồn tài nguyên thiết yếu như đất,  
tiêu tận dụng được lợi thế về điều kiện tự nhiên,  
_______  
Tác giả liên hệ. ĐT.: 84-967790715.  
văn hoá, tài nguyên thiên nhiên phục vụ mục  
tiêu phát triển bền vững (PTBV) thông qua các  
mô hình cụ thể. Nhiều mô hình PTBV đã được  
1
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
2
đề xuất như mô hình tam giác đều; mô hình  
bào dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp và  
kinh tế kém phát triển. Tuy nhiên, các khu vực  
này lại có vị thế địa chính trị quan trọng đối với  
chủ quyền quốc gia nên đã có nhiều chính sách  
của Chính phủ được thực hiện nhằm thúc đẩy  
đầu tư và phát triển. Địa hình dốc nên trong khu  
vực thường hay xảy ra thiên tai như lũ ống, lũ  
quét, sạt lở đất, hạn hán và rét đậm, rét hại. Khu  
vực biên giới cũng là địa bàn rất nhạy cảm về  
quốc phòng, an ninh phi truyền thống như tội  
phạm ma tuý, buôn người, buôn bán động vật  
hoang dã, truyền đạo trái phép, di cư tự do. Tuy  
tài nguyên đất rất phong phú nhưng đất bằng  
phục vụ sản xuất nông nghiệp lại hạn chế. Một  
khó khăn khác đối với khu vực miền núi là tiếp  
cận nguồn nước để phục vụ sinh hoạt và sản  
xuất. Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng mô  
hình PTBV cho khu vực này là cần thiết để phát  
triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ môi  
trường, bảo tồn HST, giảm nhẹ thiên tai.  
lăng kính thay thế; mô hình quả trứng [1]. Mô  
hình PTBV phù hợp với Việt Nam cần tập trung  
vào việc giải quyết các vấn đề về đói nghèo và  
chậm phát triển, giảm thiểu các đe dọa từ môi  
trường đến con người [2-3]. Quan điểm này đã  
được Việt Nam quan tâm thể hiện qua Luật Bảo  
vệ môi trường năm 2014, Chiến lược bảo vệ  
môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định  
hướng đến năm 2020, định hướng chiến lược  
PTBV ở Việt Nam. Cách tiếp cận “Nexus  
Thinking” đã được Waughray đề xuất năm  
2011 để thúc đấy các mối liên kết giữa sử dụng  
tài nguyên thiên nhiên với an ninh lương thực,  
nguồn nước và năng lượng [4]. Trên cơ sở đó,  
các mô hình tích hợp được đề xuất và xác định  
là hướng đi thích hợp để thúc đẩy việc sử dụng  
và quản trị tài nguyên hiệu quả như mô hìnhSử  
dụng đất - Nước - Năng lượng - Biến đổi khí  
hậu[5];mô hình Đất - Nước - Năng lượng -  
Lương thực [6]; mô hình Nước - Năng lượng -  
Lương thực - Hệ sinh thái (HST)[7]. Mô hình  
Satoyama được phát triển nhằm đảm bảo sự cân  
bằng giữa con người với tự nhiên, duy trì tính  
bền vững của các HST thiết yếu [8].  
Từ thực tiễn trên, mô hình PTBV tích hợp  
3E+1 được đề xuất với định hướng cốt lõi là  
thúc đẩy mối liên kết của bốn hợp phần Kinh tế  
(Economy - E1), Môi trường (Environment -  
E2), Hệ sinh thái (Ecosystem - E3) và An ninh  
phi truyền thống (+1) (Hình 1).  
Các khu vực miền núi của Việt Nam có sự  
phân dị mạnh về địa hình, có diện tích rộng,  
dân cư thưa, thường là địa bàn cư trú của đồng  
Hình 1. Mối quan hệ tương quan giữa các hợp phần Kinh tế - Môi trường - Hệ sinh thái và Di cư tự do.  
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
3
Trong mô hình này, ba trụ cột gồm E1, E2  
và E3 có mối liên quan tích hợp, là các yếu tố  
cơ bản để thực hiện mô hình PTBV. Mô hình  
PTBV tích hợp 3E+1 cần hướng đến tìm ra các  
nội dung và giải pháp để phát triển kinh tế bằng  
các mô hình sinh kế bền vững, nâng cao thu  
nhập và mức sống của đồng bào dân tộc thiểu  
số trên cơ sở sử dụng bền vững nguồn tài  
nguyên đất và nước, đảm bảo khả năng tiếp cận  
tài nguyên nước và nâng cao khả năng thích  
ứng, giảm nhẹ tác động của thiên tai, bảo tồn  
HST tự nhiên. Khi HST suy giảm thì các sinh  
kế cũng bị suy giảm hoặc mất dẫn đến sự suy  
giảm kinh tế (E1), gia tăng tình trạng đói nghèo,  
từ đó thúc đẩy xuất hiện các xung đột môi  
trường, di cư tự do trong đồng bào dân tộc thiểu  
số. Ở khía cạnh ngược lại, khi một cộng đồng di  
cư đến vùng đất mới, nếu không có giải pháp  
thúc đẩy phát triển kinh tế, bảo tồn HST, sử  
dụng bền vững tài nguyên đất và nước thì môi  
trường và HST dần dần cũng bị suy thoái  
trước các tác động mới của con người. Vì  
vậy, việc nghiên cứu xây dựng mô hình  
PTBV tích hợp 3E+1 cho khu vực nông thôn  
miền núi là cần thiết.  
trạng môi trường nhưng cũng chỉ tập trung đánh  
giá phần trung tâm của tỉnh mà còn bỏ ngỏ ở  
vùng biên giới phía tây.  
2. Tổng quan về xã Na Ư  
Xã Na Ư nằm ở phía tây của huyện Điện  
Biên, tỉnh Điện Biên (Hình 2) được lựa chọn  
nghiên cứu vì có vị trí địa chính trị đặc thù,  
tiếp giáp với nước Cộng hoà Dân chủ Nhân  
dân Lào và thông thương qua cửa khẩu quốc  
tế Tây Trang. Địa hình của xãchủ yếu là đồi  
núi, diện tích rừng lớn, rất tiêu biểu cho vùng  
sinh thái Tây Bắc. Xã nằm trong lưu vực sông  
xuyên biên giới là sông Mê Công chảy qua  
nước bạn Lào, sinh sống trên địa bàn xã là đồng  
bào dân tộc H’mông đại diện cho các dân tộc  
thiểu số đặc thù của vùng Tây Bắc. Một lý do  
khác là do Na Ư ở vùng sâu, vùng xa, biên  
giới nên các số liệu cơ bản về điều kiện tự  
nhiên còn rất thiếu, chưa được quan tâm nên  
nghiên cứu này cũng góp phần lấp đầy các  
khoảng trống dữ liệu về tài nguyên đất và  
nước của khu vực.  
Xã Na Ư có địa hình đồi núi với sự phân cắt  
ngang và phân cắt sâu lớn, vùng trung tâm  
tương đối bằng phẳng là trung tâm hành chính,  
đồng thời là diện tích quần cư và canh tác lúa  
nước quan trọng của địa phương. Khí hậu tại  
Na Ư có tính chất nhiệt đới gió mùa vùng núi  
cao với nhiệt độ tương đối ôn hoà và lượng mưa  
trung bình. Báo cáo của xã năm 2016 cho thấy  
tổng dân số của xã là 1.540 người với 100% là  
người dân tộc H’mông, chia thành 6 bản là Na  
Ư, Ca Hâu, Con Cang, Hua Thanh, Púng Bửa  
và Na Láy. Hoạt động kinh tế của xã chủ yếu là  
nông - lâm nghiệp với cây trồng chủ lực là lúa  
nước, lúa nương, cây công nghiệp ngắn ngày và  
chăn nuôi đại gia súc. Việc canh tác lúa nước  
chủ yếu được thực hiện tại cánh đồng Na Ư với  
trình độ thâm canh và chăm sóc kĩ thuật còn  
yếu do tập quán của đồng bào H’mông. Kinh tế  
của xã còn chưa phát triển, tỉ lệ hộ nghèo lên tới  
34,0%, bình quân lương thực đầu người đạt 636  
kg/người.năm, thu nhập bình quân là 12 triệu  
đồng/người.năm.  
Quá trình xây dựng mô hình PTBV tích hợp  
3E+1 trải qua 6 bước. Bước 1 làxác lập cơ sở  
xây dựng mô hình, trong đó cơ sở thực tế là  
điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường,  
HST, kinh tế, xã hội. Bước 2 là xây dựng bộ chỉ  
số, tiêu chí để đánh giá hiện trạng các hợp phần  
của mô hình, tiêu chí tài nguyên nước và đất  
đóng vai trò quan trọng đối với hợp phần môi  
trường. Bước 3 làxác định tầm nhìn, mục tiêu  
và nội dung của mô hình. Bước 4 lànghiên cứu  
điều kiện và giải pháp thực hiện các mô hình.  
Bước 5 làcải tiến mô hình. Bước 6 là thực hiện  
và phát triển mô hình tại các vùng đã lựa chọn.  
Với khu vực nông thôn miền núi, sinh kế của  
người dân phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên  
đất và nước. Việc đánh giá các nguồn tài  
nguyên này được thực hiện ngay từ giai đoạn  
bắt đầu, cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn  
cho việc xây dựng và có tính chất quyết định tới  
sự thành công của mô hình. Tuy nhiên, các  
nghiên cứu về tài nguyên đất và nước ở khu vực  
còn rất hạn chế, hàng năm chỉ có báo cáo hiện  
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
4
Hình 2. Sơ đồ vị trí xã Na Ư, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên và các điểm lấy mẫu đất và nước.  
Theo báo cáo kiểm kê của xã năm 2015 thì  
nhà nước, nỗ lực trồng và tái sinh rừng tại xã  
Na Ư đã bước đầu có những hiệu quả nhất định  
khi độ che phủ rừng tăng từ 44,7% năm 2010  
lên 77% vào năm 2015.  
diện tích rừng của xã là 8.006,7 ha, chiếm 71%  
diện tích toàn xã, trong đó rừng gỗ tự nhiên núi  
đất lá rộng thường xanh phục hồi chiếm diện  
tích lớn nhất và tiếp sau là rừng gỗ tự nhiên núi  
đất lá rộng thường xanh trung bình, ít hơn là  
rừng trồng gỗ núi đất và rừng hỗn giao tre nứa -  
gỗ tự nhiên núi đất. Về chất lượng, báo cáo xây  
dựng nông thôn mới của xã khẳng định phần  
lớn diện tích rừng của xã có trữ lượng gỗ  
nghèo, mức độ đa dạng sinh học ở mức nghèo  
đến trung bình, chỉ các khu rừng ở độ cao từ  
1.000 m trở lên thì trữ lượng gỗ và mức độ đa  
dạng sinh học có khá hơn. Theo đánh giá của  
xã, do sự thay đổi nhận thức và chính sách của  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Công tác khảo sát thực địa và lấy mẫu ở xã  
Na Ư được thực hiện vào tháng 10/2017. Trong  
quá trình khảo sát, các tài liệu về điều kiện tự  
nhiên, kinh tế, xã hội, tài nguyên, môi trường đã  
được thu thập ở cấp huyện và cấp xã để phân  
tích, đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng cũng  
như phương thức sử dụng tài nguyên đất và  
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
5
nước của cộng đồng địa phương. Phương pháp  
GIS và viễn thám được sử dụng để phân tích độ  
dốc địa hình.  
phương pháp chuẩn độ. Tổng P được xác định  
bằng phương pháp so màu tại bước sóng 720nm  
(LVIS 400).Tổng K₂O được xác định bằng  
phương pháp quang kế ngọn lửa (PFP 7).Hàm  
lượng chất hữu cơ được xác định thông qua  
lượng chất mất khi nung (LOI). Mẫu đất đã  
nghiền được sấy ở nhiệt độ 105°C trong 24 giờ  
để làm bay hơi nước. Hàm lượng chất hữu cơ  
được xác định bằng việc đốt mẫu ở nhiệt độ  
550°C trong lò sấy trong 3 giờ thông qua sự hụt  
khối lượng trước và sau khi đốt mẫu.  
Tổng số 40 mẫu nước và 21 mẫu đất đã  
được lấy để đánh giá chất lượng môi trường đất  
và nước (Hình 2). Đối với mẫu nước, 16 mẫu  
nước sinh hoạt và ăn uống được lấy tại các hộ  
gia đình, 24 mẫu nước mặt được lấy tại các  
suối, ao hồ và kênh mương trên địa bàn toàn xã.  
Đối với mẫu đất, 07 mẫu đất đồi (đất nương  
rẫy), 06 mẫu đất ruộng lúa nước, 08 mẫu đất  
vườn đã được lấy để phục vụ nghiên cứu này.  
Mẫu nước và đất được lấy và bảo quản theo  
hướng dẫn của các tiêu chuẩn quốc gia hiện  
hành là TCVN 5994-1995, TCVN 6663-1:2011,  
TCVN 6663-6:2008 và TCVN 7538-2:2005.  
Mẫu nước được lấy vào chai PE đã được xử lý  
tại phòng thí nghiệm từ trước, được axit hoá  
bằng HNO₃ 63% (Merck) đến pH ≤ 2 và bảo  
quản lạnh ở nhiệt độ dưới 4℃ cho đến khi phân  
tích. Các thông số nhiệt độ, pH, TDS, DO và độ  
đục của nước được xác định ngay tại hiện  
trường bằng máy Horiba D-54, Horiba DO110  
và Hanna HI93703. Mẫu đất được lấy trên tầng  
mặt (0-20cm) bằng bay inox, trộn đều và đựng  
bằng túi PE theo phương pháp lấy mẫu đơn.  
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
4.1. Tài nguyên đất  
Kết quả kiểm kê của xã năm 2016 cho thấy  
tổng diện tích tự nhiên của Na Ư khoảng 11.380  
ha, được phân ra thành 05 loại theo hiện trạng  
sử dụng là đất rừng, đất trống, đất nông nghiệp,  
đất mặt nước và đất khác với tỉ lệ tương ứng lần  
lượt là 71%, 18%, 10%, 1% và 0,02% (Hình 3).  
Nhóm đất nông nghiệp tuy chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ  
nhưng lại có ý nghĩa quan trọng đối với sinh kế  
của cộng đồng địa phương. Các loại hình sử  
dụng đất tại Na Ư cũng mang đặc trưng chung  
của vùng đất dốc huyện Điện Biên, cây hàng  
năm gồm lúa, ngô; cây lâu năm có cây ăn quả;  
lâm nghiệp có nương rẫy lúa ngô xen rừng,  
rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; chăn nuôi có bò  
và dê, trong đó hiệu quả kinh tế từ chăn nuôi  
đạt cao nhất còn hiệu quả kinh tế từ lúa nương  
là thấp nhất [9].  
Mẫu nước được lọc qua giấy lọc cókích  
thước lỗ 0,45µm và xác địnhhàm lượng các kim  
loại nặng Pb, Cu, Zn, Cd, Mn, Fe, As bằng hệ  
thống quang phổ hấp phụ nguyên tử(AAS  
280FS, Agilent), riêng As được gắn với hệ  
thống hóa hơi VGA77. Mẫu đất được sấy khô ở  
nhiệt độ 60℃, nghiền mịn bằng cối mã não và  
loại bỏ các mảnh vụn hữu cơ có kích thước lớn.  
Mẫu đất đã nghiền được phá bằng hỗn hợp axit  
với tỉ lệ HNO₃:HF:HCl là 1:1:2 sử dụng lò vi  
sóng (Miltiware PRO, Anton Paar). Dung dịch  
mẫu thu được được pha loãng và xác định hàm  
lượng các kim loại nặngtương tự như đối với  
mẫu nước.  
Về thổ nhưỡng, đất đỏ vàng chiếm phần lớn  
diện tích với đặc trưng là tầng mỏng (phần lớn  
dưới 1m), độ dày lớp đất canh tác mỏng (dưới  
10cm) đất có màu vàng nhạt đến nâu đỏ, kết  
cấu chặt, lẫn nhiều đá sỏi, được hình thành do  
sự phong hoá của các loại đá gốc trong khu  
vực. Thuộc vào nhóm này là đất đỏ vàng do sự  
tích tụ của sét từ quá trình phong hoá đá vôi  
dạng khối của hệ tầng Bắc Sơn (C-P₁bs) tạo  
thành các dạng nón phóng vật ở phần trung tâm  
như tại Tây Trang, các bản Ca Hâu và Púng  
Bửa, trong đất còn lẫn nhiều tảng lăn của đá vôi  
hoặc các khối đá vôi nhô cao.  
Hàm lượng tổng P, tổng N và tổng K₂O  
được xác định theo hướng dẫn tại các tiêu  
chuẩn TCVN 8940-2011, TCVN 6498 : 1999  
và TCVN 8660-2011. Theo đó, mẫu đất đã  
nghiền được vô cơ hoá bằng H₂SO₄và HClO₄,  
đốt ở nhiệt độ 400℃. Đối với tổng N, mẫu  
được cất nitơ (UDK 139, Ý) và xác định bằng  
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
6
chiếm diện tích ít hơnvới đặc trưng là phẫu diện  
và tầng canh tác dày hơn (trên 20cm), màu xám  
đen,tầng mặt nhiều chất hữu cơ do được canh  
tác nông nghiệp lâu ngày, chủ yếu là lúa nước,  
tập trung tại bản Na Ư (Hình 4).Theo độ dốc,  
tài nguyên đất được phân thành 6 mức khác  
nhau: bằng phẳng (0-3º) chiếm 30%, lượn sóng  
(3-8º) chiếm 10%, hơi dốc (8-15º) chiếm 12%,  
dốc (15-20º) chiếm 9%, khá dốc (20-25º) chiếm  
10%, rất dốc (>25º) chiếm 29% (Hình 5) [10].  
Theo đó, có thể nhóm lại thành nhóm đất bằng  
là những vùng có độ dốc dưới 15º, chiếm 52%  
diện tích, chủ yếu là các vùng thung lũng, đồng  
bằng thấp và vùng bán sơn địa thuận lợi cho  
canh tác nông nghiệp, làm nương rẫy. Nhóm  
đất dốc là những vùng có độ dốc từ 15º đến 25º,  
chiếm 19% diện tích, được sử dụng để trồng  
cây lâu năm có tán rộng, độ che phủ cao để hạn  
Hình 3. Cơ cấu sử dụng đất của xã Na Ư.  
chế xói mòn, thích hợp cho sản xuất nông lâm  
kết hợp.Nhóm đất rất dốc là những vùng có độ  
dốc trên 25º, chiếm 29% diện tích, chỉ phù hợp  
để sản xuất lâm nghiệp như khoanh nuôi tái  
sinh, trồng, phục hồi và bảo vệ rừng. Các yếu tố  
độ dốc lớn, tầng đất mỏng, lượng mưa tập trung  
trong thời gian ngắn nên tài nguyên đất của Na Ư  
có nguy cơ thoái hoá từ trung bình đến mạnh [11].  
Đất đỏ vàng hình thành trên các đá cát kết,  
bột kết, đá phiến sét, phiến sét silic, phiến sét  
than, cát kết dạng quarzit của hệ tầng Tây Trang  
(S(?)-D₁tt) ở hai bên cánh đông bắc và tây nam  
xã Na Ư. Ít hơn là đất đỏ vàng hình thành trên  
các đá cuội kết, cát kết, bột kết của hệ tầng Suối  
Bàng (T₃ n-rsb) tạo thành từng diện nhỏ phân  
bố tản mạn trong xã. Đất phù sa ngòi suối  
Hình 4. Sơ đồ thổ nhưỡng và hiện trạng sử dụng đất của xã Na Ư.  
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
7
Hình 5. Sơ đồ phân loại đất theo độ dốc của xã Na Ư.  
Kết quả phân tích một số kim loại nặng  
trong đất xã Na Ư được trình bày trong Bảng 1  
và Hình 6. Theo đó, các nguyên tố Fe, Cu, As  
phân bố tương đối đồng đều trong các loại đất  
lấy tại các bản khác nhau với hệ số biến thiên  
CV (%) nhỏ, dao động trong khoảng 16-37%.  
Ngược lại, các nguyên tố Mn, Pb, Zn và Cd lại  
biến đổi khá mạnh giữa các loại đất cũng như vị  
trí lấy mẫu khác nhau với hệ số biến thiên trong  
khoảng 65-111%. Hàm lượng Mn cao nhất gặp  
trong mẫu đất vườn ở bản Púng Bửa và rất thấp  
gặp trong các mẫu đất đồi ở bản Na Ư và bản  
Púng Bửa. Hàm lượng Cd cao nhất phân tích  
được là trong mẫu đất đồi ở bản Na Láy, nhưng  
xu thế chung là hàm lượng Cd trong các mẫu  
đất đồi thấp hơn còn các mẫu đất ruộng và đất  
vườn tương đương nhau. Hai kim loại Pb và Zn  
có hàm lượng khác biệt nhau rõ rệt trong các  
loại mẫu đất, trong khi chúng có hàm lượng cao  
trong các mẫu đất ruộng, đặc biệt là mẫu đất  
ruộng lấy tại bản Hua Thanh, nhưng lại thấp  
trong các mẫu đất đồi. Tương tự, trong các mẫu  
đất vườn có hàm lượng các kim loại Mn và As  
cao hơn trong khi hàm lượng Cd lại thấp hơn so  
với các mẫu đất đồi và đất ruộng. Hàm lượng  
các kim loại trong các mẫu đất đồi có xu thế  
thấp hơn so với các mẫu đất vườn và đất ruộng,  
ngoại trừ hàm lượng Cd là cao hơn và hàm  
lượng Cu biểu hiện xu thế không rõ ràng. Hầu  
hết hàm lượng các kim loại nặng trong tất cả  
các mẫu đất tại xã Na Ư đều nằm dưới ngưỡng  
quy định của quy chuẩn [12] hay nói cách khác  
là chất lượng đất đảm bảo về mặt các chỉ tiêu  
kim loại nặng, chỉ riêng mẫu đất ruộng tại bản  
Hua Thanh có hàm lượng Zn vượt quá quy  
chuẩn với hệ số ô nhiễm là 1,1 (226,2 mg/kg so  
với 200 mg/kg trong quy chuẩn).So sánh với  
các loại đất nông nghiệp ở vùng đồng bằng,  
hàm lượng các kim loại nặng trong đất tại xã  
Na Ư thấp hơn, thậm chí là nhiều lần [13-15] vì  
ít chịu tác động của hoạt động nhân sinh cũng  
như cường độ canh tác.  
 
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
Bảng 1. Thống kê giá trịcác kim loại nặng trong mẫu đất tại xã Na Ư  
8
Cu  
(mg/kg)  
Mn  
(mg/kg)  
Zn  
(mg/kg)  
As  
(mg/kg)  
Fe (mg/kg)  
Cd (μg/kg)  
Pb (mg/kg)  
Toàn vùng  
(n=21)  
S
13.320-32.961 8,4-  
18,1-37,7  
28-1.928  
(439,7)  
406  
0,1-43,4  
(15,2)  
10,7  
13,1-  
226,2(82,1) (5,6)  
53,6  
2,2-10,1  
(25.411)  
4.362  
234(43,9) (29,8)  
48,9  
4,8  
2,1  
Hệ số biến  
thiên CV (%)  
17  
111  
16  
92  
70  
65  
37  
13.320-30.182 12,3-234  
(23.126) (54,1)  
18.365-32.961 16,5-94,2 22,5-34,4  
18,1-36,5  
(29,4)  
28-699  
(343)  
109-686  
(303)  
163-1.928 0,1-30,6  
(626)  
5,3-20,2  
(10,1)  
10,0-43,4  
(22,4)  
24,7-110,1 2,8-7,9  
(50,9) (4,7)  
71,4-226,2 2,2-6,8  
(121,8) (5,0)  
13,1-172,4 3,9-10,1  
Đất đồi (n=7)  
Đất ruộng  
(n=6)  
Đất vườn  
(n=8)  
QCVN 03 A  
QCVN 03 B  
(25.222)  
(49,6)  
(28,3)  
27,0-37,7  
(31,4)  
100  
150  
24.233-30.208 8,4-59,5  
(27.552)  
(30,8)  
1.500  
3.000  
(14,3)  
70  
(79,5)  
(6,8)  
200  
15  
100  
200  
20  
Ghi chú: Giá trị trong ngoặc là trung bình, QCVN 03 là QCVN03-MT:2015/BTNMT[12], A là đất nông nghiệp, B là đất lâm  
nghiệp, in đậm là vượt giá trị giới hạn cho phép.  
Hình 6. Đồ thị biểu diễn phân bố một số kim loại nặng trong đất xã Na Ư.  
Ghi chú: DD là đất đồi, DR là đất ruộng, DV là đất vườn.  
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
9
Qua phân tích tương quan có thể thấy các  
cặp nguyên tố có tương quan thuận là Fe-Cu (r  
= 0,4) và Pb-Zn (r = 0,4), các cặp nguyên tố có  
tương quan nghịch gồm Fe-Cd (r = -0,6), Cd-  
Cu (r = -0,4) và Cu-Pb (r = -0,5), các nguyên tố  
còn lại là Mn và As tương đối độc lập. Ngoại  
trừ cặp nguyên tố Pb-Zn tương quan thuận được  
giải thích là do chúng có sự tương đồng về tính  
chất địa hoá và thường đi kèm với nhau trong  
cả quá trình địa chất nội sinh và ngoại sinh. Các  
cặp nguyên tố còn lại rất khó giải thích về sự  
tương quan của chúng trong môi trường đất khu  
vực, có lẽ các loại đất này được hình thành từ  
quá trình phong hoá các đá trầm tích có vật liệu  
từ nhiều nguồn khác nhau, thành phần địa hoá  
phụ thuộc vào thành phần địa hoá của đá gốc  
nên tính chất địa hoá của các nguyên tố  
không còn thể hiện rõ nét trong quá trình hình  
thành đất.  
biết lớn giữa các mẫu đất đồi, đất vườn và đất  
ruộng. TổngK₂O dao động trong khoảng 1,08-  
2,68%, trong mẫu đất ruộng và mẫu đất vườn  
cao hơn mẫu đất đồi, thuộc loại khá đến giàu  
kali. Hàm lượng chất hữu cơ dao động từ 5,48%  
đến 10,42%, thuộc loại đất giàu đến rất giàu  
chất hữu cơ. Trong đó có các mẫu đất ruộng tại  
bản Hua Thanh và mẫu đất vườn tại bản Púng  
Bửa có hàm lượng chất hữu cơ rất giàu. So với  
kết quả quan trắc tại huyện Điện Biên, đất tại  
Na Ư có tổng N thấp hơn, tổng P thấp hơn hoặc  
bằng và tổng K₂O bằng hoặc cao hơn [16]. Xu  
thế chung là mẫu đất đồi có tổng K₂O, tổng N,  
tổng P thấp hơn so với các mẫu đất ruộng và đất  
vườn trong khi giữa các mẫu đất ruộng và đất  
vườn không có sự chênh lệch lớn, thường cao  
nhất là các mẫu đất ruộng. Nguyên nhân có thể  
là do sự rửa trôi từ đất dốc xung quanh xuống  
thung lũng Na Ư. Một nguyên nhân quan trọng  
khác là đất ruộng có rất nhiều các rễ nhỏ của  
lúa trong tầng canh tác, lúa chỉ được canh tác  
một vụ và để cỏ mọc trong thời gian còn lại  
trong năm và bị vùi lấp khi canh tác vụ mới nên  
hàm lượng chất hữu cơ trong đất ruộng cao.  
Bên cạnh đó, thói quen bỏ lại các phụ phẩm  
nông nghiệp sau canh tác của đồng bào H’mông  
cũng góp phần làm tăng hàm lượng chất hữu cơ  
và các chất dinh dưỡng trong đất.  
Kết quả phân tích cho thấy cả ba loại mẫu  
đất đồi, đất ruộng lúa nước, đất vườn là đất  
trung bình đến nghèo nitơ (Bảng 2), trong đó  
đất ruộng lúa nước có tổng N trung bình là  
0,09%, cao nhất trong ba loại đất mà nguyên  
nhân có thể là do được bón phân hoá học trong  
quá trình canh tác. Đất tại Na Ư thuộc loại  
trung bình tới giàu phốt pho, hàm lượng tổng P  
trong khoảng 0,08-0,16% và không có sự khác  
Bảng 2. Thống kê giá trịcác chỉ tiêu dinh dưỡng trong đất xã Na Ư  
Số hiệu mẫu  
Tổng N (%)  
Tổng P (%)  
Tổng K₂O (%)  
Chất hữu cơ (%)  
n=10  
n=10  
n=10  
n=12  
Toàn vùng  
0,05-0,15  
(0,08)  
0,08-0,16  
(0,11)  
1,08-2,68  
(2,09)  
5,48-10,42  
(7,07)  
n=1  
0,05  
n=1  
0,09  
n=1  
1,08  
n=2  
6,52-6,77  
Đất đồi  
n=5  
n=5  
n=5  
n=5  
Đất ruộng  
0,05-0,15  
(0,09)  
0,09-0,13  
(0,10)  
1,65-2,68  
(2,17)  
5,48-9,11  
(7,10)  
n=4  
n=4  
n=4  
n=5  
Đất vườn  
0,06-0,15  
(0,08)  
0,08-0,16  
(0,12)  
1,44-2,53  
(2,24)  
5,6-10,42  
(7,22)  
Ghi chú: Giá trị trong ngoặc là trung bình.  
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
10  
4.2. Tài nguyên nước  
axit carbonic làm giảm nồng độ ion H⁺ trong  
nước dẫn đến pH của nước tăng lên [17]. Chỉ số  
DO của các mẫu đều lớn hơn 6 mg/l đảm bảo  
sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt, bảo  
tồn động thực vật thủy sinh và các mục đích  
khác[18]. Hai chỉ tiêu TDS và độ đục của nước  
mặt biến đổi rất mạnh liên quan đến sự vận  
động của nước mặt khi chảy qua các thể địa  
chất, các vùng đất đá có khả năng xói mòn và  
hoà tan khác nhau. Chỉ số TDS thuộc loại thấp,  
thậm chí đạt tiêu chuẩn của Bộ Y tế áp dụng  
cho nước uống [19], cao nhất là trong nước suối  
chảy qua khu vực bản Na Ư. Độ đục của nước  
suối và nước tưới tiêu ở bản Ca Hâu cao bất  
thường so với các nguồn còn lại là do mưa ở  
phía thượng nguồn tại ngày lấy mẫu, còn trong  
điều kiện bình thường thì độ đục của nước mặt  
cũng rất thấp.  
Tổng lượng mưa bình quân năm của xã vào  
khoảng 1.650 mm/năm, thuộc loại có lượng  
mưa trung bình thấp. Biến trình lượng mưa  
trong năm phân thành hai mùa rõ rệt, mùa mưa  
nhiều kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, mùa mưa  
ít kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, các  
tháng có lượng mưa lớn nhất là từ tháng 6 đến  
tháng 8. Sự phân bố của biến trình mưa có ảnh  
hưởng lớn đến tài nguyên nước phục vụ sinh  
hoạt và sản xuất của người dân Na Ư.  
Xã Na Ư nằm hoàn toàn trong lưu vực sông  
Mê Công, nơi hợp lưu của sông Nậm Rốm và  
Nậm Nứa. Trên địa bàn xã có các suối chính  
như Nậm Hẹ ở phía đông nam, Ca Hâu ở phía  
bắc, Na Ư ở trung tâm và các suối Na Ten,  
Huổi Sa. Các suối này là nguồn cung cấp nước  
cho toàn bộ hoạt động sản xuất nông nghiệp của  
xã thông qua hệ thống kênh mương tự chảy  
theo địa hình. Do đây là các suối nhỏ, nằm trên  
địa bàn biên giới nên hiện tại các suối này chưa  
có các kết quả quan trắc về lưu lượng cũng như  
diễn biến dòng chảy. Qua báo cáo tổng kết hàng  
năm của xã cho thấy về cơ bản các suối này đáp  
ứng đủ nhu cầu nước sinh hoạt và sản xuất của  
nhân dân trong xã. Tuy nhiên, hai bản Ca Hâu  
và Hua Thanh có tình trạng thiếu nước sinh  
hoạt vào mùa khô. Do địa bàn rộng, độ dốc địa  
hình lớn nên khi có mưa lớn kéo dài có thể tạo  
thành lũ trên các suối này và lụt tại cánh đồng  
Na Ư gây ảnh hưởng đến giao thông và sản  
xuất nông nghiệp. Về tài nguyên nước ngầm  
hiện tại khu vực chưa có kết quả điều tra và  
đánh giá cụ thể.  
Ngoại trừ Mn và Pb, hàm lượng 05 kim loại  
nặng còn lại là Fe, Cd, Cu, Zn và As trong nước  
mặt biến động mạnh giữa các nguồn nước mặt  
và vị trí lấy mẫu khác nhau với hệ số biến thiên  
dao động trong khoảng 59-83%, thậm chí tại  
nhiều vị trí hàm lượng các kim loại nặng còn  
dưới giới hạn phát hiện của phương pháp phân  
tích (Bảng 3), chủ yếu liên quan đến quá trình  
vận động và hoà tan của nước mặt qua các thể  
địa chất khác nhau. Khi các nguồn nước này đổ  
vào sông Nậm Rốm, hoà trộn với nhau nên hàm  
lượng các kim loại nặng này trong nước sông  
thường có giá trị gần bằng với giá trị trung bình  
của các nguồn nước mặt trong khu vực. Kết quả  
đánh giá chất lượng nước mặt của xã Na Ư cho  
thấy hầu hết đều phù hợp với mục đích sinh  
hoạt, bảo tồn thực vật thuỷ sinh cũng như các  
mục đích sử dụng khác có yêu cầu chất lượng  
nước thấp hơn, trong đó bao gồm cả nước cho  
sản xuất nông nghiệp[18]. Duy chỉ có một mẫu  
lấy tại suối bản Con Cang và một mẫu lấy tại ao  
cánh đồng bản Na Ư lần lượt có hàm lượng Cu  
và Zn cao hơn giới hạn cho phép của mục đích  
sử dụng A1, đòi hỏi phải có phương án xử lý  
phù hợp khi dùng làm nước sinh hoạt. So sánh  
với kết quả quan trắc môi trường nước mặt tại  
sông Nậm Rốm và sông Nậm Núa ở phía dưới  
hạ lưu, hồ Pa Khoang (xã Mường Phăng) thì  
chất lượng nước mặt tại xã Na Ư tốt hơn do  
Kết quả quan trắc và phân tích chất lượng  
nước mặt xã Na Ư được trình bày trong Bảng 3  
và Hình 7. Các chỉ tiêu nhiệt độ, pH, DO của  
nước mặt tương đối ổn định giữa các nguồn  
nước khác nhau. Giá trị pH đặc trưng cho môi  
trường trung tính đến kiềm nhẹ. Thông thường,  
nước mặt lục địa thường thể hiện môi trường  
trung tính đến axit yếu. Nước mặt xã Na Ư thể  
hiện là môi trường trung tính đến kiềm nhẹ có  
lẽ liên quan đến việc nước vận động qua và hoà  
tan các đá vôi của hệ tầng Bắc Sơn (C-P₁ bs)  
trong khu vực, các phản ứng của CaCO₃ với  
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
11  
chưa bị ảnh hưởng nhiều bởi con người [16].  
Như vậy, nước mặt tại xã Na Ư còn rất sạch,  
hàm lượng các kim loại nặng rất thấp, nhiệt độ,  
độ đục và TDS thấp, DO cao đặc trưng cho  
nước đầu nguồn mới xuất lộ và ít chịu ảnh  
hưởng của hoạt động nhân sinh.  
được bà con ngăn lại, dẫn theo các đường ống  
về bản và chứa trong các bể chứa nước cộng  
đồng hoặc của hộ gia đình trước khi sử  
dụng.Kết quả phân tích 16 mẫu nước sinh hoạt  
thu thập trên địa bàn toàn xã cho thấy chất  
lượng nguồn nước sinh hoạt và ăn uống tại đây  
hợp vệ sinh, đảm bảo đáp ứng các quy  
chuẩncủa Bộ Y tế (Bảng 4) [19-20], chỉ có 7/16  
mẫu ở hai bản Con Cang và Ca Hâu có chỉ số  
độ đục vượt quá giới hạn cho phép.  
Kết quả của quá trình khảo sát cũng như  
thống kê của xã Na Ư cho thấy 100% người dân  
sử dụng nước uống và sinh hoạt là nước từ các  
khe suối nhỏ chảy qua địa bàn xã mà không qua  
bất kì phương pháp xử lý nào. Nguồn nước này  
Bảng 3. Thống kê giá trị các chỉ tiêu của nước mặtcủa xã Na Ư  
Fe  
Nhiệt  
độ (ºC)  
DO  
TDS Độ đục (tổng Cd  
Cu  
Mn  
Pb  
Zn  
As  
pH  
(mg/l) (mg/l) (NTU) số)  
(mg/l)  
(μg/l) (mg/l) (mg/l) (μg/l) (mg/l) (μg/l)  
21,8  
26,4  
6,96 6,06 37  
8,42 7,87 324  
1
517  
-
-
-
0,01 0,10  
0,04 3,55  
-
-
Toàn vùng  
(n=24)  
0,16  
0,20  
4,55  
0,17  
0,60  
(23,2) (7,67) (7,35) (120) (87)  
(0,09) (0,07) (0,05) (0,03) (1,91) (0,23) (1,61)  
Hệ số biến  
thiên CV (%)  
6
4
7
61  
191  
59  
76  
83  
35  
44  
66  
68  
22,23 7,44 6,06 37  
Nước ao (n=3) 26,40 7,84 7,33 196  
32  
55  
0,03  
0,15  
0,01  
-
0,02 1,44 0,30 0,08  
0,11 0,06 0,03 2,89 0,60 1,78  
(24,76 (7,62) (6,82) (108) (42)  
(0,11) (0,05) (0,04) (0,03) (1,95) (0,42) (1,05)  
Sông Nậm Rốm 26,23 7,68 6,93 78  
111  
1
517  
0,09  
-
0,16  
0,01 0,05 0,02 2,35 0,21 1,43  
0,01 0,10  
0,20 0,17 0,04 3,55 0,46 4,55  
21,80 6,96 6,34 38  
24,03 8,22 7,86 324  
-
-
-
-
Nước suối  
(n=16)  
(22,83) (7,77) (7,44) (127) (100) (0,09) (0,09) (0,05) (0,03) (1,92) (0,20) (1,65)  
22,13 6,97 7,25 84  
23,30 8,42 7,87 164  
(22,67) (7,34) (7,50) (114) (66)  
3
191  
-
-
-
0,01 0,88 0,01 0,59  
Nước tưới tiêu  
(n=4)  
0,10  
0,07 0,02 0,04 2,58 0,48 3,34  
(0,06) (0,05) (0,02) (0,03) (1,71) (0,18) (1,94)  
A1  
A2  
B1  
B2  
6-8,5 ≥ 6  
0,5  
1,0  
1,5  
2,0  
5
5
0,1  
0,2  
0,5  
1,0  
0,1  
0,2  
0,5  
1,0  
20  
20  
50  
50  
0,5  
1,0  
1,5  
2,0  
10  
20  
6-8,5 ≥ 5  
1.000*  
5,5-9 ≥ 4  
10  
10  
50  
100  
5,5-9 ≥ 2  
Ghi chú: Giá trị bên trên là nhỏ nhất, ở giữa là lớn nhất, trong ngoặc là trunh bình, (-) là dưới giới hạn phát hiện, in đậm là vượt giá trị giới  
hạn trong quy chuẩn; A1, A2, B1, B2 là giá trị giới hạn trong QCVN08-MT:2015/BTNMT tương ứng với các mục đích sử dụng khác nhau  
[18], (*) là giá trị tới hạn theo QCVN 01:2009/BYT[19].  
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
12  
Hình 7. Đồ thị biểu diễn các chỉ tiêu của nước mặt xã Na Ư.  
Ghi chú: NA là nước ao, NS là nước suối, NT là nước tưới tiêu, NS-NR là nước sông Nậm Rốm; CC là bản Con Cang, CH là  
bản Ca Hâu, NU là bản Na Ư, HT là bản Hua Thanh, PB là bản Púng Bửa.  
Bảng 4. Thống kê giá trị các chỉ tiêu của nước ăn uống và sinh hoạt của xã Na Ư  
Fe  
Nhiệt  
độ (ºC)  
DO  
(mg/l) (mg/l) (NTU) số)  
(mg/l)  
TDS Độ đục (tổng Cd  
Cu  
Mn  
Pb  
Zn  
As  
pH  
(μg/l) (mg/l) (mg/l) (μg/l) (mg/l) (mg/l)  
22,23 6,11 6,53 42  
Giá trị (n=16) 25,33 8,61 8,58 126  
(23,81) (7,62) (7,46) (80)  
0,6  
10,1  
(3,1)  
-
-
-
0,01  
0,25 0,15 0,08 2,87 0,63 3,17  
(0,09) (0,06) (0,06) (0,03) (1,83) (0,33) (1,42)  
-
-
-
0,15  
Hệ số biến  
thiên CV (%)  
QCVN01  
3
9
6
30  
79  
56  
101  
3,0  
59  
57  
40  
43  
73  
6,5-8,5  
6,5-8,5  
1000  
2
5
0,3  
0,5  
1,0  
0,3  
10,0 3,0  
10,0  
QCVN02  
Ghi chú: Giá trị bên trên là nhỏ nhất, ở giữa là lớn nhất, trong ngoặc là trung bình, (-) là dưới giới hạn phát hiện, in đậm là  
vượt giá trị giới hạn; QCVN 01 là QCVN 01:2009/BYT [19], QCVN 02 là QCVN 02:2009/BYT [20].  
4.3. Thảo luận  
Kết quả nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng  
lúa nước và định cư lại tại Na Ư. Kết quả phân  
tích độ dốc cho thấy diện tích đất bằng thuận lợi  
cho canh tác nông nghiệp ít, còn lại là đất dốc  
và rất dốc nên dễ bị xói mòn.  
thiếu đất sản xuất hoặc đất sản xuất bị thoái hoá  
là nguyên nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo và  
di cư tự do của đồng bào dân tộc thiểu số ở  
vùng Tây Bắc và Tây Thanh Hoá - Nghệ  
An[21]. Thực tế đã chứng minh ở Na Ư khi  
người H’mông di cư đến đây, do điều kiện đất  
đai thuận lợi nên người H’mông đã học trồng  
Kết quả nghiên cứu cho thấy đất nông  
nghiệp ở Na Ư thuộc loại tổng N từ nghèo đến  
trung bình, tổng P từ trung bình đến giàu, tổng  
K₂O từ khá đến giàu và chất hữu cơ từ giàu đến  
rất giàu. Vì vậy, để đảm bảo an ninh lương thực  
cần nghiên cứu chuyển đổi canh tác từ một vụ  
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
13  
lúa sang hai vụ lúa hoặc một vụ lúa - một vụ  
màu. Quá trình thâm canh tăng vụ, tăng cường  
hệ sốquay vòng sử dụng đất cần đi đôi với việc  
áp dụng kĩ thuật cải tạo đất, tăng hàm lượng  
dinh dưỡng trong đất, xây dựng hệ thống thuỷ  
lợi để đảm bảo nguồn nước tưới trong mùa khô.  
Để thực hiện điều này, cần tăngcường sửdụng  
phân hữu cơ có khảnăng khai thác tại chỗ kết  
hợp luân canh các loại cây họ đậu[22-23]. Qua  
khảo sát thực tế, hoạt động chăn nuôi cũng bắt  
đầu phát triển ở Na Ư với các loại hình chăn  
nuôi đại gia súc và nuôi lợn quy mô hộ gia đình  
theo hình thức thả rông. Người dân cần phải  
thay đổi thói quen, xây dựng chuồng trại cho  
vật nuôi, vừa đảm bảo việc vệ sinh môi trường  
nông thôn, phòng chống bệnh dịch, vừa đảm  
bảo có nguồn phân hữu cơ để cải tạo đất, tăng  
năng suất cây trồng.  
nước ở bản Ca Hâu và Hua Thanh. Để xử lý  
vấn đề này có thể nghiên cứu đầu tư xây dựng  
hồ chứa nước tập trung và các bể tích nước hộ  
gia đình. Nguồn nước sau khi dẫn về được chứa  
trong các hồ chứa, để lắng vài ngày trước khi  
phân phối đến các bể cộng đồng hoặc bể gia  
đình để sử dụng.  
5. Kết luận  
Tài nguyên đất và nước ở xã Na Ư là một  
trong những hợp phần quan trọng góp phần  
phát triển kinh tế, ổn định đời sống, hạn chế di  
cư. Do địa hình dốc nên tài nguyên đất phục vụ  
cho sản xuất nông nghiệp tại Na Ư tương đối  
hạn chế và dễ bị xói mòn, tài nguyên nước  
tương đối dồi dào đủ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt  
và sản xuất. Kết quả nghiên cứu cho thấy đất tại  
Na Ư không bị ô nhiễm kim loại nặng, thuộc  
loại tổng N từ nghèo đến trung bình, tổng P từ  
trung bình đến giàu, tổng K₂O từ khá đến giàu  
và chất hữu cơ từ giàu đến rất giàu. Các nguồn  
nước mặt đảm bảo chất lượng cho sinh hoạt và  
sản xuất. Để đảm bảo sự thành công của mô  
hình PTBV tích hợp 3E+1 tại xã Na Ư, giải  
pháp khuyến nghị được đưa ra đối với sử dụng  
bền vững tài nguyên đất và nước là tăng cường  
hệ số sử dụng đất nông nghiệp bằng cách thâm  
canh tăng vụ, sử dụng phân bón hữu cơ và vi  
lượng thích hợp đi đôi với các giải pháp thuỷ  
lợi cung cấp nguồn nước tưới cho sản xuất.  
Kết quả phân tích cũng cho thấy hàm lượng  
các kim loại nặng trong đất còn rất thấp so với  
quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, trong đó có một số  
kim loại nặng như Cu, Zn, Mnlà nguyên tố vi  
lượng cần thiết. Vì vậy, để tăng cường năng  
suất, đảm bảo sức đề kháng dịch bệnh của cây  
trồng, nâng cao chất lượng sản phẩm nông  
nghiệp cũng cần nghiên cứu bón phân vi lượng  
bổ sung cho đất. Trước khi thực hiện biện pháp  
này cần có nghiên cứu sâu hơn về một số  
nguyên tố vi lượng cần thiết cho cây trồng khác  
như Ni, B, Co, Mo… để lựa chọn loại phân bón  
hợp lý.  
Một vấn đề khác gặp phải khi thực hiện  
thâm canh tăng vụ là nước tưới trong thời kì  
khô hạn. Về cơ bản, xã Na Ư có nguồn nước  
mặt tương đối dồi dào, kết quả nghiên cứu cho  
thầy chất lượng nước tốt, đáp ứng được yêu cầu  
sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, cần đầu tư xây  
dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ sản  
xuất nông nghiệp. Trước hết cần tập trung xây  
dựng nâng cấp hệ thống thủy lợi như xây dựng  
hồ chứa nước, kênh dẫn nước, hệ thống trạm  
bơm nếu cần đáp ứng nguồn nước vào mùa khô  
để có thể tăng vụ, tăng năng xuất.  
Lời cảm ơn  
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Chương  
trình Khoa học và Công nghệ phục vụ PTBV  
vùng Tây Bắc, ĐHQGHN (đề tài KHCN-  
TB.19C/13-18). Tập thể tác giả chân thành cảm  
ơn các cộng sự tại Ban chỉ đạo Tây Bắc,  
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Trung tâm  
Nghiên cứu Biển và Đảo, Phòng thí nghiệm  
Trọng điểm Địa môi trường và Ứng phó biến  
đổi khí hậu, cán bộ và nhân dân xã Na Ưđã  
giúp đỡ và tham gia trong quá trình thực hiện  
nghiên cứu.  
Kết quả nghiên cứu cũng khẳng định chất  
lượng nước sinh hoạt và ăn uống của xã Na Ư  
rất tốt. Vấn đề duy nhất gặp phải là độ đục chưa  
đảm bảo theo quy chuẩn và có tình trạng thiếu  
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
sử dụng đất bền vững, Viện Địa lý - Viện Hàn lâm  
14  
Tài liệu tham khảo  
Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội, 2016.  
[1] Keiner Marco, History, definition(s) and models  
of sustainable development, Eidgenössische  
Technische Hochschule Zürich, 2005.  
[2] Chrisna du Plessis, Agenda 21 for sustainable  
construction in developing countries, CSIR Report  
BOU E, 2002.  
[3] Chrisna du Plessis, A strategic framework for  
sustainable construction in developing countries,  
Construction Management and Economics 25  
(2007) 67.  
[4] Waughray Dominic, Water Security: The Water–  
Food–Energy–Climate Nexus: The World  
Economic Forum Water Initiative. Island Press,  
USA, 2011.  
[5] Howells Mark, Sebastian Hermann, Manuel  
Welsch, Morgan Bazilian, Rebecka Segerström,  
Thomas Alfstad, Dolf Gielen, Holger Rogner,  
Guenther Fischer,and Harrij van Velthuizen,  
Integrated analysis of climate change, land-use,  
energy and water strategies, Nature Climate  
Change 3 (2013) 621.  
[12] Bộ Tài nguyên và Môi trường, QCVN 03  
MT:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia  
về giới hạn cho phép của một số kim loại nặng  
trong đất, Hà Nội, 2015.  
[13] Nguyễn Thị MaiHương, Lê Thị Phương Quỳnh,  
Nguyễn Thị Bích Ngọc, Christina Seider,  
Matthias Kaendler và Dương Thị Thuỷ, Hàm  
lượng một số kim loại nặng trong môi trường đất  
và nước vùng canh tác nông nghiệp (hoa, rau, cây  
ăn quả) tại xã Phú Diễn và xã Tây Tựu (Hà Nội),  
Tạp chí Khoa học và Công Nghệ 4 (2012) 491.  
[14] Nguyễn Thị LanHương, Nghiên cứu hàm lượng  
Cu, Pb, Zn trong đất nông nghiệp do ảnh hưởng  
của nước tưới sông Nhuệ, Tạp chí Khoa học Kĩ  
thuật thuỷ lợi và môi trường 45 (2014) 84.  
[15] Nguyễn KhánhTân, Đánh giá hàm lượng kim loại  
nặng trong đất nông nghiệp tại phường Châu Khê,  
thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Luận văn Thạc kĩ  
khoa học, Học viện Nông nghiệp, Nhà xuất bản  
Nông nghiệp, Hà Nội, 2016.  
[16] Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Điện Biên, Báo  
cáo hiện trạng Môi trường tỉnh Điện Biên giai  
đoạn 2011 - 2015, Tp. Điện Biên, 2015.  
[17] Trần NgọcLan, Hóa học nước tự nhiên, Nhà xuất  
bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2008.  
[18] Bộ Tài nguyên và Môi trường, QCVN 08  
MT:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia  
về chất lượng nước mặt, Hà Nội, 2015.  
[19] Bộ Y tế, QCVN 01:2009/BYT - Quy chuẩn kĩ  
thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống, Hà  
Nội, 2009.  
[6] Ringler Claudia, Anik Bhaduri, and Richard  
Lawford, The Nexus across water, energy, land  
and food (WELF): Potential for improved  
resource use efficiency?, Current Opinion in  
Environmental Sustainability 5 (2013) 617.  
[7] Lucia de Strasser, Annukka Lipponen, Mark  
Howells, Stephen Stec, and Christian Bréthaut, A  
Methodology to Assess the Water Energy Food  
Ecosystems Nexus in Transboundary River  
Basins, Water 8 (2016) 59.  
[8] Takeuchi Kazuhiko, Rebuilding the relationship  
between people and nature: The Satoyama  
Initiative, Ecological Research 25 (2010) 891.  
[20] Bộ Y tế, QCVN 02:2009/BYT - Quy chuẩn kĩ  
thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt, Hà  
Nội, 2009.  
[9] Nguyễn Thị Kim Yến vàĐỗ Nguyên Hải, Nghiên  
cứu các loại hình sử dụng đất nông nghiệp phục  
vụ phát triển du lịch ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện  
Biên, Tạp chí Khoa học và Phát triển 13 (2015)  
90.  
[10] Lương Đức Toàn và Trần Minh Tiến, Đặc điểm  
đất đai và yếu tố hạn chế trong đất nông nghiệp  
vùng Tây Bắc Việt Nam, Hội thảo quốc gia về  
Khoa học cây trồng lần thứ hai, Viện Khoa học  
Nông nghiệp Việt Nam, 2016.  
[21] Đậu TuấnNam, Di cư của người H'mông từ đổi  
mới đến nay, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia -  
Sự thật, Hà Nội, 2013.  
[22] Nguyễn HuySơn, Nghiên cứu khả năng cải tạo đất  
của một số loài cây họ Đậu trên đất Bazan thoái  
hoá vùng Tây Nguyên nhằm phục vụ rừng trồng  
và phát triển cây công nghiệp, Luận án tiến sĩ,  
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội,  
1999.  
[23] Nguyễn HữuHỷ, Tống Quốc Ân, Phạm Thị Nhận  
và Howeller Reinhardt, Kết quả trồng xen một số  
cây họ đậu để cải thiện dinh dưỡng đất trồng sắn,  
Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển nông thôn  
(2015) 33.  
[11] Phạm QuangVinh, Điều tra, đánh giá hiện trạng  
thoái hóa đất khu vực Điện Biên và Lai Châu  
bằng công nghệ viễn thám và hệ thông tin địa lý  
(GIS) nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và  
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
15  
Assessment of Soil and Water Resources in Na U Commune,  
Dien Bien District, Dien Bien Province for Building  
the Integrated 3E+1 Sustainable Development Model  
Nguyen Duc Hoai¹, Nguyen Quoc Bien¹
٫
², Le Thuy Linh², Nguyen Thi Ly², Luong  
Le Huy³, Ha Tien³, Nguyen Tai Tue¹
٫
², Luu Viet Dung², Nguyen Thi Hoang Ha¹
٫
²,  
Nguyen Thi Thu Ha¹
٫
², Mai Trong Nhuan², Tran Dang Quy¹
٫
²
٫
³  
¹Faculty of Geology, VNU-University of Science, 334 Nguyen Trai Street, Hanoi, Vietnam  
²Key Laboratory of Geoenvironment and Climate Change Response, VNU University of Science,  
334 Nguyen Trai, Hanoi, Vietnam  
³Sea and Island Research Center, VNU University of Science, 334 Nguyen Trai, Hanoi, Vietnam  
Abstract: Na U commune is located at the Vietnam-Laos frontier, belonging Dien Bien district,  
Dien Bien province. Building an integrated modelof the Economic, Environment, Ecosystem, and  
Non-traditional security (3E+1)is one of the most important approaches to promote sustainable  
development.Of which, soil and water resources are important pillars of the model. The present study  
aimed toassess soil and water resources inNa Ucommune in order to determinesolutions of the  
sustainable use of these resources for the 3E+1 model. Results showed that Na U commune  
characterized bya steep relief and lack ofthe agriculturalland resource.Total nitrogen,total phosphorus,  
totalK₂O and organic mattercontentvaried from low to average, average to high, relatively high to  
high, and high to very high level, respectively. Heavy metals (Pb, Cu, Zn, Cd, Mn, Fe, As)  
concentrations were still below the allowable limit of the National Technical Regulation. Water  
resource of Na U commune was abundant and has good quality for drinking, domestic and agriculture  
activities. In order to build the 3E+1 model, it is necessary to increase the agricultural land use by  
intensifying the crop lands, using appropriate organic fertilizers and micro elements in combination  
with irrigation.  
Keywords: Sustainable development, 3E+1, soil resource, water resource, Na U.  
pdf 15 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 16520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá tài nguyên đất và nước xã Na Ư, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên phục vụ xây dựng mô hình phát triển bền vững tích hợp 3E+1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_tai_nguyen_dat_va_nuoc_xa_na_u_huyen_dien_bien_tinh.pdf