Đánh giá tài nguyên đất và nước xã Na Ư, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên phục vụ xây dựng mô hình phát triển bền vững tích hợp 3E+1
Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
Đánh giá tài nguyên đất và nước xã Na Ư, huyện Điện Biên,
tỉnh Điện Biên phục vụ xây dựng mô hình phát triển bền vững
tích hợp 3E+1
Nguyễn Đức Hoài¹, Nguyễn Quốc Biên1,2, Lê Thuỳ Linh2, Nguyễn Thị Lý2, Lương
Lê Huy3, Hà Tiên3, Nguyễn Tài Tuệ1,2, Lưu Việt Dũng2, Nguyễn Thị Hoàng Hà1,2,
Nguyễn Thị Thu Hà1,2, Mai Trọng Nhuận2, Trần Đăng Quy1,2,3
¹Khoa Địa chất - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, 334 Nguyễn Trãi, Hà Nội, Việt Nam
²Phòng thí nghiệm Trọng điểm Địa môi trường và Ứng phó biến đổi khí hậu,
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, 334 Nguyễn Trãi, Hà Nội, Việt Nam
³Trung tâm Nghiên cứu Biển và Đảo, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN,
334 Nguyễn Trãi, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 14 tháng 7 năm 2018
Chỉnh sửa ngày 17 tháng 8 năm 2018; Chấp nhận đăng ngày 06 tháng 9 năm 2018
Tóm tắt: Na Ư là một xã biên giới Việt - Lào nằm ở phía tây của tỉnh Điện Biên. Việc xây dựng
mô hình phát triển bền vững tích hợp kinh tế, môi trường, hệ sinh thái và an ninh phi truyền thống
(3E+1) là nhu cầu cấp thiết nhằm thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng địa phương, trong đó tài
nguyên đất và nước là những yếu tố đầu vào quan trọng. Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá
tài nguyên đất và nước của xã Na Ư nhằm định hướng sử dụng bền vững phục vụ cho việc xây
dựng mô hình trên. Kết quả nghiên cứu cho thấy Na Ư có địa hình dốc, đất cho sản xuất nông
nghiệp hạn chế, tổng N từ nghèo đến trung bình, tổng P từ trung bình đến giàu, tổng K₂O từ khá
đến giàu và chất hữu cơ từ giàu đến rất giàu, các kim loại nặng (Pb, Cu, Zn, Cd, Mn, Fe, As) nằm
trong giới hạn cho phép. Tài nguyên nước tương đối dồi dào, có chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu sinh
hoạt và sản xuất nông nghiệp. Nhằm hướng đến việc xây dựng mô hình phát triển bền vững tích hợp
3E+1 cần tăng cường sử dụng đất nông nghiệp bằng việc thâm canh tăng vụ, sử dụng phân bón hữu
cơ và vi lượng thích hợp đi đôi với các giải pháp thuỷ lợi cung cấp nguồn nước tưới cho sản xuất.
Từ khoá: phát triển bền vững, 3E+1, tài nguyên đất, tài nguyên nước, Na Ư.
1. Đặt vấn đề
nước ngày càng cạn kiệt và dễ làm nảy sinh các
vấn đềan ninh phi truyền thống như nguồn
nước, lương thực, xung đột môi trường và văn
hoá. Vì vậy, các quốc gia luôn hướng đến mục
Trong bối cảnh biến động toàn cầu hiện
nay, các nguồn tài nguyên thiết yếu như đất,
tiêu tận dụng được lợi thế về điều kiện tự nhiên,
_______
Tác giả liên hệ. ĐT.: 84-967790715.
văn hoá, tài nguyên thiên nhiên phục vụ mục
tiêu phát triển bền vững (PTBV) thông qua các
mô hình cụ thể. Nhiều mô hình PTBV đã được
Email: [email protected]
1
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
2
đề xuất như mô hình tam giác đều; mô hình
bào dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp và
kinh tế kém phát triển. Tuy nhiên, các khu vực
này lại có vị thế địa chính trị quan trọng đối với
chủ quyền quốc gia nên đã có nhiều chính sách
của Chính phủ được thực hiện nhằm thúc đẩy
đầu tư và phát triển. Địa hình dốc nên trong khu
vực thường hay xảy ra thiên tai như lũ ống, lũ
quét, sạt lở đất, hạn hán và rét đậm, rét hại. Khu
vực biên giới cũng là địa bàn rất nhạy cảm về
quốc phòng, an ninh phi truyền thống như tội
phạm ma tuý, buôn người, buôn bán động vật
hoang dã, truyền đạo trái phép, di cư tự do. Tuy
tài nguyên đất rất phong phú nhưng đất bằng
phục vụ sản xuất nông nghiệp lại hạn chế. Một
khó khăn khác đối với khu vực miền núi là tiếp
cận nguồn nước để phục vụ sinh hoạt và sản
xuất. Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng mô
hình PTBV cho khu vực này là cần thiết để phát
triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ môi
trường, bảo tồn HST, giảm nhẹ thiên tai.
lăng kính thay thế; mô hình quả trứng [1]. Mô
hình PTBV phù hợp với Việt Nam cần tập trung
vào việc giải quyết các vấn đề về đói nghèo và
chậm phát triển, giảm thiểu các đe dọa từ môi
trường đến con người [2-3]. Quan điểm này đã
được Việt Nam quan tâm thể hiện qua Luật Bảo
vệ môi trường năm 2014, Chiến lược bảo vệ
môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định
hướng đến năm 2020, định hướng chiến lược
PTBV ở Việt Nam. Cách tiếp cận “Nexus
Thinking” đã được Waughray đề xuất năm
2011 để thúc đấy các mối liên kết giữa sử dụng
tài nguyên thiên nhiên với an ninh lương thực,
nguồn nước và năng lượng [4]. Trên cơ sở đó,
các mô hình tích hợp được đề xuất và xác định
là hướng đi thích hợp để thúc đẩy việc sử dụng
và quản trị tài nguyên hiệu quả như mô hìnhSử
dụng đất - Nước - Năng lượng - Biến đổi khí
hậu[5];mô hình Đất - Nước - Năng lượng -
Lương thực [6]; mô hình Nước - Năng lượng -
Lương thực - Hệ sinh thái (HST)[7]. Mô hình
Satoyama được phát triển nhằm đảm bảo sự cân
bằng giữa con người với tự nhiên, duy trì tính
bền vững của các HST thiết yếu [8].
Từ thực tiễn trên, mô hình PTBV tích hợp
3E+1 được đề xuất với định hướng cốt lõi là
thúc đẩy mối liên kết của bốn hợp phần Kinh tế
(Economy - E1), Môi trường (Environment -
E2), Hệ sinh thái (Ecosystem - E3) và An ninh
phi truyền thống (+1) (Hình 1).
Các khu vực miền núi của Việt Nam có sự
phân dị mạnh về địa hình, có diện tích rộng,
dân cư thưa, thường là địa bàn cư trú của đồng
Hình 1. Mối quan hệ tương quan giữa các hợp phần Kinh tế - Môi trường - Hệ sinh thái và Di cư tự do.
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
3
Trong mô hình này, ba trụ cột gồm E1, E2
và E3 có mối liên quan tích hợp, là các yếu tố
cơ bản để thực hiện mô hình PTBV. Mô hình
PTBV tích hợp 3E+1 cần hướng đến tìm ra các
nội dung và giải pháp để phát triển kinh tế bằng
các mô hình sinh kế bền vững, nâng cao thu
nhập và mức sống của đồng bào dân tộc thiểu
số trên cơ sở sử dụng bền vững nguồn tài
nguyên đất và nước, đảm bảo khả năng tiếp cận
tài nguyên nước và nâng cao khả năng thích
ứng, giảm nhẹ tác động của thiên tai, bảo tồn
HST tự nhiên. Khi HST suy giảm thì các sinh
kế cũng bị suy giảm hoặc mất dẫn đến sự suy
giảm kinh tế (E1), gia tăng tình trạng đói nghèo,
từ đó thúc đẩy xuất hiện các xung đột môi
trường, di cư tự do trong đồng bào dân tộc thiểu
số. Ở khía cạnh ngược lại, khi một cộng đồng di
cư đến vùng đất mới, nếu không có giải pháp
thúc đẩy phát triển kinh tế, bảo tồn HST, sử
dụng bền vững tài nguyên đất và nước thì môi
trường và HST dần dần cũng bị suy thoái
trước các tác động mới của con người. Vì
vậy, việc nghiên cứu xây dựng mô hình
PTBV tích hợp 3E+1 cho khu vực nông thôn
miền núi là cần thiết.
trạng môi trường nhưng cũng chỉ tập trung đánh
giá phần trung tâm của tỉnh mà còn bỏ ngỏ ở
vùng biên giới phía tây.
2. Tổng quan về xã Na Ư
Xã Na Ư nằm ở phía tây của huyện Điện
Biên, tỉnh Điện Biên (Hình 2) được lựa chọn
nghiên cứu vì có vị trí địa chính trị đặc thù,
tiếp giáp với nước Cộng hoà Dân chủ Nhân
dân Lào và thông thương qua cửa khẩu quốc
tế Tây Trang. Địa hình của xãchủ yếu là đồi
núi, diện tích rừng lớn, rất tiêu biểu cho vùng
sinh thái Tây Bắc. Xã nằm trong lưu vực sông
xuyên biên giới là sông Mê Công chảy qua
nước bạn Lào, sinh sống trên địa bàn xã là đồng
bào dân tộc H’mông đại diện cho các dân tộc
thiểu số đặc thù của vùng Tây Bắc. Một lý do
khác là do Na Ư ở vùng sâu, vùng xa, biên
giới nên các số liệu cơ bản về điều kiện tự
nhiên còn rất thiếu, chưa được quan tâm nên
nghiên cứu này cũng góp phần lấp đầy các
khoảng trống dữ liệu về tài nguyên đất và
nước của khu vực.
Xã Na Ư có địa hình đồi núi với sự phân cắt
ngang và phân cắt sâu lớn, vùng trung tâm
tương đối bằng phẳng là trung tâm hành chính,
đồng thời là diện tích quần cư và canh tác lúa
nước quan trọng của địa phương. Khí hậu tại
Na Ư có tính chất nhiệt đới gió mùa vùng núi
cao với nhiệt độ tương đối ôn hoà và lượng mưa
trung bình. Báo cáo của xã năm 2016 cho thấy
tổng dân số của xã là 1.540 người với 100% là
người dân tộc H’mông, chia thành 6 bản là Na
Ư, Ca Hâu, Con Cang, Hua Thanh, Púng Bửa
và Na Láy. Hoạt động kinh tế của xã chủ yếu là
nông - lâm nghiệp với cây trồng chủ lực là lúa
nước, lúa nương, cây công nghiệp ngắn ngày và
chăn nuôi đại gia súc. Việc canh tác lúa nước
chủ yếu được thực hiện tại cánh đồng Na Ư với
trình độ thâm canh và chăm sóc kĩ thuật còn
yếu do tập quán của đồng bào H’mông. Kinh tế
của xã còn chưa phát triển, tỉ lệ hộ nghèo lên tới
34,0%, bình quân lương thực đầu người đạt 636
kg/người.năm, thu nhập bình quân là 12 triệu
đồng/người.năm.
Quá trình xây dựng mô hình PTBV tích hợp
3E+1 trải qua 6 bước. Bước 1 làxác lập cơ sở
xây dựng mô hình, trong đó cơ sở thực tế là
điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường,
HST, kinh tế, xã hội. Bước 2 là xây dựng bộ chỉ
số, tiêu chí để đánh giá hiện trạng các hợp phần
của mô hình, tiêu chí tài nguyên nước và đất
đóng vai trò quan trọng đối với hợp phần môi
trường. Bước 3 làxác định tầm nhìn, mục tiêu
và nội dung của mô hình. Bước 4 lànghiên cứu
điều kiện và giải pháp thực hiện các mô hình.
Bước 5 làcải tiến mô hình. Bước 6 là thực hiện
và phát triển mô hình tại các vùng đã lựa chọn.
Với khu vực nông thôn miền núi, sinh kế của
người dân phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên
đất và nước. Việc đánh giá các nguồn tài
nguyên này được thực hiện ngay từ giai đoạn
bắt đầu, cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn
cho việc xây dựng và có tính chất quyết định tới
sự thành công của mô hình. Tuy nhiên, các
nghiên cứu về tài nguyên đất và nước ở khu vực
còn rất hạn chế, hàng năm chỉ có báo cáo hiện
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
4
Hình 2. Sơ đồ vị trí xã Na Ư, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên và các điểm lấy mẫu đất và nước.
Theo báo cáo kiểm kê của xã năm 2015 thì
nhà nước, nỗ lực trồng và tái sinh rừng tại xã
Na Ư đã bước đầu có những hiệu quả nhất định
khi độ che phủ rừng tăng từ 44,7% năm 2010
lên 77% vào năm 2015.
diện tích rừng của xã là 8.006,7 ha, chiếm 71%
diện tích toàn xã, trong đó rừng gỗ tự nhiên núi
đất lá rộng thường xanh phục hồi chiếm diện
tích lớn nhất và tiếp sau là rừng gỗ tự nhiên núi
đất lá rộng thường xanh trung bình, ít hơn là
rừng trồng gỗ núi đất và rừng hỗn giao tre nứa -
gỗ tự nhiên núi đất. Về chất lượng, báo cáo xây
dựng nông thôn mới của xã khẳng định phần
lớn diện tích rừng của xã có trữ lượng gỗ
nghèo, mức độ đa dạng sinh học ở mức nghèo
đến trung bình, chỉ các khu rừng ở độ cao từ
1.000 m trở lên thì trữ lượng gỗ và mức độ đa
dạng sinh học có khá hơn. Theo đánh giá của
xã, do sự thay đổi nhận thức và chính sách của
3. Phương pháp nghiên cứu
Công tác khảo sát thực địa và lấy mẫu ở xã
Na Ư được thực hiện vào tháng 10/2017. Trong
quá trình khảo sát, các tài liệu về điều kiện tự
nhiên, kinh tế, xã hội, tài nguyên, môi trường đã
được thu thập ở cấp huyện và cấp xã để phân
tích, đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng cũng
như phương thức sử dụng tài nguyên đất và
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
5
nước của cộng đồng địa phương. Phương pháp
GIS và viễn thám được sử dụng để phân tích độ
dốc địa hình.
phương pháp chuẩn độ. Tổng P được xác định
bằng phương pháp so màu tại bước sóng 720nm
(LVIS 400).Tổng K₂O được xác định bằng
phương pháp quang kế ngọn lửa (PFP 7).Hàm
lượng chất hữu cơ được xác định thông qua
lượng chất mất khi nung (LOI). Mẫu đất đã
nghiền được sấy ở nhiệt độ 105°C trong 24 giờ
để làm bay hơi nước. Hàm lượng chất hữu cơ
được xác định bằng việc đốt mẫu ở nhiệt độ
550°C trong lò sấy trong 3 giờ thông qua sự hụt
khối lượng trước và sau khi đốt mẫu.
Tổng số 40 mẫu nước và 21 mẫu đất đã
được lấy để đánh giá chất lượng môi trường đất
và nước (Hình 2). Đối với mẫu nước, 16 mẫu
nước sinh hoạt và ăn uống được lấy tại các hộ
gia đình, 24 mẫu nước mặt được lấy tại các
suối, ao hồ và kênh mương trên địa bàn toàn xã.
Đối với mẫu đất, 07 mẫu đất đồi (đất nương
rẫy), 06 mẫu đất ruộng lúa nước, 08 mẫu đất
vườn đã được lấy để phục vụ nghiên cứu này.
Mẫu nước và đất được lấy và bảo quản theo
hướng dẫn của các tiêu chuẩn quốc gia hiện
hành là TCVN 5994-1995, TCVN 6663-1:2011,
TCVN 6663-6:2008 và TCVN 7538-2:2005.
Mẫu nước được lấy vào chai PE đã được xử lý
tại phòng thí nghiệm từ trước, được axit hoá
bằng HNO₃ 63% (Merck) đến pH ≤ 2 và bảo
quản lạnh ở nhiệt độ dưới 4℃ cho đến khi phân
tích. Các thông số nhiệt độ, pH, TDS, DO và độ
đục của nước được xác định ngay tại hiện
trường bằng máy Horiba D-54, Horiba DO110
và Hanna HI93703. Mẫu đất được lấy trên tầng
mặt (0-20cm) bằng bay inox, trộn đều và đựng
bằng túi PE theo phương pháp lấy mẫu đơn.
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1. Tài nguyên đất
Kết quả kiểm kê của xã năm 2016 cho thấy
tổng diện tích tự nhiên của Na Ư khoảng 11.380
ha, được phân ra thành 05 loại theo hiện trạng
sử dụng là đất rừng, đất trống, đất nông nghiệp,
đất mặt nước và đất khác với tỉ lệ tương ứng lần
lượt là 71%, 18%, 10%, 1% và 0,02% (Hình 3).
Nhóm đất nông nghiệp tuy chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ
nhưng lại có ý nghĩa quan trọng đối với sinh kế
của cộng đồng địa phương. Các loại hình sử
dụng đất tại Na Ư cũng mang đặc trưng chung
của vùng đất dốc huyện Điện Biên, cây hàng
năm gồm lúa, ngô; cây lâu năm có cây ăn quả;
lâm nghiệp có nương rẫy lúa ngô xen rừng,
rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; chăn nuôi có bò
và dê, trong đó hiệu quả kinh tế từ chăn nuôi
đạt cao nhất còn hiệu quả kinh tế từ lúa nương
là thấp nhất [9].
Mẫu nước được lọc qua giấy lọc cókích
thước lỗ 0,45µm và xác địnhhàm lượng các kim
loại nặng Pb, Cu, Zn, Cd, Mn, Fe, As bằng hệ
thống quang phổ hấp phụ nguyên tử(AAS
280FS, Agilent), riêng As được gắn với hệ
thống hóa hơi VGA77. Mẫu đất được sấy khô ở
nhiệt độ 60℃, nghiền mịn bằng cối mã não và
loại bỏ các mảnh vụn hữu cơ có kích thước lớn.
Mẫu đất đã nghiền được phá bằng hỗn hợp axit
với tỉ lệ HNO₃:HF:HCl là 1:1:2 sử dụng lò vi
sóng (Miltiware PRO, Anton Paar). Dung dịch
mẫu thu được được pha loãng và xác định hàm
lượng các kim loại nặngtương tự như đối với
mẫu nước.
Về thổ nhưỡng, đất đỏ vàng chiếm phần lớn
diện tích với đặc trưng là tầng mỏng (phần lớn
dưới 1m), độ dày lớp đất canh tác mỏng (dưới
10cm) đất có màu vàng nhạt đến nâu đỏ, kết
cấu chặt, lẫn nhiều đá sỏi, được hình thành do
sự phong hoá của các loại đá gốc trong khu
vực. Thuộc vào nhóm này là đất đỏ vàng do sự
tích tụ của sét từ quá trình phong hoá đá vôi
dạng khối của hệ tầng Bắc Sơn (C-P₁bs) tạo
thành các dạng nón phóng vật ở phần trung tâm
như tại Tây Trang, các bản Ca Hâu và Púng
Bửa, trong đất còn lẫn nhiều tảng lăn của đá vôi
hoặc các khối đá vôi nhô cao.
Hàm lượng tổng P, tổng N và tổng K₂O
được xác định theo hướng dẫn tại các tiêu
chuẩn TCVN 8940-2011, TCVN 6498 : 1999
và TCVN 8660-2011. Theo đó, mẫu đất đã
nghiền được vô cơ hoá bằng H₂SO₄và HClO₄,
đốt ở nhiệt độ 400℃. Đối với tổng N, mẫu
được cất nitơ (UDK 139, Ý) và xác định bằng
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
6
chiếm diện tích ít hơnvới đặc trưng là phẫu diện
và tầng canh tác dày hơn (trên 20cm), màu xám
đen,tầng mặt nhiều chất hữu cơ do được canh
tác nông nghiệp lâu ngày, chủ yếu là lúa nước,
tập trung tại bản Na Ư (Hình 4).Theo độ dốc,
tài nguyên đất được phân thành 6 mức khác
nhau: bằng phẳng (0-3º) chiếm 30%, lượn sóng
(3-8º) chiếm 10%, hơi dốc (8-15º) chiếm 12%,
dốc (15-20º) chiếm 9%, khá dốc (20-25º) chiếm
Theo đó, có thể nhóm lại thành nhóm đất bằng
là những vùng có độ dốc dưới 15º, chiếm 52%
diện tích, chủ yếu là các vùng thung lũng, đồng
bằng thấp và vùng bán sơn địa thuận lợi cho
canh tác nông nghiệp, làm nương rẫy. Nhóm
đất dốc là những vùng có độ dốc từ 15º đến 25º,
chiếm 19% diện tích, được sử dụng để trồng
cây lâu năm có tán rộng, độ che phủ cao để hạn
Hình 3. Cơ cấu sử dụng đất của xã Na Ư.
chế xói mòn, thích hợp cho sản xuất nông lâm
kết hợp.Nhóm đất rất dốc là những vùng có độ
dốc trên 25º, chiếm 29% diện tích, chỉ phù hợp
để sản xuất lâm nghiệp như khoanh nuôi tái
sinh, trồng, phục hồi và bảo vệ rừng. Các yếu tố
độ dốc lớn, tầng đất mỏng, lượng mưa tập trung
trong thời gian ngắn nên tài nguyên đất của Na Ư
có nguy cơ thoái hoá từ trung bình đến mạnh [11].
Đất đỏ vàng hình thành trên các đá cát kết,
bột kết, đá phiến sét, phiến sét silic, phiến sét
than, cát kết dạng quarzit của hệ tầng Tây Trang
(S(?)-D₁tt) ở hai bên cánh đông bắc và tây nam
xã Na Ư. Ít hơn là đất đỏ vàng hình thành trên
các đá cuội kết, cát kết, bột kết của hệ tầng Suối
Bàng (T₃ n-rsb) tạo thành từng diện nhỏ phân
bố tản mạn trong xã. Đất phù sa ngòi suối
Hình 4. Sơ đồ thổ nhưỡng và hiện trạng sử dụng đất của xã Na Ư.
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
7
Hình 5. Sơ đồ phân loại đất theo độ dốc của xã Na Ư.
Kết quả phân tích một số kim loại nặng
trong đất xã Na Ư được trình bày trong Bảng 1
và Hình 6. Theo đó, các nguyên tố Fe, Cu, As
phân bố tương đối đồng đều trong các loại đất
lấy tại các bản khác nhau với hệ số biến thiên
CV (%) nhỏ, dao động trong khoảng 16-37%.
Ngược lại, các nguyên tố Mn, Pb, Zn và Cd lại
biến đổi khá mạnh giữa các loại đất cũng như vị
trí lấy mẫu khác nhau với hệ số biến thiên trong
khoảng 65-111%. Hàm lượng Mn cao nhất gặp
trong mẫu đất vườn ở bản Púng Bửa và rất thấp
gặp trong các mẫu đất đồi ở bản Na Ư và bản
Púng Bửa. Hàm lượng Cd cao nhất phân tích
được là trong mẫu đất đồi ở bản Na Láy, nhưng
xu thế chung là hàm lượng Cd trong các mẫu
đất đồi thấp hơn còn các mẫu đất ruộng và đất
vườn tương đương nhau. Hai kim loại Pb và Zn
có hàm lượng khác biệt nhau rõ rệt trong các
loại mẫu đất, trong khi chúng có hàm lượng cao
trong các mẫu đất ruộng, đặc biệt là mẫu đất
ruộng lấy tại bản Hua Thanh, nhưng lại thấp
trong các mẫu đất đồi. Tương tự, trong các mẫu
đất vườn có hàm lượng các kim loại Mn và As
cao hơn trong khi hàm lượng Cd lại thấp hơn so
với các mẫu đất đồi và đất ruộng. Hàm lượng
các kim loại trong các mẫu đất đồi có xu thế
thấp hơn so với các mẫu đất vườn và đất ruộng,
ngoại trừ hàm lượng Cd là cao hơn và hàm
lượng Cu biểu hiện xu thế không rõ ràng. Hầu
hết hàm lượng các kim loại nặng trong tất cả
các mẫu đất tại xã Na Ư đều nằm dưới ngưỡng
quy định của quy chuẩn [12] hay nói cách khác
là chất lượng đất đảm bảo về mặt các chỉ tiêu
kim loại nặng, chỉ riêng mẫu đất ruộng tại bản
Hua Thanh có hàm lượng Zn vượt quá quy
chuẩn với hệ số ô nhiễm là 1,1 (226,2 mg/kg so
với 200 mg/kg trong quy chuẩn).So sánh với
các loại đất nông nghiệp ở vùng đồng bằng,
hàm lượng các kim loại nặng trong đất tại xã
Na Ư thấp hơn, thậm chí là nhiều lần [13-15] vì
ít chịu tác động của hoạt động nhân sinh cũng
như cường độ canh tác.
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
Bảng 1. Thống kê giá trịcác kim loại nặng trong mẫu đất tại xã Na Ư
8
Cu
(mg/kg)
Mn
(mg/kg)
Zn
(mg/kg)
As
(mg/kg)
Fe (mg/kg)
Cd (μg/kg)
Pb (mg/kg)
Toàn vùng
(n=21)
S
13.320-32.961 8,4-
18,1-37,7
28-1.928
(439,7)
406
0,1-43,4
(15,2)
10,7
13,1-
226,2(82,1) (5,6)
53,6
2,2-10,1
(25.411)
4.362
234(43,9) (29,8)
48,9
4,8
2,1
Hệ số biến
thiên CV (%)
17
111
16
92
70
65
37
13.320-30.182 12,3-234
(23.126) (54,1)
18.365-32.961 16,5-94,2 22,5-34,4
18,1-36,5
(29,4)
28-699
(343)
109-686
(303)
163-1.928 0,1-30,6
(626)
5,3-20,2
(10,1)
10,0-43,4
(22,4)
24,7-110,1 2,8-7,9
(50,9) (4,7)
71,4-226,2 2,2-6,8
(121,8) (5,0)
13,1-172,4 3,9-10,1
Đất đồi (n=7)
Đất ruộng
(n=6)
Đất vườn
(n=8)
QCVN 03 A
QCVN 03 B
(25.222)
(49,6)
(28,3)
27,0-37,7
(31,4)
100
150
24.233-30.208 8,4-59,5
(27.552)
(30,8)
1.500
3.000
(14,3)
70
(79,5)
(6,8)
200
15
100
200
20
Ghi chú: Giá trị trong ngoặc là trung bình, QCVN 03 là QCVN03-MT:2015/BTNMT[12], A là đất nông nghiệp, B là đất lâm
nghiệp, in đậm là vượt giá trị giới hạn cho phép.
Hình 6. Đồ thị biểu diễn phân bố một số kim loại nặng trong đất xã Na Ư.
Ghi chú: DD là đất đồi, DR là đất ruộng, DV là đất vườn.
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
9
Qua phân tích tương quan có thể thấy các
cặp nguyên tố có tương quan thuận là Fe-Cu (r
= 0,4) và Pb-Zn (r = 0,4), các cặp nguyên tố có
tương quan nghịch gồm Fe-Cd (r = -0,6), Cd-
Cu (r = -0,4) và Cu-Pb (r = -0,5), các nguyên tố
còn lại là Mn và As tương đối độc lập. Ngoại
trừ cặp nguyên tố Pb-Zn tương quan thuận được
giải thích là do chúng có sự tương đồng về tính
chất địa hoá và thường đi kèm với nhau trong
cả quá trình địa chất nội sinh và ngoại sinh. Các
cặp nguyên tố còn lại rất khó giải thích về sự
tương quan của chúng trong môi trường đất khu
vực, có lẽ các loại đất này được hình thành từ
quá trình phong hoá các đá trầm tích có vật liệu
từ nhiều nguồn khác nhau, thành phần địa hoá
phụ thuộc vào thành phần địa hoá của đá gốc
nên tính chất địa hoá của các nguyên tố
không còn thể hiện rõ nét trong quá trình hình
thành đất.
biết lớn giữa các mẫu đất đồi, đất vườn và đất
ruộng. TổngK₂O dao động trong khoảng 1,08-
2,68%, trong mẫu đất ruộng và mẫu đất vườn
cao hơn mẫu đất đồi, thuộc loại khá đến giàu
kali. Hàm lượng chất hữu cơ dao động từ 5,48%
đến 10,42%, thuộc loại đất giàu đến rất giàu
chất hữu cơ. Trong đó có các mẫu đất ruộng tại
bản Hua Thanh và mẫu đất vườn tại bản Púng
Bửa có hàm lượng chất hữu cơ rất giàu. So với
kết quả quan trắc tại huyện Điện Biên, đất tại
Na Ư có tổng N thấp hơn, tổng P thấp hơn hoặc
bằng và tổng K₂O bằng hoặc cao hơn [16]. Xu
thế chung là mẫu đất đồi có tổng K₂O, tổng N,
tổng P thấp hơn so với các mẫu đất ruộng và đất
vườn trong khi giữa các mẫu đất ruộng và đất
vườn không có sự chênh lệch lớn, thường cao
nhất là các mẫu đất ruộng. Nguyên nhân có thể
là do sự rửa trôi từ đất dốc xung quanh xuống
thung lũng Na Ư. Một nguyên nhân quan trọng
khác là đất ruộng có rất nhiều các rễ nhỏ của
lúa trong tầng canh tác, lúa chỉ được canh tác
một vụ và để cỏ mọc trong thời gian còn lại
trong năm và bị vùi lấp khi canh tác vụ mới nên
hàm lượng chất hữu cơ trong đất ruộng cao.
Bên cạnh đó, thói quen bỏ lại các phụ phẩm
nông nghiệp sau canh tác của đồng bào H’mông
cũng góp phần làm tăng hàm lượng chất hữu cơ
và các chất dinh dưỡng trong đất.
Kết quả phân tích cho thấy cả ba loại mẫu
đất đồi, đất ruộng lúa nước, đất vườn là đất
trung bình đến nghèo nitơ (Bảng 2), trong đó
đất ruộng lúa nước có tổng N trung bình là
0,09%, cao nhất trong ba loại đất mà nguyên
nhân có thể là do được bón phân hoá học trong
quá trình canh tác. Đất tại Na Ư thuộc loại
trung bình tới giàu phốt pho, hàm lượng tổng P
trong khoảng 0,08-0,16% và không có sự khác
Bảng 2. Thống kê giá trịcác chỉ tiêu dinh dưỡng trong đất xã Na Ư
Số hiệu mẫu
Tổng N (%)
Tổng P (%)
Tổng K₂O (%)
Chất hữu cơ (%)
n=10
n=10
n=10
n=12
Toàn vùng
0,05-0,15
(0,08)
0,08-0,16
(0,11)
1,08-2,68
(2,09)
5,48-10,42
(7,07)
n=1
0,05
n=1
0,09
n=1
1,08
n=2
6,52-6,77
Đất đồi
n=5
n=5
n=5
n=5
Đất ruộng
0,05-0,15
(0,09)
0,09-0,13
(0,10)
1,65-2,68
(2,17)
5,48-9,11
(7,10)
n=4
n=4
n=4
n=5
Đất vườn
0,06-0,15
(0,08)
0,08-0,16
(0,12)
1,44-2,53
(2,24)
5,6-10,42
(7,22)
Ghi chú: Giá trị trong ngoặc là trung bình.
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
10
4.2. Tài nguyên nước
axit carbonic làm giảm nồng độ ion H⁺ trong
nước dẫn đến pH của nước tăng lên [17]. Chỉ số
DO của các mẫu đều lớn hơn 6 mg/l đảm bảo
sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt, bảo
tồn động thực vật thủy sinh và các mục đích
khác[18]. Hai chỉ tiêu TDS và độ đục của nước
mặt biến đổi rất mạnh liên quan đến sự vận
động của nước mặt khi chảy qua các thể địa
chất, các vùng đất đá có khả năng xói mòn và
hoà tan khác nhau. Chỉ số TDS thuộc loại thấp,
thậm chí đạt tiêu chuẩn của Bộ Y tế áp dụng
cho nước uống [19], cao nhất là trong nước suối
chảy qua khu vực bản Na Ư. Độ đục của nước
suối và nước tưới tiêu ở bản Ca Hâu cao bất
thường so với các nguồn còn lại là do mưa ở
phía thượng nguồn tại ngày lấy mẫu, còn trong
điều kiện bình thường thì độ đục của nước mặt
cũng rất thấp.
Tổng lượng mưa bình quân năm của xã vào
khoảng 1.650 mm/năm, thuộc loại có lượng
mưa trung bình thấp. Biến trình lượng mưa
trong năm phân thành hai mùa rõ rệt, mùa mưa
nhiều kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, mùa mưa
ít kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, các
tháng có lượng mưa lớn nhất là từ tháng 6 đến
tháng 8. Sự phân bố của biến trình mưa có ảnh
hưởng lớn đến tài nguyên nước phục vụ sinh
hoạt và sản xuất của người dân Na Ư.
Xã Na Ư nằm hoàn toàn trong lưu vực sông
Mê Công, nơi hợp lưu của sông Nậm Rốm và
Nậm Nứa. Trên địa bàn xã có các suối chính
như Nậm Hẹ ở phía đông nam, Ca Hâu ở phía
bắc, Na Ư ở trung tâm và các suối Na Ten,
Huổi Sa. Các suối này là nguồn cung cấp nước
cho toàn bộ hoạt động sản xuất nông nghiệp của
xã thông qua hệ thống kênh mương tự chảy
theo địa hình. Do đây là các suối nhỏ, nằm trên
địa bàn biên giới nên hiện tại các suối này chưa
có các kết quả quan trắc về lưu lượng cũng như
diễn biến dòng chảy. Qua báo cáo tổng kết hàng
năm của xã cho thấy về cơ bản các suối này đáp
ứng đủ nhu cầu nước sinh hoạt và sản xuất của
nhân dân trong xã. Tuy nhiên, hai bản Ca Hâu
và Hua Thanh có tình trạng thiếu nước sinh
hoạt vào mùa khô. Do địa bàn rộng, độ dốc địa
hình lớn nên khi có mưa lớn kéo dài có thể tạo
thành lũ trên các suối này và lụt tại cánh đồng
Na Ư gây ảnh hưởng đến giao thông và sản
xuất nông nghiệp. Về tài nguyên nước ngầm
hiện tại khu vực chưa có kết quả điều tra và
đánh giá cụ thể.
Ngoại trừ Mn và Pb, hàm lượng 05 kim loại
nặng còn lại là Fe, Cd, Cu, Zn và As trong nước
mặt biến động mạnh giữa các nguồn nước mặt
và vị trí lấy mẫu khác nhau với hệ số biến thiên
dao động trong khoảng 59-83%, thậm chí tại
nhiều vị trí hàm lượng các kim loại nặng còn
dưới giới hạn phát hiện của phương pháp phân
tích (Bảng 3), chủ yếu liên quan đến quá trình
vận động và hoà tan của nước mặt qua các thể
địa chất khác nhau. Khi các nguồn nước này đổ
vào sông Nậm Rốm, hoà trộn với nhau nên hàm
lượng các kim loại nặng này trong nước sông
thường có giá trị gần bằng với giá trị trung bình
của các nguồn nước mặt trong khu vực. Kết quả
đánh giá chất lượng nước mặt của xã Na Ư cho
thấy hầu hết đều phù hợp với mục đích sinh
hoạt, bảo tồn thực vật thuỷ sinh cũng như các
mục đích sử dụng khác có yêu cầu chất lượng
nước thấp hơn, trong đó bao gồm cả nước cho
sản xuất nông nghiệp[18]. Duy chỉ có một mẫu
lấy tại suối bản Con Cang và một mẫu lấy tại ao
cánh đồng bản Na Ư lần lượt có hàm lượng Cu
và Zn cao hơn giới hạn cho phép của mục đích
sử dụng A1, đòi hỏi phải có phương án xử lý
phù hợp khi dùng làm nước sinh hoạt. So sánh
với kết quả quan trắc môi trường nước mặt tại
sông Nậm Rốm và sông Nậm Núa ở phía dưới
hạ lưu, hồ Pa Khoang (xã Mường Phăng) thì
chất lượng nước mặt tại xã Na Ư tốt hơn do
Kết quả quan trắc và phân tích chất lượng
nước mặt xã Na Ư được trình bày trong Bảng 3
và Hình 7. Các chỉ tiêu nhiệt độ, pH, DO của
nước mặt tương đối ổn định giữa các nguồn
nước khác nhau. Giá trị pH đặc trưng cho môi
trường trung tính đến kiềm nhẹ. Thông thường,
nước mặt lục địa thường thể hiện môi trường
trung tính đến axit yếu. Nước mặt xã Na Ư thể
hiện là môi trường trung tính đến kiềm nhẹ có
lẽ liên quan đến việc nước vận động qua và hoà
tan các đá vôi của hệ tầng Bắc Sơn (C-P₁ bs)
trong khu vực, các phản ứng của CaCO₃ với
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
11
chưa bị ảnh hưởng nhiều bởi con người [16].
Như vậy, nước mặt tại xã Na Ư còn rất sạch,
hàm lượng các kim loại nặng rất thấp, nhiệt độ,
độ đục và TDS thấp, DO cao đặc trưng cho
nước đầu nguồn mới xuất lộ và ít chịu ảnh
hưởng của hoạt động nhân sinh.
được bà con ngăn lại, dẫn theo các đường ống
về bản và chứa trong các bể chứa nước cộng
đồng hoặc của hộ gia đình trước khi sử
dụng.Kết quả phân tích 16 mẫu nước sinh hoạt
thu thập trên địa bàn toàn xã cho thấy chất
lượng nguồn nước sinh hoạt và ăn uống tại đây
hợp vệ sinh, đảm bảo đáp ứng các quy
chuẩncủa Bộ Y tế (Bảng 4) [19-20], chỉ có 7/16
mẫu ở hai bản Con Cang và Ca Hâu có chỉ số
độ đục vượt quá giới hạn cho phép.
Kết quả của quá trình khảo sát cũng như
thống kê của xã Na Ư cho thấy 100% người dân
sử dụng nước uống và sinh hoạt là nước từ các
khe suối nhỏ chảy qua địa bàn xã mà không qua
bất kì phương pháp xử lý nào. Nguồn nước này
Bảng 3. Thống kê giá trị các chỉ tiêu của nước mặtcủa xã Na Ư
Fe
Nhiệt
độ (ºC)
DO
TDS Độ đục (tổng Cd
Cu
Mn
Pb
Zn
As
pH
(mg/l) (mg/l) (NTU) số)
(mg/l)
(μg/l) (mg/l) (mg/l) (μg/l) (mg/l) (μg/l)
21,8
26,4
6,96 6,06 37
8,42 7,87 324
1
517
-
-
-
0,01 0,10
0,04 3,55
-
-
Toàn vùng
(n=24)
0,16
0,20
4,55
0,17
0,60
(23,2) (7,67) (7,35) (120) (87)
(0,09) (0,07) (0,05) (0,03) (1,91) (0,23) (1,61)
Hệ số biến
thiên CV (%)
6
4
7
61
191
59
76
83
35
44
66
68
22,23 7,44 6,06 37
Nước ao (n=3) 26,40 7,84 7,33 196
32
55
0,03
0,15
0,01
-
0,02 1,44 0,30 0,08
0,11 0,06 0,03 2,89 0,60 1,78
(24,76 (7,62) (6,82) (108) (42)
(0,11) (0,05) (0,04) (0,03) (1,95) (0,42) (1,05)
Sông Nậm Rốm 26,23 7,68 6,93 78
111
1
517
0,09
-
0,16
0,01 0,05 0,02 2,35 0,21 1,43
0,01 0,10
0,20 0,17 0,04 3,55 0,46 4,55
21,80 6,96 6,34 38
24,03 8,22 7,86 324
-
-
-
-
Nước suối
(n=16)
(22,83) (7,77) (7,44) (127) (100) (0,09) (0,09) (0,05) (0,03) (1,92) (0,20) (1,65)
22,13 6,97 7,25 84
23,30 8,42 7,87 164
(22,67) (7,34) (7,50) (114) (66)
3
191
-
-
-
0,01 0,88 0,01 0,59
Nước tưới tiêu
(n=4)
0,10
0,07 0,02 0,04 2,58 0,48 3,34
(0,06) (0,05) (0,02) (0,03) (1,71) (0,18) (1,94)
A1
A2
B1
B2
6-8,5 ≥ 6
0,5
1,0
1,5
2,0
5
5
0,1
0,2
0,5
1,0
0,1
0,2
0,5
1,0
20
20
50
50
0,5
1,0
1,5
2,0
10
20
6-8,5 ≥ 5
1.000*
5,5-9 ≥ 4
10
10
50
100
5,5-9 ≥ 2
Ghi chú: Giá trị bên trên là nhỏ nhất, ở giữa là lớn nhất, trong ngoặc là trunh bình, (-) là dưới giới hạn phát hiện, in đậm là vượt giá trị giới
hạn trong quy chuẩn; A1, A2, B1, B2 là giá trị giới hạn trong QCVN08-MT:2015/BTNMT tương ứng với các mục đích sử dụng khác nhau
[18], (*) là giá trị tới hạn theo QCVN 01:2009/BYT[19].
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
12
Hình 7. Đồ thị biểu diễn các chỉ tiêu của nước mặt xã Na Ư.
Ghi chú: NA là nước ao, NS là nước suối, NT là nước tưới tiêu, NS-NR là nước sông Nậm Rốm; CC là bản Con Cang, CH là
bản Ca Hâu, NU là bản Na Ư, HT là bản Hua Thanh, PB là bản Púng Bửa.
Bảng 4. Thống kê giá trị các chỉ tiêu của nước ăn uống và sinh hoạt của xã Na Ư
Fe
Nhiệt
độ (ºC)
DO
(mg/l) (mg/l) (NTU) số)
(mg/l)
TDS Độ đục (tổng Cd
Cu
Mn
Pb
Zn
As
pH
(μg/l) (mg/l) (mg/l) (μg/l) (mg/l) (mg/l)
22,23 6,11 6,53 42
Giá trị (n=16) 25,33 8,61 8,58 126
(23,81) (7,62) (7,46) (80)
0,6
10,1
(3,1)
-
-
-
0,01
0,25 0,15 0,08 2,87 0,63 3,17
(0,09) (0,06) (0,06) (0,03) (1,83) (0,33) (1,42)
-
-
-
0,15
Hệ số biến
thiên CV (%)
QCVN01
3
9
6
30
79
56
101
3,0
59
57
40
43
73
6,5-8,5
6,5-8,5
1000
2
5
0,3
0,5
1,0
0,3
10,0 3,0
10,0
QCVN02
Ghi chú: Giá trị bên trên là nhỏ nhất, ở giữa là lớn nhất, trong ngoặc là trung bình, (-) là dưới giới hạn phát hiện, in đậm là
vượt giá trị giới hạn; QCVN 01 là QCVN 01:2009/BYT [19], QCVN 02 là QCVN 02:2009/BYT [20].
4.3. Thảo luận
Kết quả nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng
lúa nước và định cư lại tại Na Ư. Kết quả phân
tích độ dốc cho thấy diện tích đất bằng thuận lợi
cho canh tác nông nghiệp ít, còn lại là đất dốc
và rất dốc nên dễ bị xói mòn.
thiếu đất sản xuất hoặc đất sản xuất bị thoái hoá
là nguyên nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo và
di cư tự do của đồng bào dân tộc thiểu số ở
vùng Tây Bắc và Tây Thanh Hoá - Nghệ
An[21]. Thực tế đã chứng minh ở Na Ư khi
người H’mông di cư đến đây, do điều kiện đất
đai thuận lợi nên người H’mông đã học trồng
Kết quả nghiên cứu cho thấy đất nông
nghiệp ở Na Ư thuộc loại tổng N từ nghèo đến
trung bình, tổng P từ trung bình đến giàu, tổng
K₂O từ khá đến giàu và chất hữu cơ từ giàu đến
rất giàu. Vì vậy, để đảm bảo an ninh lương thực
cần nghiên cứu chuyển đổi canh tác từ một vụ
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
13
lúa sang hai vụ lúa hoặc một vụ lúa - một vụ
màu. Quá trình thâm canh tăng vụ, tăng cường
hệ sốquay vòng sử dụng đất cần đi đôi với việc
áp dụng kĩ thuật cải tạo đất, tăng hàm lượng
dinh dưỡng trong đất, xây dựng hệ thống thuỷ
lợi để đảm bảo nguồn nước tưới trong mùa khô.
Để thực hiện điều này, cần tăngcường sửdụng
phân hữu cơ có khảnăng khai thác tại chỗ kết
hợp luân canh các loại cây họ đậu[22-23]. Qua
khảo sát thực tế, hoạt động chăn nuôi cũng bắt
đầu phát triển ở Na Ư với các loại hình chăn
nuôi đại gia súc và nuôi lợn quy mô hộ gia đình
theo hình thức thả rông. Người dân cần phải
thay đổi thói quen, xây dựng chuồng trại cho
vật nuôi, vừa đảm bảo việc vệ sinh môi trường
nông thôn, phòng chống bệnh dịch, vừa đảm
bảo có nguồn phân hữu cơ để cải tạo đất, tăng
năng suất cây trồng.
nước ở bản Ca Hâu và Hua Thanh. Để xử lý
vấn đề này có thể nghiên cứu đầu tư xây dựng
hồ chứa nước tập trung và các bể tích nước hộ
gia đình. Nguồn nước sau khi dẫn về được chứa
trong các hồ chứa, để lắng vài ngày trước khi
phân phối đến các bể cộng đồng hoặc bể gia
đình để sử dụng.
5. Kết luận
Tài nguyên đất và nước ở xã Na Ư là một
trong những hợp phần quan trọng góp phần
phát triển kinh tế, ổn định đời sống, hạn chế di
cư. Do địa hình dốc nên tài nguyên đất phục vụ
cho sản xuất nông nghiệp tại Na Ư tương đối
hạn chế và dễ bị xói mòn, tài nguyên nước
tương đối dồi dào đủ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt
và sản xuất. Kết quả nghiên cứu cho thấy đất tại
Na Ư không bị ô nhiễm kim loại nặng, thuộc
loại tổng N từ nghèo đến trung bình, tổng P từ
trung bình đến giàu, tổng K₂O từ khá đến giàu
và chất hữu cơ từ giàu đến rất giàu. Các nguồn
nước mặt đảm bảo chất lượng cho sinh hoạt và
sản xuất. Để đảm bảo sự thành công của mô
hình PTBV tích hợp 3E+1 tại xã Na Ư, giải
pháp khuyến nghị được đưa ra đối với sử dụng
bền vững tài nguyên đất và nước là tăng cường
hệ số sử dụng đất nông nghiệp bằng cách thâm
canh tăng vụ, sử dụng phân bón hữu cơ và vi
lượng thích hợp đi đôi với các giải pháp thuỷ
lợi cung cấp nguồn nước tưới cho sản xuất.
Kết quả phân tích cũng cho thấy hàm lượng
các kim loại nặng trong đất còn rất thấp so với
quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, trong đó có một số
kim loại nặng như Cu, Zn, Mnlà nguyên tố vi
lượng cần thiết. Vì vậy, để tăng cường năng
suất, đảm bảo sức đề kháng dịch bệnh của cây
trồng, nâng cao chất lượng sản phẩm nông
nghiệp cũng cần nghiên cứu bón phân vi lượng
bổ sung cho đất. Trước khi thực hiện biện pháp
này cần có nghiên cứu sâu hơn về một số
nguyên tố vi lượng cần thiết cho cây trồng khác
như Ni, B, Co, Mo… để lựa chọn loại phân bón
hợp lý.
Một vấn đề khác gặp phải khi thực hiện
thâm canh tăng vụ là nước tưới trong thời kì
khô hạn. Về cơ bản, xã Na Ư có nguồn nước
mặt tương đối dồi dào, kết quả nghiên cứu cho
thầy chất lượng nước tốt, đáp ứng được yêu cầu
sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, cần đầu tư xây
dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ sản
xuất nông nghiệp. Trước hết cần tập trung xây
dựng nâng cấp hệ thống thủy lợi như xây dựng
hồ chứa nước, kênh dẫn nước, hệ thống trạm
bơm nếu cần đáp ứng nguồn nước vào mùa khô
để có thể tăng vụ, tăng năng xuất.
Lời cảm ơn
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Chương
trình Khoa học và Công nghệ phục vụ PTBV
vùng Tây Bắc, ĐHQGHN (đề tài KHCN-
TB.19C/13-18). Tập thể tác giả chân thành cảm
ơn các cộng sự tại Ban chỉ đạo Tây Bắc,
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Trung tâm
Nghiên cứu Biển và Đảo, Phòng thí nghiệm
Trọng điểm Địa môi trường và Ứng phó biến
đổi khí hậu, cán bộ và nhân dân xã Na Ưđã
giúp đỡ và tham gia trong quá trình thực hiện
nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu cũng khẳng định chất
lượng nước sinh hoạt và ăn uống của xã Na Ư
rất tốt. Vấn đề duy nhất gặp phải là độ đục chưa
đảm bảo theo quy chuẩn và có tình trạng thiếu
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
sử dụng đất bền vững, Viện Địa lý - Viện Hàn lâm
14
Tài liệu tham khảo
Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội, 2016.
[1] Keiner Marco, History, definition(s) and models
of sustainable development, Eidgenössische
Technische Hochschule Zürich, 2005.
[2] Chrisna du Plessis, Agenda 21 for sustainable
construction in developing countries, CSIR Report
BOU E, 2002.
[3] Chrisna du Plessis, A strategic framework for
sustainable construction in developing countries,
Construction Management and Economics 25
(2007) 67.
[4] Waughray Dominic, Water Security: The Water–
Food–Energy–Climate Nexus: The World
Economic Forum Water Initiative. Island Press,
USA, 2011.
[5] Howells Mark, Sebastian Hermann, Manuel
Welsch, Morgan Bazilian, Rebecka Segerström,
Thomas Alfstad, Dolf Gielen, Holger Rogner,
Guenther Fischer,and Harrij van Velthuizen,
Integrated analysis of climate change, land-use,
energy and water strategies, Nature Climate
Change 3 (2013) 621.
[12] Bộ Tài nguyên và Môi trường, QCVN 03
MT:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
về giới hạn cho phép của một số kim loại nặng
trong đất, Hà Nội, 2015.
[13] Nguyễn Thị MaiHương, Lê Thị Phương Quỳnh,
Nguyễn Thị Bích Ngọc, Christina Seider,
Matthias Kaendler và Dương Thị Thuỷ, Hàm
lượng một số kim loại nặng trong môi trường đất
và nước vùng canh tác nông nghiệp (hoa, rau, cây
ăn quả) tại xã Phú Diễn và xã Tây Tựu (Hà Nội),
Tạp chí Khoa học và Công Nghệ 4 (2012) 491.
[14] Nguyễn Thị LanHương, Nghiên cứu hàm lượng
Cu, Pb, Zn trong đất nông nghiệp do ảnh hưởng
của nước tưới sông Nhuệ, Tạp chí Khoa học Kĩ
thuật thuỷ lợi và môi trường 45 (2014) 84.
[15] Nguyễn KhánhTân, Đánh giá hàm lượng kim loại
nặng trong đất nông nghiệp tại phường Châu Khê,
thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Luận văn Thạc kĩ
khoa học, Học viện Nông nghiệp, Nhà xuất bản
Nông nghiệp, Hà Nội, 2016.
[16] Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Điện Biên, Báo
cáo hiện trạng Môi trường tỉnh Điện Biên giai
đoạn 2011 - 2015, Tp. Điện Biên, 2015.
[17] Trần NgọcLan, Hóa học nước tự nhiên, Nhà xuất
bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2008.
[18] Bộ Tài nguyên và Môi trường, QCVN 08
MT:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
về chất lượng nước mặt, Hà Nội, 2015.
[19] Bộ Y tế, QCVN 01:2009/BYT - Quy chuẩn kĩ
thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống, Hà
Nội, 2009.
[6] Ringler Claudia, Anik Bhaduri, and Richard
Lawford, The Nexus across water, energy, land
and food (WELF): Potential for improved
resource use efficiency?, Current Opinion in
Environmental Sustainability 5 (2013) 617.
[7] Lucia de Strasser, Annukka Lipponen, Mark
Howells, Stephen Stec, and Christian Bréthaut, A
Methodology to Assess the Water Energy Food
Ecosystems Nexus in Transboundary River
Basins, Water 8 (2016) 59.
[8] Takeuchi Kazuhiko, Rebuilding the relationship
between people and nature: The Satoyama
Initiative, Ecological Research 25 (2010) 891.
[20] Bộ Y tế, QCVN 02:2009/BYT - Quy chuẩn kĩ
thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt, Hà
Nội, 2009.
[9] Nguyễn Thị Kim Yến vàĐỗ Nguyên Hải, Nghiên
cứu các loại hình sử dụng đất nông nghiệp phục
vụ phát triển du lịch ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện
Biên, Tạp chí Khoa học và Phát triển 13 (2015)
90.
[10] Lương Đức Toàn và Trần Minh Tiến, Đặc điểm
đất đai và yếu tố hạn chế trong đất nông nghiệp
vùng Tây Bắc Việt Nam, Hội thảo quốc gia về
Khoa học cây trồng lần thứ hai, Viện Khoa học
Nông nghiệp Việt Nam, 2016.
[21] Đậu TuấnNam, Di cư của người H'mông từ đổi
mới đến nay, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia -
Sự thật, Hà Nội, 2013.
[22] Nguyễn HuySơn, Nghiên cứu khả năng cải tạo đất
của một số loài cây họ Đậu trên đất Bazan thoái
hoá vùng Tây Nguyên nhằm phục vụ rừng trồng
và phát triển cây công nghiệp, Luận án tiến sĩ,
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội,
1999.
[23] Nguyễn HữuHỷ, Tống Quốc Ân, Phạm Thị Nhận
và Howeller Reinhardt, Kết quả trồng xen một số
cây họ đậu để cải thiện dinh dưỡng đất trồng sắn,
Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
(2015) 33.
[11] Phạm QuangVinh, Điều tra, đánh giá hiện trạng
thoái hóa đất khu vực Điện Biên và Lai Châu
bằng công nghệ viễn thám và hệ thông tin địa lý
(GIS) nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và
N.Đ. Hoài và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
15
Assessment of Soil and Water Resources in Na U Commune,
Dien Bien District, Dien Bien Province for Building
the Integrated 3E+1 Sustainable Development Model
Nguyen Duc Hoai¹, Nguyen Quoc Bien¹
٫
², Le Thuy Linh², Nguyen Thi Ly², Luong Le Huy³, Ha Tien³, Nguyen Tai Tue¹
٫
², Luu Viet Dung², Nguyen Thi Hoang Ha¹٫
², Nguyen Thi Thu Ha¹
٫
², Mai Trong Nhuan², Tran Dang Quy¹٫
²٫
³ ¹Faculty of Geology, VNU-University of Science, 334 Nguyen Trai Street, Hanoi, Vietnam
²Key Laboratory of Geoenvironment and Climate Change Response, VNU University of Science,
334 Nguyen Trai, Hanoi, Vietnam
³Sea and Island Research Center, VNU University of Science, 334 Nguyen Trai, Hanoi, Vietnam
Abstract: Na U commune is located at the Vietnam-Laos frontier, belonging Dien Bien district,
Dien Bien province. Building an integrated modelof the Economic, Environment, Ecosystem, and
Non-traditional security (3E+1)is one of the most important approaches to promote sustainable
development.Of which, soil and water resources are important pillars of the model. The present study
aimed toassess soil and water resources inNa Ucommune in order to determinesolutions of the
sustainable use of these resources for the 3E+1 model. Results showed that Na U commune
characterized bya steep relief and lack ofthe agriculturalland resource.Total nitrogen,total phosphorus,
totalK₂O and organic mattercontentvaried from low to average, average to high, relatively high to
high, and high to very high level, respectively. Heavy metals (Pb, Cu, Zn, Cd, Mn, Fe, As)
concentrations were still below the allowable limit of the National Technical Regulation. Water
resource of Na U commune was abundant and has good quality for drinking, domestic and agriculture
activities. In order to build the 3E+1 model, it is necessary to increase the agricultural land use by
intensifying the crop lands, using appropriate organic fertilizers and micro elements in combination
with irrigation.
Keywords: Sustainable development, 3E+1, soil resource, water resource, Na U.
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá tài nguyên đất và nước xã Na Ư, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên phục vụ xây dựng mô hình phát triển bền vững tích hợp 3E+1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
danh_gia_tai_nguyen_dat_va_nuoc_xa_na_u_huyen_dien_bien_tinh.pdf

