Biến đổi đại dương và biến đổi khí hậu - Hai mặt của một vấn đề

Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 15, Số 2; 2015: 119-128  
DOI: 10.15625/1859-3097/15/2/6500  
BIẾN ĐỔI ĐẠI DƯƠNG VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU -  
HAI MẶT CỦA MỘT VẤN ĐỀ  
Nguyễn Chu Hồi  
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên-Đại học Quốc gia Hà Nội  
Ngày nhận bài: 2-4-2015  
TÓM TẮT: Đại dương thế giới, bao gồm các đại dương và biển, bao phủ khoảng 71% diện tích  
bề mặt Trái đất và được xem là hệ thống duy trì đời sống Trái đất. Đặc biệt, đại dương có chức  
năng điều chỉnh cân bằng các cực trị nhiệt độ thịnh hành và có thể làm dịu các ảnh hưởng khốc liệt  
của thời tiết - khí hậu trên Trái đất. Đại dương bảo đảm an ninh thực phẩm và an ninh năng lượng  
cho loài người khi các nguồn này đang cạn dần trên các đại lục. Chúng ta biết nhiều hơn về biến  
đổi khí hậu và tác động của nó đến đại dương, hải đảo và vùng ven biển, nhưng còn ít đề cập đến  
biến đổi đại dương (ocean change) và tác động của nó đối với hệ thống khí hậu. Các nhà khoa học  
tiếp tục khẳng định: Biến đổi khí hậu và biến đổi đại dương có liên quan chặt chẽ với nhau và là hai  
mặt của một vấn đề thông qua quá trình tương tác giữa chúng trong tự nhiên. Bài viết này giới thiệu  
về biến đổi đại dương, vai trò của đại dương trong thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu và  
cách tiếp cận ứng phó trên thế giới và ở Việt Nam.  
Từ khóa: Hệ thống tự nhiên mở, chu trình nước toàn cầu, biến đổi đại dương, axit hóa đại  
dương, đại dương ấm lên, đại dương thiếu ôxy, nước biển dâng, ô nhiễm biển và sử dụng quá mức  
tài nguyên biển.  
VAI TRÒ VÀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA ĐẠI dựa sinh kế của cộng đồng dân cư ven biển,  
DƯƠNG  
trên các hải đảo và trở thành yếu tố không thể  
thiếu trong chiến lược phát triển của các quốc  
gia ven biển, quốc đảo. Các chiến lược gia dự  
báo rằng: “Biển và đại dương sẽ là nơi dự trữ  
cuối cùng của loài người về lương thực, thực  
phẩm và các nguồn năng lượng, nguyên nhiên  
liệu khác”.  
Đại dương thế giới được ví như một “cỗ  
máy điều hoà nhiệt độ hai chiều” khổng lồ có  
tác dụng điều chỉnh cân bằng các cực trị nhiệt  
độ thịnh hành và làm dịu các ảnh hưởng khốc  
liệt của thời tiết - khí hậu, cũng như sản sinh ra  
ôxy nuôi dưỡng nhịp sống của con người trên  
Trái đất [1]. Theo Botkin & Keller (2000) [2]  
Ngày nay, kinh tế biển thế giới đang bước  
đại dương thế giới là một hệ thống tự nhiên mở vào giai đoạn phát triển mới với các đặc trưng  
do thường xuyên trao đổi tương tác mạnh mẽ cơ bản của một thế giới chuyển đổi: khan hiếm  
giữa nước đại dương với hệ thống khí quyển, và khủng hoảng nguyên nhiên liệu, tác động  
tạo ra chu trình nước toàn cầu (chu trình mưa - của biến đổi khí hậu (BĐKH) và biến đổi đại  
bốc hơi). Vì thế, đại dương thế giới được xem dương ngày càng hiện hữu, an sinh xã hội bị đe  
là một hệ thống tự nhiên hỗ trợ đời sống Trái dọa, cạnh tranh thị trường, tranh chấp lãnh thổ  
đất - ngôi nhà chung của loài người. Đại dương và xung đột quốc gia trên biển thường xuyên và  
thế giới chứa đựng các nguồn tài nguyên thiên gay gắt hơn bao giờ hết. Trong bối cảnh như  
nhiên đa dạng với trữ lượng khổng lồ, là chỗ vậy, xu thế chung đối với các quốc gia biển  
119  
Nguyễn Chu Hồi  
như Việt Nam là phát triển thích ứng và linh phòng Tổng thống Mỹ Obama về những  
hoạt, nhấn mạnh đến kinh tế tri thức [3]. Tính khuyến nghị chính sách đại dương toàn cầu của  
phụ thuộc lẫn nhau trong phát triển và toàn cầu Mỹ đã đưa ra một thông điệp cảnh báo rằng:  
hóa đòi hỏi các quốc gia có biển phải thay đổi “Biến đổi đại dương làm thay đổi Thế giới”.  
tư duy phát triển, tăng cường hợp tác và đổi  
CÁC ĐE DỌA ĐẾN SỨC KHỎE ĐẠI  
mới công nghệ để bảo đảm an ninh biển và đại  
DƯƠNG  
dương, bao gồm an ninh phi truyền thống,  
hướng đến một đại dương khỏe mạnh (healthy  
ocean), một nền kinh tế biển xanh lam (blue  
marine economy) và thích ứng với BĐKH.  
Biến đổi đại dương không chỉ do tác động  
của BĐKH mà còn do các yếu tố tự nhiên và  
nhân sinh khác. Kevin Noone và cộng sự  
(2005) [1] cho rằng có 6 đe dọa chủ yếu đến  
sức khỏe đại dương: axit hóa đại dương, đại  
dương ấm lên, đại dương thiếu ôxy, nước biển  
dâng, ô nhiễm biển và sử dụng quá mức tài  
nguyên biển.  
Trái đất và đại dương thế giới đã trải qua  
quá trình tiến hóa tự nhiên lâu dài và đầy biến  
động. Các tác động tự nhiên trong và đến đại  
dương có xu hướng ngày càng gia tăng, và  
dường như con người đang chứng kiến và bước  
vào một thảm họa sinh thái toàn cầu mới, có thể  
diễn ra trong suốt thế kỷ 21 và dài hơn do  
BĐKH và biến đổi đại dương gây ra [4]. Khi  
nguồn tài nguyên thiên nhiên trên đất liền đang  
dần cạn kiệt, khó phục hồi hoặc phục hồi chậm  
thì tương lai phát triển của loài người lại càng  
phụ thuộc nhiều hơn vào việc khai thác các  
nguồn tài nguyên từ biển và đại dương. Chính sự  
can thiệp lâu dài và tiêu cực của tự nhiên và con  
người trong quá trình phát triển nhiều thế kỷ qua  
đã ảnh hưởng đến chất lượng và quan hệ tương  
tác giữa đại dương và khí quyển đã nói trên.  
Axit hóa đại dương  
Khí quyển và đại dương trao đổi các khí  
trên một quy mô rộng lớn và hơn 200 năm qua  
đại dương thế giới đã hấp thụ khoảng 20 - 30%  
lượng phát thải tích tụ toàn cầu của CO2. Ngoài  
CO2 trong khí quyển không ngừng dung nạp  
vào đại dương, CO2 trong nước biển còn do núi  
lửa phóng thích ra thể khí hoặc thông qua tác  
dụng hô hấp của sinh vật giải phóng ra mà  
nước biển thu nhận được. Khi thực vật biển sử  
dụng CO2 để tiến hành quang hợp, thì lượng  
CO2 trong nước biển sẽ giảm xuống. Trong khi  
BĐKH đang hiện hữu và tác động mạnh mẽ quá trình này một phần cản bớt tác động của  
đến toàn bộ đời sống Trái đất, trong đó có biển  
BĐKH, thì sự gây nhiễu hệ thống carbonate  
và đại dương. Ngược lại, biến đổi đại dương,  
của đại dương - đồng nghĩa với axit hóa đại  
tuy chưa được hiểu đầy đủ so với BĐKH, dương - đã gây ra hậu quả đối với bản chất hóa  
nhưng chắc chắn cũng tác động trở lại bầu khí học đại dương, đối với các sinh vật sống trong  
quyển một cách mạnh mẽ. Trước hết, đại đại dương và đối với loài người. Như vậy axit  
dương thay đổi chức năng và vai trò của nó  
hóa đại dương là hậu quả trực tiếp của tăng  
trong việc duy trì an sinh cho nhân loại, trong  
phát thải CO2. Độ axit trung bình của lớp nước  
việc giảm thiểu và thích ứng với tác động của bề mặt đại dương đã tăng khoảng 30% từ cuộc  
BĐKH. Những thay đổi của đại dương tác động cách mạng công nghiệp và theo dự báo nếu  
trực tiếp đến các cực trị nhiệt độ của khí quyển chúng ta tiếp tục phát thải CO2 ở cường độ  
Trái đất, gây ra hiện tượng “kẹt nhiệt độ” kèm  
theo các hiện tượng thời tiết cực đoan.  
tương tự thì độ axit này có thể tăng vào cỡ 150  
- 200% vào năm 2100. Cường độ biến đổi như  
vậy nhanh hơn khoảng 10 lần so với biến đổi  
của bất kỳ sự kiện nào khác đã xảy ra với đại  
dương trong khoảng 65 triệu năm qua [1].  
Noone và cộng sự (2005) [1] cho rằng:  
“Đại dương thế giới đang phải đối mặt với quá  
nhiều đe dọa liên kết với nhau mà còn chưa tiên  
đoán được đầy đủ trong lịch sử đương đại. Cho  
nên, những hiểu biết về giá trị dịch vụ của đại  
dương cần phải được tính đến trong quá trình  
lập kế hoạch cho một tương lai đầy rủi ro và  
không chắc chắn”. Báo cáo của Ủy ban hỗn  
hợp về Đại dương Hoa Kỳ (2009) [5] gửi Văn  
Ở một số vùng như là bờ tây bắc của Bắc  
Mỹ, axit hóa đang tác động mạnh đến nhóm  
động vật biển giáp xác và hai mảnh vỏ - đối  
tượng thương mại quan trọng. Ở vùng biển Bắc  
Cực, hàng năm thêm khoảng 800 km2 đáy biển  
xuất lộ axit hóa nước biển và đang “gậm nhấm”  
120  
Biến đổi đại dương và biến đổi khí hậu …  
các vỏ sò không được bảo vệ. Axit hóa đại trên phạm vi toàn cầu; gây thiệt hại nghiêm  
dương cũng được dự báo sẽ làm chậm lại khả trọng cho những khu vực đông dân cư ven biển  
năng hấp thụ và lưu giữ cacbon khổng lồ của và trên các hải đảo, nơi người dân dễ bị tổn  
đại dương, nghĩa là chúng ta đang bước vào thương nhất vì họ thiếu năng lực để ứng phó với  
một tương lai nhiều cacbon trong bầu khí các hiện tượng như vậy. Thí dụ, san hô tạo rạn  
quyển hơn và “tiếp tay” cho BĐKH. Chúng ta trong các HST rạn san hô bị tẩy trắng do nhiệt  
không thể giải quyết được những biến đổi độ tăng, ảnh hưởng đến chức năng dịch vụ quan  
nhanh chóng về hóa học đại dương và hậu quả trọng của HST này [7]. Đại dương ấm lên còn  
trực tiếp của nó đối với an ninh nhân loại trong tác động tiềm năng đến năng suất nghề cá biển  
tương lai. Nếu lượng phát thải CO2 toàn cầu và đến an ninh thực phẩm toàn cầu. Đáng kể là  
không sớm cắt giảm được thì sẽ mất hàng chục những thay đổi về cấu trúc chuỗi thức ăn và sự  
ngàn năm để độ pH nước đại dương trở lại như tái phân bố của các loài hải sản kinh tế theo  
mức hiện tại [1].  
hướng: di chuyển ra các vùng biển sâu hơn và  
lên các vùng cực [8]. Các biến đổi như vậy  
đương nhiên ảnh hưởng xấu đến khả năng cung  
cấp hàng hóa và dịch vụ cho nền kinh tế của các  
quốc gia ven biển trong tương lai.  
Đại dương ấm lên  
Đại dương đã hấp thụ 80% lượng nhiệt bổ  
sung cho hệ thống khí hậu hơn 200 năm qua,  
khiến cho nhiệt độ trung bình của lớp nước bề  
mặt đại dương tăng. Những đợt hoạt động núi  
lửa ngầm dưới nước cũng bổ sung thêm các  
khí, dung dịch thuỷ nhiệt cho đại dương, đôi  
nơi đi kèm là các phản ứng của nước biển bị  
hâm nóng cùng với bazan nóng bỏng. Mặc dù,  
đại dương có khả năng giữ nhiệt và tạo ra cho  
vùng biển khí hậu ôn hoà, thích hợp đời sống  
sinh vật biển và con người, nhưng khi nhiệt độ  
tăng cao sẽ làm giảm ôxy hoà tan trong nước  
biển, ảnh hưởng đến quá trình thay đổi tế bào  
của động thực vật, đến tập tính của một số  
loàicá hoặc tạo ra sự cạnh tranh giữa các loài  
kinh tế và địch hại (thuận lợi cho các loài địch  
hại và dịch bệnh phát triển) [6].  
Đại dương thiếu ôxy  
Ôxy được bổ sung vào nước biển và đại  
dương nhờ sự hoà trộn với khí quyển, sự quang  
hợp, và bị mất đi (tiêu thụ) do sự hô hấp của  
sinh vật và do ôxy hoá các hợp chất hoá học  
khác nhau. Ôxy từ khí quyển hoà tan trong nước  
biển ở lớp bề mặt, còn ở dưới sâu của đại dương  
nước thiếu ôxy, bị ôxy hoá (mất ôxy) vì ở đây  
nước bắt đầu lạnh. Nitơ cực kỳ quan trọng đối  
với tất cả các sinh vật, bởi vì nó cùng với các  
nguyên tố khác hợp thành phân tử protit phức  
hợp, là chất dinh dưỡng không thể thiếu đối với  
sinh trưởng, sinh sản của sinh vật biển. Ôxy là  
yếu tố duy trì sự tồn tại và tăng trưởng của các  
loài sinh vật biển. Tuy nhiên, khi nitơ và các  
chất dinh dưỡng khác quá giàu, còn ôxy lại quá  
nghèo thì kéo theo nhiều hậu quả xấu [6].  
Theo Noone (2005) [1], đại dương ấm lên  
sẽ gây ra hai loại tác động: tác động vật lý liên  
quan tới các hiện tượng thời tiết cực đoan và  
hậu quả sinh học bao gồm một loạt thay đổi  
trong các quần thể cá. Các quan sát và mô hình  
đều cho thấy thay đổi nền nhiệt của đại dương  
ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tương tác  
biển - khí quyển, tăng tần xuất bão, lốc tố, lũ  
lụt ven biển và xói lở bờ biển. Phần trăm các  
cơn bão mạnh nhất tăng từ khoảng 20% trong  
các năm 1970 - 1974 lên đến 35% trong các  
năm 2000 - 2004. Nhiệt độ nước đại dương  
tăng còn liên quan tới El-nino mà hậu quả là lụt  
lội và hạn hán.  
Díaz (2013) [4] cho rằng tăng trưởng kinh  
tế và dân số trong hơn 60 năm qua đã làm gia  
tăng các chất dinh dưỡng và hữu cơ ở các  
vùng biển và đại dương ven bờ trên phạm vi  
toàn cầu. Hậu quả là các HST biển bị “quá  
tải”, nồng độ ôxy giảm, nitơ và phốtpho tăng,  
còn CO2 thay đổi rõ rệt. Môi trường biển bị  
yếm khí do thiếu ôxy, các vùng biển ven bờ bị  
phì dưỡng, bùng phát vi tảo biển gây hại và  
xuất hiện thủy triều đỏ ngày càng nhiều.  
Trong các vùng biển như vậy, cá và các loài  
hải sản khác bị chết, bị nhiễm độc tố, cộng  
đồng ven biển mất chỗ dựa sinh kế, an ninh  
thực phẩm quốc gia và sức khỏe con người bị  
ảnh hưởng nặng nề.  
Các hiện tượng thời tiết cực đoan như vậy  
làm tăng các tác động xấu đối với các hệ sinh  
thái (HST), cũng như các quần thể biển - ven bờ  
121  
Nguyễn Chu Hồi  
Hiện tượng thiếu ôxy (hoặc khử ôxy) là giai đoạn 2003 - 2007. Các dự báo nước biển  
dâng đến năm 2100 rất khác nhau: tối thiểu 0,2  
m và tối đa đạt đến 2 m. Nước biển dâng khiến  
nhiều đảo nhỏ sẽ chìm dưới mực nước biển, các  
vùng đất thấp ven biển bị ngập chìm, tăng ngập  
lụt ven biển, thâm nhập mặn sâu vào nội đồng,  
tăng xói lở bờ biển, ngập lụt đô thị ven biển và  
phá hủy các habitat ven biển. Các vùng rủi ro  
cao đối với nước biển dâng là các vùng ven biển  
có dân cư tập trung đông đúc, đói nghèo, dân trí  
thấp và thiếu năng lực thích ứng chủ động (còn  
gọi là vùng dễ bị tổn thương), trong đó có Việt  
Nam. Trên thế giới có khoảng 145 triệu người sẽ  
sống trong các vùng ngập nước trung bình 1 m,  
trong đó hơn 70% là ở châu Á [4].  
một trong những hậu quả nghiêm trọng nhất  
của sự phì dưỡng do vùng biển quá giàu nitơ,  
phôtpho và chất hữu cơ, đặc biệt từ các chất  
thải nói trên. Sự phân huỷ vật chất hữu cơ dẫn  
tới tiêu thụ ôxy trong lớp nước sát đáy ít lưu  
thông, nước bị yếm khí (anoxic) hoặc nồng độ  
ôxy giảm xuống rất thấp. Trong vùng nước  
biển và đại dương không được lưu thông, đặc  
biệt ở vùng biển gần núi lửa hoặc vùng thiếu  
ôxy còn có chứa H2S, như ở Địa Trung Hải và  
một số khu nuôi trồng thủy sản tập trung ở ven  
biển nước ta [6].  
Đến nay có trên 500 “vùng biển chết” do  
thiếu ôxy trong đại dương thế giới đã được  
đánh giá [9]. Ở những nơi này việc cung cấp  
hạn chế ôxy hòa tan đã ngăn cản sức tăng  
trưởng và tái sản xuất của sinh vật biển và số  
lượng các vùng biển như vậy đang tăng nhanh  
ở các nước đang phát triển. Hiện tượng này  
cũng là mối nguy đối với các HST biển - nguồn  
cung cấp thực phẩm quan trọng cho cộng đồng  
địa phương. Ngoài ra, do những biến đổi môi  
trường toàn cầu và sự ấm lên của đại dương, số  
lượng các vùng biểu hiện thiếu (cực tiểu) ôxy  
tự nhiên cũng ngày càng tăng.  
Cần nhấn mạnh rằng, nước biển dâng do  
các nguyên nhân khác nhau và gây ra các tác  
động khác nhau đối với các quốc gia đảo nhỏ  
và vùng ven biển, tùy thuộc khả năng chống  
chịu cụ thể. Trong thực tế có 3 loại nước biển  
dâng: nước biển dâng liên quan tới BĐKH (do  
tan băng ở các cực của Trái đất, các mũ băng  
trên các đỉnh núi cao, lớp phủ băng của đảo  
Greenland); nước biển dâng chân tĩnh (do hàng  
triệu con sông cần cù trên Trái đất mang trầm  
tích ra và vật liệu trong lòng đất dưới đáy đại  
dương phun lên lấp đầy đáy đại dương); và  
nước biển dâng tương đối (do sụt lún địa động  
lực khiến ta cảm giác mực nước biển dâng) [6].  
Các kịch bản tương lai đối với hiện tượng  
thiếu ôxy của đại dương thế giới sẽ phụ thuộc  
vào các yếu tố đan xen: biến đổi môi trường  
toàn cầu, sử dụng đất, tăng trưởng dân số (đặc  
biệt ở ven biển), nông nghiệp và tải lượng dinh  
dưỡng. Dự báo lượng nitơ chuyển vào đại  
dương sẽ tăng khoảng 50% vào năm 2050 dẫn  
đến tăng tần suất, mật độ và thời hạn của hiện  
tượng thiếu ôxy ở các vùng biển ven bờ [1]. Do  
quy mô toàn cầu của hiện tượng thiếu ôxy,  
cũng như mối nguy của nó đối với sức khỏe  
con người và các giá trị dịch vụ của HST, đòi  
hỏi phải ngăn chặn khẩn cấp và xử lý kịp thời,  
trong khi năng lực thể chế còn chưa đủ giải  
quyết các vấn đề xuyên cắt từ đất liền vào biển  
(from ridge to reef).  
Kết quả nghiên cứu mới nhất của các nhà  
khoa học Mỹ đã phát hiện ra rằng, khối băng  
khổng lồ ở tây Nam Cực có diện tích bằng cả  
bang Texas và Colorado của Mỹ cộng lại  
(932.000 km2) đang dần tan chảy với tốc độ  
5 cm/năm và có thể biến mất hoàn toàn trong  
7.000 năm tới. Khi ấy, mực nước biển trên toàn  
thế giới sẽ tăng lên 4,8 m so với ngày nay, đủ  
để nhấn chìm vô số hòn đảo và rất nhiều vùng  
đất thấp ven biển, trong đó có thủ đô của không  
ít quốc gia. Kết quả đo đạc địa chất cho thấy  
khối băng này đã bắt đầu tan chảy liên tục từ  
10.000 năm trước đây, trong khi Trái đất nóng  
lên do hiệu ứng nhà kính chỉ bắt đầu thời gian  
gần đây cùng với quá trình công nghiệp hoá  
trên thế giới [6].  
Nước biển dâng  
Mực nước biển trung bình toàn cầu đã dâng  
lên khoảng 25 cm từ những năm 1800 và đang  
tăng tốc nhanh. Mức tăng khoảng 1,8 mm/năm  
trong suốt 50 năm qua, tăng lên mức  
3,1 mm/năm vào năm 1990 và 2,5 mm/năm vào  
Đại dương là nơi tiếp nhận và lắng đọng  
cuối cùng của nhiều sản phẩm của các quá trình  
ngoại sinh (phong hóa) và nội sinh, cũng như  
các chất thải từ các hoạt động của con người từ  
122  
Biến đổi đại dương và biến đổi khí hậu …  
đất liền và ngay trong đại dương. Lượng lớn xạ, sự cố tràn dầu và các tàn tích như lưới đánh  
vật liệu này góp phần làm thay đổi thể tích đại cá và đồ nhựa plastic đã vứt bỏ. Gần đây, sự  
dương, gây ra hiện tượng dâng “chân tĩnh” của trải rộng khắp đại dương của các loài ngoại lai  
mực nước biển như nói trên. Theo Turkian đang tăng và được biết đến như là một loại “ô  
(1979) [10] lượng phù sa bổ sung hàng năm từ nhiễm sinh học”. Ô nhiễm biển là loại ô nhiễm  
lục địa đưa vào đại dương qua các con sông không rõ nguồn (non-point source) do sự kết  
trên toàn Trái đất khoảng 12 km3 và 5,4 tỷ tấn hợp của các dạng chất ô nhiễm khác nhau nói  
các chất tan với tốc độ lắng đọng trầm tích trên [6].  
xuống đáy đại dương trung bình 15 mm/1000  
Ô nhiễm biển làm thay đổi các đặc trưng  
năm; khoảng 20% vật liệu do băng hà chuyển  
vật lý, hóa học và sinh học của đại dương và  
tới, do bụi lắng xuống (thành phần sét) với tốc  
vùng biển ven bờ, đe dọa đa dạng sinh học và  
độ tích tụ khoảng 1,0 - 2,5 mm/1000 năm; một  
tác động đến chất lượng, năng suất và sức  
lượng đáng kể sản phẩm “phong hoá dưới  
chống chịu của các hệ sinh thái biển. Nên mặc  
nước” quanh khu vực đỉnh sống núi giữa và các  
dù tác động trực tiếp của ô nhiễm biển thường  
chỉ mang tính cục bộ, nhưng Chương trình Môi  
núi lửa trong đại dương; vật liệu trầm tích do  
phá hủy bờ các đại lục và hải đảo; vật liệu do  
trường của Liên hiệp quốc (UNEP) vẫn xác  
các phản ứng “tại sinh” trong lòng đại dương  
định ô nhiễm biển là mối quan tâm cốt lõi trong  
(khối nước) tạo ra. Ngoài ra, các hoạt động tự  
các vùng đại dương ven bờ. Tác động của biến  
nhiên dưới đáy và từ trong lòng đất dưới đáy  
biển và đại dương cũng đưa lên một lượng vật  
đổi môi trường toàn cầu đến sự phân bố ô  
nhiễm và nhiễm bẩn còn chưa biết. Các nghiên  
liệu đáng kể từ các hoạt động núi lửa.  
cứu cũng chỉ ra sự cần thiết phải chú ý nghiên  
Rõ ràng, BĐKH khiến cho nước biển dâng  
lên, nhưng nước biển dâng lại không chỉ do  
BĐKH, mà còn có 2 loại khác như nói trên:  
nước biển dâng “chân tĩnh” và nước biển dâng  
“tương đối”. Đây là vấn đề cần lưu ý khi lựa  
chọn các biện pháp giảm thiểu và thích ứng với  
tác động của nước biển dâng cho các vùng ven  
biển cụ thể. Con người sống trong các vùng bờ  
biển rủi ro như vậy chỉ có 2 sự lựa chọn quan  
trọng để ứng phó với nước biển dâng: chống  
chọi hoặc chạy trốn. Chống chọi bao gồm củng  
cố hoặc xây dựng các công trình bảo vệ bờ -  
đập ngăn biển, đê biển và các cơ sở hạ tầng  
khác, kể cả các giải pháp công trình mềm  
(trồng rừng ngập mặn, …). Chạy trốn bao gồm  
chuyển chỗ ở (tị nạn hoặc tái định cư) của  
người dân và chuyển các công trình dài hạn từ  
vùng trũng thấp lên vùng đất cao. Cộng đồng  
quốc tế khuyến cáo cần ưu tiên giải pháp thích  
ứng, giải pháp phi công trình và xem các HST  
biển - ven biển là cơ sở hạ tầng “tự nhiên”.  
cứu mối quan hệ này, đặc biệt là giữa các mô  
hình bốc hơi và tác động của các chất ô nhiễm  
ở các quy mô khác nhau. Từ một vài đặc điểm  
quan trọng nhất của các chất hóa học và sự phụ  
thuộc của nhiệt độ cho thấy mức độ ô nhiễm  
môi trường có thể bị ảnh hưởng bởi sự dao  
động và BĐKH. Các chất ô nhiễm cũng có thể  
có tác động tiêu cực đến khả năng sinh vật  
thích nghi với BĐKH, thí dụ bằng sự phá hoại  
dần dần các hệ thống miễn dịch và tái sinh của  
sinh vật, và có thể làm yếu đi sức chống chịu  
của các HST biển đối với các tác nhân khác,  
như axit hóa.  
Đại dương đang bị khai thác quá mức  
Con người khai thác tài nguyên biển từ lâu  
đời, trước hết là hàng hải và nghề cá, sau này  
phát triển các ngành công nghiệp khai thác dầu  
khí và các khoáng sản rắn khác ở đại dương.  
Để bảo đảm an ninh năng lượng và phát triển  
kinh tế con người vẫn tiếp tục hướng ra đại  
dương, và nguồn tài nguyên thiên nhiên biển và  
đại dương nhanh chóng bị suy kiệt, đặc biệt đối  
với nguồn lợi hải sản.  
Đại dương bị ô nhiễm  
Ô nhiễm biển biểu hiện ở các dạng rất khác  
nhau, bao gồm: các hóa chất độc, chất thải rắn,  
chất thải lỏng, chất dinh dưỡng và trầm tích  
đưa vào biển từ các hoạt động của con người  
(ví dụ như, nông nghiệp, phá rừng, xả thải  
không qua xử lý, nuôi thủy sản, …), chất phóng  
Đánh cá biển và đại dương là nghề và  
phương thức cổ điển để lấy thực phẩm phục vụ  
thương mại. Ngày nay xuất khẩu thủy sản đang  
đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát  
123  
Nguyễn Chu Hồi  
triển và trong nhiều trường hợp thu được lợi TIẾP CẬN ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI ĐẠI  
nhuận cao hơn xuất khẩu gạo và đường. Theo DƯƠNG  
FAO (2012) [11], thủy sản cung cấp 20%  
Đại dương là môi trường sống quan trọng  
nguồn cấp protein cho 1,5 tỷ người và 15% cho  
của sinh vật và cũng được xem là một hệ thống  
3 tỷ người. Ở các quốc gia đảo nhỏ đang phát  
động lực có khả năng điều chỉnh linh hoạt các  
triển và các vùng bờ biển nghèo hơn, bức tranh  
tác động của những biến đổi môi trường toàn  
này có thể đến 90%. Ớ cấp độ toàn cầu, tổng  
cầu. Các nhà khoa học cho rằng các hệ sinh thái  
giá trị kinh tế của nghề khai thác hải sản dự  
(HST) ven biển, biển và đại dương đóng vai trò  
tính khoảng 225 - 235 tỷ đôla/năm. Đa số ngư  
quan trọng trong việc điều chỉnh “sức khỏe của  
dân và người nuôi thủy sản sống tập trung ở  
đại dương”, là “nguồn vốn tự nhiên” và “cơ sở  
châu Á (85,5%), tiếp theo là châu Phi (9,3%),  
hạ tầng tự nhiên” cho vùng ven biển, nhưng  
trong khi chỉ riêng ở các nước đang phát triển  
cũng dễ bị tổn thương. Cho nên, một đại dương  
trên 200 triệu dân phụ thuộc vào nghề đánh cá  
khỏe mạnh có thể làm dịu bớt những “cú sốc”  
quy mô nhỏ, lạc hậu. Nghề cá quá quan trọng  
từ và có khả năng giảm thiểu và thích ứng đối  
cả về mặt kinh tế và an ninh thực phẩm, đặc  
với các biến động toàn cầu, trong đó có biến  
biệt khi dân số toàn cầu dự tính tăng hơn 9 tỷ  
đổi khí hậu (BĐKH).  
người vào năm 2050 và hầu hết vẫn tập trung  
vào các quốc gia đang phát triển.  
Các hệ thực vật trong biển và đại dương có  
khả năng thu - giữ một lượng cacbon thừa của  
bầu khí quyển do hiệu ứng nhà kính, như rừng  
ngập mặn (RNM), các hệ thực vật khác, kể cả  
nhóm thực vật phù du biển. Donato và nnk  
(2011) [12] cho rằng RNM là một trong những  
kiểu rừng giàu trữ lượng cacbon nhất ở vùng  
nhiệt đới, chứa bình quân 1.023 mgC/ha. RNM  
có khả năng tích luỹ một lượng lớn cacbon cả  
trong thân cây và rễ cây, tạo bể chứa cacbon  
làm giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Sự  
tích luỹ cacbon trong cây ngập mặn và trong  
đất rừng chịu ảnh hưởng của các yếu tố như:  
mật độ cây, loài cây, tuổi cây, sự phân giải vật  
chất hữu cơ trong đất và mức độ thường xuyên  
ngập nước thuỷ triều. Trong đó, mức độ ngập  
nước thuỷ triều thường xuyên và mức độ phân  
huỷ vật chất hữu cơ trong môi trường yếm khí  
là các yếu tố chủ đạo tạo điều kiện cho đất  
RNM trở thành “bể chứa” khí nhà kính. Trên  
toàn cầu, RNM cung cấp hơn 10% lượng  
cacbon hữu cơ hòa tan cần thiết mà đất liền  
cung cấp cho đại dương, nhưng chỉ có một  
lượng rất nhỏ (dưới 1%) RNM được bảo vệ  
hiệu quả và trong nửa thế kỷ qua diện tích  
RNM toàn cầu giảm 30 - 50% do hoạt động  
phát triển. Đây là lý do tại sao chúng ta phải  
bảo vệ các “kho cacbon” khổng lồ trong các  
khu RNM và trên các vùng đất than bùn ven  
biển ở Việt Nam và châu Á. Nếu không, việc  
mất thêm RNM sẽ tăng khả năng phát thải một  
lượng lớn cacbon tạo ra đioxit cacbon và  
methan - là các khí nhà kính góp phần gây ra  
BĐKH.  
Nghề đánh bắt hải sản của thế giới đang  
nằm trong tình trạng rất khó khăn: dự báo 85%  
các quần đàn cá bị khai thác triệt để, khai thác  
quá mức và cạn kiệt hoặc thu hồi từ sự cạn kiệt.  
Tình trạng vượt quá năng lực đánh bắt vẫn tiếp  
tục diễn ra, các tổ chức quốc tế và khu vực về  
quản lý nghề cá gắn với xóa đói, giảm nghèo  
vẫn rất khó khăn trong việc thực thi các quy  
định về nghề cá có trách nhiệm. Lượng tài  
chính bòn rút hàng năm cấp cho các hoạt động  
như vậy khoảng 50 tỷ đôla, nhưng không thay  
đổi được tình thế và vẫn đe dọa sự ổn định dài  
hạn của các nguồn tài nguyên quan trọng này.  
Những mất mát về đa dạng sinh học sẽ bị  
trầm trọng thêm do các tác động của biến động  
môi trường toàn cầu. Những đe dọa toàn cầu  
nói trên đều trực tiếp tác động đến sự phân bố  
quần đàn và các loài hải sản kinh tế theo cả  
chiều rộng và sâu, tạo ra những rủi ro và tính  
không chắc chắn đối với các cộng đồng người  
dân ven biển và trên các đảo có sinh kế phụ  
thuộc vào nguồn lợi hải sản. Nguyên nhân sâu  
xa là các đe dọa nói trên (axit hóa, thiếu ôxy và  
nước đại dương ấm lên) đã tác động tiêu cực  
đến thực vật phù du (phytoplankton) - nền tảng  
của chuỗi thức ăn trong đại dương. Các tác  
động xấu như vậy ảnh hưởng đến nhu cầu và  
năng lực thích ứng với BĐKH và đại dương  
của cộng đồng ven biển, đảo do tính dễ bị tổn  
thương của họ tăng lên, đặc biệt ở châu Phi và  
Đông Nam Á [1].  
124  
Biến đổi đại dương và biến đổi khí hậu …  
Hoạt động của con người bổ sung khoảng Hội nghị Đại dương Thế giới lần thứ I (5/2009)  
7.000 tỷ tấn cacbon vào bầu khí quyển mỗi [14]. Trong nhiều kết quả, có hai kết quả nổi  
năm. Thực vật phù du biển (phytoplankton) có bật: (i) Tuyên bố Đại dương Manado với 21  
thể cố định được 35.000 - 50.000 tỷ tấn, vì vậy điểm, được gần 100 quốc gia ký cam kết thực  
nó có tác động đáng kể đến chu trình cacbon hiện, trong đó có Việt Nam; (ii) Báo cáo về  
toàn cầu, nhất là so với lượng con người bổ “Đại dương và BĐKH: Các vấn đề và Khuyến  
sung vào. Theo các nhà khoa học, thực vật phù nghị đối với các nhà hoạch định chính sách và  
du biển hàng năm đã giúp giảm hơn 50 tỷ tấn phục vụ Thương thuyết về BĐKH (gồm 196  
cacbon thông qua việc hấp thụ khí CO2, một trang A4 và được thông qua tại Diễn đàn  
loại khí góp phần gây nên hiện tượng nóng lên “Ngày Đại dương tại Manado”). Ngày 26 tháng  
của Trái đất. Vì thế, người ta đã nghĩ đến việc 11 năm 2009, Đại hội biển Đông Á lần thứ IV  
bổ sung dinh dưỡng vào biển để kích thích tăng tại Manila, Philippines đã ra Tuyên bố Manila  
trưởng thực vật phù du nhằm tăng khả năng thu [15] với 20 điểm về “Tăng cường thực hiện  
giữ khí CO2 và giảm hiệu ứng nhà kính [13].  
Quản lý tổng hợp vùng bờ biển để phát triển  
bền vững và Thích ứng với BĐKH”. Tuyên bố  
nhấn mạnh đến giải pháp lồng ghép các vấn đề  
BĐKH vào lập kế hoạch quản lý tổng hợp vùng  
bờ khu vưc Đông Á và các quốc gia thành viên.  
Tuyên bố này đã được Bộ trưởng Môi trường  
10 nước Đông Á, gồm Việt Nam ký cam kết  
thực hiện.  
Hiện nay đại dương thế giới có thể thu giữ  
30% lượng cacbon thừa của bầu khí quyển, và  
nếu chủ động tác động để các HST và thực vật  
biển phát triển mở rộng thì khả năng này của  
đại dương còn tăng cao hơn nữa. Gần đây, các  
nhà khoa học thế giới đã làm các thí nghiệm về  
khả năng rải bột sắt lên biển với tên gọi là “bón  
phân” cho đại dương (ocean fertilizing), nhằm  
phục hồi “vành đai xanh”, kích thích sự phát  
triển của thảm thực vật dưới biển, bao gồm hệ  
thực vật phù du, rong biển, thảm cỏ biển và  
RNM [13]. Tuy nhiên, lưu ý rằng việc bón  
phân cho đại dương cũng có thể có những hệ  
quả phụ, như làm phát triển quá mức hệ phù du,  
bùng phát tảo biển gây hại. Vì thế biện pháp cụ  
thể “bón phân” cho đại dương phải bảo đảm  
nguyên tố bổ sung đó không tồn dư và không  
gây tác động xấu tới môi trường biển. Nhiều  
nhà khoa học cho rằng sự tích tụ của sắt dưới  
đại dương đã kích thích sự phát triển của tảo và  
những sinh vật phù du khác. Những sinh vật  
này hấp thu khí CO2 để phát triển và như vậy  
có lợi cho bầu khí quyển của chúng ta. Ngoài  
ra, một số nhà khoa học còn nghĩ đến việc lợi  
dụng một số “bẫy địa tầng” và các cấu trúc  
“rỗng” sau khai thác mỏ dưới lòng đất của đáy  
biển và đại dương để “chôn” khí cacbon thừa  
của bầu khí quyển, hỗ trợ giảm thiểu hiệu ứng  
khí nhà kính trên quy mô toàn cầu. Bên cạnh đó  
sẽ sử dụng thiết bị kỹ thuật thu lượng nhiệt  
thừa của bầu khí quyển do hiệu ứng nhà kính  
để sử dụng cho cuộc sống dân sinh [3].  
Hội nghị Thượng đỉnh Toàn cầu về Phát  
triển bền vững họp ở Rio de Janeiro, Brasil  
(Rio+20) vào tháng 6 năm 2012 đã khuyến  
nghị 6 vấn đề trọng tâm mà thế giới cần quan  
tâm giải quyết để đạt được phát triển bền vững  
là: tăng trưởng xanh, nguồn vốn tự nhiên, đại  
dương, đô thị xanh, cảnh quan và năng lượng  
bền vững. Bên cạnh đó, Diễn đàn Đại dương  
toàn cầu tại Rio+20 đã ra Tuyên bố Đại dương  
Rio [16], trong đó tiếp tục khẳng định: BĐKH  
đã tác động đến đại dương khiến cho sức khỏe  
đại dương thay đổi. Ngược lại, biến đổi đại  
dương cũng đang làm thay đổi sâu sắc trạng  
thái của hệ thống khí hậu. Diễn đàn Đại dương  
cũng đã thông qua Chương trình Nghị sự Đại  
dương toàn cầu (Ocean Agenda) và bắt đầu  
triển khai kế hoạch giai đoạn 2012 - 2016 ở các  
cấp độ hậu Rio+20.  
Các nỗ lực đầu tiên hậu Rio+20 là các nhà  
quản lý với sự hỗ trợ của các nhà khoa học đã  
tiến hành xây dựng một “Bộ chỉ số” để đánh giá  
sức khỏe đại dương với thông điệp “Một đại  
dương thế giới khỏe mạnh sẽ đem lại lợi ích lâu  
dài cho con người hôm nay và mai sau” [9].  
Trên cơ sở 10 mục tiêu chính liên quan tới chức  
năng dịch vụ của đại dương (cung cấp thực  
phẩm, cơ hội cho nghề cá thủ công, sản phẩm tự  
nhiên, lưu giữ cacbon, bảo vệ bờ biển, sinh kế  
Không chỉ các nhà kỹ thuật, các nhà chính  
trị cũng đã vào cuộc với sự họp mặt lần đầu  
tiên tại Manado, Indonesia trong khuôn khổ  
125  
Nguyễn Chu Hồi  
và kinh tế, du lịch và giải trí, các loài biểu tượng với các tác động của BĐKH. Đặc biệt khi con  
người đang sống vượt ra khỏi năng lực tải của  
môi trường tự nhiên và đang mang những “món  
nợ sinh thái” mà các thế hệ tương lai sẽ không  
thể trả được.  
văn hóa, các vùng biển sạch và đa dạng sinh  
học biển) bằng cách đánh giá theo trọng số của  
chỉ thị (Index), các nhà khoa học đã thử đánh giá  
các vùng biển ven bờ và cho điểm trung bình  
(tối đa là 100) đối với 171 quốc gia ven biển.  
Kết quả cho thấy chỉ số toàn cầu là 60, chỉ số  
đánh giá quốc gia chỉ có 5% số đạt điểm trung  
bình trên 70 và 32 quốc gia dưới 50, Việt Nam  
vừa đạt đúng 50 điểm. Chương trình hành động  
toàn cầu về quản lý ô nhiễm biển từ nguồn đất  
liền (GPA) đã đưa ra cách tiếp cận “kết nối lục  
địa - biển” và đã thành lập các mạng lưới các đối  
tác ở cấp độ toàn cầu, khu vực và đang kêu gọi  
thành lập ở cấp quốc gia.  
Ở nước ta, BĐKH và tác động của nó đang  
hiện hữu và ngày càng khốc liệt. Chính phủ đã  
quan tâm và có những cam kết chính trị mạnh  
mẽ thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia  
ứng phó với biến đổi khí hậu (2008). Cộng  
đồng quốc tế đã và đang quan tâm hỗ trợ Việt  
Nam ứng phó với tác động của BĐKH ở cả cấp  
độ quốc gia và địa phương và đã thu được  
những kết quả bước đầu quan trọng. Tuy nhiên,  
trên thực tế nhận thức còn rất khác nhau về  
BĐKH và các tác động liên quan, trong đó có  
nước biển dâng, đề cập nhiều đến mặt hại, mà  
chưa thấy hết mặt lợi của nó trong một số  
trường hợp cụ thể.  
Ở Việt Nam, Đảng và Chính phủ đã ban  
hành các chính sách, các kế hoạch hành động  
và đang triển khai bước đầu để ứng phó với tác  
động của BĐKH. Các vấn đề biến đổi đại  
dương hầu như không được nhắc đến kể cả  
trong tuyên truyền, trong điều tra nghiên cứu,  
lẫn trong kế hoạch hành động cụ thể. Tuy vậy,  
Chính phủ đã tăng cường quản lý khu bảo tồn  
biển; ban hành Luật biển Việt Nam (6/2012);  
ban hành Chiến lược và Kế hoạch hành động  
2014 - 2020 về tăng trưởng xanh; ban hành  
Chiến lược quốc gia ứng phó với BĐKH; thực  
hiện Chiến lược Phát triển bền vững biển Đông  
Á tại Việt Nam từ năm 2004; thực hiện Chương  
trình Quản lý tổng hợp vùng bờ biển miền  
Trung (Chương trình 158) giai đoạn 2007 -  
2010, định hướng 2020; ban hành Chiến lược  
khai thác tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi  
trường biển và hải đảo đến năm 2020; xây dựng  
kịch bản nước biển dâng ở Việt Nam (2012);  
triển khai dự án khu vực về “Rừng ngập mặn  
cho tương lai” và Dự án của Ngân hàng Thế  
giới và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông  
thôn về “Nguồn lợi ven bờ vì sự phát triển bền  
vững”; … [3]. Tuy nhiên, quá trình triển khai  
còn không ít bất cập và mới đạt được kết quả  
bước đầu, góp phần giảm thiểu và thích ứng với  
BĐKH và biến đổi đại dương.  
Nước ta là một quốc gia biển và biển đóng  
vai trò cực kỳ quan trọng đối với chiến lược  
bảo vệ và phát triển đất nước, nhưng vấn đề  
biến đổi đại dương chưa được chú ý đúng mức.  
Các nguyên nhân gây ra BĐKH và biến đổi đại  
dương có thể khác nhau, nhưng tác động của  
chúng luôn cộng hưởng. Biến đổi đại dương do  
tác động từ khí quyển (BĐKH) làm tan băng,  
do tác động từ đất liền qua sông đưa phù sa và  
chất ô nhiễm ra biển, do tác động từ lòng đất  
dưới đáy đại dương đưa vật chất nóng bỏng lên  
và do các phản ứng hóa học tạo hợp chất mới  
ngay bên trong đại dương. Vì thế, chúng ta cần  
phải nhìn nhận các tác động của BĐKH và biến  
đổi đại dương như hai mặt của một vấn đề và  
phân tích chúng theo quan hệ nhân-quả, không  
thiên vị.  
Thời gian tới cần chú ý lồng ghép các vấn  
đề của biến đổi đại dương vào kế hoạch ứng  
phó với BĐKH. Việt Nam đã ký các tuyên bố,  
cam kết về đại dương nhưng hầu như không  
tuyên truyền và tổ chức thực hiện. Vấn đề  
BĐKH và biến đổi đại dương là rất lớn và  
không của riêng quốc gia nào, ảnh hưởng đến  
an ninh quốc gia và an ninh biển (an ninh phi  
truyền thống). Hơn nữa đây lại là những vấn đề  
mới mẻ cần phải hợp tác quốc tế để giải quyết.  
Trước hết, cần tiến hành đánh giá các hiện  
tượng liên quan tới sức khỏe đại dương trong  
phạm vi vùng biển Việt Nam (axit hóa, ấm lên  
KHUYẾN NGHỊ CHUNG  
Trong bối cảnh loài người đang phải đối  
mặt và nỗ lực ứng phó với những tác động  
khôn lường của BĐKH, thì biển và đại dương  
một lần nữa lại chứng tỏ vai trò quan trọng toàn  
cầu của nó trong việc giảm thiểu và thích ứng  
126  
Biến đổi đại dương và biến đổi khí hậu …  
của đại dương, ô nhiễm và suy thoái môi  
trường biển,…).  
Australian Institute of Marine Science,  
Townsville.  
8. Cheung, W. W. L., Lam, V. W. Y., Sarmiento,  
J. L., Kearney, K., Watson, R., Zeller, D.,  
and Pauly, D., 2009. Redistribution of Fish  
Catch by Climate Change. Ocean Science  
Series, The PEW Environment Group,  
Washington D.C.  
Cho nên, Chính phủ cần ưu tiên triển khai  
nghiên cứu và đào tạo nguồn nhân lực để giải  
quyết các vấn đề liên quan đến biến đổi đại  
dương (kể cả các công cụ như quản lý tổng hợp  
vùng bờ, quy hoạch không gian biển, …). Trong  
đó, cần huy động tối đa lực lượng từ các đơn vị  
trong nước có liên quan và tranh thủ sự hỗ trợ  
quốc tế trong công tác đào tạo nguồn nhân lực  
chất lượng cao cho các lĩnh vực chuyên ngành  
và liên ngành về khoa học biển, về quản trị và  
quản lý biển, đảo và vùng ven biển.  
9. UNEP, 2012. Report on Ocean Health Index  
in 2012. Nairobi, Kenya.  
10. Turekian, K. K., 1979. Các đại dương. Nxb.  
Khoa học, Vacsava (tiếng Ba Lan).  
11. FAO, 2012. The State of World Fisheries  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
and Aquaculture 2012. Rome, Italy.  
1. Noone, K., Sumaila, R., and Diaz, R., 2012.  
Valuing the Ocean. Stockholm: Stockholm  
Environment Institute (SEI).  
12.Donato, D. C., Kauffman, J. B., Murdiyarso,  
D., Kurnianto, S., Stidham, M., and  
Kanninen, M., 2011. Mangroves among the  
most carbon-rich forests in the tropics.  
Nature Geoscience, 4(5): 293-297.  
2. Botkin, D. B., and Keller, E. A., 2000.  
Environmental Science: Earth as a Living  
Planet. Third Edition, New York-  
Chichester-Weinheim-Brisbane-Singapore-  
Toronto.  
13. Cicin-Sain B. (ed.), 2009. Oceans and  
Climate  
Change:  
Is  
sues  
and  
Recommendations for Policymakers and  
for the Climate Negotiations. Brief Ocean  
Policy of Global Ocean Forum.  
3. Nguyễn Chu Hồi và nnk, 2012. Quy hoạch  
không gian biển và vùng bờ biển. Nxb.  
Nông nghiệp, Hà Nội.  
14. World Ocean Conference, 2009. Manado  
Ocean Declaration. Ministerial/High Level  
Meeting, Manado, Indonesia.  
4. Robert J Díaz, 2013. The Coast and Oceans:  
Home of the Excess Nutrients! Report in  
2nd Global Conference on Land-Ocean  
Connections, Jamaica.  
15. The Third Ministerial Forum East Asian  
Seas Congress, 2009. Manila Declaration  
on Strengthening the Implementation of  
Integrated Coastal Management for  
Sustainable Development and Climate  
Change Adaptation in the Seas of East Asia  
Region. Manila, Philippines.  
5. The US Joint Ocean Commission, 2009.  
Changing Oceans, Changing World: Ocean  
Priorities for the Obama Administration  
and Congress. Recommendations from the  
Joint Ocean Commission Initiative,  
Washington D.C., USA.  
16. Rio+20, 2012. Rio Ocean Declaration on  
“Calling for strong and immediate action to  
meet the sustainable development goals for  
oceans, coasts, and small island developing  
States (SIDS) at Rio+20 and beyond”. Rio  
de Janeiro, Brasil.  
6. Nguyễn Chu Hồi, 2005. Cơ sở Tài nguyên  
và Môi trường biển. Nxb. Đại học quốc gia  
Hà Nội.  
7. Wilkinson, C. R. (chief editor), 2008. Status  
of Coral Reefs of the World in 2002.  
127  
Nguyễn Chu Hồi  
OCEAN CHANGE AND CLIMATE CHANGE -  
TWO DIMENSIONS OF A PROBLEM  
Nguyen Chu Hoi  
VNU University of Science  
ABSTRACT: The world ocean, including oceans and marginal seas, covers 71% of the Earth’s  
area and has been considered as a supportive system to the Earth’s life. Especially, the ocean  
maintains food and energy security for humankind while such sources are being exhausted on the  
mainlands. The climate change and its impacts on oceans, coasts and islands have been know more  
than ocean change and its impacts on climate system. The scientists have continuously affirmed that  
climate change and ocean change are closely related and are considered as two dimensions of the  
same problem. The paper presents the ocean change, the role of the ocean in adapting to the  
impacts of the climate change and the approaches to respond to the changes worldwide and in  
Vietnam.  
Keywords: Open natural system, global water cycle, ocean change, ocean acidification, ocean  
warming, hypoxia, sea level rise, marine pollution and overuse of marine resources.  
128  
pdf 10 trang Mãnh Khiết 13/01/2024 11460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Biến đổi đại dương và biến đổi khí hậu - Hai mặt của một vấn đề", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbien_doi_dai_duong_va_bien_doi_khi_hau_hai_mat_cua_mot_van_d.pdf