Giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới

Giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu  
ở đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới  
Nguyễn Quang Thuấn1, Hà Huy Ngọc2, Phạm Sỹ An3  
1 Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.  
2 Viện Địa lí nhân văn, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.  
Email: huyngoc47ql@yahoo.com  
3 Viện Kinh tế Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.  
Nhận ngày 2 tháng 1 năm 2019. Chấp nhận đăng ngày 14 tháng 2 năm 2019.  
Tóm tắt: Theo kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng 2016, nếu nước biển dâng cao 1m thì  
vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là khu vực có nguy cơ ngập cao nhất (38,9% diện tích),  
trong đó, tỉnh Hậu Giang có diện tích ngập lớn nhất (80,6 %) [8]. Nhận thức được điều này, Chính  
phủ đã sớm xây dựng các chính sách, cũng như các chương trình hành động để thích ứng với biến  
đổi khí hậu (BĐKH) cho vùng. Tuy nhiên, các chính sách và các chương trình ứng phó với BĐKH  
còn nhiều bất cập và hạn chế. Để hoàn thiện các chính sách ứng phó với BĐKH ở vùng ĐBSCL  
trong bối cảnh mới hiện nay, Chính phủ và các địa phương trong vùng cần thực hiện nhiều giải  
pháp mang tính tổng thể, liên kết vùng một cách hiệu quả hơn.  
Từ khóa: Biến đổi khí hậu, chính sách, đồng bằng sông Cửu Long, nước biển dâng.  
Phân loại ngành: Kinh tế học  
Abstract: According to the 2016 scenario of climate change and sea level rise, in case the sea level  
rises by 1 metre, the Mekong Delta would be the region with the highest risk of flooding (38.9% of  
its area), in which Hau Giang province has the largest flooded area (80.6%) [8]. Being aware of  
this, the Vietnamese Government has developed policies and action programmes to adapt to  
climate change for the region. However, the climate change response policies and programmes  
have many shortcomings and limitations. In order to complete the policies to cope with climate  
change in the Mekong Delta in the new context, the Government and localities in the region need to  
implement multiple comprehensive solutions for more effective regional linkage.  
Keywords: Climate change, policies, Mekong Delta, sea level rise.  
Subject classification: Economics  
3
Khoa học xã hội Việt Nam, số 3 - 2019  
1. Mở đầu  
ngập cao nhất (38,9 % diện tích), trong đó,  
hai tỉnh Hậu Giang và Kiên Giang có diện  
tích ngập lớn nhất (80,6% và 76,9 %) [8].  
Điều này sẽ tác động lớn đến sản xuất và  
việc làm của phần lớn lao động nông thôn.  
Từ cuối năm 2015 đến tháng 6/2016, các  
địa phương vùng ĐBSCL đã hứng chịu các  
đợt hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng.  
Tính đến tháng 6/2016, 13/13 tỉnh, thành  
phố đã ban hành quyết định công bố bị  
thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn trên địa  
bàn. Hạn hán, xâm nhập mặn đã làm cho  
khoảng 139.000ha lúa của vùng bị thiệt hại,  
trong đó có hơn 50% diện tích bị mất trắng  
gây thiệt hại khoảng 215 tỷ đồng. Đồng  
thời hạn hán, xâm nhập mặn làm cho  
khoảng 400.000 hộ dân (1,5 triệu nhân  
khẩu) bị thiếu nước sinh hoạt… [4]. Ước  
tính tổng thiệt hại trong đợt hạn - mặn năm  
2015-2016 toàn vùng là gần 7.520 tỷ đồng,  
trong đó, các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, và  
Bạc Liêu là những địa phương bị thiệt hại  
lớn nhất (khoảng 6.050 tỷ đồng) [1]..  
Trong các năm 2017 và 2018 khu vực  
ĐBSCL lại tiếp tục phải hứng chịu những  
đợt sạt lở bờ sông, bờ biển với tần suất và  
quy mô lớn chưa từng có trong lịch sử hơn  
300 năm phát triển của vùng. Sạt lở đã uy  
hiếp trực tiếp đến tính mạng, tài sản của  
nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an  
toàn các công trình phòng chống thiên tai  
và cơ sở hạ tầng vùng ven biển, và làm suy  
thoái rừng ngập mặn ven biển. Tổng thiệt  
hại do sạt lở bờ sông, bờ biển ở các tỉnh  
ĐBSCL tính đến hết năm 2018 vào khoảng  
2.766,6 tỷ đồng. Thiệt hại do thiên tai và  
BĐKH ở vùng ĐBSCL ngày càng gia tăng  
nhanh chóng với mức độ ngày càng nghiêm  
trọng (thiệt hại nặng nhất là giai đoạn 2017-  
2018 với 7.990 tỷ đồng). Tính chung trong  
giai đoạn 2010-2018, tổng thiệt hại do thiên  
tai và BĐKH gây ra ở ĐBSCL là khoảng  
20.945 tỷ đồng5.  
ĐBSCL có địa hình rất thấp và bằng phẳng,  
với hệ sinh thái đa dạng. Nơi đây được  
đánh giá là khu vực dễ bị tổn thương do  
những tác động của BĐKH vì vùng nằm ở  
cuối nguồn của lưu vực sông Mê Kông, tiếp  
giáp hai mặt với biển Đông và biển Tây.  
Với 18 triệu dân, mà phần lớn hoạt động  
sinh kế của họ là canh tác nông nghiệp,  
nuôi trồng thủy sản và các dịch vụ liên  
quan, BĐKH đã ảnh hưởng không nhỏ đến  
đời sống khu vực này [20]. Để ứng phó với  
BĐKH, từ năm 2008 đến nay, nhiều chính  
sách, chương trình, dự án đã được triển khai  
ở ĐBSCL. Nhờ có những chính sách này  
mà vùng ĐBSCL đã giảm thiểu tác động  
của BĐKH. Tuy nhiên, các chính sách này  
mới tập trung chủ yếu vào xây dựng các  
công trình hạ tầng và thực hiện riêng lẻ  
trong nội bộ của từng địa phương. Điều đó  
dẫn đến hiệu quả không đạt được mục tiêu  
đề ra. Trong bối cảnh mới hội nhập kinh tế  
thế giới như hiện nay, cộng với sự thay đổi  
của khu vực thượng nguồn sông Mê Kông  
và sự phát triển nội tại của vùng, thì cần  
phải nhìn nhận lại quan điểm và chiến lược  
thích ứng với BĐKH ở ĐBSCL. Bài viết4  
này phân tích ảnh hưởng tiêu cực của  
BĐKH đến vùng ĐBSCL; trình bày thực  
tiễn triển khai chính sách thích ứng với  
BĐKH và chỉ ra những vấn đề đặt ra đối  
với ứng phó BĐKH vùng ĐBSCL; từ đó, đề  
xuất một số giải pháp.  
2. Ảnh hưởng tiêu cực của biến đổi  
khí hậu  
Theo kịch bản biến đổi khí hậu và nước  
biển dâng 2016, nếu nước biển dâng cao 1m  
thì vùng ĐBSCL là khu vực có nguy cơ  
4
Nguyễn Quang Thuấn, Hà Huy Ngọc, Phạm Sỹ An  
Đơn vị: Tỷ đồng  
Hình 1: Thiệt hại do hạn hán và xâm nhập mặn ở Tây Nam Bộ, 2015-2016 [17]  
3. Chính sách thích ứng với biến đổi  
khí hậu  
theo phạm vi không gian khác nhau, như:  
phạm vi toàn vùng ĐBSCL (13 tỉnh, thành  
phố), vùng kinh tế trọng điểm (4 tỉnh, thành  
phố) và vùng biển, ven biển Việt Nam  
thuộc vịnh Thái Lan [2].  
3.1. Rà soát chính sách  
Thứ hai, nhóm chính sách liên quan đến  
hạ tầng ứng phó với BĐKH. Chính phủ ban  
hành Quyết định số 1397/QĐ-TTg ngày 25  
tháng 9 năm 2012 của Thủ tướng Chính  
phủ phê duyệt Quy hoạch thủy lợi ĐBSCL  
giai đoạn 2012-2020 và định hướng đến  
năm 2050 trong điều kiện BĐKH, nước  
biển dâng (NBD). Quyết định đã nhấn  
mạnh, quy hoạch thủy lợi nhằm góp phần  
khai thác, sử dụng hiệu quả, bảo vệ và phát  
triển nguồn nước ở thượng lưu và vùng lân  
cận. Quy hoạch trên cũng đặc biệt nhấn  
mạnh, kết hợp hài hòa giữa giải pháp công  
trình và phi công trình; hạn chế các tác hại  
do nước gây ra, nhất là lũ lụt và xâm nhập  
mặn trong điều kiện BĐKH, NBD. Do đó,  
quy hoạch đã đưa ra các giải pháp như:  
(i) kiểm soát mặn, giải quyết mâu thuẫn  
giữa vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và  
vùng sản xuất nông nghiệp của các tỉnh  
Sau khi Chính phủ ban hành Chương trình  
Mục tiêu quốc gia về BĐKH năm 2008, có  
nhiều chính sách trực tiếp và gián tiếp liên  
quan đến ứng phó với BĐKH ở vùng  
ĐBSCL được ban hành, cụ thể như sau:  
Thứ nhất, nhóm chính sách liên quan  
đến quy hoạch phát triển vùng có lồng ghép  
vấn đề BĐKH. Tính đến tháng 12/2017, đã  
có hơn 2.500 quy hoạch được lập cho vùng  
ĐBSCL có lồng ghép trực tiếp và gián tiếp  
vấn đề ứng phó với BĐKH. Trong đó, riêng  
quy hoạch cấp vùng hiện có tới 22 bản quy  
hoạch, gồm: 3 quy hoạch về phát triển kinh  
tế - xã hội; 5 quy hoạch về xây dựng; 7 quy  
hoạch về phát triển nông nghiệp, nông thôn;  
7 quy hoạch phát triển một số ngành, lĩnh  
vực chủ yếu (giao thông, điện lực, thương  
mại, du lịch, thông tin và truyền thông…).  
Các quy hoạch cấp vùng cũng được lập  
5
Khoa học xã hội Việt Nam, số 3 - 2019  
Kiên Giang, Hậu Giang và Bạc Liêu thuộc  
lưu vực sông Cái Lớn - Cái Bé; (ii) chủ  
động ứng phó với BĐKH, NBD, tạo nguồn  
nước ngọt cho vùng ven biển để giải quyết  
tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô,  
phòng chống cháy rừng; (iii) tăng cường  
khả năng thoát lũ, tiêu úng, tiêu chua cải tạo  
đất phèn; và (iv) kết hợp phát triển giao  
thông thủy, bộ trong vùng dự án. Để triển  
khai Quyết định số 1397/QĐ-TTg, Thủ  
tướng Chính phủ cũng ban hành Quyết định  
số 498/QĐ/TTg ngày 17 tháng 4 năm 2017  
về Phê duyệt chủ trương đầu tư dự án Hệ  
thống Thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé giai đoạn  
1 tỉnh Kiên Giang và Cà Mau, với tổng mức  
đầu tư 3.309,5 tỷ đồng.  
Bên cạnh đó, Thủ tướng Chính phủ ban  
hành Quyết định số 2623/QĐ-TTg ngày 31  
tháng 12 năm 2013 về Phê duyệt dự án Phát  
triển đô thị ứng phó với BĐKH giai đoạn  
2013-2020. Theo đó, vùng ĐBSCL có 12  
đô thị được Chính phủ hỗ trợ xây dựng kịch  
bản đánh giá tác động của NBD, nâng cao  
năng lực ứng phó với BĐKH, và xây dựng  
quy hoạch đô thị ứng phó với BĐKH và  
NBD. Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ  
ban hành Quyết định số 68/QĐ-TTg ngày  
15 tháng 1 năm 2018 về việc Phê duyệt  
Điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng  
ĐBSCL đến năm 2030 và tầm nhìn đến  
năm 2050. Với mục tiêu phát triển vùng  
ĐBSCL theo hướng tăng trưởng xanh, bền  
vững và thích ứng với BĐKH. Phát triển  
vùng trở thành vùng trọng điểm quốc gia về  
sản xuất nông nghiệp và đánh bắt, nuôi  
trồng thủy sản. Phát triển mạnh kinh tế  
biển, du lịch sinh thái. Phát triển không  
gian vùng với hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ  
tầng xã hội đồng bộ, mang đặc thù của  
vùng ĐBSCL nhằm phát triển kinh tế,  
nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo vệ  
môi trường.  
Thứ ba, nhóm chính sách liên quan đến  
liên kết vùng trong việc hình thành các sản  
phẩm chủ lực trong bối cảnh ứng phó với  
BĐKH. Chính phủ ban hành Quyết định số  
639/QĐ-BNN-KH ngày 2 tháng 4 năm  
2014 về việc Phê duyệt Quy hoạch nông  
nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL đến năm  
2020, tầm nhìn đến năm 2030 trong điều  
kiện BĐKH. Trong đó, nhấn mạnh quy  
hoạch nông nghiệp, nông thôn vùng  
ĐBSCL trên cơ sở đổi mới tư duy, cách tiếp  
cận thị trường; khai thác, phát huy lợi thế  
của vùng và địa phương để phát triển sản  
xuất nông nghiệp theo hướng nâng cao giá  
trị gia tăng và phát triển bền vững; tạo sự  
liên kết sản xuất, xây dựng các vùng sản  
xuất chuyên canh, cánh đồng lớn; ứng dụng  
nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ  
trong sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản  
phẩm, trong bối cảnh ứng phó với tác động  
của BĐKH.  
Để cụ thể hóa cơ chế pháp lý cho liên kết  
vùng ở ĐBSCL, Thủ tướng Chính phủ đã  
ban hành Quyết định số 593/QĐ-TTg ngày  
6 tháng 4 năm 2016 về việc Ban hành Quy  
chế thí điểm liên kết phát triển kinh tế - xã  
hội vùng ĐBSCL giai đoạn 2016-2020.  
Trong đó, chú trọng đến nội dung liên kết  
vùng trong ứng phó với BĐKH, như: (i)  
đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống thủy lợi  
phục vụ tưới tiêu, phòng chống lũ, kiểm  
soát xâm nhập mặn; (ii) quản lý, khai thác  
sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước, nâng  
cao hiệu quả sử dụng nước cho sinh hoạt,  
sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy  
sản trong mùa khô; (iii) xây dựng, nâng cấp  
hệ thống đê biển, đê bao, cống, đập, vành  
đai rừng ngập mặn và các dự án bảo vệ  
môi trường, ứng phó với BĐKH... Nhằm  
triển khai Quyết định nói trên, Thủ tướng  
Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định  
6
Nguyễn Quang Thuấn, Hà Huy Ngọc, Phạm Sỹ An  
số 2220/QĐ-TTg ngày 17 tháng 11 năm vùng, liên ngành, có trọng tâm, trọng điểm.  
2016 về việc Ban hành Kế hoạch triển khai Với sự ra đời của Nghị quyết đã góp phần  
Quyết định 593/QĐ-TTg. Quyết định 2220 kiến tạo một tầm nhìn phát triển dài hạn,  
đã đưa ra kế hoạch hành động liên kết vùng bền vững vùng ĐBSCL, dựa trên nguyên  
nhằm ứng phó với BĐKH, gồm: (i) kế tắc tôn trọng các giá trị sinh thái tự nhiên,  
hoạch quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ con người của vùng.  
tài nguyên nước nhằm mục tiêu kiểm soát  
Để thực hiện Nghị quyết 120/NQ-CP,  
lũ, kiểm soát mặn, tăng cường khả năng lưu Chính phủ đã xây dựng chương trình hành  
chứa nước ngọt của vùng; (ii) kế hoạch động tổng thể thực hiện Nghị quyết  
trồng rừng ngập mặn, bảo vệ môi trường, 120/NQ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2017 về  
thích ứng BĐKH, kế hoạch bảo vệ, chăm Phát triển bền vững vùng ĐBSCL thích ứng  
sóc rừng. Để tiếp tục thúc đẩy thực hiện với BĐKH. Chương trình được thiết kế  
Quyết định 593 tại các địa phương, gồm 6 nội dung chính: (i) rà soát, hoàn  
Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành thiện và bổ sung hệ thống cơ chế, chính  
Quyết định số 64/QĐ-TTg ngày 18 tháng 1 sách; (ii) cập nhật hệ thống hóa số liệu, dữ  
năm 2017 về việc Thành lập Tổ chỉ đạo liệu liên ngành; (iii) xây dựng quy hoạch, tổ  
liên ngành về liên kết vùng ĐBSCL giai chức không gian lãnh thổ; (iv) xây dựng cơ  
đoạn 2016-2020.  
cấu kinh tế hợp lý phục vụ nền nông nghiệp  
Thứ tư, nhóm chính sách ứng phó mang thị trường đa dạng, thích ứng với BĐKH;  
tính tổng hợp, liên ngành, đa mục tiêu. Để (v) xây dựng các dự án hạ tầng gắn với  
phát triển bền vững vùng đồng ĐBSCL thích ứng BĐKH; và (vi) phát triển nguồn  
trong bối cảnh BĐKH và ứng phó với các nhân lực, khoa học công nghệ và hợp tác  
thách thức từ sự phát triển nội tại của vùng quốc tế. Trên cơ sở đó Chính phủ đã xây  
và khu vực thượng nguồn, Chính phủ ban dựng 55 đề án, chương trình, dự án, nhiệm  
hành Nghị quyết 120/NQ-CP ngày 17 tháng vụ ưu tiên, cấp bách cần thực hiện ở 13 tỉnh  
11 năm 2017 về Phát triển bền vững vùng vùng ĐBSCL. Đồng thời, để thực hiện Nghị  
ĐBSCL thích ứng với BĐKH. Nghị quyết quyết 120/NQ-CP, một số bộ cũng ban  
đã đề ra các chủ trương mang tính chiến hành kế hoạch hành động thực hiện Nghị  
lược như sau: (i) mô hình phát triển phải lấy quyết. Điển hình là Bộ Tài nguyên và Môi  
con người làm trung tâm; (ii) xác định trường ban hành Quyết định 2878/QĐ-  
BĐKH và nước biển dâng là xu hướng tất BTNMT ngày 28 tháng 8 năm 2018 về Ban  
yếu, phải sống chung và thích nghi, lấy tài hành Kế hoạch hành động của Bộ Tài  
nguyên nước là cốt lõi làm cơ sở cho việc nguyên và Môi trường thực hiện Nghị quyết  
hoạch định chiến lược phát triển vùng; (iii) 120/NQ-CP của Chính phủ về Phát triển  
việc chuyển đổi mô hình phải dựa trên hệ bền vững vùng ĐBSCL thích ứng với  
sinh thái, tôn trọng các quy luật tự nhiên; BĐKH với 7 nhiệm vụ chính: (i) cập nhật,  
(iv) tiếp cận tổng hợp, theo hướng tích hợp hệ thống hóa số liệu, dữ liệu liên ngành  
tổng thể kinh tế - xã hội toàn vùng, tăng vùng ĐBSCL; (ii) rà soát hoàn thiện bổ  
cường liên kết giữa các địa phương trong sung cơ chế chính sách về tài nguyên và  
vùng; (v) mọi hoạt động đầu tư phải được môi trường; (iii) rà soát hoàn thiện phương  
điều phối thống nhất, đảm bảo tính liên án quy hoạch lĩnh vực tài nguyên và môi  
7
Khoa học xã hội Việt Nam, số 3 - 2019  
NBD. Ban Chỉ đạo gồm lãnh đạo UBND  
tỉnh làm trưởng ban, lãnh đạo các sở/ngành  
và UBND các huyện, thị xã và thành phố là  
thành viên. Để giúp việc cho Ban Chỉ đạo,  
các địa phương đã thành lập Văn phòng  
giúp việc cho Ban Chỉ đạo, hoạt động theo  
chế độ kiêm nhiệm và đặt tại Sở Tài nguyên  
và Môi trường. Riêng thành phố Cần Thơ  
và 2 tỉnh Bến Tre, Trà Vinh thành lập Văn  
phòng BĐKH. Văn phòng là đơn vị độc lập  
trực thuộc UBND tỉnh để giúp việc cho Ban  
Chỉ đạo cấp tỉnh thực hiện CTMTQG về  
BĐKH. Đồng thời, để thực hiện CTMTQG  
về ứng phó với BĐKH tại địa phương thì  
Tỉnh ủy, UBND các tỉnh, thành đã ban hành  
325 văn bản quy phạm pháp luật dưới các  
hình thức khác nhau để thực hiện chính  
sách ứng phó BĐKH tại các địa phương  
trường; (iv) tuyên truyền nâng cao nhận  
thức; (v) phát triển ứng dụng khoa học công  
nghệ; (vi) huy động và quản lý tài chính; và  
(vii) tăng cường hợp tác quốc tế. Dựa trên 7  
nhiệm vụ trọng tâm, Bộ Tài nguyên và Môi  
trường đã xây dựng 21 đề án, dự án với các  
hoạt động cụ thể để thực hiện tại vùng  
ĐBSCL. Bộ Nông nghiệp và Phát triển  
nông thôn ban hành Quyết định 816/QĐ-  
BNNPTNT ngày 7 tháng 3 năm 2018 về  
Ban hành Kế hoạch hành động của Bộ  
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực  
hiện Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ  
về Phát triển bền vững vùng ĐBSCL thích  
ứng với BĐKH với 38 nhiệm vụ, dự án  
được thực hiện ở các địa phương vùng  
ĐBSCL. Chỉ tính trong giai đoạn 2008-  
2018, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ủy vùng ĐBSCL7.  
Bên cạnh đó, để từng bước triển khai  
ban Thường vụ Quốc hội, Bộ trưởng và thủ  
trưởng các cơ quan ngang Bộ đã ban hành  
66 văn bản pháp luật gồm các Hiệp ước,  
Nghị quyết, Nghị định, Thông tư, Chỉ thị,  
và quy hoạch có liên quan trực tiếp đến ứng  
phó với BĐKH ở vùng ĐBSCL6.  
chính sách ứng phó với BĐKH, 13/13 địa  
phương đã xây dựng kịch bản BĐKH và  
NBD, đồng thời ban hành Kế hoạch hành  
động ứng phó BĐKH và NBD giai đoạn  
2011-2015 và giai đoạn 2016-2020. Từ  
khung kế hoạch hành động chung của tỉnh,  
thành phố, thì từng lĩnh vực, một số ngành  
đã xây dựng hành động ứng phó với BĐKH  
trên từng ngành.  
3.2. Thực hiện chính sách  
Thứ nhất, xây dựng kế hoạch triển khai  
chính sách. Ngay sau khi các quyết định  
được ban hành, các tỉnh vùng ĐBSCL đã tổ  
chức triển khai, chỉ đạo các cấp, các ngành  
thực hiện đồng bộ chương trình và đạt được  
một số kết quả như sau: Căn cứ vào việc  
thực hiện Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg  
ngày 2 tháng 12 năm 2008, Quyết định số  
1183/QĐ-TTg ngày 30 tháng 8 năm 2012,  
Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp  
hành Trung ương, Ủy ban nhân dân  
(UBND) các tỉnh, thành phố trực thuộc  
Trung ương đã thành lập Ban Chỉ đạo cấp  
tỉnh về thực hiện Chương trình Mục tiêu  
quốc gia (CTMTQG) về ứng phó BĐKH và  
Thứ hai, tuyên truyền thực hiện chính  
sách. Trong giai đoạn 2011-2017, để góp  
phần thực hiện CTMTQG về BĐKH ở vùng  
ĐBSCL, thì hoạt động tuyên truyền chính  
sách ứng phó BĐKH được các địa phương  
triển khai khá đa dạng về nội dung và hình  
thức tuyên truyền, trong đó, tập trung chủ  
yếu vào tuyên truyền nâng cao nhận thức  
(tuyên truyền thông qua các chương trình  
phóng sự, phát thanh truyền hình về thiên  
tai, truyền thông, tập huấn về BĐKH và các  
mô hình ứng phó, hội thi tìm hiểu về  
BĐKH)8. Kết quả khảo sát cũng cho thấy,  
hoạt động tuyên truyền đã làm rất tốt ở nội  
8
Nguyễn Quang Thuấn, Hà Huy Ngọc, Phạm Sỹ An  
Chỉ tính riêng trong giai đoạn 2017-  
2018, Chính phủ đã đầu tư cho vùng  
ĐBSCL để ứng phó với BĐKH nhiều hơn  
so với các vùng khác của cả nước. Cụ thể,  
Chính phủ đã chi 1.500 tỷ đồng từ nguồn  
dự phòng ngân sách Trung ương năm 2018,  
và 1.000 tỷ đồng từ nguồn dự phòng kế  
hoạch đầu tư công trung hạn 2016-2020 để  
hỗ trợ cho một số địa phương trong vùng  
xử lý, khắc phục các khu vực sạt lở bờ  
sông, bờ biển cấp bách ảnh hưởng trực tiếp  
đến khu dân cư tập trung, công trình hạ tầng  
thiết yếu. Đối với Chương trình ứng phó  
với BĐKH và Tăng trưởng xanh giai đoạn  
2016-2020, vùng ĐBSCL được Chính phủ  
ưu tiên thực hiện 34 dự án (có 9 dự án  
chuyển tiếp từ giai đoạn trước đó và 25 dự  
án mở mới), với tổng vốn đầu tư 11.000 tỷ  
đồng [14].  
Thứ tư, phối hợp, chia sẻ thông tin trong  
việc thực hiện chính sách. Để chính sách  
thích ứng với BĐKH trở nên hiệu quả hơn  
thì các bên tham gia vào chính sách cần cải  
thiện hơn nữa cơ chế phân công, phối hợp,  
chia sẻ thông tin giữa các bên liên quan  
trong quá trình thực hiện. Thực tiễn cho  
thấy, trong giai đoạn 2008-2018 sự phối  
hợp, chia sẻ thông tin giữa các cấp  
bộ/ngành và địa phương, giữa địa phương  
dung về các biểu hiện và tác động của  
BĐKH tới các trụ cột của phát triển bền  
vững, tuy nhiên, các hình thức hỗ trợ trực  
tiếp đối với cộng đồng bị ảnh hưởng bởi  
BĐKH thì lại chưa có nhiều. Điều này cho  
thấy, hoạt động tuyên truyền mới tập trung  
vào các hoạt động nhằm thay đổi nhận thức  
của cộng đồng chứ chưa thực sự có nhiều  
mô hình ứng phó ở cấp địa phương.  
Thứ ba, phân bổ nguồn lực tài chính  
thực hiện các chương trình, dự án. Các văn  
bản, chính sách nêu trên là cơ sở để xây  
dựng và thực hiện các chương trình, dự án  
ứng phó với BĐKH ở vùng ĐBSCL. Trong  
giai đoạn 2011-2015, Chương trình Mục  
tiêu quốc gia về ứng phó với BĐKH đã đầu  
tư cho vùng ĐBSCL 2.594 tỷ đồng để triển  
khai, thực hiện 45 dự án. Bên cạnh đó,  
Chương trình hỗ trợ ứng phó với BĐKH  
(Support Program to Respond to Climate  
Change - SP-RCC) cũng đã đầu tư 2.301 tỷ  
đồng cho 7 dự án vùng ĐBSCL giai đoạn  
2012-2016 (chủ yếu tập trung đầu tư vào  
lĩnh vực cải tạo và nâng cấp hệ thống hạ  
tầng thuỷ lợi)9.  
Tính tổng trong giai đoạn 2011-2017  
vùng ĐBSCL đã huy động được 12.879 tỷ  
đồng10 cho các chương trình, dự án hoạt  
động BĐKH, trong đó, tiểu vùng duyên hải với địa phương, giữa các sở ngành với nhau  
trong quá trình triển khai chính sách BĐKH  
dù đã được quan tâm, tuy nhiên, vẫn còn rất  
mờ nhạt, lỏng lẻo, vì chưa có cơ chế pháp  
lý ràng buộc và do liên quan đến lợi ích của  
các bên.  
phía Đông là 2.078 tỷ đồng, tiểu vùng Tứ  
giác Long Xuyên là 7.145 tỷ đồng, tiểu  
vùng Đồng Tháp Mười là 1.729 tỷ đồng, và  
tiểu vùng bán đảo Cà Mau là 1.927 tỷ đồng.  
Các nguồn lực đầu tư cho BĐKH tại các  
tiểu vùng vẫn chủ yếu dành cho các hạng  
mục về xây dựng kết cấu hạ tầng phục  
vụ ứng phó với BĐKH11. Trong giai đoạn  
này, nguồn vốn viện trợ ODA cũng đã  
hỗ trợ cho các dự án liên quan đến ứng  
phó với BĐKH vùng ĐBSCL khoảng hơn  
764 triệu USD12.  
3.3. Một số đánh giá  
Kể từ khi các chính sách và chương trình,  
dự án nêu trên được triển khai ở khu vực  
ĐBSCL, đời sống của người dân đã được  
cải thiện, thu nhập tăng, tạo sinh kế bền  
9
Khoa học xã hội Việt Nam, số 3 - 2019  
vững và thích ứng tốt với BĐKH. Tuy phi công trình, bán công trình và giải pháp  
nhiên, chính sách thích ứng với BĐKH ở công nghệ (như: hệ thống quan trắc và cảnh  
vùng ĐBSCL trong thời gian qua vẫn còn báo sớm thiên tai, năng lượng tái tạo, thích  
những bất cập.  
ứng với BĐKH dựa vào hệ sinh thái, bảo vệ  
Thứ nhất, việc tuyên truyền chính sách rừng ngập mặn, mô hình sinh kế bền vững  
ứng phó với BĐKH ở vùng ĐBSCL dù đã cho cộng đồng...).  
được triển khai, nhưng vẫn còn nhiều hạn  
Thứ tư, nhu cầu ngân sách để chi cho  
chế. Hình thức và nội dung tuyên truyền ứng phó với BĐKH ở các địa phương vùng  
chủ yếu tập trung vào nâng cao nhận thức, ĐBSCL là rất lớn, trong khi 12/13 tỉnh,  
nhưng lại thiếu các giải pháp cụ thể tác thành phố chưa cân đối được thu - chi ngân  
động trực tiếp tới đối tượng bị ảnh hưởng sách và phải xin ngân sách từ Trung ương.  
do BĐKH.  
Trong bối cảnh ngân sách đầu tư công bị  
Thứ hai, BĐKH có ảnh hưởng trên diện thắt chặt và cắt giảm như hiện nay, thì chi  
rộng, tác động mang tính liên tỉnh, lên vùng ngân sách chỉ đáp ứng được khoảng 25% so  
sinh thái - xã hội. Các chương trình, dự án với nhu cầu của các địa phương, trong khi  
ứng phó với BĐKH trong thời gian qua chủ đó, khó thu hút được nguồn kinh phí đầu  
yếu được xây dựng và thực hiện cục bộ, tư cho BĐKH từ khu vực tư nhân hay từ  
manh mún, cát cứ thuộc ranh giới của từng cộng đồng [22].  
địa phương trong vùng. Ví dụ, 7 dự án được  
Chính phủ phân bổ vốn để thực hiện trong  
4. Những vấn đề đặt ra đối với ứng phó  
BĐKH ở vùng ĐBSCL trong bối cảnh  
phát triển mới  
Chương trình hỗ trợ ứng phó với BĐKH chỉ  
được triển khai riêng biệt trong nội bộ  
7 tỉnh. Trong quá trình lập dự án, các địa  
phương thiếu tính tiếp nối, liên kiết và chia  
sẻ thông tin với nhau, trong khi các dự  
án về xây dựng công trình hạ tầng, thuỷ lợi  
trong ứng phó với BĐKH sẽ tác động  
tiêu cực đối với tỉnh hay vùng lân cận,  
nếu như không được thực hiện một cách  
đồng bộ. Điều này, dẫn đến công tác ứng  
phó với BĐKH kém hiệu quả, gây lãng phí  
nguồn lực [22].  
Trong bối cảnh phát triển mới ngày nay,  
Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào  
quốc tế và khu vực, dưới ảnh hưởng của  
cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và những  
tác động của BĐKH thì vùng ĐBSCL đang  
đứng trước những cơ hội và thách thức.  
4.1. Thỏa thuận Paris về BĐKH và các vấn  
đề đặt ra cho vùng ĐBSCL  
Thứ ba, các chương trình, dự án về ứng  
phó với BĐKH thời gian qua hầu hết được  
thiết kế tập trung vào lĩnh vực kết cấu hạ  
tầng, như: xây dựng đê biển, đê sông, hồ  
chứa, đập, kênh rạch thoát lũ, cống ngăn  
mặn… (chiếm khoảng 89% nguồn vốn đầu  
tư cho BĐKH ở vùng ĐBSCL trong giai  
Sau khi Thỏa thuận Paris được thông qua  
tại Hội nghị các bên liên quan lần thứ 21  
(COP21) tháng 12/2014, Việt Nam đã ký  
Thỏa thuận Paris cùng hơn 170 quốc gia  
khác. Theo đó, Việt Nam cam kết cắt giảm  
đoạn 2011-2017)13. Các dự án chưa chú 8% phát thải khí nhà kính (KNK) vào năm  
2030 so với mức kinh doanh bình thường  
trọng ưu tiên dành nguồn lực cho giải pháp  
10  
Nguyễn Quang Thuấn, Hà Huy Ngọc, Phạm Sỹ An  
(Business as Usual - BAU) và sẽ giảm 25% biến, công nghệ tưới tự động cho phép tiết  
kiệm nước) sẽ ít phụ thuộc vào các yếu tố  
tự nhiên, góp phần ứng phó hiệu quả với  
các tác động bất lợi của BĐKH.  
nếu có sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế  
[19]. Để thực hiện thỏa thuận này, Việt  
Nam ban hành Quyết định số 2053/QĐ-  
TTg ngày 28 tháng 10 năm 2016 Phê duyệt  
Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 cũng  
Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về có những ảnh hưởng tích cực đến công tác  
BĐKH14. Theo kết quả kiểm kê KNK của  
ứng phó với BĐKH, nhờ áp dụng các công  
Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2018,  
lượng phát thải KNK của ngành nông  
nghiệp là 89.751,8 nghìn tấn CO2, chiếm  
khoảng 27,9% tổng lượng phát thải KNK.  
Dự báo đến năm 2020 lượng phát thải KNK  
của ngành nông nghiệp sẽ giảm xuống còn  
20,67% và năm 2030 là 12,6% [10]. Đây sẽ  
là thách thức rất lớn cho vùng ĐBSCL khi  
tiến hành các hoạt động triển khai Đóng  
góp Quốc gia tự quyết định (Nationally  
Determined Contribution - NDC) nhằm  
giảm KNK trong hoạt động sản xuất nông  
nghiệp (vì đây là khu vực chuyên canh lúa  
lớn nhất của cả nước, với 1,7 triệu héc ta  
đất trồng lúa) [18].  
nghệ tiết kiệm năng lượng, thân thiện với  
môi trường, và giảm nhẹ phát thải KNK.  
Bên cạnh đó, sự phát triển nhanh chóng của  
các công nghệ giám sát, quan trắc thời tiết,  
khí hậu và cảnh báo sớm thiên tai được hỗ  
trợ bởi Internet kết nối vạn vật giúp thu  
thập và xử lý thông tin liên tục 24/7 theo  
thời gian thực hiện tại vùng.  
Ngành năng lượng của vùng ĐBSCL có  
thể tận dụng các thành tựu của cách mạng  
công nghiệp để xanh hoá năng lượng, nhờ  
được hưởng lợi khá nhiều từ những đột phá  
trong công nghệ năng lượng tái tạo, trước  
hết là công nghệ ứng dụng năng lượng mặt  
trời, năng lượng gió với giá thành sản xuất  
ngày càng giảm.  
Việc ứng phó với BĐKH ở vùng  
ĐBSCL cũng trở nên hiệu quả hơn nếu nắm  
bắt được các yếu tố công nghệ của cuộc  
Cách mạng công nghiệp 4.0. Các xu hướng  
thông minh ngày càng được áp dụng nhiều  
hơn như: nông nghiệp thông minh, đô thị  
thông minh, giao thông thông minh, nhà  
thông minh. Các xu hướng này sẽ giảm  
thiểu tác hại của BĐKH và tạo ra các  
ngành và lĩnh vực mới giúp thích ứng với  
BĐKH [21].  
4.2. Ảnh hưởng của cuộc Cách mạng công  
nghiệp 4.0  
Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 có những  
tác động lớn đến kinh tế, xã hội và môi  
trường ở tất cả các khu vực, quốc gia và  
vùng lãnh thổ. Các tác động này mang tính  
tích cực trong dài hạn, song cũng tạo ra  
nhiều thách thức trong ngắn và trung hạn.  
Đối với vấn đề ứng phó với BĐKH, cuộc  
Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tác động đến  
các khía cạnh sau [23]:  
Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang  
mở ra cơ hội rất lớn cho vùng ĐBSCL để  
có thể đón đầu, thu hẹp khoảng cách công  
nghệ và năng suất lao động. Những mô  
hình sản xuất kinh doanh mới, sử dụng  
công nghệ hiện đại dựa trên nền tảng đổi  
mới sáng tạo (ứng dụng công nghệ cảm  
4.3. Bối cảnh phát triển ở khu vực  
thượng nguồn  
Nằm ở phía cuối của lưu vực Mê Kông,  
ĐBSCL chịu tác động rất lớn từ sự phát  
triển của 11 nhà máy thủy điện ở lưu vực.  
Các đập thủy điện đã chặn dòng chảy, làm  
11  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 3 - 2019  
giảm lượng nước đổ về hạ nguồn, trong  
khi nhu cầu về nước ngày càng tăng trước  
sức ép gia tăng dân số và phát triển nông  
nghiệp [15]. Các đập thủy điện trên lưu vực  
sông Mê Kông đã làm giảm phù sa mịn,  
chặn toàn bộ cát, sỏi về ĐBSCL, gây thiệt  
hại về nguồn lợi thuỷ sản nước lợ, và ảnh  
hưởng đến thủy sản biển và dòng chảy [24].  
triển diện tích nuôi trồng thuỷ sản; thì việc  
khai thác cát quá mức trên sông Tiền, sông  
Hậu làm trầm trọng thêm sự thiếu hụt trầm  
tích, khai thác kiệt quệ nước ngầm làm mặt  
đất sụt lún [15].  
5. Một số giải pháp  
4.4. Vấn đề phát triển thiếu bền vững của  
ĐBSCL  
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế ứng phó với  
BĐKH vùng ĐBSCL. Chính phủ cần sớm  
nghiên cứu thành lập Ủy ban Điều phối  
vùng nhằm tạo sức mạnh tổng hợp, liên kết  
giữa các địa phương trong vùng. Mô hình  
quản lý này sẽ có chức năng, nhiệm vụ,  
quyền hạn, để nắm vai trò ra quyết định quá  
trình phát triển của khu vực ĐBSCL. Khi  
đó, Ủy ban điều phối vùng sẽ thành lập Hội  
đồng chuyên môn để xét duyệt các dự án  
thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia  
BĐKH dựa trên tiêu chí tổng hợp, liên  
ngành, liên vùng [3].  
Quá trình đô thị hóa - công nghiệp hóa  
(ĐTH-CNH) và di dân đang tạo ra nhiều  
thách thức cho vùng ĐBSCL. Dự báo dân  
số của vùng ĐBSCL có thể tăng từ 17 triệu  
lên 30 triệu dân vào năm 2050. Quá trình  
ĐTH-CNH phát triển sẽ thu hẹp diện tích  
đất nông nghiệp, đồng thời làm tăng nhu  
cầu về nước sạch cũng như phát sinh nhiều  
nước thải, rác thải sinh hoạt. Đây cũng là  
nguyên nhân gây BĐKH và ngập lụt tại các  
đô thị [9].  
Xây dựng các tiêu chí để lựa chọn các  
dự án thuộc Chương trình Ứng phó với  
BĐKH và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016-  
2020, và Chương trình thực hiện Nghị  
quyết 120/NQ-CP, như: (i) dự án thật sự  
cấp bách; (ii) dự án mang tính liên tỉnh, liên  
vùng; (iii) ưu tiên những giải pháp bán công  
trình, phi công trình; (iv) trong trường hợp  
xây dựng những giải pháp công trình thuỷ  
lợi lớn (đê biển, kè sông…) có quy lớn, liên  
tỉnh thì phải công bố công khai dự án và  
tham vấn ý kiến của cộng đồng, chuyên gia  
và nhà khoa học trong giai đoạn lập dự án  
đầu tư.  
Chính phủ cần giao Bộ Tài nguyên và  
Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển  
nông thôn phối hợp với Bộ Tài chính, xây  
dựng quy chế tài chính giải ngân vốn của  
dự án thuộc Chương trình BĐKH và tăng  
trưởng xanh, Chương trình thực hiện Nghị  
Theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh  
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào  
ngày 18/3/2016, có 15 nhà máy nhiệt điện  
than sẽ được xây dọc theo tuyến sông Hậu  
từ thành phố Cần Thơ, xuống tỉnh Hậu  
Giang và tiếp đến cửa biển giữa hai tỉnh  
Sóc Trăng và Trà Vinh. Với quy mô phát  
triển công nghiệp năng lượng như vậy, đến  
năm 2030 vùng sẽ trở thành một trong  
những khu vực có mật độ nhiệt điện cao  
nhất cả nước. Do đó, vùng sẽ phải đối mặt  
với nhiều hệ lụy xấu: ô nhiễm nguồn nước  
ngọt, phá huỷ hệ sinh thái dưới nước và sức  
khoẻ con người. Đồng thời gây áp lực cho  
việc cắt giảm phát thải KNK theo Thỏa  
thuận Paris15 [12].  
Bên cạnh đó, với sự phát triển nội tại của  
vùng, ngoài việc làm suy giảm nghiêm  
trọng rừng ngập mặn, rừng tràm do phát  
12  
Nguyễn Quang Thuấn, Hà Huy Ngọc, Phạm Sỹ An  
quyết 120/NQ-CP ở ĐBSCL để các địa  
phương chủ động và đẩy nhanh tiến độ giải  
ngân vốn cho các dự án cấp bách thực hiện.  
Theo quy định thủ tục giải ngân vốn của  
Luật Đầu tư công hiện nay thì tiến độ xây  
dựng dự án, cấp vốn và quy trình giải ngân  
ở vùng ĐBSCL đang diễn ra rất chậm và  
phức tạp.  
Thứ hai, xây dựng cơ chế huy động  
nguồn lực tài chính linh hoạt phát triển bền  
vững và ứng phó với BĐKH. Chính phủ  
cần xem xét, cân nhắc thành lập Quỹ Phát  
triển bền vững và ứng phó với BĐKH ở  
ĐBSCL. Quỹ này xây dựng cơ chế quản lý  
hoạt động rõ ràng, để huy động những  
nguồn vốn cấp bách, dành riêng cho từng  
mục đích, phù hợp với các nguyên tắc  
chung về quản lý bền vững, thích ứng  
khu vực [13].  
Rà soát, điều chỉnh kế hoạch đầu tư công  
trung hạn, các dự án thuộc chương trình  
mục tiêu quốc gia về tăng trưởng xanh và  
BĐKH, và các dự án sử dụng ODA liên  
quan đến BĐKH ở vùng ĐBSCL giai đoạn  
2016-2020. Trong đó, cần chú trọng tập  
trung rà soát lại để lựa chọn các dự án ưu  
tiên, cấp bách thực hiện, trên cơ sở tổng  
hợp, liên vùng, liên tỉnh, và liên ngành.  
Thứ ba, xây dựng và nhân rộng các mô  
hình sinh kế đa dạng, phù hợp với từng tiểu  
vùng, đáp ứng nhu cầu của thị trường và  
thích ứng với BĐKH. Mô hình sinh kế theo  
3 hướng trọng tâm: thủy sản - cây ăn quả -  
lúa gắn với các tiểu vùng sinh thái, trong  
đó, coi thủy sản (nước ngọt, nước lợ, nước  
mặn) là chủ lực. Chú trọng chuyển đổi cơ  
cấu và hỗ trợ đầu tư phát triển cây trồng,  
vật nuôi chủ lực, đồng thời chuyển đổi mục  
đích sử dụng đất lúa ở vùng cửa sông,  
ven biển sang nuôi trồng thủy sản nhằm  
thích ứng với xâm nhập mặn ngày càng  
gia tăng ở ĐBSCL. Mặt khác, ĐBSCL cũng  
cần phát triển nông nghiệp hữu cơ (tôm -  
rừng, tôm - lúa) [6].  
Thứ tư, nghiên cứu cơ chế để thu hút khu  
vực tư nhân tham gia vào ứng phó với  
BĐKH. Chính phủ cần xây dựng chế tài  
nhằm thúc đẩy doanh nghiệp thay đổi  
phương thức hoạt động sản xuất kinh doanh  
theo hướng nông nghiệp thông minh, để cắt  
giảm lượng KNK [25]. Chính phủ tạo ra  
một hành lang pháp lý và cơ chế khuyến  
khích đủ mạnh để thu hút các dự án đầu tư  
của khu vực tư nhân. Đây sẽ là nguồn động  
viên cho người nông dân, các doanh nghiệp  
và các bên liên quan khác tham gia triển  
khai kế hoạch hoạt động cắt giảm lượng  
KNK phát thải ra môi trường. Ngoài ra,  
Chính phủ cần mạnh dạn xây dựng cơ chế  
thí điểm thu thủy lợi phí ở một số vùng  
chuyên canh lúa và thủy sản có quy mô lớn  
phục vụ xuất khẩu tại một số tỉnh ĐBSCL.  
Mục tiêu thu thủy lợi phí là để (i) thể hiện  
trách nhiệm sử dụng nước ngọt của người  
dân và doanh nghiệp; (ii) để xây dựng duy  
tu, bảo dưỡng, vận hành hệ thống thủy lợi  
nội đồng; và (iii) thu hút sự đầu tư của tư  
nhân vào xây dựng các hồ thủy lợi, hồ chứa  
nước đa mục tiêu ở một số khu vực xung  
yếu khi mà nguồn lực của Nhà nước không  
đủ để đầu tư.  
Xây dựng cơ chế thí điểm hình thức hợp  
tác công tư (Public Private Partnership -  
PPP) trong việc xây dựng mới, nâng cấp hệ  
thống thuỷ lợi, hỗ trợ củng cố hoàn thiện hệ  
thống thuỷ lợi nội đồng để nâng cao khả  
năng ứng phó với hạn hạn, xâm nhập mặn ở  
ĐBSCL.  
Thứ năm, hoàn thiện tổ chức bộ máy  
chuyên trách ứng phó với BĐKH. Chính  
phủ cần thành lập Tổ tư vấn quốc gia về  
phát triển bền vững và BĐKH thuộc Uỷ ban  
13  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 3 - 2019  
Điều phối vùng ĐBSCL. Đây sẽ là nơi quy với cơ sở dữ liệu của Ủy hội sông Mê Kông  
tụ các nhà khoa học, nhà quản lý, doanh  
nhân… thuộc các lĩnh vực liên ngành khác  
nhau và am hiểu về ĐBSCL. Tổ tư vấn sẽ  
tham mưu cho Uỷ ban về các chiến lược  
ứng phó BĐKH. Cần sáp nhập hai ban chỉ  
đạo cấp tỉnh là Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về  
thực hiện CTMTQG về ứng phó BĐKH và  
NBD, và Ban Chỉ đạo Phòng chống thiên  
tai và tìm kiếm cứu nạn tỉnh, thành phố  
thành Ban Chỉ đạo Ứng phó BĐKH và  
Phòng chống thiên tai tỉnh, thành phố. Sự  
sáp nhập này nhằm giảm đầu mối chỉ đạo,  
giảm chi phí và nâng cao hiệu quả tổ chức  
thực hiện.  
Thành lập Văn phòng BĐKH và giảm  
nhẹ thiên tai là cơ quan thường trực và giúp  
việc cho Ban Chỉ đạo. Văn phòng BĐKH  
và giảm nhẹ thiên tai có bộ máy độc lập,  
chuyên trách trên cơ sở các phòng và cán  
bộ phụ trách BĐKH của Sở Tài nguyên và  
Môi trường, và cán bộ phụ trách giảm nhẹ  
thiên tai của Sở Nông nghiệp và Phát triển  
nông thôn. Các cán bộ chuyên trách của  
Văn phòng phải được đào tạo chuyên  
nghiệp kiên thức chuyên sâu về thiên tai  
và BĐKH.  
quốc tế khai thác, sử dụng có hiệu quả  
thông tin phục vụ đa mục tiêu, bên cạnh đó  
chia sẻ và tổ chức công bố thông tin cho cơ  
quan, tổ chức, cá nhân liên quan [9].  
6. Kết luận  
Qua các phân tích ở trên cho thấy, ĐBSCL  
đang phải hứng chịu những ảnh hưởng tiêu  
cực của BĐKH và NBD. Đến nay, đã có  
nhiều chính sách, chương trình, dự án liên  
quan trực tiếp và gián tiếp đến ứng phó  
BĐKH được thực hiện ở vùng, tuy nhiên,  
nội dung còn chồng lấn, đầu tư dàn trải,  
thiếu các nguồn lực thực hiện, điều đó dẫn  
đến hiệu quả ứng phó chưa cao. Trong giai  
đoạn tới, cần phải chú trọng hoàn thiện các  
chính sách, chương trình, dự án theo hướng  
nâng cao hiệu quả ứng phó với BĐKH ở  
vùng ĐBSCL.  
Chú thích  
4
Bài viết là sản phẩm của đề tài Các giải pháp  
Thứ sáu, xây dựng trung tâm dữ liệu  
vùng ĐBSCL, trong đó tập trung vào những  
vấn đề sau: (i) tăng cường năng lực quan  
trắc, giám sát, cảnh báo, dự báo và hoàn  
thiện, khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu tích  
hợp về ĐBSCL; (ii) đầu tư nâng cấp và hiện  
đại hoá hệ thống quan trắc, giám sát, cảnh  
báo và dự báo về tài nguyên và môi trường  
(gồm: môi trường, biển đảo, tài nguyên  
nước, khí tượng thuỷ văn, BĐKH, sụt lún,  
xói lở, bồi đắp vùng đồng bằng); (iii) xây  
dựng, hoàn thiện, tích hợp hệ thống cơ sở  
dữ liệu liên ngành và thành lập Trung tâm  
Dữ liệu vùng ĐBSCL. Trung tâm sẽ kết nối  
cơ bản nhằm phát triển bền vững vùng Tây Nam Bộ  
trong bối cảnh mới, mã số KHCN-TNB.  
ĐT/14-19/X19, thuộc Chương trình Khoa học và  
Công nghệ phục vụ phát triển bền vững vùng Tây  
Nam Bộ.  
5
Tính toán của nhóm tác giả dựa trên số liệu thống  
kê thiệt hại do thiên tai của Tổng cục Phòng chống  
thiên tai, và Báo cáo Thiệt hại hàng năm của 13 tỉnh,  
thành phố giai đoạn 2010-2018.  
6
Tổng hợp của nhóm tác giả năm 2018.  
7, 8  
Tổng hợp của nhóm tác giả dựa trên số liệu Báo  
cáo Tình hình thực hiện CTMTQG ứng phó với  
14  
Nguyễn Quang Thuấn, Hà Huy Ngọc, Phạm Sỹ An  
BĐKH giai đoạn 2011-2017 của 13 tỉnh, thành phố  
ĐBSCL.  
hậu”, Hội nghị Phát triển bền vững vùng đồng  
bằng sông Cửu Long thích ứng biến đổi khí  
hậu, Cần Thơ.  
9
Tổng hợp của nhóm tác giả dựa trên cơ sở dữ liệu  
[3] Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2018), Báo cáo Hội  
thảo Tăng cường liên kết vùng ở đồng bằng  
sông Cửu Long, Dự án nghiên cứu do Ngân  
hàng Thế giới tài trợ, Hà Nội.  
về tình hình thực hiện các dự án liên quan đến  
BĐKH ở Việt Nam giai đoạn 2011-2017, của Cục  
Biến đổi khí hậu năm 2017.  
10  
Kể cả huy động các nguồn lực từ các tổ chức phi  
[4] Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn  
(2016), Báo cáo tình hình thiệt hại do hạn hán  
và xâm nhập mặn ở Tây Nguyên, đồng bằng  
sông Cửu Long, Hà Nội.  
chính phủ.  
11 Tiểu vùng duyên hải phía Đông chiếm 65,5% kinh  
phí, tiểu vùng Tứ giác Long xuyên chiếm 93,9%,  
tiểu vùng Đồng Tháp Mười chiếm 81,9%, tiểu vùng  
bán đảo Cà Mau chiếm 76%.  
[5] Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn  
(2017a), “Giải pháp chuyển đổi nông nghiệp  
bền vững cho các tiểu vùng ở đồng bằng sông  
Cửu Long”, Hội nghị Phát triển bền vững vùng  
đồng bằng sông Cửu Long thích ứng biến đổi  
khí hậu, Cần Thơ.  
12 Tính toán của nhóm tác giả năm 2018 dựa trên số  
liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ  
Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng, Bộ Kế  
hoạch và Đầu tư, và một số bộ/ngành khác.  
[6] Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn  
(2017b), “Báo cáo sạt lở bờ sông, bờ biển vùng  
đồng bằng sông Cửu Long, giải pháp thích ứng  
với biến đổi khí hậu”, Hội nghị Phát triển bền  
vững vùng đồng bằng sông Cửu Long thích  
ứng biến đổi khí hậu, Cần Thơ.  
13 Tính toán của nhóm tác giả dựa trên số liệu về tình  
hình thực hiện các dự án thuộc Chương trình Mục  
tiêu quốc gia về BĐKH, Cục Biến đổi khí hậu,  
năm 2017.  
14 Tính đến tháng 4/2018 đã có 12/13 tỉnh, thành phố  
ở vùng Tây Nam Bộ xây dựng và ban hành Kế  
hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về BĐKH ở cấp  
địa phương.  
[7] Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn  
(2018), Báo cáo tình hình thiệt hại thiên tai  
năm 2018, Hà Nội.  
[8] Bộ Tài nguyên và Môi trường (2016), Kịch  
bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho  
Việt Nam, Nxb Tài nguyên môi trường và Bản  
đồ, Hà Nội.  
15 Các nhà máy nhiệt điện ở vùng Tây Nam Bộ sẽ sử  
dụng khoảng 170.000 tấn than/ngày, thải ra lượng  
nước thải khoảng 70 triệu m3/ngày đêm.  
[9] Bộ Tài nguyên và Môi trường (2017), “Tổng  
quan về thách thức và cơ hội, giải pháp chuyển  
đổi mô hình phát triển cho vùng đồng bằng  
sông Cửu Long”, Hội nghị Phát triển bền vững  
vùng đồng bằng sông Cửu Long thích ứng biến  
đổi khí hậu, Cần Thơ.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống  
thiên tai (2017), Báo cáo về tình hình thiên tai  
và thiệt hại do thiên tai gây ra năm 2017,  
Hà Nội.  
[10] Bộ Tài nguyên và Môi trường (2018), Thông  
báo quốc gia lần thứ ba của Việt Nam cho  
công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến  
đổi khí hậu, Hà Nội.  
[2] Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2017), “Quy hoạch  
tổng thể theo hướng tích hợp vùng đồng bằng  
sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí  
[11] Cục Biến đổi khí hậu (2017), Báo cáo tình  
hình thực hiện các dự án liên quan đến biến  
15  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 3 - 2019  
đổi khí hậu ở Việt Nam giai đoạn 2011-2017,  
Hà Nội.  
định (NDC) trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt  
Nam trong bối cảnh pháp lý và chính sách hiện  
tại”, Báo cáo kỹ thuật CCAFS số 21, Chương  
trình Nghiên cứu của CGIAR về Biến đổi khí  
hậu, nông nghiệp và an ninh lương thực  
(CCAFS), Wageningen, Hà Lan.  
[12] GreenID (2016), Phát triển nhiệt điện than ở  
đồng bằng sông Cửu Long: Những điều cần  
làm rõ, Báo cáo nghiên cứu, Hà Nội.  
[13] Ngân hàng Thế giới (2017), Bài phát biểu tại  
Hội nghị Phát triển bền vững vùng đồng bằng  
sông Cửu Long thích ứng biến đổi khí hậu,  
Cần Thơ.  
[20] Lê Anh Tuấn (2018), “Phát triển đồng bằng  
sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí  
hậu”, Kỷ yếu Hội thảo Sau một năm thực hiện  
Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ về Phát  
triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích  
ứng với biến đổi khí hậu, Đại học Cần Thơ,  
Cần Thơ.  
[14] Hà Huy Ngọc, Bùi Quang Tuấn (2018), “Ứng  
phó với tác động của biến đổi khí hậu ở  
Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Khoa học xã hội  
Việt Nam, số 7, tr.29-39.  
[15] Nguyễn Hữu Thiện (2017), “Ba thách thức đối  
với phát triển bền vững vùng đồng bằng sông  
Cửu Long: Kiến nghị chiến lược ứng phó và  
phát triển”, Hội nghị Phát triển bền vững vùng  
đồng bằng sông Cửu Long thích ứng biến đổi  
khí hậu, Cần Thơ.  
[21] Bùi Quang Tuấn, Hà Huy Ngọc (2017), Đổi  
mới phân cấp quản lý nhà nước về bảo vệ môi  
trường ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội,  
Hà Nội.  
[22] Bùi Quang Tuấn, Hà Huy Ngọc (2018), “Thực  
hiện chính sách liên kết vùng nhằm ứng phó  
với biến đổi khí hậu ở vùng Tây Nam Bộ trong  
bối cảnh mới”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế,  
số 7 (482), tr.52-64.  
[16] Thủ tướng Chính phủ (2017), Quyết định số  
1670/QĐ-TTg, ngày 31 tháng 10 năm 2017 về  
việc Phê duyệt Chương trình Mục tiêu ứng phó  
với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh giai  
đoạn 2016-2020, Hà Nội.  
[23] Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam  
(2016), Báo cáo nghiên cứu Cách mạng công  
nghiệp lần thứ tư: Một số đặc trưng, tác động  
và hàm ý chính sách đối với Việt Nam, Hà Nội.  
[24] CEM (2010), MRC Strategic Environmental  
Assessment (SEA) of Hydropower on the  
Mekong Mainstream: Summary of the Final  
Report, Hanoi, Vietnam.  
[17] Tổng cục Phòng chống Thiên tai (2016), Báo  
cáo tình hình thiệt hại hạn hán và xâm ngập  
mặn ở các địa phương đồng bằng sông Cửu  
Long, Hà Nội.  
[18] Tổng cục Thống kê (2018), Niên giám thống  
kê năm 2017, Hà Nội.  
[19] Trung, N.D., Anh, L.H., Thang, N.T., and L.S.  
Sebastian (2017), “Những thách thức trong  
việc triển khai Đóng góp do Quốc gia tự quyết  
[25] Trinh, N. D. (2016), Policy Gaps Analysis for  
Promoting Investment in Low Emission Rice  
Production, Hanoi.  
16  
pdf 14 trang Mãnh Khiết 13/01/2024 10900 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh mới", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiai_phap_thich_ung_voi_bien_doi_khi_hau_o_dong_bang_song_cu.pdf