Nghiên cứu phân vùng thay đổi tài nguyên nước mặt do thay đổi sử dụng đất cho lưu vực sông Srêpôk

NGHIÊN CỨU PHÂN VÙNG THAY ĐỔI TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT  
DO THAY ĐỔI SỬ DỤNG ĐẤT CHO LƯU VỰC SÔNG SRÊPÔK  
Nguyễn Văn Đại, Nguyễn Kim Tuyên, Nguyễn Thị Hằng, Phan Thị Diệu Huyền  
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu  
Ngày nhận bài 1/8/2018; ngày chuyển phản biện 3/8/2018; ngày chấp nhận đăng 25/8/2018  
Tóm tắt: Một trong những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến sự thay đổi dòng chảy trên lưu vực sông là  
tác động của thay đổi sử dụng đất. Nghiên cứu này ứng dụng phương pháp GIS kết hợp với mô hình SWAT  
để đánh giá tác động của thay đổi sử dụng đất năm 2015 và 2020 đến dòng chảy mặt và phân vùng thay  
đổi tài nguyên nước mặt cho lưu vực sông Srêpôk. Kết quả ꢀnh toán cho thấy, sự thay đổi sử dụng đất giữa  
kịch bản 2020 và 2015 có nhiều biến động, dẫn đến lượng nước mặt trên lưu vực cũng có sự thay đổi trong  
mùa lũ và mùa kiệt. Trong số 20 vùng tài nguyên nước mặt thì chỉ có 5 vùng có tài nguyên nước mặt tăng,  
15 vùng còn lại có tài nguyên nước mặt giảm. Tài nguyên nước mặt trên lưu vực sông Srêpôk tăng mạnh  
ở khu vực phía Bắc như vùng Khu giữa sông Ya Lôp (KG-YALOP) tăng khoảng 13,88 x 106 m3/năm và vùng  
thượng nguồn sông Ya Lôp (YALOP) tăng khoảng 6,05 x 106 m3/năm; và tài nguyên nước mặt giảm mạnh ở  
vùng thượng nguồn sông Ea Krông Nô (TN_KRONGNO) giảm khoảng 102,58 x 106 m3/năm và vùng sông Ia  
Hléo (IAHLEO) giảm khoảng 65,26 x 106 m3/năm.  
Từ khóa: Thay đổi sử dụng đất, tài nguyên nước mặt, mô hình SWAT, GIS, phân vùng, lưu vực sông  
Srêpôk.  
1. Mở đầu  
Thay đổi sử dụng đất có thể dẫn đến sự thay  
như gia tăng lượng xói mòn đất, bồi lắng trong lòng  
sông trên lưu vực diễn biến ngày càng phức tạp, đe  
dọa đến dân sinh và môi trường. Chính vì vậy, vấn  
đề cấp bách cần đặt ra là cần thiết phải ꢀến hành  
những nghiên cứu đánh giá một cách định lượng,  
chi ꢀết và cụ thể mức độ ảnh hưởng của hoạt động  
khai thác, sử dụng tài nguyên đất đai trên lưu vực ở  
thời điểm hiện tại cũng như định hướng quy hoạch  
trong tương lai đến tài nguyên đất và nước trên lưu  
vực sông Srêpôk.  
Để đánh giá tác động của thay đổi sử dụng  
đất tới dòng chảy mặt trên lưu vực sông Srêpôk  
báo cáo đã lựa chọn mô hình SWAT. Đây là công  
cụ mô hình đã được ứng dụng nhiều trên thế  
giới cũng như ở Việt Nam. Các kết quả của ng-  
hiên cứu sẽ cung cấp thông ꢀn về sự thay đổi  
dòng chảy trong tương lai dưới tác động của  
việc thay đổi sử dụng đất và giúp các nhà quản  
lý hoạch định chính sách quản lý tài nguyên đất  
và nước của lưu vực sông Srêpôk.  
đổi chu trình thủy văn và có tác động lớn đến tài  
nguyên nước. Trong những năm gần đây, nghiên  
cứu về các tác động của thay đổi sử dụng đất lên  
tài nguyên nước đã thu hút sự quan tâm của các  
nhà nghiên cứu trên thế giới. Trong các nghiên cứu  
này, các mô hình thủy văn thường được kết hợp  
với các kịch bản sử dụng đất để xem xét các ảnh  
hưởng có thể có lên dòng chảy trên các lưu vực.  
Nghiên cứu về ảnh hưởng của thay đổi sử dụng đất  
lên tài nguyên nước cũng đã thu hút được sự quan  
tâm của các nhà nghiên cứu trong nước trong thời  
gian gần đây.  
Lưu vực sông Srêpôk nằm ở khoảng 11°45’ -  
13°15’ vỹ độ Bắc và 107°15’ - 109° kinh độ Đông,  
trải dài trên địa bàn các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông,  
Gia Lai và Lâm Đồng. Lưu vực sông Srêpôk nằm  
trên cao nguyên Trung phần Việt Nam và là một  
ꢀểu lưu vực phía Đông của lưu vực Mê Kông. Trong  
những năm gần đây, sự thay đổi dòng chảy cũng  
2. Phương pháp nghiên cứu và số liệu sử dụng  
Liên hệ tác giả: Nguyễn Văn Đại  
Email: nguyendai.tv@gmail.com  
2.1. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu này ứng dụng phương pháp GIS  
TẠP CHÍ KHOA HỌC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU  
Số 7 - Tháng 9/2018  
27  
kết hợp với mô hình SWAT để đánh giá tác động  
của thay đổi sử dụng đất theo các kịch bản đến  
dòng chảy mặt và phân vùng thay đổi tài nguyên  
nước mặt cho lưu vực sông Srêpôk.  
Hình 1. Sơ đồ nội dung phương pháp nghiên cứu  
2.2. Số liệu sử dụng  
cho lưu vực sông Srêpôk được thực hiện với số  
liệu khí tượng thủy văn giai đoạn 2005-2009 và  
số liệu sử dụng đất năm 2005, với giả thiết sử  
dụng đất trong giai đoạn 2005-2009 không thay  
đổi so với năm 2005. Việc kiểm định bộ thông  
số mô hình SWAT được thực hiện với số liệu khí  
tượng thủy văn giai đoạn 2010-2014 và số liệu  
sử dụng đất năm 2010, với giả thiết tương tự. Số  
liệu lưu lượng nước thực đo tại 5 trạm thủy văn  
Bản Đôn, Krông Buk, Cầu 14, Giang Sơn và Đức  
Xuyên trên lưu vực sông Srêpôk được sử dụng  
để đánh giá kết quả hiệu chỉnh và kiểm định bộ  
thông số mô hình.  
- Số liệu khí tượng thủy văn theo ngày đến  
năm 2015 gồm: Tmax, Tmin, độ ẩm, tố độ gió, số  
giờ nắng, bốc hơi, mưa tại tại 17 trạm đo mưa  
và 9 trạm khí tượng phân bố trên cũng như bao  
quanh lưu vực sông Srêpôk.  
- Bản đồ địa hình DEM 30x30 m.  
- Bản đồ đất (thổ nhưỡng) lưu vực sông  
Srêpôk.  
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2005,  
2010, 2015 và quy hoạch sử dụng đất năm  
2020 của các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai  
và Lâm Đồng.  
Kết quả so sánh lưu lượng thực đo và ꢁnh  
toán tại các trạm Bản Đôn, Krông Buk, Cầu 14,  
Giang Sơn và Đức Xuyên trong giai đoạn hiệu  
chỉnh 2005-2009 được thể hiện trên Hình 2.  
Bộ thông số mô hình SWAT được lựa chọn  
cho lưu vực sông Srêpôk sau khi hiệu chỉnh  
được đưa trong Bảng 1.  
- Bản đồ hiện trạng và quy hoạch tài nguyên  
nước của các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai và  
Lâm Đồng.  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1. Kết quả hiệu chỉnh và kiểm định  
Việc hiệu chỉnh bộ thông số mô hình SWAT  
Bảng 1. Bộ thông số của mô hình SWAT cho lưu vực sông Srêpôk sau khi hiệu chỉnh  
Thông số  
Mô tả  
Giá trị hiệu chỉnh  
Tối ưu  
Nhỏ nhất  
Lớn nhất  
CN2  
Chỉ số CN ứng với điều kiện ẩm II  
35  
0,01  
0
85,394  
98  
30  
1
OV_N  
Hệ số nhám Manning cho dòng chảy mặt  
0,22795  
0,563  
ALPHA_BF Hệ số triết giảm dòng chảy ngầm  
GW_DELAY Thời gian trữ nước tầng nước ngầm  
0
37,14  
500  
30  
CH_N1  
Hệ số nhám kênh dẫn (mm/giờ)  
0,01  
0,4319  
TẠP CHÍ KHOA HỌC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU  
Số 7 - Tháng 9/2018  
28  
(2-a)  
(2-d)  
(2-b)  
(2-e)  
Hình 2. Lưu lượng ꢀnh toán và thực đo tại  
một số trạm trên lưu vực sông Srêpôk giai đoạn  
hiệu chỉnh 2005-2009  
(2-c)  
Kết quả so sánh lưu lượng thực đo và ꢁnh  
Kết quả đánh giá việc hiệu chỉnh và kiểm  
định bộ thông số mô hình SWAT cho lưu vực  
sông Srêpôk bằng chỉ số NASH được trình bày  
trong Bảng 2.  
toán tại các trạm Bản Đôn, Krông Buk, Cầu 14,  
Giang Sơn và Đức Xuyên trong giai đoạn kiểm  
định 2010-2015 được thể hiện trên Hình 3.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU  
Số 7 - Tháng 9/2018  
29  
(3-a)  
(3-d)  
(3-b)  
(3-e)  
Hình 3. Lưu lượng ꢀnh toán và thực đo tại  
một số trạm trên lưu vực sông Srêpôk giai đoạn  
kiểm định 2010-2015  
(3-c)  
TẠP CHÍ KHOA HỌC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU  
Số 7 - Tháng 9/2018  
30  
Bảng 2. Đánh giá kết quả mô phỏng dòng chảy giai đoạn hiệu chỉnh, kiểm định  
tại một số trạm kiểm tra trên lưu vực sông Srêpôk  
TT  
Trạm  
Sông  
Hiệu chỉnh  
(2005-2009)  
Kiểm định  
(2010-2015)  
Sai số đỉnh (%)  
1,08  
Chỉ số NASH Sai số đỉnh (%) Chỉ số NASH  
1
2
3
4
5
Bản Đôn  
Krông Buk  
Cầu 14  
Srêpôk  
0,86  
0,89  
0,9  
1,61  
-17,38  
5,95  
0,79  
0,79  
0,87  
0,82  
0,84  
Krông Buk  
Ea krông  
-4,75  
1,85  
Giang Sơn  
Đức Xuyên  
Krông Ana  
Krông Knô  
6,91  
0,86  
0,88  
-4,65  
4,49  
-1,79  
Qua kết quả từ Bảng 2 và Hình 2, Hình 3, có  
thể thấy đường quá trình lưu lượng ꢁnh toán  
và thực đo tại trạm Bản Đôn, Krông Buk, Cầu  
14, Giang Sơn, Đức Xuyên khá phù hợp. Chỉ số  
NASH tại những trạm này vào khoảng 0,79-0,9,  
sai số lệch đỉnh của các trạm này cũng đảm bảo  
ꢀêu chuẩn cho phép. Như vậy, quá trình hiệu  
chỉnh, kiểm định mô hình SWAT cho lưu vực  
sông Srêpôk đưa ra kết quả tương đối phù hợp.  
Vậy, bộ thông số của mô hình SWAT cho lưu vực  
sông Srêpôk được chấp nhận và được sử dụng  
để ꢁnh toán dòng chảy cho lưu vực sông Srêpôk  
theo các kịch bản sử dụng đất khác nhau.  
3.2. Kết quả ꢀnh toán tài nguyên nước mặt  
theo 2 kịch bản sử dụng đất  
Kết quả ꢁnh toán tài nguyên nước mặt giai  
đoạn 1981-2015 theo kịch bản hiện trạng sử  
dụng đất năm 2015 và 2020 cho lưu vực sông  
Srêpôk được thể hiện trong Bảng 3, Hình 4,  
Hình 5  
Bảng 3. Phân phối lưu lượng, tổng lượng dòng chảy tháng trung bình thời kỳ 1981-2015 trên lưu  
vực sông Srêpôk theo 2 kịch bản  
Kịch  
bản  
Tháng  
I
II  
III  
IV  
V
VI  
576,4 1608,1 2710,6 3216,2 2771,8 1521,7 662,6  
44,5 120,1 202,4 248,2 207,0 117,4 49,5  
535,5 1545,4 2632,6 3157,1 2745,4 1524,1 673,3  
206,6 577 982,9 1218 1025 588 251,4  
VII  
VIII  
IX  
X
XI  
XII  
2015  
Wtbnn  
156,0  
11,6  
42,8  
3,5  
50,0  
3,7  
59,4  
4,6  
329,3  
24,6  
(106 m3)  
Qtbnn  
(m3/s)  
2020  
Wtbnn  
160,8  
60,02  
42,9  
17,75  
45,8  
17,11  
50,9  
19,63  
292,5  
109,2  
(106 m3)  
Qtbnn  
(m3/s)  
Hình 4. Quá trình thay đổi tổng lượng dòng chảy năm và  
phân phối tổng lượng dòng chảy trung bình thời kỳ 1981-2015 - Kịch bản 2015  
TẠP CHÍ KHOA HỌC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU  
Số 7 - Tháng 9/2018  
31  
Hình 5. Quá trình thay đổi tổng lượng dòng chảy năm  
và phân phối tổng lượng dòng chảy trung bình thời kỳ 1981-2015 – Kịch bản 2020  
Kết quả ꢁnh toán cho kịch bản năm 2015 cho  
thấy: Dòng chảy trên lưu vực có xu hướng giảm  
quả các năm. Trong năm, dòng chảy trên toàn  
lưu vực Srêpôk phân thành 2 mùa rõ rệt: Mùa lũ  
và mùa cạn. Mùa lũ bắt đầu từ tháng VII và kết  
thúc vào tháng XI, mùa cạn bắt đầu từ tháng XII  
và kết thúc vào tháng VI năm sau. Tổng lượng  
dòng chảy hàng năm là 13,7 tỷ m3. Tổng lượng  
dòng chảy trong 5 tháng mùa lũ (VII-XI) của lưu  
vực sông Srêpok chiếm 86,3% tổng lượng dòng  
chảy năm, tổng lượng dòng chảy mùa kiệt (XII-  
VI) chiếm 13,2%. Tổng lượng dòng chảy 3 tháng  
kiệt nhất (các tháng II, III, IV) chiếm 14% tổng  
lượng dòng chảy cả năm. Tháng IX dòng chảy  
đạt cực đại nhất, chiếm 23,5% tổng lượng dòng  
chảy năm, dòng chảy nhỏ nhất thường xảy ra  
vào tháng II và tháng III.  
Đối với kịch bản quy hoạch 2020, mùa lũ  
cũng bắt đầu từ tháng VII và kết thúc vào  
tháng XI, mùa cạn bắt đầu từ tháng XII và kết  
thúc vào tháng VI năm sau. Tổng lượng dòng  
chảy trong 5 tháng mùa lũ (VII-XI) của lưu  
vực sông Srêpôk đạt 11.605,4 triệu m3 chiếm  
86,56% tổng lượng dòng chảy năm, tổng  
lượng dòng chảy mùa kiệt (XII-VI) đạt 1.802  
triệu m3 chiếm 13,44% tổng lượng dòng chảy  
năm, tổng lượng dòng chảy 3 tháng kiệt nhất  
(các tháng II, III, IV) đạt 140,07 triệu m3 chiếm  
1,04% tổng lượng dòng chảy cả năm. Tháng  
IX là tháng dòng chảy đạt cực đại nhất đạt  
3158,12 triệu m3 chiếm 23,55% tổng lượng  
dòng chảy năm, dòng chảy nhỏ nhất thường  
xảy ra vào tháng II đạt 43,38 triệu m3 chỉ  
chiếm 0,32% tổng lượng dòng chảy năm.  
3.3. Đánh giá tác động của thay đổi sử dụng  
đất đến tài nguyên nước mặt  
Các loại hình sử dụng đất qua hai kịch bản  
2010 và 2015 có nhiều biến động. So với kịch  
bản 2015, ở kịch bản 2020, diện ꢁch đất nông  
nghiệp tăng 1,38%, trong đó thì diện ꢁch trồng  
cây lâu năm và trồng cây hàng năm giảm lần  
lượt là 2,09% và 3,24%, ngược lại, đất lâm  
nghiệp tăng 6,71%. Theo quy hoạch đến năm  
2020, diện ꢁch các nhóm đất tăng bao gồm đất  
phi nông nghiệp (0,06%) và đất sông suối và mặt  
nước chuyên dùng (0,55%). Ngược lại, diện ꢁch  
đất ở và đất chưa sử dụng giảm lần lượt là 1,3%  
và 0,69%. Điều này dẫn đến lượng nước mặt  
trên lưu vực cũng có sự thay đổi trong mùa lũ  
và mùa kiệt.  
Dựa vào Hình 6 có thể nhận thấy diễn biến  
lưu lượng nước trên lưu vực ở hai kịch bản khá  
tương đồng nhau, mặc dù có những năm lưu  
lượng nước có sự chênh lệch nhau giữa hai kịch  
bản. Vào mùa lũ, lượng nước ở kịch bản quy  
hoạch 2020 giảm so với kịch bản 2015. Nguyên  
nhân là do ở kịch bản 2020, diện ꢁch đất sử  
dụng cho nông nghiệp trong đó có diện ꢁch đất  
lâm nghiệp tăng mạnh dẫn đến khả năng giữ  
nước nước trong mùa lũ sẽ tăng, làm giảm dòng  
chảy mặt. Bên cạnh đó, trong mùa kiệt, lượng  
nước trên lưu vực ở kịch bản 2020 so với 2015  
không có sự chênh lệch quá lớn.  
Theo Hình 7 có thể thấy rằng, tổng lượng nước  
trên lưu vực ở năm quy hoạch 2020 so với năm  
2015 tăng từ các tháng I- II, tháng XI-XII và giảm từ  
tháng III đến tháng X. Trong mùa lũ, từ tháng VII-  
tháng XI lượng nước giảm ở hầu hết các tháng và  
TẠP CHÍ KHOA HỌC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU  
Số 7 - Tháng 9/2018  
32  
Bảng 4. Sự thay đổi về diện ꢀch các loại hình sử dụng đất tại các năm 2015 và 2020  
TT  
Các kiểu sử dụng đất  
2015  
Diện ꢀch  
(ha)  
%
2020  
Diện ꢀch  
(ha)  
%
Tăng/  
giảm  
(%)  
1
Đất nông nghiệp  
1.606.750  
293.876  
563.393  
749.482  
25.477  
87,56  
16,02  
30,70  
40,84  
1,39  
1.632.131  
255.578  
503.905  
872.647  
26.496  
88,95  
13,93  
27,46  
47,56  
1,44  
1,38  
-2,09  
-3,24  
6,71  
0,06  
-1,30  
-0,69  
0,55  
Trồng cây hàng năm  
Trồng cây lâu năm  
Đất lâm nghiệp (đất rừng)  
Đất phi nông nghiệp  
Đất ở  
2
3
4
5
124.201  
51.912  
6,77  
100.336  
39.342  
5,47  
Đất chưa sử dụng  
2,83  
2,14  
Ðất sông suối và mặt nước chuyên dùng  
Tổng cộng  
26.628  
1,45  
36.664  
2,00  
1.834.969  
100  
1.834.969  
100  
Hình 6. Diễn biến và phân phối tổng lượng nước trên lưu vực sông Srêpôk thời kỳ 1981-2015  
theo kịch bản hiện trạng sử dụng đất 2015 và 2020  
Hình 7. Thay đổi dòng chảy tháng tại cửa ra lưu vực sông Srêpôk trung bình thời kỳ 1981-2015  
do thay đổi SDĐ năm 2015 và 2020  
chỉ tăng vào tháng cuối mùa lũ là tháng XI. Trong  
mùa kiệt từ tháng XII đến tháng VI, lượng nước  
tăng ở 3 tháng đầu và giảm trong các tháng còn lại.  
Nghiên cứu cũng đã xây dựng các phương  
trình hồi quy đa biến thể hiện mối quan hệ giữa  
sự thay đổi tài nguyên nước mặt của từng tháng  
và cả năm với sự thay đổi của các nhóm sử dụng  
đất năm 2020 so với 2015. Theo kết quả xác định  
hệ số của các biến thay đổi sử dụng đất năm  
2020 so với 2015 đối với sự thay đổi tài nguyên  
nước mặt cho từng tháng và năm trung bình thời  
kỳ 1981-2015 trên lưu vực Srêpôk, nhóm sử dụng  
TẠP CHÍ KHOA HỌC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU  
Số 7 - Tháng 9/2018  
33  
đất trồng cây hàng năm có quan hệ đồng biến với  
sự thay đổi tài nguyên nước mặt trong các tháng  
từ tháng III đến tháng X và quan hệ nghịch biến  
từ tháng XI đến tháng II năm sau. Nhóm sử dụng  
đất lâm nghiệp (đất rừng) có quan hệ nghịch biến  
từ tháng III đến tháng X và quan hệ đồng biến  
từ tháng XI đến tháng II năm sau. Nhóm sử dụng  
đất trồng cây lâu năm có quan hệ đồng biến từ  
tháng III đến tháng XI và nghịch biến từ tháng XII  
đến tháng II năm sau. Nhóm đất phi nông nghiệp  
có quan hệ đồng biến từ tháng II đến tháng VI  
và quan hệ nghịch biến từ tháng VII đến tháng I  
năm sau. Nhóm đất ở có quan hệ đồng biến từ  
tháng III đến tháng VIII và quan hệ nghịch biến từ  
tháng IX đến tháng II năm sau. Nhóm đất chưa  
sử dụng có quan hệ đồng biến trong tháng II đến  
tháng IX và quan hệ nghịch biến trong các tháng  
còn lại. Nhóm đất sông suối và mặt nước chuyên  
dùng có quan hệ đồng biến từ tháng V đến tháng  
XI và quan hệ nghịch biến từ tháng XII đến tháng  
IV năm sau.  
Sự thay đổi diện ꢁch các nhóm sử dụng đất  
giữa năm 2020 so với 2015 trên lưu vực sông  
Srêpôk có quan hệ tương đối chặt chẽ với sự  
thay đổi tài nguyên nước mặt trên lưu vực với  
hệ số tương quan đạt từ 0,60 đến 0,93.  
3.4. Kết quả phân vùng thay đổi tài nguyên  
nước mặt  
Trên cơ sở kết quả ꢁnh toán sự thay đổi tài  
nguyên nước mặt ứng với sự thay đổi sử dụng  
đất năm 2020 so với năm 2015 của các vùng  
tài nguyên nước mặt trên lưu vực sông Srêpôk,  
bài báo đã sử dụng phương pháp GIS và chồng  
xếp bản đồ để xây dựng bản đồ phân vùng thay  
đổi tài nguyên nước mặt lưu vực sông Srêpôk  
do thay đổi sử dụng đất năm 2020 so với năm  
2015. Kết quả xây dựng bản đồ phân vùng thay  
đổi tài nguyên nước mặt lưu vực sông Srêpôk do  
thay đổi sử dụng đất năm 2020 so với năm 2015  
được thể hiện trên Hình 8.  
20 vùng tài nguyên nước mặt chỉ có 5 vùng có tài  
nguyên nước mặt tăng do thay đổi sử dụng đất  
và chỉ có 1 vùng tăng mạnh, 15 vùng còn lại có  
tài nguyên nước mặt giảm với nhiều vùng giảm  
mạnh. Do sự thay đổi sử dụng đất, tài nguyên  
nước mặt trên lưu vực sông Srêpôk tăng mạnh ở  
khu vực phía Bắc của lưu vực sông như vùng khu  
giữa sông Ya Lôp (KG-YALOP) tăng khoảng 13,88  
x 106 m3/năm và vùng thượng nguồn sông Ya  
Lôp (YALOP) tăng khoảng 6,05 x 106 m3/năm; và  
tài nguyên nước mặt giảm mạnh ở vùng thượng  
nguồn sông Ea Krông Nô (TN_KRONGNO) giảm  
khoảng 102,58 x 106 m3/năm và vùng Sông Ia  
Hléo (IAHLEO) giảm khoảng 65,26 x 106 m3/năm.  
4. Kết luận  
Bài báo đã sử dụng mô hình SWAT để ꢁnh  
toán tài nguyên nước mặt cho lưu vực sông  
Srêpôk theo 2 kịch bản sử dụng đất 2015 và  
2020. Kết quả ꢁnh toán cho thấy, SWAT các loại  
hình sử dụng đất qua hai kịch bản 2015 và 2020  
có nhiều biến động, dẫn đến lượng nước mặt  
trên lưu vực cũng có sự thay đổi trong mùa lũ  
và mùa kiệt. Vào mùa lũ, lượng nước ở kịch bản  
quy hoạch 2020 giảm so với kịch bản 2015, do  
diện ꢁch đất lâm nghiệp tăng mạnh ở kịch bản  
2020 dẫn đến khả năng giữ nước trong mùa lũ  
sẽ tăng, làm giảm dòng chảy mặt.  
Sự thay đổi diện ꢁch các nhóm sử dụng đất  
giữa năm 2020 so với 2015 trên lưu vực sông  
Srêpôk có quan hệ tương đối chặt chẽ với sự  
thay đổi tài nguyên nước mặt trên lưu vực với  
hệ số tương quan đạt từ 0,60 đến 0,93.  
Trong số 20 vùng tài nguyên nước mặt thì chỉ  
có 5 vùng có tài nguyên nước mặt tăng, 15 vùng  
còn lại có tài nguyên nước mặt giảm. Tài nguyên  
nước mặt trên lưu vực sông Srêpôk tăng mạnh ở  
khu vực phía Bắc như vùng khu giữa sông Ya Lôp  
(KG-YALOP) tăng khoảng 13,88 x 106 m3/năm và  
vùng thượng nguồn sông Ya Lôp (YALOP) tăng  
khoảng 6,05 x 106 m3/năm; và tài nguyên nước  
mặt giảm mạnh ở vùng thượng nguồn sông Ea  
Krông Nô (TN_KRONGNO) giảm khoảng 102,58  
x 106 m3/năm và vùng sông Ia Hléo (IAHLEO)  
giảm khoảng 65,26 x 106 m3/năm.  
Theo kết quả ꢁnh toán ở Bảng 5 và Hình 8 với  
sự thay đổi sử dụng đất quy hoạch năm 2020 so  
với hiện trạng năm 2015, tài nguyên nước mặt  
hầu hết giảm trên lưu vực sông Srêpôk. Trong số  
Lời cám ơn: Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ  
cấp Bộ “Nghiên cứu đánh giá tác động của thay đổi sử dụng đất đến tài nguyên nước lưu vực sông Sê  
San - Srêpôk” đã hỗ trợ để thực hiện bài báo này.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU  
Số 7 - Tháng 9/2018  
34  
Hình 8. Bản đồ phân vùng thay đổi tài nguyên nước mặt lưu vực sông Srêpôk  
do thay đổi sử dụng đất năm 2020 so với năm 2015  
TẠP CHÍ KHOA HỌC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU  
Số 7 - Tháng 9/2018  
35  
TẠP CHÍ KHOA HỌC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU  
Số 7 - Tháng 9/2018  
36  
Tài liệu tham khảo  
1. SWAT (2009), Soil and Water Assessment Tool - User Guide.  
2. Nguyễn Ý Như, Nguyễn Thanh Sơn (2009), “Ứng dụng mô hình SWAT khảo sát ảnh hưởng của các  
kịch bản sử dụng đất đối với dòng chảy lưu vực sông Bến Hải”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa  
học Tự nhiên & Công nghệ T.25 Số 3S (2009) 492-498.  
3. Nguyễn Thị Hồng và nnk (2014), “Ứng dụng GIS và mô hình SWAT đánh giá ảnh hưởng thay đổi sử  
dụng đất đến lưu lượng dòng chảy lưu vực sông Sê San”.  
4. Trần Việt Bách (2017), “Ứng dụng mô hình SWAT để ꢀnh toán lưu lượng dòng chảy và bùn cát trên  
lưu vực sông Cầu”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật thủy lợi và Môi trường - số 56 (3/2017).  
RESEARCH OF ZONING SURFACE WATER RESOURCE CHANGE CAUSED  
BY LAND ꢁ USE CHANGE IN SREPOK RIVER BASIN  
Nguyen Van Dai, Nguyen Kim Tuyen, Nguyen Thi Hang, Phan Thi Dieu Huyen  
Viet Nam Insiꢁtute of Meteorology, Hydrology and Climate Change  
Received: 1/8/2018; Accepted 25/8/2018  
Abstract: One of the main reasons of the change in river basin flows is the impact of land - use change.  
This study used GIS and SWAT models to assess the impact of landuse change in 2015 and 2020 on  
surface flows and zoning surface water resources change in Srepok river basin. Result shows that the  
landuse change in 2020 and 2015 scenarios have many fluctuaꢁons, leading to the change of water flows  
in flood and drought seasons. In flood seasons, water flow in the 2020 planning scenario is lower than that  
of the 2015 scenario due to an increase of forestry land area. Out of 20 surface water resources areas, only  
5 will have increasing surface water resources, while the remaining 15 are on a falling trend. Surface water  
resource in Srepok basin increases significantly in the North such as the center of Ya Lop river (KG-YALOP)  
increases approximately 13.88 x 106 m3/year and the upper of Ya Lop river increases approximately 6.05  
x 106 m3/year, while surface water decreases significantly in the upper of Ea Krong No (TN_KRONGNO) by  
approximately 102,58 x 106 m3/year, and in Ia Hleo river by approximately 65.26 x 106 m3/year.  
Keywords: Land use change, surface water resources, SWAT model, GIS, zoning, Srepok river basin.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU  
Số 7 - Tháng 9/2018  
37  
pdf 11 trang Mãnh Khiết 13/01/2024 12240 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu phân vùng thay đổi tài nguyên nước mặt do thay đổi sử dụng đất cho lưu vực sông Srêpôk", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_phan_vung_thay_doi_tai_nguyen_nuoc_mat_do_thay_do.pdf