Đặc điểm trầm tích, nguồn gốc và điều kiện cổ địa lý thành tạo các thể trầm tích cát Đệ tứ khu vực đới bờ tỉnh Bình Thuận

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
Đặc điểm trầm tích, nguồn gốc và điều kiện cổ địa lý thành tạo  
các thể trầm tích cát Đệ tứ khu vực đới bờ tỉnh Bình Thuận  
Nguyễn Văn Tuấn1,*, Trần Nghi2, Trần Tân Văn1, Nguyễn Xuân Khiển3,  
Nguyễn Thị Tuyến2, Trần Thị Thanh Nhàn2  
1Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản  
2Trường Đại học Khoa học Tự Nhiên, ĐHQGHN, 334 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam  
3Tổng hội Địa chất Việt Nam  
Nhận ngày 05 tháng 7 năm 2018  
Chỉnh sửa ngày 01 tháng 8 năm 2018; Chấp nhận đăng ngày 01 tháng 8 năm 2018  
Tóm tắt: Các thành tạo cát ven biển tỉnh Bình Thuận được chia thành 4 đơn vị địa mạo - trầm tích  
tương ứng với 4 đơn vị cấu trúc địa chất: đồng bằng - vũng vịnh (lagoon); cồn cát và thềm cát ven  
biển; đới thủy triều đáy biển nông ven bờ. Các thành tạo cát Đệ tứ khu vực ven biển tỉnh Bình  
Thuận có tuổi thành tạo càng cổ phân bố ở độ cao càng lớn chứng tỏ các quá trình chuyển động  
nâng kiến tạo của xảy ra mạnh mẽ trong Đệ Tứ. Nghiên cứu thành phần vật chất, môi trường trầm  
tích, tuổi tuyệt đối (TL và tectit) cho phép phân chia các thành tạo cát ven biển trong khu vực  
1
nghiên cứu làm 5 đơn vị trầm tích mỗi đơn vị tương ứng với 5 chu kỳ trầm tích khác nhau (Q1 ,  
Q12a, Q12b, Q13a, Q13b - Q2). Mỗi chu kỳ trầm tích tương ứng với một chu kỳ thay đổi mực nước  
biển toàn cầu trong đó có một pha biển thoái thấp (LST), một pha biển tiến (TST), một pha biển  
thoái cao (HST). Màu vàng, màu đỏ nhạt và đỏ rượu vang của cát là màu thứ sinh được thành tạo  
trong điều kiện cổ khí hậu khô nóng, khô ấm xen kẽ kết hợp với quá trình nâng và hạ mực nước  
ngầm theo chu kỳ tạo ra sự thấm nhuộm các oxit sắt quanh các hạt thạch anh.  
Từ khóa: Cát đỏ, cát ven biển, thay đổi mực nước biển, tuổi của cát, hệ số chọn lọc (So), hệ số mài  
tròn (Ro), Bình Thuận, Phan Thiết.  
1. Mở đầu  
cứu địa mạo khu vực đới ven bờ biển Nam Trung Bộ và  
phát hiện tectit nguyên dạng có tuổi 720ka Bp;700ka Bp  
và 650ka Bp đồng thời thống nhất quan điểm phân chia cát  
Sự hấp dẫn của cát đỏ Bình Thuận đã được các nhà  
2-3  
đỏ Phan Thiết có tuổi QII-III (tức Q1 theo ký hiệu hiện  
nay). Để giải thích màu đỏ của cát Lê Đức An (1999) [3]  
địa chất trong và ngoài nước đầu tư nghiên cứu từ những  
năm trước 1975 cho đến hiện tại. Những nghiên cứu của  
cho rằng màu đỏ của cát đỏ Phan Thiết là "màu đỏ nguyên  
các tác giả nhằm phục vụ cho những mục đích khác nhau.  
sinh được hình thành trong một bể trầm tích ven lục địa  
Lê Đức An và nnk (1976-1990) [1, 2] tập trung nghiên  
giàu oxy hóa". Những nghiên cứu của Trần Nghi,  
Coloin.Maray, Brian Jone, Vũ Văn Vĩnh, Ma Kông Kọ,  
Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Văn Thuận, Trịnh Nguyên Tính,  
Uông Đình Khanh, Nguyễn Quang Lộc, Hoàng Phương  
(1996-2002) [4-14] đã có những đóng góp quan trọng về  
_______  
Tác giả liên hệ. ĐT.: 84-973836335.  
Email:  
1
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
2
phân chia địa tầng, giải thích nguồn gốc và màu sắc của  
cát. Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu trên vẫn chưa làm  
sáng tỏ được đặc điểm thạch học và tướng trầm tích biến  
đổi theo địa tầng và màu đỏ rượu vang của cát.  
2.3. Đặc điểm địa chất  
Đới ven biển của tỉnh Bình Thuận là mô hình tiêu  
biểu của mối quan hệ nhân quả của hình thái địa hình - địa  
mạo và chuyển động kiến tạo của đới ven biển Miền  
Trung Việt Nam. Bốn đơn vị địa mạo - trầm tích là kết quả  
còn chuyển động kiến tạo là nguyên nhân: Đơn vị địa mạo  
đồng bằng ven biển – vũng vịnh (lagoon) tuổi Holocen  
muộn là sản phẩm cuối cùng lấp đầy địa hào bắt đầu sụt  
lún từ Pleistocen sớm; Đơn vị cồn cát và thềm cát ven biển  
là sản phẩm tích tụ của trầm tích biển (m) và biển - gió  
(mv); Đơn vị địa hình bãi triều và đáy biển ven bờ (0 -  
30m nước) bằng phẳng và đơn nghiêng về phía Đông Nam  
là bề mặt địa hình được tạo ra do quá trình tích tụ trầm tích  
Đệ Tứ kế thừa trầm tích Đệ Tam của cấu trúc rìa tây bắc  
bể Cửu Long.  
Nội dung bài báo này sẽ giới thiệu những kết quả  
nghiên cứu mới về đặc điểm thành phần vật chất của tất  
các các loại cát có mặt ở đới ven biển Bình Thuận. Đặc  
biệt sẽ làm sáng tỏ nguồn gốc và điều kiện thành tạo liên  
quan đến sự thay đổi mực nước biển toàn cầu và điều kiện  
khí hậu khô nóng đặc thù của khu vực Nam Trung Bộ  
trong Đệ Tứ.  
2. Đặc điểm địa mạo và địa chất đới bờ tỉnh  
bènh thuận  
2.1. Vị trí và đối tượng nghiên cứu  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Khu vực nghiên cứu là các thành tạo trầm tích Đệ Tứ  
ven biển tỉnh Ninh Thuận, bao gồm cả phần trên cạn và  
phần dưới nước (0-30m) (hình 1).  
3.1. Phương pháp thu thập số liệu  
Phương pháp thu thập mẫu nghiên cứu: các mẫu được  
thu thập theo các mặt cắt cho từng vùng. Tại các vết lộ địa  
chất sau khi loại bỏ phần phủ bên ngoài, khi có sự thay đổi  
về màu sắc, kích thước hạt hoặc khi có danh giới giữa các  
tập thì lựa chọn những mẫu đại diện cho từng tập cát đó.  
2.2. Bối cảnh địa mạo  
Mặt cắt địa chất - trầm tích vuông góc với đới bờ biểu  
hiện sự phân hóa rõ rệt thành 4 đơn vị địa mạo - trầm tích  
tương ứng với 4 đơn vị cấu trúc địa chất (hình 2) gồm:  
Đồng bằng ven biển – vũng vịnh (lagoon); Cồn cát và  
thềm cát ven biển; Đới thủy triều; Đáy biển nông ven bờ  
(10-30m).  
Công tác chuẩn bị và gửi phân tích mẫu: mẫu được  
lựa chọn gửi phân tích là các mẫu mang tính đại diện cho  
các tập trầm tích cát.  
Hình 1. Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu và vị trí lấy mẫu.  
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
3
Hình 2. Sơ đồ phân đới địa mạo trầm tích theo hướng vuông góc với bờ khu vực Mương Mán  
- Sân bay Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận  
đó xác định thành phần khoáng vật và mảnh vụn (thạch  
anh, felspat, mảnh đá, mảnh vụn sinh vật...) dưới kính hiển  
vi phân cực để luận giải môi trường thành tạo trầm tích.  
3.2. Các phương pháp gia công phân tích mẫu  
Phương pháp phân tích độ hạt theo thang : Mẫu  
được phân tích bằng thiết bị rây và pipet để phân chia các  
cấp hạt cát theo cấp rây  
d, trong đó d là kích thước hạt  
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
(và được thể hiển theo thang = - log2 d) từ đó xây dựng  
đường cong tích lũy độ hạt, phân bố độ hạt và tính 3 tham  
số quan trọng: kích thước hạt trung bình (Md), hệ số chọn  
lọc (So), hệ số bất đối xứng (Sk) để xác định tướng trầm  
tích và chế độ thuỷ động lực của môi trường.  
4.1. Đặc điểm trầm tích và quy luật phân bố  
Đặc điểm thành phần vật chất, tuổi và môi trường  
trầm tích của cát khu vực ven biển tỉnh Bình Thuận được  
nghiên cứu một cách liên tục từ tầng trầm tích Pleistocen  
sớm đến hiện đại. Kết quả cho thấy chúng có sự tiến hóa lặp  
đi lặp lại chia thành 5 đơn vị trầm tích, mỗi đơn vị tương  
ứng với một chu kỳ thay đổi mực nước biển toàn cầu trong  
đó có một pha biển thoái thấp (LST), một pha biển tiến  
(TST) và một pha biển thoái cao (HST) (bảng 1, 2).  
Phương pháp xác định các thông số trầm tích:  
Mẫu được gia công theo phương pháp lát mỏng thạch học  
và phân tích bằng kính hiển vi phân cực 2 mắt xác định  
các thông số hình thái hạt vụn độ mài tròn (Ro), độ cầu (Sf)  
để xác định nguồn gốc trầm tích và chế độ thuỷ động lực  
của môi trường.  
1
Chu kỳ 1: Pleistocen sớm (Q1 )  
Phương pháp rơnghen và nhiệt vi sai: Mẫu được  
gia công bằng rây để tách cấp hạt nhỏ (<0,063mm) và tách  
trong lớp vỏ bao các hạt cát màu đỏ ra bằng phương pháp  
chà xát cơ học. Sau đó phân tích xác định hàm lượng (%)  
khoáng vật sét trong mẫu để luận giải môi trường thành  
tạo cát và nguồn gốc tạo màu sắc của cát.  
Chu kỳ trầm tích Pleistocen sớm có vị trí địa tầng  
nằm dưới lớp mũ sắt chứa tectit nguyên dạng có tuổi 700  
ka Bp ở khu vực Hòn Rơm và 720 ka Bp ở Tuy Phong  
(hình 3, bảng 2). Theo thành phần độ hạt và khoáng vật có  
thể chia làm 2 tập:  
Tập 1: Tướng cát sạn thạch anh lòng sông màu xám  
trắng, xám ghi. Các kết quả phân tích thành phần khoáng  
vật: thạch anh (Q) = 50-75%; Felspat (F) = 10-15%; mảnh  
đá (R) = 5-15%; vắng mặt vỏ sinh vật biển, đá thuộc loại  
cát hạt trung Md= 0,5-1,5mm; độ mài tròn và chọn lọc  
kém (Ro = 3-5; So=2,5-2,9) (hình 4). Tại các vết lộ ở khu  
vực Suối Tiên, Hòn Rơm (hình 5, hình 6) thấy có cấu tạo  
xiên chéo đồng hướng lòng sông, hướng chảy của sông  
thay đổi từ 120o (Suối Tiên) đến 100o (Hòn Rơm).  
Phương pháp xác định tuổi tuyệt đối của cát: Mẫu  
nhiệt huỳnh quang được lấy ở phần không tiếp xúc với ánh  
sáng mặt trời và được bảo quản trong ống đựng mẫu tối  
(cách biệt với ánh sáng). Sau đó mẫu được phân tích  
phương pháp nhiệt huỳnh quang thạch anh (TL) nhằm xác  
định tuổi cát bằng cách đo lượng huỳnh quang tạo ra khi  
đốt nóng hay kích thích quang học một mẫu nào đó có thể  
được sử dụng để xác định thời gian trầm tích bị chôn vùi.  
Phân tích tại phòng thí nghiệm của Trường Đại học Tổng  
hợp Wollongong (Úc).  
Tập 2: Tướng đê cát ven bờ màu xám trắng, cấu tạo  
khối được thành tạo trong môi trường sóng vỗ ven bờ  
(hình 3). Cát hạt trung có độ chọn lọc và mài tròn tương  
đối tốt (Md = 0,25mm; Ro = 0,5÷0,7; So=1,3÷1,5).  
Tuổi của tectit nguyên dạng (3 mẫu) chính là tuổi  
đồng trầm tích được thu thập theo tài liệu của Lê Đức An.  
Phương pháp phân tích lát mỏng thạch học: Mẫu  
được gia công theo phương pháp lát mỏng thạch học, sau  
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
Bảng 1a. Các thông số độ hạt trầm tích cát có tuổi khác nhau khu vực ven biển Bình Thuận  
4
Vị trí lấy mẫu  
Phần trăm các cấp hạt  
Tướng  
trầm  
tích  
Tuổi địa  
chất  
Số hiệu  
mẫu  
từ  
>3  
3
3
2,5 1,6  
1,25  
1
1
0,8  
0,63 0,5  
0,4  
16,4 20,3  
0,4  
0,315 0,25 0,2  
0,2 0,16 0,125 0,1  
16,6 6,9  
0,16  
0,125 0,1  
0,08  
0,063  
X
Y
đến  
2,5 1,6 1,25  
0,8 0,63 0,5  
0,315 0,25  
0,08 0,063 <0,063  
mvHST  
mTST  
0,1  
1
3,5  
4,1  
5,9  
27,1  
26,2  
22,6  
2,6  
1
0,3  
0,6  
0,9  
3,3  
0,8  
0,3  
0,9  
3,2  
5
Pleistocen  
muộn,  
phần  
BT.01/1 1194169 174029  
BT.01/3 1194169 174029  
BT.09/5 1212844 200602  
0,2 1,2  
0,2 1,6  
7,9  
9,8  
17,8  
16,7  
17,5 11,8 6,5  
15,6 11,2 6,6  
2,2  
3,6  
muộn -  
Holocen  
3b  
mvLST  
0,1  
1
3,8  
11,4 15,8  
25,6  
16,6 7,9  
2,6  
1,3  
0,4  
3,5  
10  
( Q1  
Q2 )  
-
BT.01/2 1194238 174020  
BT.10/4 1213255 206847  
BT.09/4 1212844 200602  
Pleistocen  
muộn,  
mvHST  
mTST  
3,5  
6,4  
9,8  
9
14,9  
12,6  
20,7  
17,3  
18,5 10,9 5,7  
15 13 6,8  
2,3  
4,1  
0,8  
2
0,6  
6,2  
12,3  
4,1  
0,6 2,9  
0,2 0,7  
phần sớm  
3a  
mv LST  
1,4  
3,4  
8,3  
12,4  
20,3 17,5 10,2  
24,1 14,9 7,8  
5,2  
3,2  
1,4  
15,8  
( Q1  
)
BT.07/4 1212542 200247  
BT.02/2 1207379 179055  
BT.03/1 1207352 179952  
BT.06/2 1212411 200124  
BT.02/1 1207379 179055  
BT.07/2 1212542 200247  
BT.07/3 1212542 200247  
BT.08/1 1212703 200413  
BT.10/3 1213237 206818  
BT.04/2 1198787 175249  
1
2,6  
1,4  
1,8  
8
3,6  
4,6  
8,9  
4,3  
5,9  
10,7  
6,6  
8,6  
20,1  
20,4  
23,2  
18,9  
10,9  
10,1  
23,2  
16,7  
7,1  
2,5  
2,9  
2,5  
3,2  
2,2  
1,6  
2,9  
3,7  
6,2  
4,1  
4,9  
3,1  
2
1,5  
0,9  
1,5  
1,1  
0,6  
0,9  
1,2  
0,8  
1,9  
2,3  
2,2  
1,1  
0,7  
1
1,7  
2,5  
0,8  
3
12,9  
16,3  
15,1  
7,1  
mvHST  
0,1 0,3  
0,2 6,9  
17,7 17,8  
4
10,2 10,8 5,3  
20,9 18,6 10,2  
11,3 11,7 6,4  
12,6 10,1 5,1  
20,5 10,7 6,2  
17,6 13,9 7,5  
19,4 26,5 16,1  
Pleistocen  
giữa,  
phần  
1
1,4  
1,7  
mTST  
0,3  
0,8  
4,8  
1,1 5,8  
15,4 16,9 11,8  
1,5  
1,8  
1,5  
0,8  
4,3  
9,8  
4,6  
1,9  
0,8  
0,9  
2
4,1  
1
2
6
13  
1,6  
4,6  
1,4  
4
17,8 12,4  
7,6  
muộn  
2b  
1,3  
2,9  
9,9  
3,3  
3,9  
5,3  
8,3  
10,2  
12,8  
3,9  
15,8  
10,2  
9,4  
( Q1  
)
mvLST  
0,3 1,2  
0,1 0,4  
0,6 2,1  
0,6 1,3  
0,3 2,2  
0,6 2,2  
0,2 0,4  
3,5 3,3  
0,3 0,8  
0,7 2,1  
0,3  
aLST  
1
2
0,7  
9,3  
16,4  
15,3  
16,6  
17,8  
24,1  
2,4  
14,4 11,2  
14,1 13  
7
10,9  
17,6  
17,8  
9,5  
BT.05  
1212282 200017  
3
10,7  
11,7  
7,4  
BT.05/2 1212282 200017  
BT.06/1 1212411 200124  
BT.07/1 1212542 200247  
mvHST  
6,5  
7,7  
1,3  
2,2  
2,3  
4,9  
2
12,9 10,7 6,9  
13,5 9,8 4,1  
16,1 11,1 5,2  
13,8 17,5  
Pleistocen  
giữa,  
mTST  
aLST  
5,8  
2,4  
4
14,9  
1,6  
2,9  
0,4  
2,5  
3,1  
4,2  
3,6  
16,1  
22,5  
21,6  
16,6  
15,9  
16,6  
BT.08  
1212703 200413  
phần sớm  
5
23 15 6,9  
2,1  
21  
16  
1,8  
0,9  
0,5  
1,3  
1,7  
1,3  
1,3  
BT.09/3 1212844 200602  
BT.09/2 1212844 200602  
BT.10/2 1213255 206847  
BT.04/1 1198787 175249  
2a  
( Q1  
)
12,6  
11,6  
5,4  
17,1  
15,4  
10,7  
12,6  
13,5 0,5  
12,8 7,3  
2,5  
1,2  
4,3  
1,4  
mvLST  
6,6  
4,2  
2,7  
20,1 20,6 11  
22,3 18,7  
16 12,8 7,3  
Pleistocen  
sớm  
1212844 200602 aLST  
2
2
1
5
0,5  
3
0,7 0,5  
1,4  
5,7  
9
BT.09/1  
( Q11 )  
BT.10/1 1213255 206847 aLST  
0,7 2,1  
4,9  
6,6  
11,6  
15,4  
3,1  
1,7  
1,2  
6,6  
Ghi chú: BT.01, BT.02: Khu vực Hòn Đá Châu; BT.03, BT.04: Khu vực xã Tiến Thành Phan Thiết; BT.05 đến BT.09: Khu vực Suối Tiến, Mũi Né; BT.10: Khu vực Hòn Rơm Mũi Né  
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
Bảng 1b. Các thông số độ hạt trầm tích cát có tuổi khác nhau khu vực ven biển Bình Thuận  
5
Vị trí lấy mẫu  
Thông số độ hạt  
Tướng  
trầm  
tích  
Số hiệu  
mẫu  
Tuổi địa chất  
X
Y
S0  
Sk  
Md  
mvHST 2,25  
0,90  
0,94  
0,26  
0,27  
BT.01/1 1194169 174029  
BT.01/3 1194169 174029  
Pleistocen  
muộn, phần  
muộn -  
1,30  
mTST  
Holocen  
1,26  
mvLST 2,06  
mvHST 2,09  
0,94  
1,01  
0,82  
0,27  
0,27  
0,27  
( Q13b-Q2 )  
BT.09/5 1212844 200602  
BT.01/2 1194238 174020  
BT.10/4 1213255 206847  
BT.09/4 1212844 200602  
Pleistocen  
muộn, phần  
mTST  
mv  
1,56  
0,84  
0,90  
0,25  
0,32  
sớm  
3a  
( Q1  
)
2,16  
1,80  
BT.07/4 1212542 200247 LST  
BT.02/2 1207379 179055  
0,93  
0,97  
0,93  
0,97  
0,99  
0,98  
0,83  
0,98  
0,94  
0,85  
0,76  
0,82  
0,95  
0,82  
0,27  
0,59  
1,00  
0,95  
0,22  
0,23  
0,28  
0,21  
0,32  
0,19  
0,22  
0,25  
0,18  
0,26  
0,20  
0,23  
0,28  
0,24  
1,56  
0,22  
0,24  
0,20  
BT.03/1 1207352 179952 mvHST 2,29  
BT.06/2 1212411 200124  
BT.02/1 1207379 179055  
BT.07/2 1212542 200247 mTST  
BT.07/3 1212542 200247  
BT.08/1 1212703 200413  
2,02  
1,31  
1,57  
1,31  
1,87  
Pleistocen  
giữa, phần  
muộn  
2b  
( Q1  
)
BT.10/3 1213237 206818 mvLST 1,71  
BT.04/2 1198787 175249  
2,09  
2,56  
1,69  
1,60  
1,43  
1,41  
4,84  
1,75  
BT.05  
1212282 200017 aLST  
BT.05/2 1212282 200017  
BT.06/1 1212411 200124  
BT.07/1 1212542 200247  
mvHST  
mTST  
Pleistocen  
giữa, phần  
BT.08  
1212703 200413  
sớm  
BT.09/3 1212844 200602 aLST  
BT.09/2 1212844 200602  
2a  
( Q1  
)
BT.10/2 1213255 206847 mvLST 1,40  
BT.04/1 1198787 175249  
1,69  
2,48  
1212844 200602 aLST  
0,76  
1,21  
0,27  
0,3  
Pleistocen  
BT.09/1  
sớm  
1
BT.10/1 1213255 206847 aLST  
2,5  
( Q1 )  
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
Bảng 2. Bảng tổng hợp các tham số trầm tích theo tuổi địa chất của các thành tạo cát tỉnh Bình Thuận  
6
Chú thích: Tuổi Tectit thu thập từ Nguyễn Đức An; tuổi TL do GS Colin.W.Muray phân tích năm 2000 .  
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
7
2a  
mvQ1  
mQ1  
2a  
2a  
mvQ1  
1
mvQ1  
1
mQ1  
Hình 3. Cát trắng nằm dưới lớp tectit tuổi 720 ka  
(Q1 ) và nằm dưới lớp cắt đỏ tại khu vực Tuy  
Hình 4. BT.09/1: Cát sạn đa khoáng (N+; x50), cát lòng  
sông aluvi So = 2,5; Ro = 0,5; Q = 10%, tuổi Q1 , khu vực  
1
1
Phong (Ảnh:Nguyễn Văn Tuấn, 2016).  
Hòn Rơm, Mũi Né (Ảnh: Nguyễn Văn Tuấn,2017)  
100
0  
1200  
1
1
aQ1  
aQ1  
Hình 5 - Lớp cát sạn màu đỏ cấu tạo xiên chéo đồng  
Hình 6 - Cấu tạo xiên chéo lòng sông đồng hướng  
trong cát sạn kết tuổi (Q1 ), khu vực Suối Tiên  
1
1
hướng lòng sông tuổi (aQ1 ), nằm dưới lớp mũ sắt  
1
chứa tectit sắc cạnh tuổi 700 ka (Q1 ) khu vực Hòn  
(Ảnh: Nguyễn Văn Tuấn, 2016)  
Rơm (Ảnh: Nguyễn Văn Tuấn,2016)  
2a  
2b  
Chu kỳ 2: Pleistocen giữa phần sớm (Q1  
)
giữa phần sớm và Pleistocen giữa phần muộn (Q12a ÷ Q1  
)
Chu kỳ thứ 2 có 3 tập tương ứng với 3 tướng  
do ảnh hưởng của giai đoạn đầu băng hà Riss. Đặc trưng  
của cát do gió cuối pleistocen giữa phần sớm là cát màu  
vàng sẫm, các hạt thạch anh không có hoặc rất mỏng viền  
sắt ba (hình 10). Màu vàng sẫm của cát chủ yếu do thành  
phần bột sét, limonit, gơtit chiếm hàm lượng khá cao (9,5  
Tập 1: Tướng cát do gió (mvQ12a). Đây là sản phẩm  
do gió hoạt động trong giai đoạn biển thoái sảy ra trong  
giai đoạn biển thoái diễn ra đầu Pleistocen giữa do ảnh  
hưởng của băng hà Mindel. Đặc trưng của tập cát này là  
hàm lượng thạch anh đơn tinh thể cao hơn đa tinh thể, độ  
mài tròn trung bình không nhiễm oxít sắt ba (Fe3+). Cát có  
màu vàng sẫm do chứa hàm lượng cấp hạt <0,063mm  
tương đối cao (15÷21%), thành phần cấp hạt nhỏ chủ yếu là  
thạch anh, khoáng vật sét, limonit và gơtit (hình 7, bảng 1).  
Tập 2: Tướng đê cát ven bờ (mQ12a). Cát hạt trung  
hàm lượng thạch anh trung bình 94,8%, hematit 1,5%  
(bảng 3), cát có độ chọn lọc và độ mài tròn tốt  
(So=1,2÷1,5) (bảng 1, 2), các hạt thạch anh có riềm  
hematit (Fe2O3) tạo cho tầng cát này có màu đỏ rượu vang  
(hình 8), cấu tạo song song xen kẽ xiên chéo (hình 9).  
Tập 3: Tướng cát do gió (mvQ12a). Đây là tập cát  
được thành tạo trong giai đoạn biển thoái cao Pleistocen  
÷ 17,8%).  
2b  
Chu kỳ 3: Pleistocen giữa phần muộn (Q1  
)
Chu kỳ trầm tích Q12b cũng có 3 tập tương tự chu kỳ 2  
Tập dưới: Có 2 tướng trầm tích đặc trưng: Tướng cát  
thạch anh ít khoáng được thành tạo do gió trong giai đoạn  
biển thoái thấp của băng hà Riss. Hàm lượng thạch anh  
tương đối cao 85-92%, có độ chọn lọc trung bình, độ mài  
tròn từ trung bình đến tốt (So=1,6÷1,9; Ro=0,5) (hình 11);  
Chuyển ngang sang trầm tích cát đụn tướng cát sạn đa  
khoáng aluvi có độ chọn lọc và mài tròn từ trung bình đến  
kém (So= 2,56; Ro=0,4) (hình 12).  
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
8
Tập giữa: Tướng cát thạch anh đê cát ven bờ, hàm  
vực Tiến Thành, Hòn Rơm, Mũi Né, Suối Tiên, Sân bay  
Phan Thiết. Nét đặc trưng của tập này là cát đỏ màu rượu  
vang đôi nơi có màu vàng trắng biểu hiện của phong hóa  
thấm đọng chưa triệt để. Các hạt thạch anh có riềm  
hematit khá rõ.  
lượng thạch anh chiếm từ 92-95%, chủ yếu là thạch anh  
đơn tinh thể (hình 13,14). Độ mài tròn và chọn lọc tốt (So=  
1,3; Ro= 0,85) (bảng 2). Trong khu vực nghiên cứu tướng  
đê cát ven bờ Q12b phân bố rất phổ biến. Điển hình là khu  
Hình 7 - BT.04/1: Cát thạch anh dưới 1 nicon (N-),  
thấy rõ hàm lượng cấp hạt <0,063mm tương đối cao  
(~15%), tướng cát do gió, tuổi Q12a, khu vực Tiến  
Thành, Phan Thiết (Ảnh: Nguyễn Văn Tuấn, 2018).  
Hình 8 - BT.08: Cát thạch anh (N-; x50), So=1,41;  
Ro=0,7; Q = 93%, tướng đê cát ven bờ, tuổi Q12a, khu  
vực Suối Tiên. (Ảnh: Nguyễn Văn Tuấn, 2017).  
2a  
mvQ1  
2a  
2a  
mQ1  
mvQ1  
Hình 10 - BT.05/2: Cát thạch anh ít khoáng  
Hình 9 - Mặt cắt trầm tích có tuổi(Q12a) gồm: Tập 1:  
(N+;x50), So=1,6; Ro=0,5; Q = 90%, cát do gió,tuổi Cát do gió (mvQ12a) cấu tạo khối; Tập 2: Cát có cấu tạo  
(Q12a), thạch anh không có riềm oxit sắt, khu vực  
phân lớp ngang song song xen kẽ xien chéo của đê cát  
ven bờ (mQ12a); Tập 3: Cát do gió (Q12a) cấu tạo khối  
(Ảnh: Nguyễn Văn Tuấn, 2016).  
Suối Tiên. (Ảnh: Nguyễn Văn Tuấn, 2017).  
3a  
mvQ
1  
2b  
mvQ
1  
2a  
aQ
1  
2b  
mQ
1  
Hình 11 - Cấu tạo phân lớp song song của đê cát  
ven bờ trong cát màu vàng đậm, tuổi (Q12b) tại xã  
Tiến Thành. (Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển, 2016).  
Hình 12 - BT.05: Cát thạch anh đa khoáng (N+;x50),  
So= 2,56; Ro=0,6; Q = 80%, cát lòng sông, tuổi (Q12b),  
khu vực Suối Tiên. (Ảnh: Nguyễn Văn Tuấn, 2017).  
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
9
Hình 13- BT.07/2: Cát thạch anh, (N+;x50), So=1,3;  
Hình 14 - BT.04/2: Cát thạch anh màu đỏ, có riềm  
mỏng hydroxit sắt bao quanh hạt cát (N-;x50), So=1,5;  
Ro=0,75; Q = 95%, tướng đê cát ven bờ, tuổi Q12b, khu  
vực Hòn Rơm, Mũi Né. (Ảnh: Nguyễn Văn Tuấn,  
2017).  
2b  
Ro=0,85; Q = 95%, tướng đê cát ven bờ, tuổi Q1  
khu vực Hòn Rơm, Mũi Né. (Ảnh: Nguyễn Văn  
Tuấn, 2017).  
,
3a  
Tập trên: Tướng cát đụn do gió (mvQ12b) có cấu tạo  
khối, địa hình gò đồi, lượn sóng, có màu vàng sẫm. Dưới  
kính hiển vi phân cực các hạt thạch anh không có riềm đỏ  
của oxit sắt, mà giữa chúng là một hỗn hợp màu vàng nâu  
chiếm 12 - 16% thuộc cấp hạt < 0,063mm gồm chủ yếu là  
limonit, gơtit và sét kaolinit (hình 15).  
Tập 3: Tướng cát đụn do gió mvQ1 màu vàng đậm,  
phủ trên các thềm biển mQ13a cao tới 60m có tuổi 101 ± 7  
ka Bp gặp ở Hòn Rơm, Mũi Né và khu vực Tiến Thành.  
Cát có màu vàng sẫm, bên trong cấu tạo khối, địa hình bề  
mặt có dạng gò đồi hình lưỡi liềm quay lưng về hướng gió  
thổi (hình 20). Hàm lượng, thành phần cấp hạt <0,063mm  
tương đối cao (12,3-15,8%). Đây là sản phẩm thứ sinh do  
phong hóa, thành phần khoáng vật chủ yếu là sét và gơtit,  
được vận chuyển và tích tụ do gió đồng thời với cát thạch  
3a  
Chu kỳ 4: Pleistocen muộn phần sớm (Q1  
)
3a  
Chu kỳ trầm tích Q1 có 3 tập trầm tích từ dưới lên  
tương ứng với 3 tướng trầm tích:  
3a  
anh có nguồn gốc biển. Vì vậy cát có tuổi mvQ1 có độ  
Tập 1: Tướng cát đụn do gió nằm dưới cấu tạo khối,  
độ chọn lọc và độ mài tròn từ trung bình đến tốt (So= 1,5 -  
1,8; Ro= 0,4- 0,7). Ngoài trời nhóm tướng này lộ ra dưới  
dạng địa hình lượn sóng, có màu đỏ phớt vàng, chúng  
được tích tụ do gió trong giai đoạn biển thoái đầu băng hà  
W1. Kết quả phân tích độ hạt và khoáng vật cho thấy hàm  
lượng thạch anh thay đổi từ 85-92% chủ yếu là thạch anh  
đơn tinh thể, không có riềm sắt, felspat từ 3-5%, mảnh đá  
ryolit, quaczit, silic chiếm 5-10%, hàm lượng bột sét  
(<0,063mm) chiếm từ 12-20% chủ yếu là khoáng vật sét  
kaolinit, limonit và gơtit có màu nâu vàng, nâu đỏ (hình 16,  
bảng 1,2).  
mài tròn tốt (Ro = 0,7), độ chọn lọc trung bình (So = 1,8).  
Chu kỳ 5: Pleistocen muộn phần muộn - Holocen  
(Q13b -Q2)  
Trong khu vực nghiên cứu chu kỳ trầm tích này có 4  
tướng cát đặc trưng  
Tướng cát đụn do gió tuổi mvQ13b có màu trắng xám,  
3a  
vàng rơm (hình 21) là sản phẩm tái tạo của cát gió mvQ1  
và đê cát ven bờ mQ13a. Chúng được tích tụ trong pha biển  
thoái do ảnh hưởng của băng hà Wurm2, tuổi của tướng  
này được xác định theo phương pháp nhiệt huỳnh quang  
thạch anh thay đổi từ 14 ka Bp đến 62 ka Bp (bảng 2).  
Tập 2: Tướng cát thạch anh đê cát ven bờ có độ chọn  
lọc và độ mài tròn tốt (So= 1,2 - 1,5; Ro= 0,5- 0,8), hàm  
lượng thạch anh khá cao (92-95%) (hình 17). Ngoài trời  
thấy rõ tướng trầm tích này dạng dải như một con đê có bề  
mặt thềm biển cao 60m màu đỏ rượu vang (hình 18). Kết  
quả phân tích thành phần hóa học cho thấy hàm lượng  
Tướng cát hạt trung đê cát ven bờ Holocen sớm - giữa  
(mQ21-2) phân bố ở khu vực Bầu Găng có hàm lượng thạch  
anh rất cao (>95%), độ chọn lọc và độ mài tròn rất tốt (So=  
1,3; Ro=0,8) (bảng 1);  
3
Tướng cát đụn tuổi mvQ2 là những cồn cát hiện đại  
ven biển có màu xám vàng, đến màu đỏ, nguồn gốc do gió  
tái tạo của nhiều (hình 22) loại cát có nguồn gốc khác  
nhau.  
2a  
Fe2O32b(0,56%) thấp hơn so với tướng đê cát ven bờ Q1  
và Q1 (2-2,56%). Hàm lượng hematit trong mẫu cấp hạt  
(<0,063mm) đạt từ 1-2% từ kết quả phân tích X-Ray cũng  
Tướng cát vùng triều và dưới triều cát có độ chọn lọc  
và mài tròn tốt, đang di chuyển và tích tụ do sóng và triều.  
2a  
thấp hơn so với thấp hơn so với tướng đê cát ven bờ Q1  
và Q12b (1-3%) (bảng 2). Điều này cho thấy các đê cát ven  
bờ càng cổ thì càng được nâng cao hơn và phong hóa triệt  
để hơn (hình 19).  
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
10  
Hình 15 - BT.08/1: Cát thạch anh ít khoáng  
Hình 16 - BT.07/4: Cát thạch anh màu vàng, có riềm  
mỏng hydroxit sắt bao quanh hạt cát, (N-x50), So=1,7;  
Ro=0,7; Q = 92%, tướng cát do gió, tuổi Q13a, khu vực  
Suối Tiên, Mũi Né. (Ảnh: Nguyễn Văn Tuấn, 2017).  
(N+;x50), có hàm lượng cấp hạt <0,063mm cao,  
2b  
So=1,87; Ro= 0,7; Q = 85%, cát do gió tuổi Q1  
khu vực Suối Tiên, Mũi Né. (Ảnh: Nguyễn Văn  
Tuấn, 2017).  
,
+60  
Hình 17 - BT.09/4: Cát thạch anh , (N+x50), So=  
1,6; Ro= 0,7; Q = 92%, tướng đê cát ven bờ, tuổi  
Q13a, khu vực Suối Tiên, Mũi Né. (Ảnh: Nguyễn  
Văn Tuấn, 2017).  
Hình 18 - Bậc thềm biển cao +60m có tuổi 101±7 ka  
(Q13a) tại khu vực Hòn Rơm, Mũi Né. (Ảnh: Nguyễn  
Xuân Khiển, 2016).  
Hình 19: Sơ đồ vị trí các bậc thềm biển đới bờ khu  
vực tỉnh Bình Thuận.  
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
11  
tốt đến rất tốt (So = 1,2-1,5); Hàm lượng cấp hạt  
<0,063mm chiếm tỷ lệ thấp (<5%)  
4.2. Điều kiện cổ địa lý và cơ chế thành tạo cát  
Đệ tứ ven biển tỉnh Bình Thuận  
Cơ chế thành tạo cát ven biển tỉnh Bình  
Thuận (hình 23)  
4.2.1. Nguồn gốc và cơ chế thành tạo cát  
Từ trực quan sinh động nói trên có thể luận giải cớ  
chế thành tạo của mỗi chu kỳ đê cát ven bờ theo một quy  
trình gồm 3 giai đoạn  
Nguồn gốc của cát ven biển tỉnh Bình  
Thuận  
Giai đoạn 1: Hình thành cát biển  
Cát ven biển Bình Thuận có nguồn gốc biển thuộc  
1
2a  
tướng đê cát ven bờ diễn ra theo 5 chu kỳ mQ1 , mQ1  
,
Tất cả các con sông trên lục địa nằm ở phía bắc Bình  
Thuận đã mang cát ra biển theo các pha biển thoái do ảnh  
hưởng của 5 pha băng hà trên thế giới trong Đệ tứ: Gunz,  
Mindel, Riss, Wurm1, Wurm2.  
mQ12b, mQ13a, mQ21-2. Những tham số thạch học đã chứng  
minh môi trường thủy động lực sóng mạnh (bảng 2, hình  
8,13,14,17):Hàm lượng thạch anh >90%; Độ chọn lọc từ  
Hình 21 - BT.01/2: Cát thạch anh, (N+x50), So= 2,0; Hình 22 - Các thành tạo cát do gió màu vàng nhạt tuổi  
3
Ro= 0,5; Q = 91%, tướng cát do gió, tuổi Q13b, khu  
Holocen (Q2 ) phủ lên các thành tạo cát cổ hơn màu đỏ  
vực Tiến Thành, Phan Thiết  
tại khu vực Hòn Rơm, Mũi Né  
. Giai đoạn 2: Di chuyển của cát biển  
quá khứ và hiện tại tạo thành các cồn cát có độ cao như  
hiện nay.  
+ Cát di chuyển dọc bờ từ bắc đến nam diễn ra liên  
tục cả trong các pha biển thoái và pha biển tiến.  
4.2.2. Màu sắc của cát và điều kiện cổ khí  
+ Cát di chuyển từ thềm lục địa áp sát vào đới ven  
biển trong các pha biển tiến do ảnh hưởng của 5 pha gian  
băng trong Đệ Tứ: G-M, M-R, R-W1, W1-W2 và biển tiến  
Flandrian.  
hậu thành tạo cát  
Cát ven biển tỉnh Bình Thuận tồn tại 7 loại màu sắc  
đặc trưng: Màu trắng, màu đỏ rượu vang, màu đỏ nhạt,  
màu vàng nghệ, màu vàng rơm, màu loang lổ (đỏ-vàng-  
trắng) và màu xám trắng. Màu sắc của cát có thể giải thích  
như sau:  
+ Một phương thức nữa là cát được di chuyển từ thềm  
lục địa vào trong đất liền có thể là do gió thổi.  
Giai đoạn 3: Thành tạo đê cát ven bờ  
Cát màu trắng tinh khiết có tuổi Pleistocen (Suối  
Tiên, Mũi Né và Hòn Đá Châu) và tuổi Holocen giữa (Bầu  
Găng) cát màu trắng là cát thạch anh đê cát ven bờ được  
thành tạo do sóng có độ chọn lọc và mài tròn tốt, hàm  
lượng thạch anh chiếm >95%. Cát vẫn giữ được màu trắng  
lâu dài là do chúng không chịu sự tác động của nước ngầm  
theo chu kỳ oxy hóa- khử. Cát có màu xám trắng là cát  
phân bố ở vùng triều hiện đại có hàm lượng thạch anh cao,  
độ mài tròn và chọn lọc tốt.  
Điều kiện thành tạo đê cát ven bờ do các yếu tố sau:  
Mực nước biển dâng cao do biển tiến, cấu trúc địa chất  
thích hợp hình thành các khối nâng và khối sụt dạng tuyến  
dọc bờ (hình 19), sóng vỗ ven bờ là sóng ngang vuông góc  
với bờ, dòng chảy ven bờ trong Đệ tứ theo hướng từ Bắc  
xuống Nam, sóng bão và sóng thần (động lực mang tính  
chất đột phá tạo nên các đê cát khổng lồ trong một thời  
gian rất ngắn). Ngoài ra gió biển thổi từ biển vào đất liền  
vận chuyển các hạt cát khi gặp các tường chắn như dãy núi  
cao, đê cát đã có trước làm giảm tốc độ gió và quá trình  
vận chuyển cát bị dừng lại, làm vun cao các đê cát trong  
Cát màu vàng, màu đỏ nhạt và đỏ rượu vang: Đây là  
màu thứ sinh đặc trưng cho cát đỏ Bình Thuận. Điều kiện  
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
12  
cần và đủ để cát đạt tới màu đỏ rượu vang và đỏ nhạt là:  
trình biến cát màu trắng thành cát đỏ song không đủ điều  
Địa hình gò đồi và mực nước mặt và nước ngầm lên  
xuống có chu kỳ theo 2 mùa: mùa mưa (chế độ khử) nước  
ngầm mang Fe(OH)2 đến làm ướt cát thạch anh. Mùa khô  
(chế độ oxy hóa) Fe(OH)2 + O2 = Fe2O3.nH2O sản phẩm  
này bao gồm limonit, gơtit ở dạng vô định hình bao quanh  
tất cả các hạt thạch anh thành lớp vỏ mỏng đủ tạo cho cát  
có màu đỏ nhạt hoặc vàng rơm (hình 24a, 24b). Khí hậu  
khô nóng đặc thù của khu vực Bình Thuận đã biến limoit,  
gơtit màu vàng thành hematit màu đỏ rượu vang:  
kiện cần và đủ nên bị dang dở thành vỏ phong hóa loang  
lổ.  
Quy luật phân bố cát ven biển tỉnh Bình  
Thuận  
Hiện tại trầm tích cát ở đới ven biển tỉnh Bình Thuận  
có tuổi và nguồn gốc khác nhau, được phân bố ở các độ  
cao khác nhau, rất khó để nhận biết trật tự địa tầng. Lý do  
đơn giản là chuyển động nâng kiến tạo ở khu vực này rất  
mạnh mẽ. Các thềm cát của đê cát ven bờ bị nâng cao lên  
tới 100m, 80m, 60m, 40m và theo quy luật thềm biển càng  
cao càng cổ (hình 19). Trật tự độ cao của các thềm biển bị  
phức tạp hóa bởi hoạt động gió hết sức mãnh liệt liên tục  
làm biến dạng tầng mặt của đê cát ven bờ và các cồn cát  
cổ để tái tạo cồn cát mới phát triển xuyên kỳ từ cổ đến trẻ,  
từ thấp đến cao (hình 25). Vì vậy nhiều nơi các cồn cát  
không phân biệt được ranh giới địa tầng.  
Fe2O3.nH2O (limonit, gơtit)  
(hematit)+ nH2O  
Fe2O3  
Màu loang lổ đỏ - vàng - trắng: Màu này tương tự vỏ  
phong hóa sét loang lổ, các rãnh mương xói cắt xẻ ở vách  
các cồn cát như ở sân bay Phan Thiết, Suối Tiên và Hòn  
Đá Chông. Đây là quá trình phong hóa thấm đọng trên quá  
Hình 35: Sơ đồ mô hình thành tạo đê cát ven bờ (m) cồn cát do gió (mv) và đồng bằng lagoon bên trong đới bờ  
tỉnh Bình Thuận trong một chu kỳ trầm tích  
Hình 24a : Hạt thạch anh có vỏ bọc hematit trong  
trầm tích cát đỏ ở Tiến Thành chụp dưới kính  
hiển vi điện tử soi nổi (Ảnh:Trần Nghi)  
Hình 24b : Hạt thạch anh đượctẩy sạch lớp vỏ hematit  
trong trầm tích cát đỏ ở Tiến Thành chụp dưới kính hiển  
vi điện tử soi nổi (Ảnh: Trần Nghi)  
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
13  
Hình 25. Tổng hợp các tham số trầm tích đặc trưng cho cổ địa lý trong Đệ Tứ khu vực đới bờ Nam Trung Bộ.  
Màu sắc của cát rất đa dạng gồm 7 màu được chia  
thành 5 nhóm: cát màu đỏ rượu vang có nguồn gốc biển,  
4. Kết quả và thảo luận  
cát vàng nguồn gốc biển - gió, cát màu trắng có nguồn gốc  
biển, cát màu loang lổ (đỏ-vàng- trắng) có nguồn gốc biển,  
4.1. Kết luận  
cát màu xám trắng phân bố ở vùng triều hiện đại nguồn  
gốc biển.  
Trầm tích cát đới ven biển tỉnh Bình Thuận có 3  
nhóm tướng cơ bản: Nhóm tướng cát đa khoáng aluvi tuổi  
Q1 , Q12a, Q12b; Nhóm tướng cát thạch anh đê cát ven bờ  
1
4.2. Thảo luận  
có hàm lượng thạch anh cao (>90%), độ mài tròn và độ  
chọn lọc tốt (So = 1,2-1,5; Ro=0,7-1,0); Nhóm tướng cát  
biển gió luôn chiếm một hàm lượng bột sét (d<0,063mm)  
cao từ 12-20%.  
- Với khối lượng cát thạch anh có nguồn gốc biển và  
biển - gió khổng lồ như vậy lại được tích tụ trên một diện  
tích rộng lớn thành những cao nguyên cát có độ cao lên  
đến 150m đã trở thành những vấn đề khó giải thích gợi mở  
cho nhiều hướng nghiên cứu tiếp theo: Xác định các sự  
kiện minh chứng cho nguồn cát biển khổng lồ?Tại sao lại  
tập kết trước đới bờ và biển nông thềm lục địa Bình  
Thuận? Các đê cát ven bờ khi được thành tạo có độ cao  
bao nhiêu?  
Cát ven biển tỉnh Bình Thuận chia làm 5 đơn vị trầm  
1
2b  
tích tương ứng với 5 chu kỳ trầm tích (Q1 , Q12a, Q1  
,
Q13a, Q13b - Q2). Mỗi một chu kỳ trầm tích tương ứng với  
một chu kỳ thay đổi mực nước biển toàn cầu trong đó có  
một pha biển thoái thấp (LST), một pha biển tiến (TST),  
một pha biển thoái cao (HST).  
Khối lượng cát thạch anh khổng lồ tạo thành các thềm  
cát và cồn cát ven biển tỉnh Bình Thuận có nguồn gốc biển  
(m) và biển - gió (mv).  
- Tại sao trong tướng cát biển - gió (mv) luôn chứa  
một lượng bột, sét 12-20% và thành phần khoáng vật chủ  
yếu là: thạch anh, kaolinit, limonit, gơtit. Những bụi sét và  
oxit sắt này có nguồn gốc từ đâu?  
Cát có tuổi Pleistocen sớm đến hiện tại được xác định  
tương đối chính xác bằng tuổi của tectit nguyên dạng và  
tuổi nhiệt huỳnh quang thạch anh (TL).  
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
14  
Việt Nam. Báo cáo hội nghị Địa chất quốc tế  
11/1989 - Hà Nội.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Lê Đức An, 1978. Những phát hiện mới về tectit  
và ý nghĩa của chúng trong việc nghiên cứu địa  
chất-địa mạo lãnh thổ phía Nam Việt Nam.  
[2] Lê Đức An, 1990. Đặc điểm địa mạo và tân kiến  
tạo vùng Thuận Hải. Thông tin khoa học kỹ thuất  
địa chất, số 1-2, tr 5-25.  
[3] Lê Đức An, 1999. Bàn về quá trình tạo màu của  
cát đỏ Phan Thiết.Tạp chí địa chất, A/250:36-40,  
Hà Nội.  
[9] Trần Nghi, Nguyễn Biểu, 1995. Những suy nghĩ  
về mối quan hệ giữa địa chất Đệ tứ phần đất liền  
và thềm lục địa Việt Nam. Các công trình nghiên  
cứu Địa chất và Địa vật lý biển, III: 91-94. Nxb  
KH&KT. Hà Nội.  
[10] Trần Nghi, 1996. Tiến hóa các thành hệ ven biển  
miền Trung trong mối tương tác với sự dao động  
mực nước biển trong Đệ tứ. Các công trình nghiên  
cứu địa chất và địa vật lý biển. Tập II, Hà Nội.  
[11] Trần Nghi, Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Văn Thuận,  
Vũ Văn Vĩnh, Ma Kông Cọ, Trịnh Nguyên Tính,  
1998.Môi trường và cơ chế thành tạo cát đỏ Phan  
Thiết. Tạp chí địa chất, A/245 : 10-20, Hà Nội.  
[4] Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Văn Thuận, Nguyễn  
Trọng Tấn, Vũ Văn Hà, Lê Đức Lương, Phan  
Đông Pha, 2010. Địa tầng Kainozoi tại các đồng  
bằng ven biển Khu vực Ninh Thuận - Bình Thuận.  
Tạp chí khoa học về trái đất, 32(1), 1-7, Hà Nội.  
[5] Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Văn Thuận, Mai Thanh  
Tân, Vũ Văn Hà, Nguyễn Trọng Tấn, Nguyễn Thị  
Linh Giang, 2007. Liên hệ địa tầng Kainozoi tại  
các đồng bằng ven biển Trung Trung Bộ Việt  
Nam. Tạp chí các khoa học về Trái Đất, 12-2007,  
tr289-295.  
[6] Uông Đình Khanh, 2002. Đặc địa mạo vùng đồi  
và đồng bằng ven biển Ninh Thuận - Bình Thuận.  
Luận án tiến sĩ, Thư Viện Quốc Gia Việt Nam.  
[7] Nguyễn Quang Lộc, 2012.Nghiên cứu địa tầng và  
trầm tích của cát đỏ khu vực Phan Thiết và đánh  
giá tiềm năng khoáng sản liên quan, Luận văn  
Thạc sĩ ngành Địa chất, Thư viện Đại học Quốc  
gia Hà Nội.  
[12] Trần Nghi, Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Xuân Thành,  
Ngô Quang Toàn, 2013. Địa tầng trầm tích Đệ tứ  
thềm lục địa Việt Nam tiếp cận từ địa tầng phân  
tập. Tuyển tập báo cáo khoa học Hội nghị khoa  
học địa chất biển toàn quốc lần thứ 2. Nxb.  
KHTN&CN, Hà Nội. Tr. 431-443.  
[13] Hoàng Phương (chủ biên), 1997. Báo cáo kết quả  
đo vẽ bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản  
nhóm tờ Phan Thiết tỷ lệ 1/50.000.Lưu trữ địa  
chất, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam,  
Hà Nội.  
[14] Colin V. Murray-Wallace, Brian G.Jones, Tran  
Nghi, David M.Price, Vu Van Vinh, Trinh  
Nguyen Tinh, Gerald C.Nanson, 2002.  
Thermoluminescence ager for a reworked coastal  
barrier, southeastern Vietnam:  
report. Journal of Asian Earth Sciences 20 (2002)  
535 – 548.  
a
preliminary  
[8] Trần Nghi và nnk., 1989. Đặc điểm các chu kỳ  
trầm tích và lịch sử phát triển Địa chất Đệ tứ ở  
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3  
15  
Provenance, Characteristics and Paleogeographic Conditions  
of the Quaternary Sandy Formations in Coastal Area  
of Binh Thuan Province  
Nguyễn Văn Tuấn1, Trần Nghi2, Trần Tân Văn1, Nguyễn Xuân Khiển3,  
Nguyễn Thị Tuyến2, Trần Thị Thanh Nhàn2  
1Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản  
2Trường Đại học Khoa học Tự Nhiên, ĐHQGHN, 334 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam  
3Tổng hội Địa chất Việt Nam  
Abstract: Coastal sandy formations of Binh Thuan Province were subdivided into 4 sedimentary - geomorphological  
units corresonding into 4 geological structural units: delta plain – lagoon; sand dunes and ridges; tidal flat and shallow marine  
sand. The oldest sand formations are distributed in the higher elevation, demonstrating that this formation has been uplifted  
by tectonic movement in coastal zone of Binh Thuan during the Quaternary Period. Study of material composition,  
sedimentary environment and absolute age (TL and tectite) of the coastal sandy sediment in Binh Thuan allowed us to divide  
1
2a  
the sandy formations within the study area into 5 sedimentary units, which corresspond to 5 sedimentary cycles (Q1 , Q1  
,
3b  
Q12b, Q13a, Q1 – Q2). Each sedimentary cycle corressponds to a specific global sea level change cycle, including lowstand  
systems tract (LST), transgressive systems tract (TST), and highstand systems tract (HST). The yellow and reddish of sands  
are secondary colors formed in dry and arid weather conditions associated with the ground-water lifting and lowering  
processes in period of osmosis of iron oxide and quartz grains.  
Keywords: Red sand, coastal sand, sea level change, age of sand, sorting (So), rounding (Ro), Binh Thuan Province,  
Phan Thiet.  
pdf 15 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 19180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm trầm tích, nguồn gốc và điều kiện cổ địa lý thành tạo các thể trầm tích cát Đệ tứ khu vực đới bờ tỉnh Bình Thuận", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_tram_tich_nguon_goc_va_dieu_kien_co_dia_ly_thanh_ta.pdf