Đặc điểm trầm tích, nguồn gốc và điều kiện cổ địa lý thành tạo các thể trầm tích cát Đệ tứ khu vực đới bờ tỉnh Bình Thuận
Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
Đặc điểm trầm tích, nguồn gốc và điều kiện cổ địa lý thành tạo
các thể trầm tích cát Đệ tứ khu vực đới bờ tỉnh Bình Thuận
Nguyễn Văn Tuấn1,*, Trần Nghi2, Trần Tân Văn1, Nguyễn Xuân Khiển3,
Nguyễn Thị Tuyến2, Trần Thị Thanh Nhàn2
1Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản
2Trường Đại học Khoa học Tự Nhiên, ĐHQGHN, 334 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam
3Tổng hội Địa chất Việt Nam
Nhận ngày 05 tháng 7 năm 2018
Chỉnh sửa ngày 01 tháng 8 năm 2018; Chấp nhận đăng ngày 01 tháng 8 năm 2018
Tóm tắt: Các thành tạo cát ven biển tỉnh Bình Thuận được chia thành 4 đơn vị địa mạo - trầm tích
tương ứng với 4 đơn vị cấu trúc địa chất: đồng bằng - vũng vịnh (lagoon); cồn cát và thềm cát ven
biển; đới thủy triều đáy biển nông ven bờ. Các thành tạo cát Đệ tứ khu vực ven biển tỉnh Bình
Thuận có tuổi thành tạo càng cổ phân bố ở độ cao càng lớn chứng tỏ các quá trình chuyển động
nâng kiến tạo của xảy ra mạnh mẽ trong Đệ Tứ. Nghiên cứu thành phần vật chất, môi trường trầm
tích, tuổi tuyệt đối (TL và tectit) cho phép phân chia các thành tạo cát ven biển trong khu vực
1
nghiên cứu làm 5 đơn vị trầm tích mỗi đơn vị tương ứng với 5 chu kỳ trầm tích khác nhau (Q1 ,
Q12a, Q12b, Q13a, Q13b - Q2). Mỗi chu kỳ trầm tích tương ứng với một chu kỳ thay đổi mực nước
biển toàn cầu trong đó có một pha biển thoái thấp (LST), một pha biển tiến (TST), một pha biển
thoái cao (HST). Màu vàng, màu đỏ nhạt và đỏ rượu vang của cát là màu thứ sinh được thành tạo
trong điều kiện cổ khí hậu khô nóng, khô ấm xen kẽ kết hợp với quá trình nâng và hạ mực nước
ngầm theo chu kỳ tạo ra sự thấm nhuộm các oxit sắt quanh các hạt thạch anh.
Từ khóa: Cát đỏ, cát ven biển, thay đổi mực nước biển, tuổi của cát, hệ số chọn lọc (So), hệ số mài
tròn (Ro), Bình Thuận, Phan Thiết.
1. Mở đầu
cứu địa mạo khu vực đới ven bờ biển Nam Trung Bộ và
phát hiện tectit nguyên dạng có tuổi 720ka Bp;700ka Bp
và 650ka Bp đồng thời thống nhất quan điểm phân chia cát
Sự hấp dẫn của cát đỏ Bình Thuận đã được các nhà
2-3
đỏ Phan Thiết có tuổi QII-III (tức Q1 theo ký hiệu hiện
nay). Để giải thích màu đỏ của cát Lê Đức An (1999) [3]
địa chất trong và ngoài nước đầu tư nghiên cứu từ những
năm trước 1975 cho đến hiện tại. Những nghiên cứu của
cho rằng màu đỏ của cát đỏ Phan Thiết là "màu đỏ nguyên
các tác giả nhằm phục vụ cho những mục đích khác nhau.
sinh được hình thành trong một bể trầm tích ven lục địa
Lê Đức An và nnk (1976-1990) [1, 2] tập trung nghiên
giàu oxy hóa". Những nghiên cứu của Trần Nghi,
Coloin.Maray, Brian Jone, Vũ Văn Vĩnh, Ma Kông Kọ,
Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Văn Thuận, Trịnh Nguyên Tính,
Uông Đình Khanh, Nguyễn Quang Lộc, Hoàng Phương
(1996-2002) [4-14] đã có những đóng góp quan trọng về
_______
Tác giả liên hệ. ĐT.: 84-973836335.
Email:
1
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
2
phân chia địa tầng, giải thích nguồn gốc và màu sắc của
cát. Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu trên vẫn chưa làm
sáng tỏ được đặc điểm thạch học và tướng trầm tích biến
đổi theo địa tầng và màu đỏ rượu vang của cát.
2.3. Đặc điểm địa chất
Đới ven biển của tỉnh Bình Thuận là mô hình tiêu
biểu của mối quan hệ nhân quả của hình thái địa hình - địa
mạo và chuyển động kiến tạo của đới ven biển Miền
Trung Việt Nam. Bốn đơn vị địa mạo - trầm tích là kết quả
còn chuyển động kiến tạo là nguyên nhân: Đơn vị địa mạo
đồng bằng ven biển – vũng vịnh (lagoon) tuổi Holocen
muộn là sản phẩm cuối cùng lấp đầy địa hào bắt đầu sụt
lún từ Pleistocen sớm; Đơn vị cồn cát và thềm cát ven biển
là sản phẩm tích tụ của trầm tích biển (m) và biển - gió
(mv); Đơn vị địa hình bãi triều và đáy biển ven bờ (0 -
30m nước) bằng phẳng và đơn nghiêng về phía Đông Nam
là bề mặt địa hình được tạo ra do quá trình tích tụ trầm tích
Đệ Tứ kế thừa trầm tích Đệ Tam của cấu trúc rìa tây bắc
bể Cửu Long.
Nội dung bài báo này sẽ giới thiệu những kết quả
nghiên cứu mới về đặc điểm thành phần vật chất của tất
các các loại cát có mặt ở đới ven biển Bình Thuận. Đặc
biệt sẽ làm sáng tỏ nguồn gốc và điều kiện thành tạo liên
quan đến sự thay đổi mực nước biển toàn cầu và điều kiện
khí hậu khô nóng đặc thù của khu vực Nam Trung Bộ
trong Đệ Tứ.
2. Đặc điểm địa mạo và địa chất đới bờ tỉnh
bènh thuận
2.1. Vị trí và đối tượng nghiên cứu
3. Phương pháp nghiên cứu
Khu vực nghiên cứu là các thành tạo trầm tích Đệ Tứ
ven biển tỉnh Ninh Thuận, bao gồm cả phần trên cạn và
phần dưới nước (0-30m) (hình 1).
3.1. Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp thu thập mẫu nghiên cứu: các mẫu được
thu thập theo các mặt cắt cho từng vùng. Tại các vết lộ địa
chất sau khi loại bỏ phần phủ bên ngoài, khi có sự thay đổi
về màu sắc, kích thước hạt hoặc khi có danh giới giữa các
tập thì lựa chọn những mẫu đại diện cho từng tập cát đó.
2.2. Bối cảnh địa mạo
Mặt cắt địa chất - trầm tích vuông góc với đới bờ biểu
hiện sự phân hóa rõ rệt thành 4 đơn vị địa mạo - trầm tích
tương ứng với 4 đơn vị cấu trúc địa chất (hình 2) gồm:
Đồng bằng ven biển – vũng vịnh (lagoon); Cồn cát và
thềm cát ven biển; Đới thủy triều; Đáy biển nông ven bờ
(10-30m).
Công tác chuẩn bị và gửi phân tích mẫu: mẫu được
lựa chọn gửi phân tích là các mẫu mang tính đại diện cho
các tập trầm tích cát.
Hình 1. Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu và vị trí lấy mẫu.
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
3
Hình 2. Sơ đồ phân đới địa mạo trầm tích theo hướng vuông góc với bờ khu vực Mương Mán
- Sân bay Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận
đó xác định thành phần khoáng vật và mảnh vụn (thạch
anh, felspat, mảnh đá, mảnh vụn sinh vật...) dưới kính hiển
vi phân cực để luận giải môi trường thành tạo trầm tích.
3.2. Các phương pháp gia công phân tích mẫu
Phương pháp phân tích độ hạt theo thang : Mẫu
được phân tích bằng thiết bị rây và pipet để phân chia các
cấp hạt cát theo cấp rây
d, trong đó d là kích thước hạt
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
(và được thể hiển theo thang = - log2 d) từ đó xây dựng
đường cong tích lũy độ hạt, phân bố độ hạt và tính 3 tham
số quan trọng: kích thước hạt trung bình (Md), hệ số chọn
lọc (So), hệ số bất đối xứng (Sk) để xác định tướng trầm
tích và chế độ thuỷ động lực của môi trường.
4.1. Đặc điểm trầm tích và quy luật phân bố
Đặc điểm thành phần vật chất, tuổi và môi trường
trầm tích của cát khu vực ven biển tỉnh Bình Thuận được
nghiên cứu một cách liên tục từ tầng trầm tích Pleistocen
sớm đến hiện đại. Kết quả cho thấy chúng có sự tiến hóa lặp
đi lặp lại chia thành 5 đơn vị trầm tích, mỗi đơn vị tương
ứng với một chu kỳ thay đổi mực nước biển toàn cầu trong
đó có một pha biển thoái thấp (LST), một pha biển tiến
(TST) và một pha biển thoái cao (HST) (bảng 1, 2).
Phương pháp xác định các thông số trầm tích:
Mẫu được gia công theo phương pháp lát mỏng thạch học
và phân tích bằng kính hiển vi phân cực 2 mắt xác định
các thông số hình thái hạt vụn độ mài tròn (Ro), độ cầu (Sf)
để xác định nguồn gốc trầm tích và chế độ thuỷ động lực
của môi trường.
1
Chu kỳ 1: Pleistocen sớm (Q1 )
Phương pháp rơnghen và nhiệt vi sai: Mẫu được
gia công bằng rây để tách cấp hạt nhỏ (<0,063mm) và tách
trong lớp vỏ bao các hạt cát màu đỏ ra bằng phương pháp
chà xát cơ học. Sau đó phân tích xác định hàm lượng (%)
khoáng vật sét trong mẫu để luận giải môi trường thành
tạo cát và nguồn gốc tạo màu sắc của cát.
Chu kỳ trầm tích Pleistocen sớm có vị trí địa tầng
nằm dưới lớp mũ sắt chứa tectit nguyên dạng có tuổi 700
ka Bp ở khu vực Hòn Rơm và 720 ka Bp ở Tuy Phong
(hình 3, bảng 2). Theo thành phần độ hạt và khoáng vật có
thể chia làm 2 tập:
Tập 1: Tướng cát sạn thạch anh lòng sông màu xám
trắng, xám ghi. Các kết quả phân tích thành phần khoáng
vật: thạch anh (Q) = 50-75%; Felspat (F) = 10-15%; mảnh
đá (R) = 5-15%; vắng mặt vỏ sinh vật biển, đá thuộc loại
cát hạt trung Md= 0,5-1,5mm; độ mài tròn và chọn lọc
kém (Ro = 3-5; So=2,5-2,9) (hình 4). Tại các vết lộ ở khu
vực Suối Tiên, Hòn Rơm (hình 5, hình 6) thấy có cấu tạo
xiên chéo đồng hướng lòng sông, hướng chảy của sông
thay đổi từ 120o (Suối Tiên) đến 100o (Hòn Rơm).
Phương pháp xác định tuổi tuyệt đối của cát: Mẫu
nhiệt huỳnh quang được lấy ở phần không tiếp xúc với ánh
sáng mặt trời và được bảo quản trong ống đựng mẫu tối
(cách biệt với ánh sáng). Sau đó mẫu được phân tích
phương pháp nhiệt huỳnh quang thạch anh (TL) nhằm xác
định tuổi cát bằng cách đo lượng huỳnh quang tạo ra khi
đốt nóng hay kích thích quang học một mẫu nào đó có thể
được sử dụng để xác định thời gian trầm tích bị chôn vùi.
Phân tích tại phòng thí nghiệm của Trường Đại học Tổng
hợp Wollongong (Úc).
Tập 2: Tướng đê cát ven bờ màu xám trắng, cấu tạo
khối được thành tạo trong môi trường sóng vỗ ven bờ
(hình 3). Cát hạt trung có độ chọn lọc và mài tròn tương
đối tốt (Md = 0,25mm; Ro = 0,5÷0,7; So=1,3÷1,5).
Tuổi của tectit nguyên dạng (3 mẫu) chính là tuổi
đồng trầm tích được thu thập theo tài liệu của Lê Đức An.
Phương pháp phân tích lát mỏng thạch học: Mẫu
được gia công theo phương pháp lát mỏng thạch học, sau
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
Bảng 1a. Các thông số độ hạt trầm tích cát có tuổi khác nhau khu vực ven biển Bình Thuận
4
Vị trí lấy mẫu
Phần trăm các cấp hạt
Tướng
trầm
tích
Tuổi địa
chất
Số hiệu
mẫu
từ
>3
3
3
2,5 1,6
1,25
1
1
0,8
0,63 0,5
0,4
16,4 20,3
0,4
0,315 0,25 0,2
0,2 0,16 0,125 0,1
16,6 6,9
0,16
0,125 0,1
0,08
0,063
X
Y
đến
2,5 1,6 1,25
0,8 0,63 0,5
0,315 0,25
0,08 0,063 <0,063
mvHST
mTST
0,1
1
3,5
4,1
5,9
27,1
26,2
22,6
2,6
1
0,3
0,6
0,9
3,3
0,8
0,3
0,9
3,2
5
Pleistocen
muộn,
phần
BT.01/1 1194169 174029
BT.01/3 1194169 174029
BT.09/5 1212844 200602
0,2 1,2
0,2 1,6
7,9
9,8
17,8
16,7
17,5 11,8 6,5
15,6 11,2 6,6
2,2
3,6
muộn -
Holocen
3b
mvLST
0,1
1
3,8
11,4 15,8
25,6
16,6 7,9
2,6
1,3
0,4
3,5
10
( Q1
Q2 )
-
BT.01/2 1194238 174020
BT.10/4 1213255 206847
BT.09/4 1212844 200602
Pleistocen
muộn,
mvHST
mTST
3,5
6,4
9,8
9
14,9
12,6
20,7
17,3
18,5 10,9 5,7
15 13 6,8
2,3
4,1
0,8
2
0,6
6,2
12,3
4,1
0,6 2,9
0,2 0,7
phần sớm
3a
mv LST
1,4
3,4
8,3
12,4
20,3 17,5 10,2
24,1 14,9 7,8
5,2
3,2
1,4
15,8
( Q1
)
BT.07/4 1212542 200247
BT.02/2 1207379 179055
BT.03/1 1207352 179952
BT.06/2 1212411 200124
BT.02/1 1207379 179055
BT.07/2 1212542 200247
BT.07/3 1212542 200247
BT.08/1 1212703 200413
BT.10/3 1213237 206818
BT.04/2 1198787 175249
1
2,6
1,4
1,8
8
3,6
4,6
8,9
4,3
5,9
10,7
6,6
8,6
20,1
20,4
23,2
18,9
10,9
10,1
23,2
16,7
7,1
2,5
2,9
2,5
3,2
2,2
1,6
2,9
3,7
6,2
4,1
4,9
3,1
2
1,5
0,9
1,5
1,1
0,6
0,9
1,2
0,8
1,9
2,3
2,2
1,1
0,7
1
1,7
2,5
0,8
3
12,9
16,3
15,1
7,1
mvHST
0,1 0,3
0,2 6,9
17,7 17,8
4
10,2 10,8 5,3
20,9 18,6 10,2
11,3 11,7 6,4
12,6 10,1 5,1
20,5 10,7 6,2
17,6 13,9 7,5
19,4 26,5 16,1
Pleistocen
giữa,
phần
1
1,4
1,7
mTST
0,3
0,8
4,8
1,1 5,8
15,4 16,9 11,8
1,5
1,8
1,5
0,8
4,3
9,8
4,6
1,9
0,8
0,9
2
4,1
1
2
6
13
1,6
4,6
1,4
4
17,8 12,4
7,6
muộn
2b
1,3
2,9
9,9
3,3
3,9
5,3
8,3
10,2
12,8
3,9
15,8
10,2
9,4
( Q1
)
mvLST
0,3 1,2
0,1 0,4
0,6 2,1
0,6 1,3
0,3 2,2
0,6 2,2
0,2 0,4
3,5 3,3
0,3 0,8
0,7 2,1
0,3
aLST
1
2
0,7
9,3
16,4
15,3
16,6
17,8
24,1
2,4
14,4 11,2
14,1 13
7
10,9
17,6
17,8
9,5
BT.05
1212282 200017
3
10,7
11,7
7,4
BT.05/2 1212282 200017
BT.06/1 1212411 200124
BT.07/1 1212542 200247
mvHST
6,5
7,7
1,3
2,2
2,3
4,9
2
12,9 10,7 6,9
13,5 9,8 4,1
16,1 11,1 5,2
13,8 17,5
Pleistocen
giữa,
mTST
aLST
5,8
2,4
4
14,9
1,6
2,9
0,4
2,5
3,1
4,2
3,6
16,1
22,5
21,6
16,6
15,9
16,6
BT.08
1212703 200413
phần sớm
5
23 15 6,9
2,1
21
16
1,8
0,9
0,5
1,3
1,7
1,3
1,3
BT.09/3 1212844 200602
BT.09/2 1212844 200602
BT.10/2 1213255 206847
BT.04/1 1198787 175249
2a
( Q1
)
12,6
11,6
5,4
17,1
15,4
10,7
12,6
13,5 0,5
12,8 7,3
2,5
1,2
4,3
1,4
mvLST
6,6
4,2
2,7
20,1 20,6 11
22,3 18,7
16 12,8 7,3
Pleistocen
sớm
1212844 200602 aLST
2
2
1
5
0,5
3
0,7 0,5
1,4
5,7
9
BT.09/1
( Q11 )
BT.10/1 1213255 206847 aLST
0,7 2,1
4,9
6,6
11,6
15,4
3,1
1,7
1,2
6,6
Ghi chú: BT.01, BT.02: Khu vực Hòn Đá Châu; BT.03, BT.04: Khu vực xã Tiến Thành Phan Thiết; BT.05 đến BT.09: Khu vực Suối Tiến, Mũi Né; BT.10: Khu vực Hòn Rơm Mũi Né
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
Bảng 1b. Các thông số độ hạt trầm tích cát có tuổi khác nhau khu vực ven biển Bình Thuận
5
Vị trí lấy mẫu
Thông số độ hạt
Tướng
trầm
tích
Số hiệu
mẫu
Tuổi địa chất
X
Y
S0
Sk
Md
mvHST 2,25
0,90
0,94
0,26
0,27
BT.01/1 1194169 174029
BT.01/3 1194169 174029
Pleistocen
muộn, phần
muộn -
1,30
mTST
Holocen
1,26
mvLST 2,06
mvHST 2,09
0,94
1,01
0,82
0,27
0,27
0,27
( Q13b-Q2 )
BT.09/5 1212844 200602
BT.01/2 1194238 174020
BT.10/4 1213255 206847
BT.09/4 1212844 200602
Pleistocen
muộn, phần
mTST
mv
1,56
0,84
0,90
0,25
0,32
sớm
3a
( Q1
)
2,16
1,80
BT.07/4 1212542 200247 LST
BT.02/2 1207379 179055
0,93
0,97
0,93
0,97
0,99
0,98
0,83
0,98
0,94
0,85
0,76
0,82
0,95
0,82
0,27
0,59
1,00
0,95
0,22
0,23
0,28
0,21
0,32
0,19
0,22
0,25
0,18
0,26
0,20
0,23
0,28
0,24
1,56
0,22
0,24
0,20
BT.03/1 1207352 179952 mvHST 2,29
BT.06/2 1212411 200124
BT.02/1 1207379 179055
BT.07/2 1212542 200247 mTST
BT.07/3 1212542 200247
BT.08/1 1212703 200413
2,02
1,31
1,57
1,31
1,87
Pleistocen
giữa, phần
muộn
2b
( Q1
)
BT.10/3 1213237 206818 mvLST 1,71
BT.04/2 1198787 175249
2,09
2,56
1,69
1,60
1,43
1,41
4,84
1,75
BT.05
1212282 200017 aLST
BT.05/2 1212282 200017
BT.06/1 1212411 200124
BT.07/1 1212542 200247
mvHST
mTST
Pleistocen
giữa, phần
BT.08
1212703 200413
sớm
BT.09/3 1212844 200602 aLST
BT.09/2 1212844 200602
2a
( Q1
)
BT.10/2 1213255 206847 mvLST 1,40
BT.04/1 1198787 175249
1,69
2,48
1212844 200602 aLST
0,76
1,21
0,27
0,3
Pleistocen
BT.09/1
sớm
1
BT.10/1 1213255 206847 aLST
2,5
( Q1 )
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
Bảng 2. Bảng tổng hợp các tham số trầm tích theo tuổi địa chất của các thành tạo cát tỉnh Bình Thuận
6
Chú thích: Tuổi Tectit thu thập từ Nguyễn Đức An; tuổi TL do GS Colin.W.Muray phân tích năm 2000 .
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
7
2a
mvQ1
mQ1
2a
2a
mvQ1
1
mvQ1
1
mQ1
Hình 3. Cát trắng nằm dưới lớp tectit tuổi 720 ka
(Q1 ) và nằm dưới lớp cắt đỏ tại khu vực Tuy
Hình 4. BT.09/1: Cát sạn đa khoáng (N+; x50), cát lòng
sông aluvi So = 2,5; Ro = 0,5; Q = 10%, tuổi Q1 , khu vực
1
1
Phong (Ảnh:Nguyễn Văn Tuấn, 2016).
Hòn Rơm, Mũi Né (Ảnh: Nguyễn Văn Tuấn,2017)
0
1200
1
1
aQ1
aQ1
Hình 5 - Lớp cát sạn màu đỏ cấu tạo xiên chéo đồng
Hình 6 - Cấu tạo xiên chéo lòng sông đồng hướng
trong cát sạn kết tuổi (Q1 ), khu vực Suối Tiên
1
1
hướng lòng sông tuổi (aQ1 ), nằm dưới lớp mũ sắt
1
chứa tectit sắc cạnh tuổi 700 ka (Q1 ) khu vực Hòn
(Ảnh: Nguyễn Văn Tuấn, 2016)
Rơm (Ảnh: Nguyễn Văn Tuấn,2016)
2a
2b
Chu kỳ 2: Pleistocen giữa phần sớm (Q1
)
giữa phần sớm và Pleistocen giữa phần muộn (Q12a ÷ Q1
)
Chu kỳ thứ 2 có 3 tập tương ứng với 3 tướng
do ảnh hưởng của giai đoạn đầu băng hà Riss. Đặc trưng
của cát do gió cuối pleistocen giữa phần sớm là cát màu
vàng sẫm, các hạt thạch anh không có hoặc rất mỏng viền
sắt ba (hình 10). Màu vàng sẫm của cát chủ yếu do thành
phần bột sét, limonit, gơtit chiếm hàm lượng khá cao (9,5
Tập 1: Tướng cát do gió (mvQ12a). Đây là sản phẩm
do gió hoạt động trong giai đoạn biển thoái sảy ra trong
giai đoạn biển thoái diễn ra đầu Pleistocen giữa do ảnh
hưởng của băng hà Mindel. Đặc trưng của tập cát này là
hàm lượng thạch anh đơn tinh thể cao hơn đa tinh thể, độ
mài tròn trung bình không nhiễm oxít sắt ba (Fe3+). Cát có
màu vàng sẫm do chứa hàm lượng cấp hạt <0,063mm
tương đối cao (15÷21%), thành phần cấp hạt nhỏ chủ yếu là
thạch anh, khoáng vật sét, limonit và gơtit (hình 7, bảng 1).
Tập 2: Tướng đê cát ven bờ (mQ12a). Cát hạt trung
hàm lượng thạch anh trung bình 94,8%, hematit 1,5%
(bảng 3), cát có độ chọn lọc và độ mài tròn tốt
(So=1,2÷1,5) (bảng 1, 2), các hạt thạch anh có riềm
hematit (Fe2O3) tạo cho tầng cát này có màu đỏ rượu vang
(hình 8), cấu tạo song song xen kẽ xiên chéo (hình 9).
Tập 3: Tướng cát do gió (mvQ12a). Đây là tập cát
được thành tạo trong giai đoạn biển thoái cao Pleistocen
÷ 17,8%).
2b
Chu kỳ 3: Pleistocen giữa phần muộn (Q1
)
Chu kỳ trầm tích Q12b cũng có 3 tập tương tự chu kỳ 2
Tập dưới: Có 2 tướng trầm tích đặc trưng: Tướng cát
thạch anh ít khoáng được thành tạo do gió trong giai đoạn
biển thoái thấp của băng hà Riss. Hàm lượng thạch anh
tương đối cao 85-92%, có độ chọn lọc trung bình, độ mài
tròn từ trung bình đến tốt (So=1,6÷1,9; Ro=0,5) (hình 11);
Chuyển ngang sang trầm tích cát đụn tướng cát sạn đa
khoáng aluvi có độ chọn lọc và mài tròn từ trung bình đến
kém (So= 2,56; Ro=0,4) (hình 12).
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
8
Tập giữa: Tướng cát thạch anh đê cát ven bờ, hàm
vực Tiến Thành, Hòn Rơm, Mũi Né, Suối Tiên, Sân bay
Phan Thiết. Nét đặc trưng của tập này là cát đỏ màu rượu
vang đôi nơi có màu vàng trắng biểu hiện của phong hóa
thấm đọng chưa triệt để. Các hạt thạch anh có riềm
hematit khá rõ.
lượng thạch anh chiếm từ 92-95%, chủ yếu là thạch anh
đơn tinh thể (hình 13,14). Độ mài tròn và chọn lọc tốt (So=
1,3; Ro= 0,85) (bảng 2). Trong khu vực nghiên cứu tướng
đê cát ven bờ Q12b phân bố rất phổ biến. Điển hình là khu
Hình 7 - BT.04/1: Cát thạch anh dưới 1 nicon (N-),
thấy rõ hàm lượng cấp hạt <0,063mm tương đối cao
(~15%), tướng cát do gió, tuổi Q12a, khu vực Tiến
Thành, Phan Thiết (Ảnh: Nguyễn Văn Tuấn, 2018).
Hình 8 - BT.08: Cát thạch anh (N-; x50), So=1,41;
Ro=0,7; Q = 93%, tướng đê cát ven bờ, tuổi Q12a, khu
vực Suối Tiên. (Ảnh: Nguyễn Văn Tuấn, 2017).
2a
mvQ1
2a
2a
mQ1
mvQ1
Hình 10 - BT.05/2: Cát thạch anh ít khoáng
Hình 9 - Mặt cắt trầm tích có tuổi(Q12a) gồm: Tập 1:
(N+;x50), So=1,6; Ro=0,5; Q = 90%, cát do gió,tuổi Cát do gió (mvQ12a) cấu tạo khối; Tập 2: Cát có cấu tạo
(Q12a), thạch anh không có riềm oxit sắt, khu vực
phân lớp ngang song song xen kẽ xien chéo của đê cát
ven bờ (mQ12a); Tập 3: Cát do gió (Q12a) cấu tạo khối
(Ảnh: Nguyễn Văn Tuấn, 2016).
Suối Tiên. (Ảnh: Nguyễn Văn Tuấn, 2017).
3a
2b
2a
2b
Hình 11 - Cấu tạo phân lớp song song của đê cát
ven bờ trong cát màu vàng đậm, tuổi (Q12b) tại xã
Tiến Thành. (Ảnh: Nguyễn Xuân Khiển, 2016).
Hình 12 - BT.05: Cát thạch anh đa khoáng (N+;x50),
So= 2,56; Ro=0,6; Q = 80%, cát lòng sông, tuổi (Q12b),
khu vực Suối Tiên. (Ảnh: Nguyễn Văn Tuấn, 2017).
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
9
Hình 13- BT.07/2: Cát thạch anh, (N+;x50), So=1,3;
Hình 14 - BT.04/2: Cát thạch anh màu đỏ, có riềm
mỏng hydroxit sắt bao quanh hạt cát (N-;x50), So=1,5;
Ro=0,75; Q = 95%, tướng đê cát ven bờ, tuổi Q12b, khu
vực Hòn Rơm, Mũi Né. (Ảnh: Nguyễn Văn Tuấn,
2017).
2b
Ro=0,85; Q = 95%, tướng đê cát ven bờ, tuổi Q1
khu vực Hòn Rơm, Mũi Né. (Ảnh: Nguyễn Văn
Tuấn, 2017).
,
3a
Tập trên: Tướng cát đụn do gió (mvQ12b) có cấu tạo
khối, địa hình gò đồi, lượn sóng, có màu vàng sẫm. Dưới
kính hiển vi phân cực các hạt thạch anh không có riềm đỏ
của oxit sắt, mà giữa chúng là một hỗn hợp màu vàng nâu
chiếm 12 - 16% thuộc cấp hạt < 0,063mm gồm chủ yếu là
limonit, gơtit và sét kaolinit (hình 15).
Tập 3: Tướng cát đụn do gió mvQ1 màu vàng đậm,
phủ trên các thềm biển mQ13a cao tới 60m có tuổi 101 ± 7
ka Bp gặp ở Hòn Rơm, Mũi Né và khu vực Tiến Thành.
Cát có màu vàng sẫm, bên trong cấu tạo khối, địa hình bề
mặt có dạng gò đồi hình lưỡi liềm quay lưng về hướng gió
thổi (hình 20). Hàm lượng, thành phần cấp hạt <0,063mm
tương đối cao (12,3-15,8%). Đây là sản phẩm thứ sinh do
phong hóa, thành phần khoáng vật chủ yếu là sét và gơtit,
được vận chuyển và tích tụ do gió đồng thời với cát thạch
3a
Chu kỳ 4: Pleistocen muộn phần sớm (Q1
)
3a
Chu kỳ trầm tích Q1 có 3 tập trầm tích từ dưới lên
tương ứng với 3 tướng trầm tích:
3a
anh có nguồn gốc biển. Vì vậy cát có tuổi mvQ1 có độ
Tập 1: Tướng cát đụn do gió nằm dưới cấu tạo khối,
độ chọn lọc và độ mài tròn từ trung bình đến tốt (So= 1,5 -
1,8; Ro= 0,4- 0,7). Ngoài trời nhóm tướng này lộ ra dưới
dạng địa hình lượn sóng, có màu đỏ phớt vàng, chúng
được tích tụ do gió trong giai đoạn biển thoái đầu băng hà
W1. Kết quả phân tích độ hạt và khoáng vật cho thấy hàm
lượng thạch anh thay đổi từ 85-92% chủ yếu là thạch anh
đơn tinh thể, không có riềm sắt, felspat từ 3-5%, mảnh đá
ryolit, quaczit, silic chiếm 5-10%, hàm lượng bột sét
(<0,063mm) chiếm từ 12-20% chủ yếu là khoáng vật sét
kaolinit, limonit và gơtit có màu nâu vàng, nâu đỏ (hình 16,
bảng 1,2).
mài tròn tốt (Ro = 0,7), độ chọn lọc trung bình (So = 1,8).
Chu kỳ 5: Pleistocen muộn phần muộn - Holocen
(Q13b -Q2)
Trong khu vực nghiên cứu chu kỳ trầm tích này có 4
tướng cát đặc trưng
Tướng cát đụn do gió tuổi mvQ13b có màu trắng xám,
3a
vàng rơm (hình 21) là sản phẩm tái tạo của cát gió mvQ1
và đê cát ven bờ mQ13a. Chúng được tích tụ trong pha biển
thoái do ảnh hưởng của băng hà Wurm2, tuổi của tướng
này được xác định theo phương pháp nhiệt huỳnh quang
thạch anh thay đổi từ 14 ka Bp đến 62 ka Bp (bảng 2).
Tập 2: Tướng cát thạch anh đê cát ven bờ có độ chọn
lọc và độ mài tròn tốt (So= 1,2 - 1,5; Ro= 0,5- 0,8), hàm
lượng thạch anh khá cao (92-95%) (hình 17). Ngoài trời
thấy rõ tướng trầm tích này dạng dải như một con đê có bề
mặt thềm biển cao 60m màu đỏ rượu vang (hình 18). Kết
quả phân tích thành phần hóa học cho thấy hàm lượng
Tướng cát hạt trung đê cát ven bờ Holocen sớm - giữa
(mQ21-2) phân bố ở khu vực Bầu Găng có hàm lượng thạch
anh rất cao (>95%), độ chọn lọc và độ mài tròn rất tốt (So=
1,3; Ro=0,8) (bảng 1);
3
Tướng cát đụn tuổi mvQ2 là những cồn cát hiện đại
ven biển có màu xám vàng, đến màu đỏ, nguồn gốc do gió
tái tạo của nhiều (hình 22) loại cát có nguồn gốc khác
nhau.
2a
Fe2O32b(0,56%) thấp hơn so với tướng đê cát ven bờ Q1
và Q1 (2-2,56%). Hàm lượng hematit trong mẫu cấp hạt
(<0,063mm) đạt từ 1-2% từ kết quả phân tích X-Ray cũng
Tướng cát vùng triều và dưới triều cát có độ chọn lọc
và mài tròn tốt, đang di chuyển và tích tụ do sóng và triều.
2a
thấp hơn so với thấp hơn so với tướng đê cát ven bờ Q1
và Q12b (1-3%) (bảng 2). Điều này cho thấy các đê cát ven
bờ càng cổ thì càng được nâng cao hơn và phong hóa triệt
để hơn (hình 19).
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
10
Hình 15 - BT.08/1: Cát thạch anh ít khoáng
Hình 16 - BT.07/4: Cát thạch anh màu vàng, có riềm
mỏng hydroxit sắt bao quanh hạt cát, (N-x50), So=1,7;
Ro=0,7; Q = 92%, tướng cát do gió, tuổi Q13a, khu vực
Suối Tiên, Mũi Né. (Ảnh: Nguyễn Văn Tuấn, 2017).
(N+;x50), có hàm lượng cấp hạt <0,063mm cao,
2b
So=1,87; Ro= 0,7; Q = 85%, cát do gió tuổi Q1
khu vực Suối Tiên, Mũi Né. (Ảnh: Nguyễn Văn
Tuấn, 2017).
,
+60
Hình 17 - BT.09/4: Cát thạch anh , (N+x50), So=
1,6; Ro= 0,7; Q = 92%, tướng đê cát ven bờ, tuổi
Q13a, khu vực Suối Tiên, Mũi Né. (Ảnh: Nguyễn
Văn Tuấn, 2017).
Hình 18 - Bậc thềm biển cao +60m có tuổi 101±7 ka
(Q13a) tại khu vực Hòn Rơm, Mũi Né. (Ảnh: Nguyễn
Xuân Khiển, 2016).
Hình 19: Sơ đồ vị trí các bậc thềm biển đới bờ khu
vực tỉnh Bình Thuận.
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
11
tốt đến rất tốt (So = 1,2-1,5); Hàm lượng cấp hạt
<0,063mm chiếm tỷ lệ thấp (<5%)
4.2. Điều kiện cổ địa lý và cơ chế thành tạo cát
Đệ tứ ven biển tỉnh Bình Thuận
Cơ chế thành tạo cát ven biển tỉnh Bình
Thuận (hình 23)
4.2.1. Nguồn gốc và cơ chế thành tạo cát
Từ trực quan sinh động nói trên có thể luận giải cớ
chế thành tạo của mỗi chu kỳ đê cát ven bờ theo một quy
trình gồm 3 giai đoạn
Nguồn gốc của cát ven biển tỉnh Bình
Thuận
Giai đoạn 1: Hình thành cát biển
Cát ven biển Bình Thuận có nguồn gốc biển thuộc
1
2a
tướng đê cát ven bờ diễn ra theo 5 chu kỳ mQ1 , mQ1
,
Tất cả các con sông trên lục địa nằm ở phía bắc Bình
Thuận đã mang cát ra biển theo các pha biển thoái do ảnh
hưởng của 5 pha băng hà trên thế giới trong Đệ tứ: Gunz,
Mindel, Riss, Wurm1, Wurm2.
mQ12b, mQ13a, mQ21-2. Những tham số thạch học đã chứng
minh môi trường thủy động lực sóng mạnh (bảng 2, hình
8,13,14,17):Hàm lượng thạch anh >90%; Độ chọn lọc từ
Hình 21 - BT.01/2: Cát thạch anh, (N+x50), So= 2,0; Hình 22 - Các thành tạo cát do gió màu vàng nhạt tuổi
3
Ro= 0,5; Q = 91%, tướng cát do gió, tuổi Q13b, khu
Holocen (Q2 ) phủ lên các thành tạo cát cổ hơn màu đỏ
vực Tiến Thành, Phan Thiết
tại khu vực Hòn Rơm, Mũi Né
. Giai đoạn 2: Di chuyển của cát biển
quá khứ và hiện tại tạo thành các cồn cát có độ cao như
hiện nay.
+ Cát di chuyển dọc bờ từ bắc đến nam diễn ra liên
tục cả trong các pha biển thoái và pha biển tiến.
4.2.2. Màu sắc của cát và điều kiện cổ khí
+ Cát di chuyển từ thềm lục địa áp sát vào đới ven
biển trong các pha biển tiến do ảnh hưởng của 5 pha gian
băng trong Đệ Tứ: G-M, M-R, R-W1, W1-W2 và biển tiến
Flandrian.
hậu thành tạo cát
Cát ven biển tỉnh Bình Thuận tồn tại 7 loại màu sắc
đặc trưng: Màu trắng, màu đỏ rượu vang, màu đỏ nhạt,
màu vàng nghệ, màu vàng rơm, màu loang lổ (đỏ-vàng-
trắng) và màu xám trắng. Màu sắc của cát có thể giải thích
như sau:
+ Một phương thức nữa là cát được di chuyển từ thềm
lục địa vào trong đất liền có thể là do gió thổi.
Giai đoạn 3: Thành tạo đê cát ven bờ
Cát màu trắng tinh khiết có tuổi Pleistocen (Suối
Tiên, Mũi Né và Hòn Đá Châu) và tuổi Holocen giữa (Bầu
Găng) cát màu trắng là cát thạch anh đê cát ven bờ được
thành tạo do sóng có độ chọn lọc và mài tròn tốt, hàm
lượng thạch anh chiếm >95%. Cát vẫn giữ được màu trắng
lâu dài là do chúng không chịu sự tác động của nước ngầm
theo chu kỳ oxy hóa- khử. Cát có màu xám trắng là cát
phân bố ở vùng triều hiện đại có hàm lượng thạch anh cao,
độ mài tròn và chọn lọc tốt.
Điều kiện thành tạo đê cát ven bờ do các yếu tố sau:
Mực nước biển dâng cao do biển tiến, cấu trúc địa chất
thích hợp hình thành các khối nâng và khối sụt dạng tuyến
dọc bờ (hình 19), sóng vỗ ven bờ là sóng ngang vuông góc
với bờ, dòng chảy ven bờ trong Đệ tứ theo hướng từ Bắc
xuống Nam, sóng bão và sóng thần (động lực mang tính
chất đột phá tạo nên các đê cát khổng lồ trong một thời
gian rất ngắn). Ngoài ra gió biển thổi từ biển vào đất liền
vận chuyển các hạt cát khi gặp các tường chắn như dãy núi
cao, đê cát đã có trước làm giảm tốc độ gió và quá trình
vận chuyển cát bị dừng lại, làm vun cao các đê cát trong
Cát màu vàng, màu đỏ nhạt và đỏ rượu vang: Đây là
màu thứ sinh đặc trưng cho cát đỏ Bình Thuận. Điều kiện
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
12
cần và đủ để cát đạt tới màu đỏ rượu vang và đỏ nhạt là:
trình biến cát màu trắng thành cát đỏ song không đủ điều
Địa hình gò đồi và mực nước mặt và nước ngầm lên
xuống có chu kỳ theo 2 mùa: mùa mưa (chế độ khử) nước
ngầm mang Fe(OH)2 đến làm ướt cát thạch anh. Mùa khô
(chế độ oxy hóa) Fe(OH)2 + O2 = Fe2O3.nH2O sản phẩm
này bao gồm limonit, gơtit ở dạng vô định hình bao quanh
tất cả các hạt thạch anh thành lớp vỏ mỏng đủ tạo cho cát
có màu đỏ nhạt hoặc vàng rơm (hình 24a, 24b). Khí hậu
khô nóng đặc thù của khu vực Bình Thuận đã biến limoit,
gơtit màu vàng thành hematit màu đỏ rượu vang:
kiện cần và đủ nên bị dang dở thành vỏ phong hóa loang
lổ.
Quy luật phân bố cát ven biển tỉnh Bình
Thuận
Hiện tại trầm tích cát ở đới ven biển tỉnh Bình Thuận
có tuổi và nguồn gốc khác nhau, được phân bố ở các độ
cao khác nhau, rất khó để nhận biết trật tự địa tầng. Lý do
đơn giản là chuyển động nâng kiến tạo ở khu vực này rất
mạnh mẽ. Các thềm cát của đê cát ven bờ bị nâng cao lên
tới 100m, 80m, 60m, 40m và theo quy luật thềm biển càng
cao càng cổ (hình 19). Trật tự độ cao của các thềm biển bị
phức tạp hóa bởi hoạt động gió hết sức mãnh liệt liên tục
làm biến dạng tầng mặt của đê cát ven bờ và các cồn cát
cổ để tái tạo cồn cát mới phát triển xuyên kỳ từ cổ đến trẻ,
từ thấp đến cao (hình 25). Vì vậy nhiều nơi các cồn cát
không phân biệt được ranh giới địa tầng.
Fe2O3.nH2O (limonit, gơtit)
(hematit)+ nH2O
Fe2O3
Màu loang lổ đỏ - vàng - trắng: Màu này tương tự vỏ
phong hóa sét loang lổ, các rãnh mương xói cắt xẻ ở vách
các cồn cát như ở sân bay Phan Thiết, Suối Tiên và Hòn
Đá Chông. Đây là quá trình phong hóa thấm đọng trên quá
Hình 35: Sơ đồ mô hình thành tạo đê cát ven bờ (m) cồn cát do gió (mv) và đồng bằng lagoon bên trong đới bờ
tỉnh Bình Thuận trong một chu kỳ trầm tích
Hình 24a : Hạt thạch anh có vỏ bọc hematit trong
trầm tích cát đỏ ở Tiến Thành chụp dưới kính
hiển vi điện tử soi nổi (Ảnh:Trần Nghi)
Hình 24b : Hạt thạch anh đượctẩy sạch lớp vỏ hematit
trong trầm tích cát đỏ ở Tiến Thành chụp dưới kính hiển
vi điện tử soi nổi (Ảnh: Trần Nghi)
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
13
Hình 25. Tổng hợp các tham số trầm tích đặc trưng cho cổ địa lý trong Đệ Tứ khu vực đới bờ Nam Trung Bộ.
Màu sắc của cát rất đa dạng gồm 7 màu được chia
thành 5 nhóm: cát màu đỏ rượu vang có nguồn gốc biển,
4. Kết quả và thảo luận
cát vàng nguồn gốc biển - gió, cát màu trắng có nguồn gốc
biển, cát màu loang lổ (đỏ-vàng- trắng) có nguồn gốc biển,
4.1. Kết luận
cát màu xám trắng phân bố ở vùng triều hiện đại nguồn
gốc biển.
Trầm tích cát đới ven biển tỉnh Bình Thuận có 3
nhóm tướng cơ bản: Nhóm tướng cát đa khoáng aluvi tuổi
Q1 , Q12a, Q12b; Nhóm tướng cát thạch anh đê cát ven bờ
1
4.2. Thảo luận
có hàm lượng thạch anh cao (>90%), độ mài tròn và độ
chọn lọc tốt (So = 1,2-1,5; Ro=0,7-1,0); Nhóm tướng cát
biển gió luôn chiếm một hàm lượng bột sét (d<0,063mm)
cao từ 12-20%.
- Với khối lượng cát thạch anh có nguồn gốc biển và
biển - gió khổng lồ như vậy lại được tích tụ trên một diện
tích rộng lớn thành những cao nguyên cát có độ cao lên
đến 150m đã trở thành những vấn đề khó giải thích gợi mở
cho nhiều hướng nghiên cứu tiếp theo: Xác định các sự
kiện minh chứng cho nguồn cát biển khổng lồ?Tại sao lại
tập kết trước đới bờ và biển nông thềm lục địa Bình
Thuận? Các đê cát ven bờ khi được thành tạo có độ cao
bao nhiêu?
Cát ven biển tỉnh Bình Thuận chia làm 5 đơn vị trầm
1
2b
tích tương ứng với 5 chu kỳ trầm tích (Q1 , Q12a, Q1
,
Q13a, Q13b - Q2). Mỗi một chu kỳ trầm tích tương ứng với
một chu kỳ thay đổi mực nước biển toàn cầu trong đó có
một pha biển thoái thấp (LST), một pha biển tiến (TST),
một pha biển thoái cao (HST).
Khối lượng cát thạch anh khổng lồ tạo thành các thềm
cát và cồn cát ven biển tỉnh Bình Thuận có nguồn gốc biển
(m) và biển - gió (mv).
- Tại sao trong tướng cát biển - gió (mv) luôn chứa
một lượng bột, sét 12-20% và thành phần khoáng vật chủ
yếu là: thạch anh, kaolinit, limonit, gơtit. Những bụi sét và
oxit sắt này có nguồn gốc từ đâu?
Cát có tuổi Pleistocen sớm đến hiện tại được xác định
tương đối chính xác bằng tuổi của tectit nguyên dạng và
tuổi nhiệt huỳnh quang thạch anh (TL).
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
14
Việt Nam. Báo cáo hội nghị Địa chất quốc tế
11/1989 - Hà Nội.
Tài liệu tham khảo
[1] Lê Đức An, 1978. Những phát hiện mới về tectit
và ý nghĩa của chúng trong việc nghiên cứu địa
chất-địa mạo lãnh thổ phía Nam Việt Nam.
[2] Lê Đức An, 1990. Đặc điểm địa mạo và tân kiến
tạo vùng Thuận Hải. Thông tin khoa học kỹ thuất
địa chất, số 1-2, tr 5-25.
[3] Lê Đức An, 1999. Bàn về quá trình tạo màu của
cát đỏ Phan Thiết.Tạp chí địa chất, A/250:36-40,
Hà Nội.
[9] Trần Nghi, Nguyễn Biểu, 1995. Những suy nghĩ
về mối quan hệ giữa địa chất Đệ tứ phần đất liền
và thềm lục địa Việt Nam. Các công trình nghiên
cứu Địa chất và Địa vật lý biển, III: 91-94. Nxb
KH&KT. Hà Nội.
[10] Trần Nghi, 1996. Tiến hóa các thành hệ ven biển
miền Trung trong mối tương tác với sự dao động
mực nước biển trong Đệ tứ. Các công trình nghiên
cứu địa chất và địa vật lý biển. Tập II, Hà Nội.
[11] Trần Nghi, Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Văn Thuận,
Vũ Văn Vĩnh, Ma Kông Cọ, Trịnh Nguyên Tính,
1998.Môi trường và cơ chế thành tạo cát đỏ Phan
Thiết. Tạp chí địa chất, A/245 : 10-20, Hà Nội.
[4] Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Văn Thuận, Nguyễn
Trọng Tấn, Vũ Văn Hà, Lê Đức Lương, Phan
Đông Pha, 2010. Địa tầng Kainozoi tại các đồng
bằng ven biển Khu vực Ninh Thuận - Bình Thuận.
Tạp chí khoa học về trái đất, 32(1), 1-7, Hà Nội.
[5] Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Văn Thuận, Mai Thanh
Tân, Vũ Văn Hà, Nguyễn Trọng Tấn, Nguyễn Thị
Linh Giang, 2007. Liên hệ địa tầng Kainozoi tại
các đồng bằng ven biển Trung Trung Bộ Việt
Nam. Tạp chí các khoa học về Trái Đất, 12-2007,
tr289-295.
[6] Uông Đình Khanh, 2002. Đặc địa mạo vùng đồi
và đồng bằng ven biển Ninh Thuận - Bình Thuận.
Luận án tiến sĩ, Thư Viện Quốc Gia Việt Nam.
[7] Nguyễn Quang Lộc, 2012.Nghiên cứu địa tầng và
trầm tích của cát đỏ khu vực Phan Thiết và đánh
giá tiềm năng khoáng sản liên quan, Luận văn
Thạc sĩ ngành Địa chất, Thư viện Đại học Quốc
gia Hà Nội.
[12] Trần Nghi, Nguyễn Địch Dỹ, Đinh Xuân Thành,
Ngô Quang Toàn, 2013. Địa tầng trầm tích Đệ tứ
thềm lục địa Việt Nam tiếp cận từ địa tầng phân
tập. Tuyển tập báo cáo khoa học Hội nghị khoa
học địa chất biển toàn quốc lần thứ 2. Nxb.
KHTN&CN, Hà Nội. Tr. 431-443.
[13] Hoàng Phương (chủ biên), 1997. Báo cáo kết quả
đo vẽ bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản
nhóm tờ Phan Thiết tỷ lệ 1/50.000.Lưu trữ địa
chất, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam,
Hà Nội.
[14] Colin V. Murray-Wallace, Brian G.Jones, Tran
Nghi, David M.Price, Vu Van Vinh, Trinh
Nguyen Tinh, Gerald C.Nanson, 2002.
Thermoluminescence ager for a reworked coastal
barrier, southeastern Vietnam:
report. Journal of Asian Earth Sciences 20 (2002)
535 – 548.
a
preliminary
[8] Trần Nghi và nnk., 1989. Đặc điểm các chu kỳ
trầm tích và lịch sử phát triển Địa chất Đệ tứ ở
N.V. Tuấn và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 1-3
15
Provenance, Characteristics and Paleogeographic Conditions
of the Quaternary Sandy Formations in Coastal Area
of Binh Thuan Province
Nguyễn Văn Tuấn1, Trần Nghi2, Trần Tân Văn1, Nguyễn Xuân Khiển3,
Nguyễn Thị Tuyến2, Trần Thị Thanh Nhàn2
1Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản
2Trường Đại học Khoa học Tự Nhiên, ĐHQGHN, 334 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam
3Tổng hội Địa chất Việt Nam
Abstract: Coastal sandy formations of Binh Thuan Province were subdivided into 4 sedimentary - geomorphological
units corresonding into 4 geological structural units: delta plain – lagoon; sand dunes and ridges; tidal flat and shallow marine
sand. The oldest sand formations are distributed in the higher elevation, demonstrating that this formation has been uplifted
by tectonic movement in coastal zone of Binh Thuan during the Quaternary Period. Study of material composition,
sedimentary environment and absolute age (TL and tectite) of the coastal sandy sediment in Binh Thuan allowed us to divide
1
2a
the sandy formations within the study area into 5 sedimentary units, which corresspond to 5 sedimentary cycles (Q1 , Q1
,
3b
Q12b, Q13a, Q1 – Q2). Each sedimentary cycle corressponds to a specific global sea level change cycle, including lowstand
systems tract (LST), transgressive systems tract (TST), and highstand systems tract (HST). The yellow and reddish of sands
are secondary colors formed in dry and arid weather conditions associated with the ground-water lifting and lowering
processes in period of osmosis of iron oxide and quartz grains.
Keywords: Red sand, coastal sand, sea level change, age of sand, sorting (So), rounding (Ro), Binh Thuan Province,
Phan Thiet.
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm trầm tích, nguồn gốc và điều kiện cổ địa lý thành tạo các thể trầm tích cát Đệ tứ khu vực đới bờ tỉnh Bình Thuận", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
dac_diem_tram_tich_nguon_goc_va_dieu_kien_co_dia_ly_thanh_ta.pdf

