Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ dưỡng hộ đến ứng xử của cọc rỗng bê tông Geopolymer

NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ DƢỠNG HỘ ĐẾN ỨNG XỬ  
CỦA CỌC RỖNG BÊ TÔNG GEOPOLYMER  
STUDY ON THE IMPACT OF THE TEMPERATURE TEMPERATURE TO THE  
CASE OF GEOPOLYMER FORESTS  
Pham Duc Thien1, Nguyen Thanh Tan  
1Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM  
TÓM TẮT  
Bê tông geoplymer là vật liệu xanh được nghiên cứu để thay thế bê tông xi măng. Bê tông  
geopolymer có nhiều ứng dụng trong kết cấu các công trình xây dựng cần được nghiên cứu và  
phân tích đánh giá chính xác trong các mô hình tính toán. Trong bài báo này kết quả thí nghiệm  
cọc rỗng bê tông geopolymer ở 06 mức nhiệt độ dưỡng hộ khác nhau 40ºC, 60ºC, 80ºC, 100ºC,  
110ºC, 120ºC trong 12 giờ được so sánh với kết quả tính toán lý thuyết theo TCVN 5574:2012,  
TCVN 7888:2014. Bê tông geopolymer được dưỡng hộ trong điều kiện dưỡng hộ nhiệt ẩm. Kết  
quả thí nghiệm cho thấy cọc rỗng bê tông geopolymer và cọc rỗng bê tông xi măng cùng cấp độ  
bền B45 cho cường độ chịu uốn và chống nứt tương đương nhau.  
Từ khóa: ứng xử chịu uốn, bê tông geopolymer, cọc rỗng geopolymer, dưỡng hộ nhiệt ẩm.  
ABSTRACT  
Geoplymer concrete is a green material studied to replace cement concrete. Geopolymer  
concrete has many applications in the structure of construction work should be studied and  
analyzed accurately in the calculation model. In this article the results of the geopolymer  
concrete pile experiment at six different curing temperatures of 40°C, 60°C, 80°C, 100°C, 110°C,  
120°C for 12 hours were compared with those of theoretical calculation according to TCVN  
5574: 2012 , TCVN 7888: 2014. Geopolymer concrete is cured in warm moist conditions.  
Experimental results show that concrete piles geopolymer concrete and cement piles at the same  
level of durability B45 for equal strength bending and anti-cracking.  
Keywords: flexural behavior, geopolymer concrete, hollow geopolymer piles, moist heat  
có khả năng đóng rắn nhanh và cho cường độ  
ban đầu rất tốt với tên gọi là xi măng  
polymer. Công nghệ này nhanh chóng phát  
triển trên toàn thế giới và đang có ưu thế hơn  
xi măng protland do có ưu điểm về nguyên  
liệu sản xuất và phương pháp sản xuất thân  
thiện với môi trường [1-10]  
1. GIỚI THIỆU  
Gepolymer là sản phẩm của quá trình  
phản ứng giữa vật liệu có nguồn gốc silic và  
nhôm với dung dịch kiềm có trong tro bay  
thảy ra từ việc đốt than của những nhà máy  
công nghiệp. Hiện nay Geopolymer đã và  
đang được nghiên cứu rộng rãi và cho thấy  
khả năng là vật liệu xanh thay thế bê tông xi  
măng trong một số ứng dụng do bê tông  
geopolymer vừa có các tính chất kỹ thuật tốt,  
đồng thời giảm khả năng gây hiệu ứng nhà  
kính khi thay thế xi măng pooclăng.  
Nghiên cứu trong nước:  
TS.Phan Đức Hùng [11]: Kiểm chứng  
ứng xử chịu uốn của dầm bê tông  
geopolymer cốt thép sử dụng tro bay. Bài báo  
trình bày so sánh kết quả thực nghiệm với  
kết quả tính toán và mô phỏng trên các dầm  
bê tông cốt thép sử dụng bê tông geopolymer  
với tro bay là vật liệu nền. Kết quả thí  
nghiệm đã phản ánh đúng thực tế trong việc  
thiết kế cấp phối. Căn cứ các yếu tố ảnh  
Nhà hóa học người Pháp Joseph  
Davidovits đã nghiên cứu và chế tạo thành  
công một loại xi măng mới bằng cách kết  
hợp nguyên liệu sét và dung dịch kiềm hoạt  
tính cao, tạo thành chất kết dính vô cơ mới  
1
hưởng đến cường độ bê tông để thí nghiệm  
và chọn cấp phối phối ưu trước khi tiến hành  
đúc cấu kiện. Khi cấu kiện chịu tải trọng đạt  
từ 80% trở lên so với tải trọng phá hoại,  
chuyển vị dầm tăng nhanh, nguyên nhân do  
độ cứng của dầm giảm mạnh do các vết nứt  
phát triển nhanh. So với kết quả thí nghiệm  
thì kết quả tính toán lý thuyết thiên về an  
toàn và có thể sử dụng phần mềm mô phỏng  
để dự đoán ứng xử của cấu kiện thật.  
Xi măng Đá 1x2  
Cát  
Nước  
Ký hiệu  
( kg )  
( kg )  
( kg )  
( kg )  
OPC  
937  
1102  
179  
240  
Bê tông mẫu trụ OPC và GPC bằng nhau  
cường độ với độ bền là B45.  
2.1.2 Cƣờng độ mẫu nén OPC và GPC  
Mẫu bê tông lăng trụ kích thước 150x300mm  
OPC và GPC sau khi dưỡng hộ theo đúng  
quy trình và thí nghiệm khả năng chịu nén,  
cường độ chịu nén bê tông được quy đổi về  
mẫu chuẩn lập phương theo tiêu chuẩn như  
bảng 3  
- TS. Lê Anh Tuấn, TS.Nguyễn Tấn  
Khoa,TS.Phan Đức Hùng [12]: Nghiên cứu  
phân tích ứng xử của dầm bê tông  
Geopolymer bằng phương pháp phần tử hữu  
hạn. Sau khi nghiên và thí nghiệm rút ra các  
kết luận như sau: Sự sử dụng phương pháp  
phần tử hữu hạn mô phỏng quá trình làm  
việc của dầm bê tông geopolymer cốt thép  
cho kết quả gần tương đồng với thực nghiệm.  
Mối quan hệ giữa các tính chất cơ học của bê  
tông geopolymer khi sử dụng mô phỏng số là  
tương đối phù hợp với mô hình bám dính,  
điều kiện dính bám này cũng tương tự khi sử  
dụng cho bê tông xi măng. Các ứng xử cơ  
học của bê tông geopolymer cũng có tính  
chất tương đồng như bê tông xi măng.  
Bảng 3: Tổng hợp cường độ chịu nén của  
các cấp phối bê tông OPC và GPC  
Cƣờng  
độ chịu  
nén  
Cấp phối AL/FA  
SS/SH  
(MPa)  
OPC  
58,5  
GPC1  
0,6  
2
58,20  
2. NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG  
PHÁP THÍ NGHIỆM  
Nguyên vật liệu sử dụng đúc cấu kiện  
cọc rỗng bê tông geopolymer là tro bay, cát,  
đá và dung dịch hoạt hóa alkaline. Dung dịch  
hoạt hóa là sự kết hợp giữa sodium  
hydroxide và sodium silicate.  
2.2 Cọc rỗng bê tông geopolymer  
Cấu tạo  
Chọn cọc rỗng có đường kính ngoài  
300mm, đường kính trong 140mm, chiều dài  
1,5m, cốt thép dọc 67.1, thép đai 3, được  
bố trí như Hình 1,2.  
Chọn cấp phối bê tông geopolymer có  
cường độ cao nhất mang ra đúc cấu kiện cọc  
rỗng bê tông geopolymer.  
2.1 Cấp phối  
2.1.1 Cấp phối mẫu GPC và OPC  
Bảng 1: Cấp phối đúc cấu kiện cọc rỗng GPC  
(Lượng vật liệu trong 1m3 bê tông.)  
Tro  
bay  
(kg)  
412,0  
Na2Si NaOH  
Ký  
hiệu  
Đá  
(kg)  
Cát  
(kg)  
O3  
16M  
(kg)  
82,4  
(kg)  
GPC1 1076  
593  
164,8  
Hình 1: Chi tiết mẫu cọc ( Khuôn mẫu và  
lồng thép )  
Bảng 2: Cấp phối đúc cấu kiện cọc rỗng OPC  
(Lượng vật liệu trong 1m3 bê tông.)  
2
Hình 3. Sơ đồ thí nghiệm độ bền uốn nứt  
Biểu thị kết quả:  
6 Þ 7.1  
Þ3a150  
1
2
gmL2 3PL  
M   
40  
20  
trong đó: M: Mômen uốn nứt thực tế,  
kN.m;  
Hình 2: Chi tiết cấu tạo cốt thép dọc và cốt  
thép đai cọc rỗng OPC và GPC  
P: Tải trọng uốn gây nứt, kN;  
g: Gia tốc trọng trường, 9,81 m/s2;  
m: Khối lượng cọc, tấn;  
Lý thuyết tính toán  
- Cường độ chịu uốn của cọc rỗng:  
theo mục 6.2.2.9 và 6.2.2.12 của TCVN 5574:  
2012  
m 2,5t(D t)  
, tấn;  
      
    
    (               )  
           
L: Chiều dài cọc, m;  
 
 
 
 
      
    
          
D: Đường kính ngoài thân cọc, m;  
 
- Mô men kháng nứt: theo mục 7.1.2.4  
của TCVN 5574:2012  
    
- Mô men kháng gãy: theo TCVN  
7888:2014 [5]  
t: Chiều dày thành cọc, m.  
 
    
 
          
Độ bền uốn gãy thân cọc rỗng  
Phương pháp thí nghiệm tương tự như  
xác định độ bền uốn nứt thân cọc nhưng khi  
gia tải không dừng lại khi xuất hiện vết nứt  
mà vẫn tiếp tục gia tải đến khi cọc bị gãy và  
ghi lại tải trọng lớn nhất.  
 
   
       
    
Qui trình sản xuất:  
- Bước 1: chuẩn bị nguyên vật liệu,  
khuôn cọc.  
- Bước 2: nhào trộn và đúc cấu kiện.  
- Bước 3: dưỡng hộ nhiệt 40ºC, 60ºC,  
80ºC, 100ºC, 110ºC, 120ºC trong 12 giờ, đặt  
mẫu trong điều kiện tự nhiên 20 ngày, sau đó  
đem đi nén.  
- Bước 4: thí nghiệm độ bền uốn nứt  
thân cọc.  
- Bước 5: thí nghiệm độ bền uốn gãy  
thân cọc.  
Khả năng chịu tải theo lý thuyết  
Bê tông B45: Rb = 25 MPa; Rbt,ser = 2,2  
MPa.  
Thép: Rs = 1300 MPa; Rsc = 500 MPa  
Kết quả tính toán theo lý thuyết như bảng 5:  
Bảng 4. Mô men tính toán  
Mtt (kNm)  
Mcrc (kNm)  
20,2  
Mbr (kNm)  
30,3  
- Bước 6: Kiểm tra độ võng khi uốn  
nứt thân cọc.  
2.3 Phƣơng pháp thí nghiệm  
* Ghi chú: Mtt: tính toán theo TTGH I  
Mtt: tính toán theo TTGH II  
Độ bền uốn nứt thân cọc rỗng  
Tiến hành gia tải đến khi cọc xuất hiện  
vết nứt có chiều rộng bằng hoặc lớn hơn 0,1  
mm. Ghi lại tải trọng gây nứt thực tế. Sơ đồ  
thí nghiệm như hình 2  
3. KẾT QUẢ  
3.1 Khả năng bền nứt thân cọc  
Mô men uốn nứt thực nghiệm cọc OPC  
Mtn = 20,82 kNm phù hợp với lý thuyết  
crc  
tính toán Mttcrc = 20,2 kNm. Chênh lệch nhau  
3,07%.  
3
3.2 Khả năng bền gãy thân cọc  
Mô men uốn gãy thực nghiệm cọc OPC  
Mtn = 36,96 kNm chưa phù hợp với lý  
br  
thuyết tính toán Mtt = 30,30 kNm, sai lệch  
br  
21,98 %..  
Hình 4. Ảnh hưởng nhiệt độ dưỡng hộ  
đến tải trọng gây nứt.  
Mô men uốn nứt thực nghiệm cọc GPC  
dưỡng hộ nhiệt 100ºC trong 12 giờ Mtn  
20,88 kNm phù hợp với mô men uốn nứt  
thực nghiệm cọc OPC là Mtncrc = 20,82 kNm.  
Chênh lệch nhau 2,9%.  
=
crc  
Hình 6. Ảnh hưởng nhiệt độ dưỡng hộ  
đến tải trọng uốn gãy thân cọc.  
Mô men uốn gãy thực nghiệm cọc GPC  
dưỡng hộ nhiệt 100ºC trong 12 giờ Mtn  
=
br  
33,66 kNm phù hợp với mô men uốn gãy  
thực nghiệm cọc OPC là Mtnbr = 36,96 kNm,  
sai lệch 9,8 %.  
Hình 5. Ảnh hưởng nhiệt độ dưỡng hộ  
đến mô men uốn nứt.  
Khi cọc dưỡng hộ nhiệt thấp hơn  
1000C, cường độ vật liệu chưa đạt tương  
đương cấp độ bền B45 (như tính toán lý  
thuyết), cho nên mô men kháng uốn và  
kháng nứt thực nghiệm cho giá trị nhỏ hơn  
tính toán theo lý thuyết.  
Hình 7. Ảnh hưởng nhiệt độ dưỡng hộ  
đến mô men uốn gãy thân cọc.  
Tải trọng uốn gãy cọc rỗng OPC cao hơn  
cọc rỗng GPC, cho thấy khả năng dính bám  
cốt liệu: cát, xi măng, thép của cọc rỗng  
GPC kém hơn cọc rỗng OPC. Nhưng vấn đề  
này có thể cải thiện khi điều chỉnh tỉ lệ dung  
Khi tăng nhiệt độ dưỡng hộ từ 40ºC  
đến 100ºC, khả năng chịu uốn nứt tăng  
khoảng 74%. Khi tiếp tục tăng nhiệt độ  
dưỡng hộ từ 100ºC đến 120ºC khả năng  
chịu uốn nứt tăng không đáng kể, do vậy  
trong giai đoạn này tăng thêm nhiệt hoặc  
kéo dài thời gian dưỡng hộ thì hiệu quả  
kinh tế sẽ không cao. Trong tương lai có thể  
sử dụng bê tông Geopolymer đúc cọc rỗng  
GPC dưỡng hộ ở nhiệt độ 100ºC, trong thời  
gian 12 giờ cho các cấu kiện bê tông sau  
này.  
dịch  
alkaline/tro  
bay  
và  
tỉ  
lệ  
Na2SiO3/NaOH.  
Cũng tương tự mô men uốn nứt, khi tăng  
nhiệt độ dưỡng hộ từ 40ºC đến 100ºC, mô  
men uốn gãy tăng khoảng 69%. Nhiệt độ  
dưỡng hộ từ 100ºC đến 120ºC khả năng chịu  
uốn gãy tăng không đáng kể, do vậy trong  
giai đoạn này tăng thêm nhiệt hoặc kéo dài  
thời gian dưỡng hộ thì hiệu quả kinh tế sẽ  
không cao. Trong tương lai có thể sử dụng bê  
4
tông Geopolymer đúc cọc rỗng GPC dưỡng  
hộ ở nhiệt độ 100ºC, trong thời gian 12 giờ  
cho các cấu kiện bê tông sau này.  
Hình 9: Biểu đồ độ võng khi uốn nứt của cọc  
rỗng OPC và GPC  
Độ võng khi uốn nứt thực tế của cọc rỗng  
OPC và cọc rỗng GPC chênh lệch nhau đối  
với cọc rỗng OPC dưỡng hộ nhiệt ở 120ºC và  
cọc rỗng OPC ở nhiệt độ phòng 32ºC đến 35  
ºC trong vòng 28 ngày dưỡng hộ. Cụ thể:  
- Cọc GPC võng 11,96 mm  
- Cọc OPC võng 11,55 mm  
3.3 Mô men uốn nứt – gãy từ thực  
nghiệm  
3.5 Tải trọng uốn nứt và độ võng khi uốn  
nứt  
Hình 8: Mô men uốn nứt – gãy  
Hình 10: Biểu đồ tải trọng và độ võng uốn  
nứt  
Tóm lại: Nhiệt độ dưỡng hộ từ 40ºC đến  
nhiệt độ 100ºC, cường độ uốn nứt tăng  
khoảng 77%, cường độ uốn gãy tăng khoảng  
70%, mô men uốn nứt tăng khoảng 74%, mô  
men uốn gãy tăng khoảng 69%. Nhiệt độ  
dưỡng hộ từ 100ºC đến 120ºC cường độ tăng  
không đáng kể, do vậy trong giai đoạn này  
tăng thêm nhiệt hoặc kéo dài thời gian dưỡng  
hộ thì hiệu quả kinh tế sẽ không cao. Trong  
tương lai có thể sử dụng bê tông Geopolymer  
đúc cọc rỗng GPC dưỡng hộ ở nhiệt độ  
100ºC, trong thời gian 10 giờ cho các cấu  
kiện bê tông sau này.  
Độ võng tăng theo tải trọng uốn nứt, cho  
thấy cấu trúc cơ lý của cọc rỗng GPC ở nhiệt  
độ dưỡng hộ thấp từ 40⁰C đến 80⁰C không  
bền vững. Lúc đó độ võng chưa cao thì cọc  
xảy ra hiện tượng răng nứt cọc ( vết nứt δ  
=1mm). Khi dưỡng hộ ở nhiệt độ từ 100⁰C  
đến 120⁰C cọc có độ bền cao và độ võng tăng  
lên khi xuất hiện vết nứt.  
3.6 Mô men uốn nứt và độ võng khi uốn  
nứt  
3.4 Độ võng khi uốn nứt cọc rỗng OPC  
và GPC  
5
cấp độ bền chịu nén, trong khi mô men uốn  
gãy của cọc rỗng OPC lớn hơn của cọc rỗng  
GPC này khoảng 9,7%.  
- Từ kết quả thực nghiệm, xác định lại được  
quan hệ giữa mô men uốn nứt và mô men  
uốn gãy của cọc rỗng GPC cho từng trường  
hợp nhiệt độ dưỡng hộ.  
- Nhiệt độ dưỡng hộ từ 40ºC đến 80ºC trong  
12 giờ không đủ cung cấp nhiệt lượng để vật  
liệu được polymer hóa hoàn toàn do đó  
cường độ và khả năng chịu uốn của cọc  
không cao và chưa đạt giá trị tối ưu. Nhiệt độ  
dưỡng hộ lớn hơn 100ºC không có lợi về mặt  
kinh tế.  
Hình 11: Biểu đồ mô men và độ võng uốn  
nứt  
Tải trọng và mô men tăng tỷ lệ thuận khi  
dưỡng hộ nhiệt độ tăng dần, do đó vết nứt  
xuất hiện thì độ võng tăng theo. Nhiệt độ  
dưỡng hộ 40ºC thì độ võng 1,22 mm, mô  
men uốn nứt 5,39 kN.m, khi nhiệt độ dưỡng  
hộ tăng lên 120ºC thì độ võng tăng 90 %, mô  
men tăng 75%.  
Nghiên cứu trên tạo tiền đề cho việc ứng  
dụng cọc rỗng GPC rộng rải trong các công  
trình xây dựng thấp tầng, cao tầng, nhằm đưa  
cọc rỗng bê tông Geopolymer ứng dụng rộng  
rãi trong ngành xây dựng. Sử dụng nguyên  
liệu có sẳn thải ra từ các nhà máy nhiệt điện,  
với giá thành thấp, giảm thiểu những tác hại  
do ô nhiễm môi trường gây ra.  
4. KẾT LUẬN:  
Bài báo trình bày ảnh hưởng của nhiệt độ  
dưỡng hộ đến ứng xử của cọc rỗng bê tông  
Geopolymer. Trong đó, cọc rỗng bê tông  
Geopolymer được chế tạo và dưỡng hộ ở 6  
mức nhiệt độ từ 40ºC đến 120ºC. Cọc bê  
tông xi băng có cùng cấp độ bền cũng được  
sản xuất và thí nghiệm làm cơ sở so sánh.  
Một số kết luận được rút ra như sau:  
Thực tế cho thấy, việc sử dụng bê tông  
gepolymer để sản xuất các cấu kiện bê tông  
đúc sẵn như dầm, cống, tấm panel, tấm lát  
vĩa hè… là rất phù hợp, vẫn đãm bảo chất  
lượng,làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường,  
tiết kiện kinh phí, cần được đầu tư nghiên  
cứu và mở rộng các ứng dụng. Cần tiếp tục  
nghiên cứu đặc tính của cấu kiện GPC cũng  
như tìm ra những chỉ dẫn tính toán cụ thể về  
loại cọc này để có thể thương mại hóa sản  
phẩm ở quy mô lớn và phát triển trên thị  
trường hiện nay cũng như trong tương lai./.  
- Mẫu bê tông Geopolymer dưỡng hộ nhiệt ở  
100ºC trong vòng 12 giờ cho cường độ chịu  
nén tương đương với mẫu bê tông xi măng  
và cả 2 đạt cấp độ bền B45. Cả 2 cấp phối  
này được dùng để sản xuất cọc bê tông rỗng.  
- Cọc rỗng GPC dưỡng hộ nhiệt ở 100ºC cho  
kết quả mô men kháng uốn, mô men kháng  
nứt tương đồng với cọc rỗng OPC có cùng  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] J. Davidovits (1991), Geopolymers - Inorganic polymeric new materials, Journal of  
Thermal Analysis and Calorimetry, vol. 37, pp. 1633 - 1656.  
[2] J. Davidovits (1994), Properties of Geopolymer cement, Proceding first International  
conference on Akaline cements and concretes, pp. 131-149.  
[3] J. Davidovits (2011), Geopolymer Chemistry and Applications, Saint-Quentin, France,  
Geopolymer Institute.  
[4] ThS. Tống Tôn Kiên, Phạm Thị Vinh Lanh, TS. Lê Trung Thành: Bê tông geopolymer –  
những thành tựu, tính chất và ứng dụng.  
[5] Roy Della M. (1999) Alkali-activated cements. Opportunities and challenges. Cement  
6
Concrete Research 29:249-254.  
[6]  
Djwantoro Hardjito, S.E.W., Dody M.J.Sumajouw and B.VRanagn, Factors  
influencing the compressive strength of fly ash based Geopolymer concrete. Civile Engineering  
Dimension, 2004.  
[7]  
Suresh.G.Patil and Manojkumar, Factors influencing compressive strength of  
Geopolymer concrete. IJRET : Inetrnational Journal of Research in Engineering and  
Technology, 2013.  
[8]  
Nuruddin, M.F., et al., Compressive strength and interfacial transition zone  
characteristic of Geopolymer concrete with different cast In-Situ curing conditions.  
International Scholarly and Scientific Research&Innovation, 2011.  
[9]  
Bakri, A.M.M.A., H.Kamarudin, and M.Binhussain, Microstructure study in  
optimization of high strength fly ash based geopolymer. Advanced Material Research, 2012:  
p. 2173- 2180.  
[10]  
Zejak, R., I. Nikolic, and D. Blecic, Mechanical and microstruture properties of the fly  
ash based Geopolymer paste and mortar. Materials and technology, 2012: p. 535-540.  
[11] TS.Phan Đức Hùng : Kiểm chứng ứng xử chịu uôn của dầm bê tông geopolymer cốt thép  
sử dụng tro bay.  
[12] TS. Phan Đức Hùng, Nguyễn Tấn Khoa và TS.Lê Anh Tuấn: Nghiên cứu phân tích ứng  
xử của dầm bê tông geopolymer bằng phương pháp phần tử hữu hạn.  
Tác giả chịu trách nhiệm bài viết:  
Họ tên: Nguyễn Thanh Tân  
Đơn vị: Ban Quản lý Dự án Đầu tư Xây dựng và Khu vực Phát triển Đô thị An Giang  
Điện thoại: 0913124953  
Xác nhận của Giáo viên hƣớng dẫn  
TS. Phạm Đức Thiện  
7
BÀI BÁO KHOA HỌC  
THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ  
Bài báo khoa học của học viên  
có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn  
Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ  
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.  
Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý  
của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.  
ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN!  
Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2018-2019 của Thư viện Trường Đại học  
Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.  
pdf 8 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 15760 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ dưỡng hộ đến ứng xử của cọc rỗng bê tông Geopolymer", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_anh_huong_cua_nhiet_do_duong_ho_den_ung_xu_cua_co.pdf