Nghiên cứu tính chất cơ học của gạch không nung sử dụng đá mi và chất kết dính Geopolymer

NGHIÊN CỨU TÍNH CHẤT CƠ HỌC CỦA GẠCH KHÔNG NUNG SỬ  
DỤNG ĐÁ MI VÀ CHẤT KẾT DÍNH GEOPOLYMER  
STUDY ON THE MECHANICAL PROPERTÍE OF UNFIRED BRICK  
MADE FROM CRUSHED STONE AND GEOPOLYMER ADHESIVE  
KS. Đinh Thành Nhân1, PGS.TS Phan Đức Hùng2  
1Học viên cao học, Khoa Xây dựng, Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM  
2Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM  
Tóm tắt: Bài báo sử dụng các nguồn phế thải trong ngành xây dựng và công nghiệp (như tro  
bay, đá mi thay cát) nhằm giảm gánh nặng cho môi trường để chế tạo ra sản phẩm gạch không  
nung. Kết quả nghiên cứu cho thấy cường độ chịu nén của mẫu cấp phối sẽ ảnh hưởng khi thay  
đổi tỷ lệ cốt liệu đá mi thay cát, thay đổi tỷ lệ dung dịch Sodium Silicate / Sodium Hydroxyde,  
thay đổi thời gian dưỡng hộ nhiệt. Cụ thể khi sử dụng tỷ lệ dung dịch hoạt hóa kiềm / tro bay là  
0,6, tỷ lệ cốt liệu 75% đá mi – 25% cát, tỷ lệ dung dịch Sodium Silicate - Sodium Hydroxyde (2 :  
1) và được dưỡng hộ nhiệt ở nhiệt độ 100oC trong 10 giờ liền sẽ cho ra mẫu cấp phối có cường  
độ chịu nén tối ưu nhất lên đến 24,20 MPa và cường độ chịu kéo uốn đạt 7,66 MPa. Sản phẩm  
gạch không nung được chế tạo từ thành phần cấp phối tốt nhất nêu trên đạt cường độ chịu nén là  
24,06 MPa và cường độ chịu kéo uốn đạt 7,51 MPa.  
Từ khóa: Geopolymer, Gạch không nung Geopolymer, Gạch không nung đá mi.  
Abstract: This newspaper uses on recycle wasted building materials (for example: Fly ashes,  
crushed stone (replacing sand), to produce air-dried brick that have high capability against  
compression. This method will reduce environmental pollution in manufacturing air-dried brick.  
Furthermore, experiment results show that the concrete mix’s compressive strength will be  
affected when the portion of alkaline and fly ash is 0.6, together with changes in crushed stone,  
Sodium Silicate and Sodium Hydroxide portion and the duration of steam curing. Specifically,  
when using 0.6 portion between alkaline and fly ash, ratio of 75% crushed stone and 25% sand,  
between Sodium Silicate and Sodium Hydroxide is 2:1 and being steam cured at 100 Celcius  
degrees in 10 consecutive hours will create a concrete mix with compressive strength at 24.20  
MPa and bending resistance at 7.66 MPa. The air-dried brick created from the mention recipe  
can reach the compressive strength at 24.06 MPa and bending resistance at 7.51 MPa.  
Key words: Geopolymer, Geopolymer adobe brick, Crushed stone adobe brick.  
là do việc khai thác cát trái phép, tràn lan của  
một số đơn vị khai thác cát, nên việc tìm  
nguồn vật liệu thay thế cát trong xây dựng  
đang là vấn đề cấp bách, mà cụ thể nhất là sử  
dụng đá mi để thay thế cát trong thành phần  
chế tạo gạch không nung là đề tài cần được  
nghiên cứu. Trong bài báo này tập trung  
nghiên cứu tính chất cơ học của cấp phối và  
gạch không nung được chế tạo từ đá mi thay  
cát với chất kết dính Geopolymer.  
1. GIỚI THIỆU CHUNG  
Geopolymer là sản phẩm của quá trình  
phản ứng giữa vật liệu có nguồn gốc silic và  
nhôm với dung dịch kiềm. Vật liệu này có thể  
thay thế xi măng trong bê tông cũng như xi  
măng trong gạch không nung. Hiện nay  
Geopolymer đã và đang được nghiên cứu  
rộng rãi và cho thấy khả năng là vật liệu xanh  
hơn thay thế xi măng trong một số ứng dụng,  
do geopolymer vừa có các tính chất kỹ thuật  
tốt, đồng thời giảm khả năng gây hiệu ứng  
nhà kính khi thay thế xi măng pooclăng.  
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT  
2.1 Chất kết dính Geopolymer  
Mặt khác trong thời gian gần đây trên cả  
nước đã xảy ra rất nhiều vụ sạt lở bờ sông gây  
hậu quả nghiêm trọng, nguyên nhân một phần  
Ngành Công nghệ vật liệu Geopolymer ra  
đời từ giữa thế kỷ trước, nhưng được quan  
tâm và nghiên cứu nhiều hơn từ những năm  
1
1970 đến nay. Năm 1972 Viện Geopolymer  
được thành lập tại Pháp. Năm 1979,  
Davidovits [1] đã nghiên cứu về chất kết dính  
Mêta cao lanh sử dụng kiềm kích hoạt, sau  
này gọi là Geopolymer và được nhận bằng  
sang chế. Cuối những năm 1990, Van  
Jaarsveld và cộng sự [2] bắt đầu nghiên cứu  
hiệu quả cố định của geopolymer sản xuất từ  
tro bay.  
phụ được tận dụng từ việc sàn lọc nguồn đá  
vụn trong quá trình nghiền các loại đá có kích  
thước lớn.  
3. NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG  
PHÁP THÍ NGHIỆM  
3.1 Nguyên vật liệu  
Nguyên vật liệu bao gồm: tro bay, dung  
dịch NaOH, dung dịch Na2SiO3, cốt liệu đá  
mi thay cát, nước.  
Thành phần chất kết dính Geopolymer sử  
dụng trong nghiên cứu này gồm tro bay và  
dung dịch hoạt hóa alkaline.  
3.1.1 Tro bay  
Tro bay được lấy từ nhà máy nhiệt điện  
đốt than Formosa, tro bay thu được có chất  
lượng khá tốt, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn  
theo ASTM C618. Thành phần hóa học được  
trình bày trong bảng 1.  
2.2 Thành phần cốt liệu  
Cốt liệu sử dụng trong đề tài này là cát  
sông và đá mi. Cát sông là loại cát được khai  
thác từ sông, kênh, rạch. Đá mi là sản phẩm  
Bảng 1. Thành phần hóa học của tro bay  
Thành phần  
hoá học  
K2O +  
SiO2  
51.7  
Al2O3 Fe2O3  
31.9 3.48  
CaO  
1.21  
MgO SO3  
0.81 0.25  
MKN(*)  
9.63  
Na2O  
1.02  
% khối lượng  
xét sự ảnh hưởng hóa lý của đá mi, cát, nên đá  
mi, cát chỉ được rửa sạch và sấy khô trước khi  
được sử dụng trong thí nghiệm. Đá mi có kích  
thước từ 5 - 10mm. Cát có môdul độ lớn là  
3.1.2 Dung dịch NaOH (Sodium hydroxide)  
Dung dịch NaOH được sử dụng chủ yếu  
để làm chất hoạt hóa kiềm pha với dung dịch  
thủy tinh lỏng Na2SiO3. Hỗn hợp này đóng  
một vai trò cực kì quan trọng trong phản ứng  
kiềm hóa và có tác dụng làm tan rã các thành  
phần khoáng của hạt tro bay.  
M =2,104.  
dl  
3.2 Điều kiện dƣỡng hộ nhiệt  
Trong đề tài này các mẫu cấp phối và  
gạch không nung được dưỡng hộ ở nhiệt độ  
100oC trong thời gian 6 giờ, 8 giờ và 10 giờ.  
3.1.3 Dung dịch thủy tinh lỏng Na2SiO3  
Dung dịch thủy tinh lỏng Na2SiO3 là  
dung dịch có màu trắng đục, có đặc tính sệt,  
sánh, dễ dàng hòa tan trong nước. Dung dịch  
Na2SiO3 đóng một vai trò quan trọng trong  
quá trình phản ứng tổng hợp chất kết dính  
Geopolymer. Tốc độ xảy ra phản ứng sẽ cao  
khi dung dịch kiềm kích hoạt chứa các ion  
silicate hòa tan trong dung dịch.  
3.3 Thành phần cấp phối  
Quá trình tính toán cấp phối phụ thuộc  
vào yêu cầu đặc tính cơ học của sản phẩm.  
Cấp phối sử dụng trong thí nghiệm này được  
tính cho từng tổ mẫu với thành phần tỷ lệ như  
sau:  
- Tỷ lệ cốt liệu đá mi - cát lần lượt là  
100% : 0%; 90% : 10%; 80% : 20%; 75% :  
25%; 70% : 30%; 60% : 40%; 50% : 50%.  
3.1.4 Nƣớc  
Nước dùng phải tuân theo tiêu chuẩn  
TCXDVN 302:2004 “Nước trộn bê tông và  
vữa – Yêu cầu kỹ thuật”.  
- Tỷ lệ dung dịch hoạt hóa kiềm / tro  
bay là 0,6.  
3.1.5 Cốt liệu Đá mi, Cát  
- Tỷ lệ dung dịch sodium silicate (SS) /  
sodium hydroxide (SH) lần lượt là 1,5; 2; 2,5,  
trong đó nồng độ dung dịch sodium  
hydroxide là 14M.  
Đá mi, cát dùng cho nghiên cứu phải thỏa  
mãn các yêu cầu của TCVN 7570:2006 “Cốt  
liệu cho bê tông và vữa - Yêu cầu kỹ thuật”.  
Do hạn chế của nghiên cứu nên không thể xem  
2
- Thời gian dưỡng hộ ở 100oC lần lượt  
là 6 giờ, 8 giờ và 10 giờ.  
Chi tiết thành phần và số lượng mẫu cấp  
phối được trình bày trong bảng 2.  
Bảng 2. Cấp phối dùng cho thí nghiệm  
Tỷ lệ  
đá mi -  
cát  
Ký  
hiệu  
Đá mi  
Cát  
Tro bay  
SS  
SH  
Tỷ lệ  
SS/SH  
(kg/m3)  
(kg/m3) (kg/m3) (kg/m3) (kg/m3)  
100% :  
0%  
100% :  
0%  
100% :  
0%  
90% :  
10%  
90% :  
10%  
90% :  
10%  
80% :  
20%  
80% :  
20%  
80% :  
20%  
75% :  
25%  
75% :  
25%  
75% :  
25%  
70% :  
30%  
70% :  
30%  
70% :  
30%  
60% :  
40%  
TN0 1.600,033 0,000 347,215 124,939 83,293  
TN1 1.600,033 0,000 347,215 132,615 75,780  
TN2 1.600,033 0,000 347,215 138,821 69,410  
TN3 1.439,980 160,052 347,215 124,939 83,293  
TN4 1.439,980 160,052 347,215 132,615 75,780  
TN5 1.439,980 160,052 347,215 138,821 69,410  
TN6 1.280,091 319,941 347,215 124,939 83,293  
TN7 1.280,091 319,941 347,215 132,615 75,780  
TN8 1.280,091 319,941 347,215 138,821 69,410  
TN9 1.200,065 399,967 347,215 124,939 83,293  
TN10 1.200,065 399,967 347,215 132,615 75,780  
TN11 1.200,065 399,967 347,215 138,821 69,410  
TN12 1.120,039 479,993 347,215 124,939 83,293  
TN13 1.120,039 479,993 347,215 132,615 75,780  
TN14 1.120,039 479,993 347,215 138,821 69,410  
TN15 959,987 640,046 347,215 124,939 83,293  
TN16 959,987 640,046 347,215 132,615 75,780  
TN17 959,987 640,046 347,215 138,821 69,410  
TN18 800,098 800,098 347,215 124,939 83,293  
TN19 800,098 800,098 347,215 132,615 75,780  
1,5  
2
2,5  
1,5  
2
2,5  
1,5  
2
2,5  
1,5  
2
2,5  
1,5  
2
2,5  
1,5  
2
60% :  
40%  
60% :  
40%  
50% :  
50%  
50% :  
50%  
2,5  
1,5  
2
50% :  
50%  
TN20 800,098 800,098 347,215 138,821 69,410  
2,5  
mm (để xác định cường độ chịu uốn) và căn  
cứ theo tiêu chuẩn TCVN 6477:2016: Gạch  
bê tông (Concrete brick) nên chọn mẫu gạch  
có kích thước 50 x 100 x 200 mm.  
3.4 Phƣơng pháp tạo mẫu  
Với từng cấp phối mẫu nêu trên, triển  
khai đúc mẫu bê tông bằng hình trụ tròn 100  
x 200 mm, đúc mẫu bê tông 100 x 100 x 400  
3
3.5 Phƣơng pháp thí nghiệm  
Xác định cường độ chịu nén của mẫu  
trụ tròn 100 x 200 mm bằng máy thử nén bê  
tông theo TCVN 3118:1993 “Bê tông nặng –  
Phương pháp xác định cường độ nén”.  
Xác định cường độ uốn của mẫu bê  
tông 100 x 100 x 400 mm bằng máy thử uốn  
bê tông theo TCVN 3119:1993 “Bê tông nặng  
– Phương pháp xác định cường độ kéo khi  
uốn”.  
Hình 2. Ảnh hưởng của tỷ lệ SS/SH đến  
cường độ nén khi dưỡng hộ trong 8 giờ  
Xác định cường độ chịu nén của Gạch  
không nung sử dụng đá mi và chất kết dính  
Geopolymer bằng máy thử nén gạch theo  
TCVN 6355-2:2009 “Gạch xây – Phương  
pháp thử. Xác định cường độ nén”.  
Các số liệu trên cho thấy khi dưỡng hộ  
nhiệt trong 8 giờ liền ở 100oC thì cường độ  
nén trung bình của các mẫu tăng từ 16,66  
MPa lên 18,29 MPa (tăng 9,77%) khi thay đổi  
tỷ lệ dung dịch sodium silicate / sodium  
hydroxide từ 1,5 lên 2 và cường độ nén trung  
bình của các mẫu giảm từ 18,29 MPa xuống  
17,51 MPa (giảm 4,47%) khi thay đổi tỷ lệ  
dung dịch sodium silicate / sodium hydroxide  
từ 2 lên 2,5 (hình 2).  
Xác định cường độ uốn của Gạch không  
nung sử dụng đá mi và chất kết dính  
Geopolymer bằng máy thử uốn gạch theo  
TCVN 6355-3:2009 “Gạch xây – Phương  
pháp thử. Xác định cường độ uốn”.  
4. KẾT QUẢ VÀ SO SÁNH  
4.1 Ảnh hƣởng của tỷ lệ dung dịch SS/SH  
đến cƣờng độ nén của mẫu  
Hình 3. Ảnh hưởng của tỷ lệ SS/SH đến  
cường độ nén khi dưỡng hộ trong 10 giờ  
Các số liệu trên cho thấy khi dưỡng hộ  
nhiệt trong 10 giờ liền ở 100oC thì cường độ  
nén trung bình của các mẫu tăng từ 17,72  
MPa lên 19,49 MPa (tăng 9,98%) khi thay đổi  
tỷ lệ giữa dung dịch sodium silicate / sodium  
hydroxide từ 1,5 lên 2 và cường độ chịu nén  
trung bình của các mẫu giảm từ 19,49 MPa  
xuống 18,55 MPa (giảm 5,05%) khi thay đổi  
tỷ lệ giữa dung dịch sodium silicate / sodium  
hydroxide từ 2 lên 2,5 (hình 3).  
Hình 1. Ảnh hưởng của tỷ lệ SS/SH đến  
cường độ nén khi dưỡng hộ trong 6 giờ  
Các số liệu trên cho thấy khi dưỡng hộ  
nhiệt trong 6 giờ liền ở 100oC thì cường độ  
nén trung bình của các mẫu tăng từ 15,32  
MPa lên 17,05 MPa (tăng 11,29%) khi thay  
đổi tỷ lệ dung dịch sodium silicate / sodium  
hydroxide từ 1,5 lên 2 và cường độ chịu nén  
trung bình của các mẫu giảm từ 17,05 MPa  
xuống 16,31 MPa (giảm 4,54%) khi thay đổi  
tỷ lệ dung dịch sodium silicate / sodium  
hydroxide từ 2 lên 2,5 (hình 1).  
Như vậy cường độ nén tốt nhất của mẫu  
cấp phối khi sử dụng tỷ lệ giữa dung dịch  
sodium silicate / sodium hydroxide là 2.  
4.2 Ảnh hƣởng của thời gian dƣỡng hộ  
nhiệt đến cƣờng độ nén của mẫu  
4
Hình 4. Ảnh hưởng của thời gian dưỡng hộ  
đến cường độ nén khi tỷ lệ SS/SH là 1,5  
Hình 6. Ảnh hưởng của thời gian dưỡng hộ  
đến cường độ nén khi tỷ lệ SS/SH là 2,5  
Các số liệu trên cho thấy khi sử dụng tỷ  
lệ dung dịch sodium silicate / sodium  
hydroxide là 1,5 và dưỡng hộ nhiệt ở 100oC  
thì cường độ nén trung bình của các mẫu tăng  
từ 15,32 MPa lên 16,66 MPa (tăng 8,72%)  
khi thay đổi thời gian dưỡng hộ nhiệt từ 6 giờ  
lên 8 giờ và cường độ nén trung bình của các  
mẫu tăng từ 16,66 MPa lên 17,72 MPa (tăng  
6,34%) khi thay đổi thời gian dưỡng hộ nhiệt  
từ 8 giờ lên 10 giờ (hình 4).  
Các số liệu trên cho thấy khi sử dụng tỷ  
lệ dung dịch sodium silicate / sodium  
hydroxide là 2,5 và dưỡng hộ nhiệt ở 100oC  
thì cường độ nén trung bình của các mẫu tăng  
từ 16,31 MPa lên 17,51 MPa (tăng 7,31%)  
khi thay đổi thời gian dưỡng hộ nhiệt từ 6 giờ  
lên 8 giờ và cường độ nén trung bình của các  
mẫu tăng từ 17,51 MPa lên 18,55 MPa (tăng  
5,98%) khi thay đổi thời gian dưỡng hộ nhiệt  
xuyên suốt từ 8 giờ lên 10 giờ (hình 6).  
Như vậy cường độ nén tốt nhất của mẫu  
cấp phối khi được dưỡng hộ nhiệt xuyên suốt  
trong thời gian 10 giờ.  
4.3 Ảnh hƣởng của tỷ lệ giữa cốt liệu đá mi  
– cát đến cƣờng độ nén của mẫu  
Các số liệu trên cho thấy cường độ nén  
của mẫu cấp phối khi sử dụng tỷ lệ giữa dung  
dịch sodium silicate / sodium hydroxide là 2  
và thời gian dưỡng hộ nhiệt trong 10 giờ là tối  
ưu nhất, nên chọn cấp phối trên và dưỡng hộ  
nhiệt trong 10 giờ để đánh giá sự ảnh hưởng  
khi thay đổi tỷ lệ cốt liệu đá mi – cát đến  
cường độ nén của mẫu cấp phối (hình 7):  
Hình 5. Ảnh hưởng của thời gian dưỡng hộ  
đến cường độ nén khi tỷ lệ SS/SH là 2  
Các số liệu trên cho thấy khi sử dụng tỷ  
lệ dung dịch sodium silicate / sodium  
hydroxide là 2 và dưỡng hộ nhiệt ở 100oC thì  
cường độ nén trung bình của các mẫu tăng từ  
17,05 MPa lên 18,29 MPa (tăng 7,24%) khi  
thay đổi thời gian dưỡng hộ nhiệt từ 6 giờ lên  
8 giờ và cường độ nén trung bình của các mẫu  
tăng từ 18,29 MPa lên 19,49 MPa (tăng  
6,54%) khi thay đổi thời gian dưỡng hộ nhiệt  
từ 8 giờ lên 10 giờ (hình 5).  
Hình 7. Ảnh hưởng của tỷ lệ giữa cốt liệu đá  
mi - cát đến cường độ nén  
Khi thay đổi tỷ lệ đá mi - cát từ 100% :  
0% thành 90% : 10% thì cường độ chịu nén  
trung bình của mẫu tăng từ 8,64 MPa lên  
18,39 MPa (tăng 112,77%).  
5
Khi thay đổi tỷ lệ đá mi - cát từ 90% :  
10% thành 80% : 20% thì cường độ chịu nén  
trung bình của mẫu tăng từ 18,39 MPa lên  
22,48 MPa (tăng 22,22%).  
Khi thay đổi tỷ lệ đá mi - cát từ 80% :  
20% thành 75% : 25% thì cường độ chịu nén  
trung bình của mẫu tăng từ 22,48 MPa lên  
24,20 MPa (tăng 7,68%).  
Khi thay đổi tỷ lệ đá mi - cát từ 75% :  
25% thành 70% : 30% thì cường độ chịu nén  
trung bình của mẫu giảm từ 24,20 MPa xuống  
22,86 MPa (giảm 5,54%).  
Hình 8. Cường độ kéo khi uốn của mẫu cấp  
phối theo thời gian dưỡng nhiệt  
Các số liệu trên cho thấy cường độ kéo  
khi uốn trung bình của các mẫu tăng từ 4,21  
MPa lên 5,40 MPa (tăng 28,19%) khi thay đổi  
thời gian dưỡng hộ nhiệt từ 6 giờ lên 8 giờ và  
cường độ kéo khi uốn trung bình của các mẫu  
tăng từ 5,40 MPa lên 7,66 MPa (tăng 41,88%)  
khi thay đổi thời gian dưỡng hộ nhiệt từ 8 giờ  
lên 10 giờ (hình 8).  
Khi thay đổi tỷ lệ đá mi - cát từ 70% :  
30% thành 60% : 40% thì cường độ chịu nén  
trung bình của mẫu giảm từ 22,86 MPa xuống  
20,79 MPa (giảm 9,06%).  
Khi thay đổi tỷ lệ đá mi - cát từ 60% :  
40% thành 50% : 50% thì cường độ chịu nén  
trung bình của mẫu giảm từ 20,79 MPa xuống  
19,04 MPa (giảm 8,43%).  
4.5 Ứng dụng chế tạo gạch  
4.5.1 Thành phần cấp phối  
Như vậy cường độ chịu nén tốt nhất khi  
sử dụng tỷ lệ 75% cốt liệu đá mi và 25% cốt  
liệu cát. Hình 7.  
Các số liệu trên cho thấy khi sử dụng tỷ  
lệ cốt liệu 75% đá mi - 25% cát, tỷ lệ dung  
dịch Sodium Silicate / Sodium Hydroxyde là  
2, tỷ lệ dung dịch hoạt hóa kiềm / tro bay là  
0,6, dưỡng hộ nhiệt ở 100oC thì cường độ nén  
của mẫu cấp phối là tốt nhất, nên chọn cấp  
phối có tỷ lệ cốt liệu 75% đá mi - 25% cát, tỷ  
lệ dung dịch Sodium Silicate / Sodium  
Hydroxyde là 2, tỷ lệ dung dịch hoạt hóa  
kiềm / tro bay là 0,6, dưỡng hộ nhiệt ở 100oC  
để chế tạo gạch (bảng 3).  
4.4 Ảnh hƣởng của thời gian dƣỡng hộ  
nhiệt đến cƣờng độ kéo khi uốn của mẫu  
Các số liệu trên cho thấy cường độ nén  
của mẫu cấp phối khi sử dụng tỷ lệ cốt liệu  
75% đá mi - 25% cát, tỷ lệ dung dịch Sodium  
Silicate / Sodium Hydroxyde là 2, tỷ lệ dung  
dịch hoạt hóa kiềm / tro bay là 0,6, dưỡng hộ  
nhiệt ở 100oC là tối ưu nhất, nên chọn cấp  
phối trên và dưỡng hộ nhiệt ở 100oC để đánh  
giá cường độ kéo khi uốn của mẫu cấp phối  
khi thay đổi thời gian dưỡng hộ nhiệt.  
Bảng 3. Cấp phối mẫu gạch  
Ký  
hiệu  
Đá mi  
Cát  
Tro bay  
(kg/m3)  
SS  
(kg/m3)  
SH  
Tỷ lệ  
đá mi/cát  
Tỷ lệ  
SS/SH  
(kg/m3)  
(kg/m3)  
(kg/m3)  
TN10 1.200,065 399,967 347,215 132,615  
75,780  
75% : 25%  
2
6
4.5.2 Cƣờng độ nén của gạch  
Hình 10. Cường độ uốn của gạch theo thời  
gian dưỡng hộ nhiệt  
Hình 9. Cường độ nén của gạch theo thời  
gian dưỡng hộ nhiệt  
Các số liệu trên cho thấy cường độ uốn  
trung bình của các mẫu tăng từ 4,18 MPa lên  
5,46 MPa (tăng 30,68%) khi thay đổi thời  
gian dưỡng hộ nhiệt từ 6 giờ lên 8 giờ và  
cường độ uốn trung bình của các mẫu tăng từ  
5,46 MPa lên 7,51 MPa (tăng 31,51%) khi  
thay đổi thời gian dưỡng hộ nhiệt từ 8 giờ lên  
10 giờ (hình 10).  
Các số liệu trên cho thấy cường độ nén  
trung bình của các mẫu tăng từ 19,27 MPa lên  
21,37 MPa (tăng 10,87%) khi thay đổi thời  
gian dưỡng hộ nhiệt xuyên suốt từ 6 giờ lên 8  
giờ và cường độ nén trung bình của các mẫu  
tăng từ 21,37 MPa lên 24,06 MPa (tăng  
12,59%) khi thay đổi thời gian dưỡng hộ  
nhiệt xuyên suốt từ 8 giờ lên 10 giờ (hình 9).  
4.6 So sánh với một số loại gạch trên thị  
trƣờng hiện nay  
4.5.3 Cƣờng độ uốn của gạch  
4.6.1 Về giá thành sản xuất trên 1 viên  
gạch không nung geopolymer  
Bảng 4. Giá thành để sản xuất gạch không nung geopolymer  
Giá tiền (VNĐ)  
Dung dịch Dung dịch  
Mẫu gạch  
Đá  
Tro  
bay  
Tiền  
điện  
Nhân  
công  
Tổng  
cộng  
cát  
Sodium  
silicate  
Sodium  
mi  
hidroxide  
50x100x200  
100 150  
50  
500  
600  
100  
100  
1.600  
Vật liệu sử dụng cho đề tài chủ yếu tận  
dụng từ nguồn phế thải từ ngành công nghiệp,  
xây dựng như tro bay nên giá thành rất rẻ, đá  
mi chủ yếu được tận dụng từ việc sàn lọc từ  
nguồn đá vụn trong quá trình nghiền các loại  
đá có kích thước lớn nên giá thành cũ tương  
đối rẻ. Chỉ còn lại cát, dung dịch sodium  
silicate và dung dịch sodium hydroxide thì giá  
thành hơi cao, nhưng nếu ta mua số lượng lớn  
để sản xuất kinh doanh thì già thành sẽ rẻ đi  
rất nhiều.  
4.6.2 So sánh về giá thành và cƣờng độ nén  
với một số loại gạch trên thị trƣờng  
Bảng 5. So sánh giá thành và cường độ nén với một số loại gạch trên thị trường hiện nay  
Giá thành  
(VNĐ)  
Cường độ  
nén (MPa)  
Mẫu gạch  
Ghi chú  
Gạch của đề tài  
50x100x200  
Giá tiền tính trên  
số lượng sản xuất ít  
1.600  
1.150  
1.048  
24,06  
10  
Gạch Cty Xây Lắp An Giang  
Theo thông báo giá  
tháng 2 năm 2018 của  
liên sở Tài chính - sở  
Xây dựng tỉnh An Giang  
50x100x190  
Gạch Cty Địa Ốc An Giang  
10  
50x100x200  
7
Giá thành để sản xuất gạch không nung  
sử dụng công nghệ geopolymer của đề tài này  
cao hơn với các loại gạch khác hiện nay trên  
thị trường. Nguyên nhân chính là vì trong quá  
trình thí nghiệm nên chưa thể đưa vào dây  
chuyền sản xuất hàng loạt nên giá tiền đưa ra  
trong đề tài này chỉ mang tính tham khảo.  
Ngược lại nếu so sánh về cường độ nén thì  
gạch không nung của đề tài này vượt trội hơn  
hẳn các loại gạch hiện nay trên thị trường.  
Sản phầm gạch không nung này có thể sử  
dụng cho các loại tường chịu lực, các loại  
gạch vĩa hè có khả năng chịu tải. Mặc khác  
các vật liệu để sản xuất ra loại gạch này chủ  
yếu tận dụng từ các nguồn phế thải trong  
ngành xây dựng, công nghiệp nên giảm gánh  
nặng cho môi trường. Do đó chênh lệch về  
giá lúc này không còn là vấn đề quyết định.  
đạt cường độ nén tối ưu nhất lên đến 24,20  
MPa và cường độ kéo khi uốn đạt 7,66 MPa.  
Sản phẩm gạch không nung được chế  
tạo từ thành phần cấp phối tốt nhất nêu trên  
đạt cường độ nén là 24,06 MPa và cường độ  
chịu kéo uốn đạt 7,51 MPa. So với các loại  
gạch khác hiện nay trên thì trường thì cường  
độ nén của sản phẩm gạch không nung của đề  
tài này vượt trội hơn hẳn. Gạch không nung  
này có thể sử dụng cho các loại tường chịu  
lực và từ nghiên cứu này có thể sản xuất các  
loại gạch vĩa hè có khả năng chịu tải cao.  
6. TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Davidovits J, Synthesis of New High-  
Temperature Geo-Polymers for Reinforced  
Plastics/Composites. SPE PACTEC ’79,  
Society of Plastic Engineers, Brookfield  
Center, USA, p.151-154, 1979.  
5. KẾT LUẬN  
[2] Van Jaarsveld, J. G. S., van Deventer, J. S.  
J., Lorenzen L, Factors Affecting the  
Immobilisation of Metals in Geopolymerised  
Fly Ash. Metallurgical and Materials  
Transactions B, 29B, 283-291, 1998; J. G. S.  
V. Jaarsveld, J. S. J. V. Deventer, and G. C.  
Lukey, The effect of composition and  
temperature on the properties of fly-ash and  
Đề tài nghiên cứu này chủ yếu là tận  
dụng các nguồn phế thải trong ngành xây  
dựng và công nghiệp nhằm giảm gánh nặng  
cho môi trường để chế tạo ra sản phẩm gạch  
không nung có cường độ nén tương đối cao.  
Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng khi sử  
dụng tỷ lệ dung dịch hoạt hóa kiềm / tro bay  
là 0,6, tỷ lệ cốt liệu 75% đá mi – 25% cát, tỷ  
lệ dung dịch Sodium Silicate - Sodium  
Hydroxyde (2 : 1) và được dưỡng hộ nhiệt ở  
nhiệt độ 100oC trong 10 giờ liền thì cấp phối  
kaolinite-based  
geopolymers.  
Chemical  
Engineering Journal, vol. 89, pp. 63-73,  
2002.  
Tác giả chịu trách nhiệm bài viết:  
Họ tên: Đinh Thành Nhân  
Đơn vị: Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực huyện Phú Tân  
Điện thoại: 09.09.09.68.39  
Xác nhận của giảng viên hướng dẩn  
8
BÀI BÁO KHOA HỌC  
THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ  
Bài báo khoa học của học viên  
có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn  
Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ  
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.  
Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý  
của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.  
ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN!  
Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2018-2019 của Thư viện Trường Đại học  
Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.  
pdf 9 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 19420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu tính chất cơ học của gạch không nung sử dụng đá mi và chất kết dính Geopolymer", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_tinh_chat_co_hoc_cua_gach_khong_nung_su_dung_da_m.pdf