Nghiên cứu ứng xử dầm bê tông cốt thép Composite 2 lớp

NGHIÊN CỨU ỨNG XỬ DẦM BÊ TÔNG CỐT THÉP COMPOSITE 2 LỚP  
STUDY BEHAVIOR TWO-LAYER COMPOSITE REINFORCED BEAMS  
LÊ KHÁNH THẢO1, PHAN ĐỨC HÙNG2  
1Học viên cao học, Khoa Xây dựng, Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM  
2Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM  
Tóm tắt: Bài báo sử dụng phương pháp thực nghiệm kết hợp tính toán lý thuyết theo tiêu chuẩn  
TCVN 5574-2012 sử dụng cho bê tông tạo từ chất kết dính xi măng Portland để nghiên cứu ứng  
xử của cấu kiện dầm bê tông cốt thép Composite 2 lớp tạo từ bê tông Geopolymer và bê tông xi  
măng. Kết quả nghiên cứu cho thấy ứng xử uốn của dầm thực nghiệm tương đồng với kết quả tính  
toán theo TCVN 5574-2012 khi dầm đạt 85% khả năng chịu lực. Tải trọng phá hủy của dầm khi  
tiến hành thực nghiệm phù hợp với tính toán theo tiêu chuẩn TCVN 5574-2012 chênh lệch 7%.  
Tải trọng hình thành vết nứt của việc tính toán theo tiêu chuẩn TCVN 5574-2012 có sự chênh lệch  
lớn hơn 28,7% so với thực nghiệm.  
Từ khóa: Geopolymer, Bê tông Geopolymer, Composite, Dầm bê tông cốt thép.  
Abstract: This paper uses the experimental method and calculating according to standard TCVN  
5574-2012 for concrete made from Portland cement adhesives to study the behavior of 2 layers  
Composite reinforced concrete beam composite made of Geopolymer concrete and concrete of  
cement. The results show that the bending behavior of the beam is similar to calculating according  
to standard in TCVN 5574-2012 when the beam reaches 85% bearing capacity. The destructive  
load of the beams when carried out in accordance with the calculation TCVN 5574-2012 difference  
from 7%. The load cracks forming calculated according to TCVN 5574-2012 have a difference  
from more than 28,7% compared with experimental.  
Key words: Geopolymer, Geopolymer concrete, Composite, Reinforced concrete beams.  
cho thấy việc sử dụng bê tông Geopolymer chỉ  
phù hợp tại nhà máy hoặc thi công bán phần.  
Một phần cấu kiện sử dụng bê tông  
Geopolymer đổ tại nhà máy, sau đó vận chuyển  
đến lắp dựng vào vị trí tại công trình và thi  
công phần còn lại với bê tông xi măng.  
1. GIỚI THIỆU CHUNG  
Geopolymer là loại vật liệu mà bản chất cơ  
bản của nó là một polymer vô cơ, đã được các  
tác giả trên thế giới nghiên cứu từ những năm  
cuối của thế kỷ XX. Sau khi Joseph Davidovits  
là đã công bố đã tổng hợp thành công polymer  
từ các khoáng chất năm 1972 (Davidovits,  
1972) [1]. Từ tiền đề trên, Geopolymer được  
xem như là một loại vật liệu xanh và được  
nghiên cứu ứng dụng trong ngành vật liệu và  
dùng chế tạo bê tông trong xây dựng.  
Trong bài báo này tập trung thực hiện khảo  
sát ứng xử của dầm bê tông cốt thép Composite  
2 lớp vật liệu bê tông xi măng và bê tông  
Geopolymer bằng phương pháp thực nghiệm,  
so sánh với việc tính toán lý thuyết theo TCVN  
5574-2012 sử dụng cho bê tông sử dụng chất  
kết dính xi măng portland.  
Tuy có những đặc tính tương đồng như bê  
tông truyền thống như là về cường độ, khả  
năng làm việc với cốt thép (Sofi, 2007) [2].  
Thậm chí, bê tông Geopolymer còn có những  
tính chất vượt trội hơn hẳn so với bê tông  
truyền thống hạn chế được khí thải CO2 khi sản  
xuất so với bê tông xi măng tạo từ chất kết dính  
xi măng portland. Tuy nhiên, bê tông  
Geopolymer vẫn rất ít được áp dụng thực tế bởi  
chúng phải trải qua giai đoạn dưỡng hộ nhiệt  
mới đạt cường độ chính vì thế mà nó không thể  
thi công đổ toàn khối ngoài công trình. Đều nay  
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT  
2.1. Tính toán cấu kiện dầm Composite 2  
lớp  
Thông qua kết quả nghiên cứu ứng xử và  
cường độ của các cấu kiện bê tông Geopolymer  
gốc tro bay tương tự như bê tông xi măng  
(Sumajouw, 2006) [3]. Do đó, trong nghiên  
cứu này những tính toán cho cấu kiện dầm  
Composite 2 lớp chế tạo từ bê tông  
1
Geopolymer và bê tông xi măng sẽ được lấy  
theo trong tiêu chuẩn hiện hành TCVN 5574-  
2012 kết cấu bê tông và bê tông cốt thép [4],  
sau khi đã đồng nhất hóa hai lớp vật liệu.  
(1)  
EI E1I1 E2I2  
Trong đó:  
-
I1 là moment quá tính của tiết diện tạo  
từ vật liệu thứ nhất đối với trục trung  
2.2. Đồng nhất hóa dầm Composite 2 lớp  
y,y1,y2  
hòa.  
b h3  
12  
A y12  
1
1
(2)  
I1   
1
-
I2 là moment quá tính của tiết diện tạo  
từ vật liệu thứ hai đối với trục trung  
hòa.  
1
2
x1  
x
b2 h23  
12  
A y22  
(3)  
I2   
2
x2  
3. NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG  
PHÁP THÍ NGHIỆM  
3.1. Nguyên vật liệu  
3.1.1. Nguyên vật liệu chế tạo bê tông  
Geopolymer  
Hình 2. Mặt cắt ngang dầm Composite 2 lớp  
Nguyên vật liệu chế tạo bê tông  
Geopolymer bao gồm: Tro bay có hàm lượng  
calcium thấp, dung dịch hoạt hóa, cốt liệu lớn,  
cốt liệu nhỏ.  
Cho dầm có tiết diện chữ nhật được tạo từ  
hai loại vật liệu khác nhau.  
E
Vật liệu thứ nhất có môđul đàn hồi 1 và  
E
vật liệu thứ hai có môđul đàn hồi kích thước  
2
Tro bay loại F được sử dụng để chế tạo bê  
tông Geopolymer có khối lượng riêng 2150  
kg/m3 , độ mịn 94% lượng tro bay lọt qua sàng  
có cỡ sàng là 0,08 mm. Thành phần hóa học  
được trình bày bảng 1.  
tiết diện như (Hình 2).  
Giả thuyết trục trung hòa của cấu kiện tạo  
từ hai loại bê tông, trùng với trục trung hòa  
hình học thì độ cứng kháng uốn của tiết diện  
dầm khi đó sẽ được xác đinh theo công thức  
(1).  
Bảng 1. Thành phần hóa học của tro bay  
K2O và  
Oxit  
SiO2 Al2O3 Fe2O3 CaO  
MgO  
SO3  
MKN  
Na2O  
Hàm lượng (%)  
51,7  
31,9  
3,48  
1,21  
1,02  
0,81  
0,25  
9,63  
Dung dịch hoạt hóa là sự kết hợp giữa natri  
hydroxit và thủy tinh lỏng. Natri hydroxit ở  
dạng vảy rắn, màu trắng đục, độ tinh khiết trên  
90%, có khối lượng riêng 2130 kg/m3. Thủy  
tinh lỏng là dung dịch có màu trắng trong, sệt.  
Thành phần hóa học: SiO2=30,1%,  
2310kg/m3 và 2510kg/m3. Cở hạt lớn nhất của  
đá là Dmax=20mm. Cát có môđul độ lớn là 2,57.  
3.1.2. Nguyên vật liệu chế tạo bê tông xi  
măng  
Thành phần nguyên vật liệu chế tạo bê tông  
xi măng cũng giống bê tông Geopolymer, khác  
biệt chủ yếu là việc sử dụng chất kết dính  
Geopolymer cho bê tông Geopolymer và chất  
kết dính xi măng Portland với nước cho bê tông  
xi măng.  
Na2O=9,4%,  
H2O=60,5%.  
Tỷ  
lệ  
0,01 g/ml.  
SiO2/Na2O=3,2, tỷ trọng 1,42  
Cốt liệu lớn và cốt liệu nhỏ được sử dụng  
là đá và cát, có khối lượng riêng lần lượt là  
2
Xi măng sử dụng trộn bê tông lấy theo  
TCVN 6260:2009. Xi măng Portland hổn hợp  
– yêu cầu kỹ thuật.  
Nước sử dụng trộn bê tông theo TCVN  
4560:2012. Nước trộn bê tông và vữa – yêu cầu  
kỹ thuật. Nước được sử dụng trong thí nghiệm  
là nước thủy cục.  
3.2. Cấp phối  
Bảng 2. Cấp phối 1 m3 bê tông Geopolymer cho cấu kiện dầm  
Đá  
(kg)  
Cát  
(kg)  
Tro bay  
(kg)  
TTL  
(kg)  
NaOH  
(kg)  
TTL/  
NaOH  
Mol  
(M)  
STT  
Cấp phối  
CP1-1  
(20MPa)  
1
2
1079  
1061  
593  
584  
418  
441  
185  
189  
75  
2,5  
2,5  
16  
16  
CP1-2  
(30MPa)  
75,6  
Bảng 3. Cấp phối 1 m3 bê tông xi măng cho cấu kiện dầm  
Đá  
(kg)  
Cát  
(kg)  
Nước  
(lít)  
Xi măng  
STT  
Cấp phối  
(kg)  
CP2-1  
(20MPa)  
1
2
1238,4  
1209,6  
676,2  
630  
185  
185  
278  
CP2-2  
(30MPa)  
370  
liên kết của hai lớp bê tông và tránh sự tách lớp  
giữa hai lớp bê tông khi chịu lực.  
3.3. Phương pháp thí nghiệm  
Dầm được chế tạo với kích thước  
200x300x3300mm, số lượng 4 dầm, ký hiệu  
lần lượt là D1, D2, D3, D4 để nghiên ứu ứng  
xử dầm bê tông cốt thép Composite 2 lớp tạo  
từ bê tông Geopolymer và bê tông xi măng  
bằng phương pháp thí nghiệm uốn 3 điểm tại  
phòng thí nghiệm công trình, Đại Học Sư  
Phạm Kỹ Thuật TPHCM. Trong đó, dầm D1,  
D2 sử dụng cấp phối 20MPa và D3, D4 sử  
dụng cấp phối 300MPa.  
Chuyển vị, biến dạng của dầm được đo  
bằng những thiết lần lượt là Strain Gauges và  
đầu đo chuyển vị. Những thiết bị này được gắn  
trực tiếp vào những vị trí khảo sát (tại vị trí L/2,  
L/4 đối với đầu đo chuyển vị, tại vị trí L/2 đối  
với Strain Gauges) và kết nối với một thiết bị  
ghi nhận kết quả.  
Vết nứt được quan sát bằng mắt thường và  
ghi nhận lại ở những cấp tải. Thí nghiệm sẽ kết  
thúc khi tải trọng thí nghiệm đạt đến cấp tải phá  
hoại của dầm.  
Bề mặt tiếp xúc của hai lớp bê tông đươc  
xử lý mặt bằng một lớp sika latex nhằm tăng  
P
200  
150  
3000  
150  
Hình 2. Cấu tạo và sơ đồ thí nghiệm dầm Composite 2 lớp  
3
4. KẾT QUẢ, SO SÁNH  
4.1. Chuyển vị  
120  
100  
80  
60  
40  
20  
0
120  
100  
0  
0  
0  
20  
0
0
10  
20  
30  
0
10  
20  
30  
40  
Chuyển vị (mm)  
Chuyển vị (mm)  
D1  
D2  
Tính toán  
D1  
D2  
Tính toán  
a) Cấp phối 20MPa, vị trí L/4  
b) Cấp phối 20MPa, vị trí L/2  
120  
100  
80  
60  
40  
20  
0
120  
100  
80  
60  
40  
20  
0
0
10  
20  
30  
0
10  
D3  
20  
30  
40  
50  
Chuyển vị (mm)  
Chuyển vị (mm)  
D3  
D4  
Tính toán  
D4  
Tính toán  
c) Cấp phối 30MPa, vị trí L/4  
b) Cấp phối 20MPa, vị trí L/2  
Hình 3. Đường quan hệ giữa chuyển vị và tải trọng  
Kết quả đo chuyển vị từ thực nghiệm cho  
thấy, giá trị độ võng của cả hai cấp phối khi tải  
trọng đạt đến 80 KN phát triển tuyến tính phù  
hợp với kết quả tính toán lý thuyết theo tiêu  
chuẩn TCVN 5574-2012 sử dụng cho cấu kiện  
bê tông và bê tông cốt thép. Tuy nhiên khi tải  
trọng lớn hơn 80KN thì độ võng của cấu kiện  
sử dụng hai cấp phối 20MPa và 30MPa bị phân  
tán và có xu hướng tăng nhanh và phá hoại. Khi  
cấu kiện dầm chịu tại trọng tới hạn (từ cấp tải  
80KN trở lên) thì giá trị độ võng của cấu kiện  
sử dụng cấp phối 20MPa tăng nhanh và cao  
hơn so với cấp phối 30MPa. Điều này cho thấy  
cường độ chịu nén của bê tông vùng nén khi  
uốn của cấp phối 30MPa tốt hơn so với cấp  
phối 20MPa và phù hợp với lý thuyết.  
4.2. Biến dạng  
4
100  
90  
80  
70  
60  
50  
40  
30  
20  
10  
0
100  
90  
80  
70  
60  
50  
40  
30  
20  
10  
0
0
1000  
2000  
3000  
4000  
5000  
6000  
0
2000  
4000  
Biến dạng μ)  
6000  
8000  
D4  
10000  
Biến dạng μ)  
D1  
D3  
D2  
a) Cấp phối 20MPa  
b) Cấp phối 30MPa  
Hình 4. Đường quan hệ giữa biến dạng và tải trọng  
Quan sát biểu đồ cho thấy, khi tải trọng  
tăng biến dạng tăng. Khi tải trọng nhỏ hơn  
80kN, biểu đồ biến dạng tuyến tính ở cả 2 cấp  
phối. Tuy nhiên, biến dạng tăng nhanh khi tải  
trọng lớn hơn 80KN. Điều này cho thấy dầm  
không còn ở trạng thái ứng xử tuyến tính mà  
đã chuyển sang trạng thái ứng xử phi tuyến cho  
đến khi phá hoại.  
4.3. Tải trọng hình thành vết nứt và phá hoại  
70  
60  
0  
0  
0  
0  
10  
0
70  
60  
50  
40  
30  
20  
10  
0
0
2
4
6
8
0
2
4
6
8
Thứ tự vết nứt  
Thứ tự vết nứt  
D3  
D4  
D1  
D2  
a) Cấp phối 20MPa  
b) Cấp phối 30MPa  
Hình 5. Tải trọng xuất hiện vết nứt của dầm tiến hành thí nghiệm  
Sự hình thành vết nứt: Quan sát thực  
nghiệm ta thấy dầm có hai loại vết nứt đó là vết  
nứt dọc do moment tại giữa dầm gay ra và vết  
nứt ngang do sự trượt bề mặt của hai lớp bê  
tông. Vết nứt dọc xuất hiện đầu tiên tại vị trí  
giữa dầm, đối với dầm sử dụng cả hai cấp phối,  
khi tải trọng tăng dần, các vết nứt dọc tiếp theo  
phát triển dần sang hai bên và có tính chất đối  
xứng. Số lượng vết nứt xuất hiện ở cả hai cấp  
phối cho đến khi cấu kiện bị phá hoại là tương  
đương nhau. Điều đó cho thấy sự làm việc của  
cấu kiện dầm bê tông cốt thép Composite tạo  
từ bê tông Geopolymer và bê tông xi măng là  
phù hợp với thực tế. Vết nứt ngang xuất hiện  
và phát triển khi chuyển vị của dầm tăng  
nhanh, khi dầm chuẩn bị chuyển sang giai đoạn  
phá hoại. Tải trọng xuất hiện vết nứt đầu tiên  
và các cấp tải xuất hiện vết nứt tiếp theo của  
cấp phối 30MPa có giá trị cao hơn so với cấp  
5
phối 20MPa tuy nhiên, khoảng cách là không  
lớn.  
thấy khả năng chịu lực còn cấu kiện dầm còn  
phụ thuộc vào yếu tố khác ngoài bê tông, đặc  
biệt là sự làm việc giữa cốt thép và hai loại bê  
tông. Tải trọng phá hoại: Tải trọng phá hoại  
trung bình của cấu kiện sử dụng cấp phối  
20MPa đạt khoảng 91,5KN thấp hơn khoảng  
2,6% so với cấp phối 30MPa là 94KN.  
Khả năng chịu lực của cấu kiện theo tính  
toán dầm sử dụng cấp phối 30MPa lớn hơn cấp  
phối 20MPa. Tuy nhiên sự chênh lệch này  
không đáng kể (phù hợp kết quả thí nghiệm)  
mặc dù cường độ chịu nén của hai cấp phối có  
sự chênh lệch rất cao (10MPa). Điều đó cho  
a) Vết nứt giữa dầm  
b) Vết nứt mặt tiếp xúc 2 lớp bê tông  
Hình 6. Vết nứt dầm khi phá hoại tiến hành thí nghiệm  
100  
80  
0  
0  
20  
0
39.56  
36.2
94  
97  
40.00  
20.00  
0.00  
91  
89  
87.35  
35.12  
33.1
84.77  
30.14  
21.46  
20MPa  
30MPa  
D3, D4  
20MPa  
30MPa  
Cấp phối  
D1, D2  
Cấp phối  
Lý thuyết  
D1,D2  
D3, D4  
Lý thuyết  
a) Tải trọng xuất hiện vết nứt  
b) Tải trọng phá hoại  
Hình 7. Tải trọng xuất hiện vết nứt và phá hoại của dầm thí nghiệm và tính toán  
Từ kết quả tải trọng xuất hiện vết nứt của  
dầm của cả hai cấp phối cho thấy có một sự  
chênh lệnh lớn tải trọng xuất hiện vết nứt tính  
toán lý thuyết theo tiêu chuẩn TCVN 5574-  
2012 là bé hơn so với thực nghiệm chênh lệch  
khoảng 27,8% điều này có hai nguyên nhân.  
Thứ nhất lý thuyết theo tiêu chuẩn TCVN  
5574-2012 không phù hợp áp dụng cho cấu  
kiện loại này. Thứ hai cường độ chịu kéo của  
bê tông Geopolymer tính theo những nghiên  
cứu trước là chưa phù hợp vì nguồn nguyên  
liệu chế tạo chất kết dính khác nhau.  
Tải trọng giới hạn của dầm sử dụng hai cấp  
phối tiến hành tính toán lý thuyết theo tiêu  
chuẩn TCVN 5574-2012 dành cho cấu kiện bê  
tông xi măng và kết quả thực nghiệm có sự  
tương đồng chênh lêch khoảng 7%.  
6
và bê tông cốt thép hoặc cường độ chịu  
kéo của bê tông Geopolymer tính theo  
những nghiên cứu trước chưa phù hợp.  
Thứ hai dầm Composite 2 lớp có xuất hiện  
vết nứt ngang tại mặt phân cách của hai  
lớp bê tông khi dầm chuyển sang giai đoạn  
phá. Vì vậy, vết nứt này không ảnh hưởng  
đến khả năng chịu tải của dầm.  
5. KẾT LUẬN  
Nghiên cứu thực nghiệm ứng xử của cấu  
kiện dầm bê tông cốt thép Composite 2 lớp chế  
tạo từ bê tông Geopolymer và bê tông xi măng.  
Các kết quả thí nghiệm được so sánh với kết  
quả tính toán theo tiêu chuẩn TCVN 5574-  
2012 của dầm sử dụng 2 cấp phối 20MPa và  
30MPa có một số kết luận sau:  
6. TÀI LIỆU THAM KHẢO  
- Kết quả độ võng của dầm đo từ thí nghiệm  
và tính toán theo tiêu chuẩn TCVN 5574-  
2012 của hai cấp phối 20MPa va 30MPa  
có sự tương đồng nhau khi tải trọng nhỏ  
hơn 80KN chuyển vị phát triển tuyến tính  
với tải trọng. Khi tải trọng lớn hơn 80KN  
chuyển vị nhanh dầm chuyển sang phi  
tuyến vì dầm đang bước vào giai đoạn phá  
hoại.  
[1] Davidovits J., “Process for the  
fabrication of sintered panels and panels  
resulting from the application of this process”,  
Institut Géopolymère, 2015.  
[12] Sofi M, Van Deventer J.S.J, Mendis  
P.A & Lukey C.C., “Bond performance of  
reinforcing bars in inorganic polymer concrete  
(IPC)”, Journal of Materials Science, vol. 42,  
pp3107-3116, 2007.  
- Tải trọng phá hoại của dầm bê tông cốt  
thép Composite 2 lớp thì phù hợp với kết  
quả nghiên cứu Behnial et al. (2016) [5].  
Lý do, tải trọng phá hoại của dầm  
Composite 2 lớp nằm giữa tải trọng phá  
hoại tính toán theo TCVN 5574-2012 đại  
diện cho dầm bê tông xi măng và tải trọng  
phá hoại dầm Geopolymer. Điều này cho  
thấy sự phân lớp bê tông không ảnh hưởng  
đến khả năng chịu tải của dầm.  
[3] Sumajouw M.D.J, Rangan B.V., “Low-  
calcium fly ash-based geopolymer concrete  
structural members: Beams and columns”.  
Research Report GC-2, Faculty Engineering  
and Computing, Curtin University of  
Technology, Perth Western Australia, 2006.  
[4] TCVN 5574:2012, “Kết cấu bê tông và  
bê tông cốt thép – tiêu chuẩn thiết kế”.2012  
[5] Behnia A, Ranjbar N, Chai H.K,  
Ubagaram J.A & Jumaat M.Z., “Fracture  
- Sự hình thành và phát triển vết nứt của  
dầm thực nghiệm và tính toán lý thuyết có  
2 sự khác biệt. Thứ nhất tải trọng hình  
thành vết nứt dọc của dầm bê tông xi  
măng lớn hơn dầm Composite 2 lớp. Điều  
này cho thấy tính toán nứt cho cấu kiện  
dầm Composite 2 lớp từ bê tông  
Geopolymer và bê tông xi măng theo tiêu  
chuẩn TCVN 5574-2012 kết cấu bê tông  
Evaluation  
of  
Multi-layered  
Precast  
Reinforced Geopolymer Concrete Composite  
Beams by Incorporating Acoustic Emission  
into  
Mechanical  
Analysis”,  
Journal  
Construction and Building Materials, vol.127,  
pp 274-283, 2016.  
Tác giả chịu trách nhiệm bài viết:  
Họ tên: Lê Khánh Thảo  
Đơn vị:  
Xác nhận của giảng viên hướng dẫn  
Điện thoại: 097.7749.083  
7
BÀI BÁO KHOA HỌC  
THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ  
Bài báo khoa học của học viên  
có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn  
Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ  
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.  
Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý  
của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.  
ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN!  
Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2018-2019 của Thư viện Trường Đại học  
Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.  
pdf 8 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 22480 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu ứng xử dầm bê tông cốt thép Composite 2 lớp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_ung_xu_dam_be_tong_cot_thep_composite_2_lop.pdf