Nghiên cứu ứng xử cọc BTCT gia cường bờ kè bờ sông đồng bằng sông Cửu Long

NGHIÊN CỨU ỨNG XỬ CỌC BTCT GIA CƢỜNG BỜ KÈ BỜ SÔNG  
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG  
RESEARCH ON THE BEHAVIORS OF PRECAST CONCRETE PILES  
REINFORCED RIVER EMBANKMENTS IN MEKONG DELTA  
Nguyễn Minh Đức 1, Đỗ Trọng Vi 2  
1 Giảng viên, khoa Xây dựng, Trường ĐH. Sư phạm Kỹ thuật Tp. HCM  
2 Học viên thạc sỹ, khoa Xây dựng, Trường ĐH. Sư phạm Kỹ thuật Tp. HCM  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu phân tích ứng xử chuyển vị và hệ số an toàn của bờ kè gia cường cọc BTCT từ đó  
đưa ra các thông số tối ưu của cọc BTCT phù hợp với địa chất yếu ở khu vực đồng bằng sông  
Cửu Long. Áp dụng phương pháp phần tử hữu hạn, nghiên cứu sử dụng phần mềm mô phỏng  
Plaxis để tính hệ số an toàn Fs theo phương pháp C-phi giảm để phân tích ổn định cho mái dốc  
30 độ gia cường bằng cọc BTCT có và không có ngàm vào đất tốt cũng như cho mái dốc 35 độ  
gia cường bằng cọc BTCT có và không có ngàm vào đất tốt. Trong trường hợp cọc được ngàm  
vào lớp đất tốt, khoảng cách cọc càng nhỏ thì càng có khả năng gia cường mái dốc (hệ số an  
toàn Fs càng tăng). Trong trường hợp cọc không ngàm vào lớp đất tốt, và mái dốc có hệ số an  
toàn Fs < 1,2 khi không được gia cường thì khoảng cách cọc hầu như không ảnh hưởng đến hệ  
số an toàn Fs của mái dốc gia cường. Trong trường hợp cọc ngàm vào lớp đất tốt, khoảng cách  
cọc không nên bố trí quá 4d để tối ưu khả năng gia cường mái dốc của cọc BTCT. Hiệu ứng vòm  
của nhóm cọc xảy ra khi 2 cọc liền kề nhau nó sẽ sinh ra hiệu ứng ngăn cản sự dịch chuyển  
(dòng chảy) của đất khi khoảng cách cọc từ 2d-4d. Với khoảng cách cọc lớn hơn 4D, hiệu ứng  
vòm giữa đất và cọc hầu như không còn, cọc không hiệu quả trong ngăn chặn chuyển vị của đất  
giữa cọc.  
Từ khóa: Mái dốc gia cường; bờ kè gia cường cọc BTCT; ứng xử cọc BTCT gia cường bờ kè.  
ABSTRACTS  
The analysis of transposition behavior and safety coefficient of reinforced concrete piles  
reinforces the optimal parameters of reinforced concrete piles in accordance with weak geology  
in the Mekong Delta. Apply finite element method, using Plaxis simulation software to calculate  
safety factor by reduction c-phi method. The investitgation covered the 30 degree and 35 degree  
inclination slopes reinforced by pile embedded in hard and soft soil. The results illustrates that  
the factor of safety of slopes reainforced by pile embedded in hard soil increases with the  
smaller pile spacing. The spacing of pile embedded in hard soil should not be over 4D to ensure  
the performance of reinforced slopes. Without embedding into hard soil, the factor of safety of  
studied slopes is smaller than 1,2 and apparently unchanged when reducing the pile spacing.  
When the pile spacing is from 2D-4D, the arch effect occurs between two continuous piles which  
resists the movement of soil between them. The arch effect is not found in case of slopes  
reinforced by over 4D spacing piles.  
Keywords: Slope stabilization; reinforced river embankment; behavior of pile reinforced  
embankment  
kè chưa đảm bảo, dưới tác dụng của dòng  
chảy, khí hậu và sự xâm hại của con người  
hiện nhiều đoạn bị hư hỏng nặng, nếu không  
có biện pháp xử lý kịp thời thì trong thời  
gian tới với tốc độ xói lở như hiện nay thì  
tuyến đê, kè có nguy cơ sạt lở sát chân đê  
làm vỡ đê, ảnh hưởng đến tính mạng, tài sản  
và các công trình văn hoá khu vực mà công  
trình đó bảo vệ. Vậy việc nghiên cứu đề xuất  
giải pháp kết cấu hợp lý công trình đê kè  
bảo vệ bờ sông là hết sức cần thiết.  
1. GIỚI THIỆU  
Trong những năm đầu thập kỷ của thế kỷ 21,  
cùng với những biến đổi mạnh mẽ của khí  
hậu toàn cầu dẫn tới sự xuất hiện nhiều thiên  
tai, nhiều cơn bão, nhiều cơn lũ lớn trên  
khắp các lục địa và cả ở Việt Nam. Hiện  
tượng sạt lở bờ sông, bờ biển ở nước ta cũng  
diễn ra với tần suất lớn lơn, chu kỳ nhanh  
hơn, cường độ mạnh hơn, kéo dài hơn và có  
nhiều điểm dị thường.  
Hiện tượng xói lở và bồi tụ là một quá trình  
hoạt động tự nhiên, có đoạn sông bị xói lở,  
có đoạn sông bị bồi tụ. Đó là hệ quả của mối  
tương tác giữa dòng chảy và lòng sông mà  
nguyên nhân gây ra là do quá trình vận  
chuyển bùn cát từ nơi này đến nơi khác.  
Tương tác giữa sóng, gió, dòng triều và bờ  
biển mà trực tiếp là sự mất cân bằng của vận  
chuyển bùn cát dọc bờ là nguyên nhân chính  
gây ra xói - bồi mất ổn định của bờ sông, bờ  
biển. Tuy là hoạt động bình thường của tự  
nhiên song hiện tượng xói - bồi bờ sông, bờ  
biển rất phức tạp, chịu sự chi phối bởi nhiều  
yếu tố. Do đó ảnh hưởng của xói - bồi, đặc  
biệt là ảnh hưởng của xói, sạt lở bờ sông, bờ  
biển là vô cùng nghiêm trọng  
Các nghiên cứu ngoài nước cũng đề cập đến  
vấn đề xói lở đất và các biện pháp gia cường  
mái dốc, chống sự trượt bờ như: Donovan và  
cộng sự, (2013); Fathi và cộng sự, (2015);  
Hassiotis và cộng sự, (1997); Poulos và  
cộng sự, (1995); Shikou và cộng sự, (2011).  
Tổng quan địa chất khu vực đồng  
bằng sông Cửu Long  
Đồng bằng sông Cửu Long được bao phủ  
bởi lớp trầm tích trẻ khá dày, mà thành phần  
cấu tạo của nó phổ biến là loại đất yếu: sét  
yếu, cát chảy, bùn v.v…  
Bề mặt ĐBSCL được bao phủ chủ yếu là  
tầng trầm tích Holoxen gồm các loại đất  
dính: sét, á sét, á cát ở trạng thái nửa cứng  
đến dẻo chảy và các loại bùn sét, bùn á sét.  
Góc ma sát trong thay đổi từ φ=40÷90, lực  
dính thay đổi từ C=0,04÷0,12kg/cm2. Ở điều  
kiện tự nhiên sức chống cắt của các lớp bùn  
(theo sơ đồ cắt nhanh không nén cố kết) đạt  
giá trị cao nhất ở lớp bùn á cát φ=8030’;  
C=0,1kg/cm2. Giá trị thấp nhất φ=50;  
C=0,05kg/cm2 (Đinh Công Sản, 2013; Vũ  
Văn Hòa, 2015).  
Ở nước ta, hình thức kè chủ yếu là: kè lát  
mái hộ bờ, kè mỏ hàn, kè chống sóng đê  
biển bằng các loại kết cấu chủ yếu là: kè đá  
khan, kè đá xây, kè khan xây khung, kè tấm  
bê tông định hình …  
Đánh giá chung về hiện trạng công trình đê,  
kè bảo vệ bờ là còn nhiều công trình kém ổn  
định và xung yếu. Hư hỏng phổ biến đối với  
các đoạn kè đê sông là xói lở chân, xô sạt  
mái, lún và biến dạng kè, nguyên nhân chính  
là do địa chất nền yếu, quy mô kè còn hạn  
chế nên thượng hạ lưu kè thường bị xói lở.  
Một số đoạn kè bị hư hỏng như kè Cát Bà,  
kè đê bao khu bãi rác Đình Vũ và một số  
đoạn kè đê sông như sông Luộc, sông Thái  
Bình, sông Văn Úc…  
Nhìn chung tính chất cơ lý khu vực ĐBSCL  
rất thấp, nên khả năng kháng chịu những tác  
động bên ngoài kém. Đây cũng là một trong  
những yếu tố góp phần thúc đẩy hiện tượng  
mất ổn định bờ sông, rạch.  
2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Trong những năm vừa qua tại những đoạn  
sông đã xây dựng kè bảo vệ bờ, tuy nhiên,  
do một số đoạn kè xây dựng đã lâu, kết cấu  
2.1 Xác định Fs theo phƣơng pháp cân  
bằng giới hạn  
LW  
Tâm cung trượt  
KL đất  
đắp  
Bề mặt đất đắp  
sau phá hoại  
LS  
Mái dốc  
phá hoại  
Đất đắp  
Hướng dịch  
chuyển mặt trượt  
Sét mềm  
Tổng sức kháng cắt  
dọc mặt cung trượt  
Lực kháng  
trượt  
Hình 1: Cơ chế phá hoại điển hình dạng cung trượt tròn (Naresh et al. 2006)  
Theo tiêu chuẩn FHWA–NHI–06–088 của  
Mỹ đề xuất bởi Naresh et al. 2006, về nền và  
móng đưa ra bởi hiệp hội quản lý đường cao  
tốc liên bang (The Federal Highway  
Administration), dạng phá hoại của kè, đê,  
đập ... trên nền đất yếu thông thường xảy ra  
khi kè bị lún xuống, đất vùng ảnh hưởng  
xung quanh trồi lên và xuất hiện mặt trượt  
cung tròn như minh họa hình 1.  
Để xác định hệ số an toàn Fs, phân tích ổn  
định dựa theo phương pháp giảm c-phi được  
áp dụng trong đó sức kháng cắt của đất được  
giảm dần cho đến khi sự phá hoại của kết  
cấu xảy ra. Tổng hệ số Msf được sử dụng  
để xác định hệ số an toàn của khả năng chịu  
cắt của đất:  
taninput  
cinput  
Msf   
(2)  
tanreduced creduced  
Mô men gây trượt (Driving moment), MD:  
tạo ra bởi khối lượng bản thân kè (cộng tải  
trọng bên trên nếu có) kết hợp với cánh tay  
đòn là khoảng cách ngang từ tâm trọng lực  
(và tải trọng bên trên nếu có ) đến tâm của  
cung phá hoại (LW)  
Trong đó giá trị cường độ taninput và cinput là  
giá trị cường độ đưa vào mô hình phân tích  
của mô hình đất; tanreduced và creduced là giá  
trị cường đất của đất giảm xuống trong quá  
trình phân tích. Giá trị Msf được đặt bằng  
1 khi bắt đầu tính toán với tất cả các loại đất.  
Hệ số an toàn Fs được xác định theo công  
thức:  
Mô men kháng trượt (Resisting moment)  
MR: tạo ra bởi tổng lực kháng cắt của đất  
dọc theo cung trượt nhân với bán kính cung  
trượt (LS)  
available _ strength  
Hệ số an toàn, FS (Factor of safety) chống  
mất ổn định dạng cung trượt được tính theo  
công thức (3) dưới  
Fs   
(3)  
Strength _ at _ failure  
3. MÔ HÌNH PHÂN TÍCH MÔ PHỎNG  
3.1 Thông số cọc BTCT gia cƣờng bờ kè  
M R  
(1)  
FS   
M D  
Cọc BTCT có tiết diện 300x300, sử dụng bê  
tông B20, có mô đun đàn hồi, E = 27000  
MPa với hệ số nở Posson, = 0.2  
Phá hoại trượt xảy ra khi hệ số an toàn nhỏ  
hơn 1 (mô men gây trượt lớn hơn mô men  
kháng trượt)  
3.2 Điều kiện địa chất  
Địa chất đất yếu, khu vực tỉnh Vĩnh Long  
thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Các thông  
số địa chất sử dụng trong phân tích phần tử  
hữu hạn được thể hiện trong bảng 1.  
2.2 Phƣơng pháp phần tử hữu hạn xác  
định hệ số an toàn  
này thì bản thân mái dốc đã ổn định. Với  
mái dốc 35 độ, hệ số an toàn gần 1.025, với  
hệ số an toàn này thì bản thân mái dốc  
không ổn định và có nguy cơ sạt lở rất lớn vì  
vậy bờ kè cần gia cố cọc BTCT nhằm tăng  
cường độ ổn định chống sạt trượt.  
3.3 Mô hình phân tích Plaxis 3D  
4.2 Ứng xử mái dốc 30 độ  
4.2.1 Trƣờng hợp cọc BTCT không ngàm  
vào lớp đất tốt.  
Fs  
Hình 2: Mô hình mô phỏng bờ kè trong  
Plaxis 3D  
1.44  
Chiều cao bờ kè 14m, với độ dốc 300 và 350,  
gia cường cọc BTCT tại đỉnh với chiều dài  
cọc từ 31-34m, khoảng cách cọc khảo sát từ  
2D - 7D. 2 điều kiện địa chất được lựa chọn  
bao gồm (1) cọc được ngàm vào lớp đất tốt  
và (2) cọc không được ngàm vào lớp đất tốt.  
1.42  
1.40  
1.38  
1.36  
4. Kết quả phân tích mô phỏng  
4.1 Kết quả hệ số an toàn mái dốc chƣa  
gia cƣờng cọc BTCT  
0.4  
0.6  
0.8  
1
1.2  
Fs  
Chuyển vị, m  
1.25  
Hình 4. Hệ số an toàn Fs và chuyển vị của  
cọc BTCT khoảng cách từ 2d – 7d ở chiều  
sâu ép cọc là 32m  
1.20  
1.15  
1.10  
1.05  
1.00  
Với mái dốc 300, cọc không ngàm vào lớp  
đất tốt và độ sâu ép cọc là 32m thì biểu đồ  
tuân theo quy luật khoảng cách cọc 2d thì tốt  
hơn 7d. Hệ số an toàn Fs của mái dốc 30 độ  
khi chưa gia cường cọc tối đa là 1.25, khi  
mái dốc có gia cường cọc thì hệ số an toàn  
Fs tối đa lên đến 1.45 khi khoảng cách cọc  
là 2d (hình 4).  
0
0.2  
0.4  
0.6  
0.8  
Chuyển vị, m  
4.2.2 Trƣờng hợp cọc BTCT ngàm vào  
lớp đất tốt.  
Hình 3: Đường biểu diễn hệ số an toàn của  
hai mái dốc khi chưa gia cố cọc.  
Khi chưa gia cố cọc BTCT, với mái dốc 30  
độ, hệ số an toàn gần 1.25, với hệ số an toàn  
Bảng 1. Điều kiện địa chất  
Bề dày lớp Dung trọng Lực  
Hệ số  
Poisson,  
0.2  
0.35  
0.2  
Mô tả lớp đất  
Góc ma Mô đun  
sát trong, đàn hồi, E  
đất, m  
dính,c  
(kPa)  
tự nhiên, ,  
kN/m3  
(Mpa)  
7.6  
5.8  
32  
5
Cát san nền, trung  
Á cát bão hòa, nhão  
Cát thô, xốp  
1.5  
2.5  
3.0  
16.5  
16  
17  
5
8.0  
5
32.6  
5
10.2  
5.8  
Á cát lẫn bùn bão hòa 2.9  
Bùn sét bão hòa, nhão Trên 20m 16  
16  
21.1  
32.1  
0.35  
0.35  
5
2.1  
Fs  
Với mái dốc 30 độ và cọc có ngàm vào lớp  
đất tốt biểu đồ tuân theo quy luật khoảng  
cách cọc 2d thì tốt hơn 7d. Hệ số an toàn Fs  
của mái dốc 30 độ khi chưa gia cường cọc  
tối đa là 1.25, khi mái dốc có gia cường cọc  
thì hệ số an toàn Fs tối đa lên đến 1.45 khi  
khoảng cách cọc là 2d (hình 5).  
1.26  
1.23  
1.20  
Cùng mái dốc 30 độ, cọc không ngàm vào  
lớp đất tốt và cọc có ngàm vào lớp đất tốt,  
hệ số an toàn Fs đều đạt tối đa là 1.45 nhưng  
độ sâu ép cọc 2 trường hợp có sự chênh lệnh  
nhau (cọc có ngàm vào đất tốt độ sâu ép cọc  
là 22m, cọc không ngàm vào đất tốt độ sâu  
ép cọc là 32m).  
1.17  
1.14  
1.11  
0
2
4
6
Chuyển vị, m  
Cùng hệ số an toàn Fs = 1.45, cọc ngàm vào  
đất tốt chuyển vị 1.1m nhưng cọc không  
ngàm vào đất tốt chuyển vị 2m.  
Fs  
Hình 6. Hệ số an toàn Fs đối với mái dốc 35  
độ, khoảng cách cọc từ 2d đến 7d, cọc có  
ngàm vào nền đất tốt  
1.50  
4.3.2 Trƣờng hợp cọc không đƣợc ngàm  
vào đất tốt  
1.45  
Với mái dốc 35 độ và độ sâu ép cọc là 33m  
thì khoảng cách cọc 3d và 4d là tốt nhất,  
mặc dầu vậy hệ số an toàn Fs chỉ khoảng  
1.082 và chuyển vị khá lớn  
1.40  
1.35  
Fs  
1.090  
1.30  
1.25  
1.085  
1.080  
1.075  
1.070  
1.065  
1.060  
1.055  
0
0.2  
0.4  
Chuyển vị, m  
Hình 5. Quan hệ chuyển vị và hệ số an toàn  
0.6  
0.8  
1
Fs với chiều sâu chôn cọc là 22m, cọc ngàm  
vào đất tốt, mái dốc 300  
4.3 Ứng xử mái dốc 35 độ  
4.3.1 Trƣờng hợp cọc BTCT ngàm vào  
lớp đất tốt.  
Ở mỗi khoảng cách cọc sẽ có một chiều sâu  
cọc ngàm vào đất tốt nhất, khi đến độ sâu  
đó, nếu ép sâu hơn nữa thì hệ số an toàn Fs  
không tăng lên. Trong bài này, tỷ số giữa  
chiều dài cọc ngàm trong đất tốt với chiều  
dài cọc trong lớp đất yếu dao động từ 0.4  
đến 0.6  
0
1
2
3
Chuyển vị, m  
Hình 7. Hệ số an toàn Fs và chuyển vị của  
cọc BTCT khoảng cách gia cố từ 2d đến 7d  
ở chiều sâu ép cọc là 33m  
Khi khoảng cách cọc càng nhỏ thì độ ổn  
định của mái dốc càng lớn (hệ số an toàn Fs  
càng lớn). Kết quả này còn thể hiện trong  
tương quan lực cắt của cọc trên một mét dài  
bề rộng mái dốc theo khoảng cách của cọc  
(hình 8b). Khi khoảng cách cọc càng nhỏ,  
lực cắt huy động trên một mét bề rộng mái  
dốc càng lớn từ đó lực gia cường mái dốc  
(huy động từ lực cắt của cọc) càng lớn. Do  
đó, độ ổn định của mái dốc được gia cường  
cũng tăng lên.  
4.4 Khảo sát lực cắt trên thân cọc.  
Kết quả lực cắt dọc lớn nhất trên thân cọc từ  
phân tích mái dốc được gia cường cọc  
BTCT được thể hiện trong hình 8.  
Lực  
cắt  
của  
cọc  
cho  
một  
mét  
dài  
(a)  
4.5 Hiệu ứng vòm  
Nghiên cứu của Kourkoulis và cộng sự,  
(2011) về cọc gia cường mái dốc trong điều  
kiện cọc được ngàm vào đất tốt cho thấy  
hiệu ứng vòm xảy ra khi khoảng cách cọc  
nhỏ hơn hoặc bằng 4D trong đó chuyển vị  
đất giữa cọc và chuyển vị của cọc xấp xỉ  
nhau, hiệu ứng vòm hầu như không xuất  
hiện khi có độ chênh lệch lớn giữa chuyển vị  
cọc và đất.  
(kN/m)  
Khoảng cách cọc  
Lực  
cắt  
của  
cọc  
cho  
một  
mét  
(b)  
dài  
(kN/m)  
Hiệu ứng vòm của nhóm cọc trong trường  
hợp mái dốc 30 độ, cọc không ngàm vào lớp  
đất tốt xảy ra khi khoảng cách giữa hai cọc ≤  
4d, làm tăng sự ổn định của mái dốc. Khi  
khoảng cách cọc lớn hơn 5d, thì chênh lệch  
chuyển vị giữa đất giữa hai cọc và cọc ngày  
càng lớn tỷ lệ thuận với khoảng cách hai cọc  
theo chiều hướng đất giữa hai cọc trôi nhanh  
hơn cọc (hình 9).  
Khoảng cách cọc  
Hình 8. Quan hệ lực cắt của cọc theo  
khoảng cách cọc từ 2d đến 7d, mái dốc 35  
độ trong trường hợp (a) cọc không ngàm vào  
lớp đất tốt và (b) cọc được ngàm vào đất tốt  
Khi cọc không được ngàm vào đất tốt, giá trị  
lực cắt của cọc trên một mét bề rộng mái  
dốc (Q < 250 kN/m) rất nhỏ so với trường  
hợp cọc được ngàm vào lớp đất tốt, điều này  
thể hiện cọc BTCT không được huy động  
nhiều để gia cường độ ổn định của mái dốc  
nếu không được ngàm vào lớp đất tốt. Ảnh  
hưởng của khoảng cách cọc đến độ ổn định  
mái dốc cũng không lớn khi hệ số an toàn Fs  
trong cả 6 trường hợp là tương tự nhau, tuy  
nhiên kết quả lực gia cường huy động từ lực  
cắt của cọc trên một mét bề rộng mái dốc  
cho thấy khoảng cách cọc không nên bố trí  
quá 4d để tối ưu khả năng gia cường mái  
dốc của cọc BTCT (hình 8a)  
Fs  
1.42  
1.41  
1.40  
1.39  
1.38  
1.37  
1.36  
Kết quả phân tích cho thấy khi cọc được  
ngàm vào đất tốt, so với mái dốc 35 độ cọc  
không ngàm vào đất tốt, hệ số an toàn Fs  
tăng lên rất nhiều dưới tác dụng của cọc  
BTCT. Nó cũng thể hiện trên kết quả lực cắt  
huy động rất lớn từ cọc trên một mét bề rộng  
mái dốc (Q từ 850 - 1200 kN/m)  
0.35  
0.4  
0.45  
Chuyển vị, m  
0.5  
0.55  
Hình 9. Hiệu ứng vòm giữa hai cọc với mái  
dốc 30 độ, cọc có ngàm vào lớp đất tốt.  
Mặc dù đất yếu, và cọc không ngàm vào đất  
tốt, nhưng bản thân mái dốc đã ổn định nên  
chuyển vị của đất ở chân cọc rất nhỏ (xem  
hình 10) dẫn đến là chân cọc giống như  
được ngàm trong đất, thỏa mãn điều kiện  
Khi khoảng cách cọc lớn hơn 5d, thì chênh  
lệch chuyển vị giữa đất giữa hai cọc và cọc  
ngày càng lớn tỷ lệ thuận với khoảng cách  
hai cọc. Lý giải điều này cũng như trường  
hợp trên, vì khi cọc ngàm vào đất tốt thì  
chuyển vị chân cọc gần như không có, rất  
nhỏ so với chuyển vị đầu cọc, dẫn đến cọc  
có khả năng tạo hiệu ứng vòm.  
xảy ra hiệu ứng vòm giữa 2 cọc.  
Fs  
Chân cọc 2d không ngàm  
Chân cọc 3d không ngàm  
Chân cọc 4d không ngàm  
1.48  
Fs  
1.44  
Chân cọc 5d không ngàm  
1.085  
1.40  
1.36  
1.080  
1.075  
1.070  
1.32  
1.28  
Chân cọc 6d không ngàm  
Chân cọc 7d không ngàm  
Chân cọc 7d ngàm  
1.065  
1.060  
1.055  
0
0.02  
0.04  
0.06  
Chuyển vị, m  
Hình 10: Hệ số an toàn Fs và chuyển vị của  
chân cọc BTCT khoảng cách gia cố từ 2d đến  
7d ở chiều sâu ép cọc là 21m, 30 độ, cọc  
không ngàm vào đất tốt  
0
0.5  
1
1.5  
2
Chuyển vị, m  
Hiệu ứng vòm của nhóm cọc trong trường  
hợp mái dốc 35 độ, cọc ngàm vào lớp đất tốt  
xảy ra khi khoảng cách giữa 2 cọc ≤ 4d, làm  
tăng sự ổn định của mái dốc (hình 11).  
Fs  
Hình 12. Hiệu ứng vòm giữa hai cọc với mái  
dốc 35 độ, cọc không ngàm vào lớp đất tốt.  
Hiệu ứng vòm trong trường hợp này (hình  
12) thì không diễn ra, tất cả các đường biểu  
diễn sự chuyển vị đất giữa 2 cọc và đỉnh cọc  
đều trùng nhau ở mỗi khoảng cách cọc.  
1.18  
Ở đây có sự chuyển vị đồng thời đất ở giữa  
hai cọc và cọc, đó là sự trôi cọc trong đất,  
cọc mất tác dụng trong việc giữ sự ổn định  
của đất.  
1.16  
1.14  
1.12  
1.1  
0.8  
1.2  
1.6  
2
Chuyển vị, m  
Hình 11: Hiệu ứng vòm giữa hai cọc với  
mái dốc 35 độ, cọc có ngàm vào lớp đất tốt.  
Fs  
1.10  
1.09  
1.08  
cách cọc càng nhỏ, lực cắt của cọc trên một  
mét bề rộng mái dốc càng lớn từ đó lực gia  
cường mái dốc càng lớn. Do đó, độ ổn định  
của mái dốc được gia cường cũng tăng lên.  
Chân cọc 2d không ngàm  
Chân cọc 3d không ngàm  
Chân cọc 4d không ngàm  
Chân cọc 5d không ngàm  
Trong trường hợp cọc không ngàm vào lớp  
đất tốt, và mái dốc có hệ số an toàn Fs < 1  
khi không được gia cường thì khoảng cách  
cọc hầu như không ảnh hưởng đến hệ số an  
toàn Fs của mái dốc gia cường. Giá trị lực  
cắt của cọc trên một mét bề rộng mái dốc (Q  
nhỏ hơn 250 kN/m) rất nhỏ so với trường  
hợp cọc được ngàm vào lớp đất tốt. Cọc  
BTCT không được huy động nhiều để gia  
cường độ ổn định của mái dốc nếu không  
được ngàm vào lớp đất tốt. Trong trường  
hợp này, khoảng cách cọc không nên bố trí  
quá 4d để tối ưu khả năng gia cường mái  
dốc của cọc BTCT  
1.07  
1.06  
1.05  
1.04  
Chân cọc 6d không ngàm  
Chân cọc 7d không ngàm  
Chân cọc 7d ngàm  
-0.3  
0
0.3  
0.6  
0.9  
Chuyển vị, m  
Hình 13: Hệ số an toàn Fs và chuyển vị của  
chân cọc BTCT khoảng cách gia cố từ 2d  
đến 7d, chiều sâu cọc 33m, mái dốc 35 độ,  
cọc không ngàm vào đất tốt  
Để đảm bảo cọc ngàm hoàn toàn vào đất tốt  
thì tỷ lệ giữa chiều dày cọc ngàm trong đất  
tốt với chiều dày lớp đất yếu dao động từ 0.4  
đến 0.6.  
Hình 13 thể hiện sự chuyển vị của chân cọc  
không ngàm ở mái dốc 35 độ rất lớn so với  
các trường hợp cọc có ngàm vào lớp đất tốt.  
(Đường biểu diễn màu xanh lá cây là sự  
chuyển vị của chân cọc ở mái dốc 35 độ khi  
ngàm vào đất tốt, chuyển vị gần như không  
có). Với hệ số an toàn Fs = 1.08, bản thân  
chân cọc cũng bị trượt nên chắc chắn cọc  
không tham gia vào quá trình ổn định mái  
dốc.  
Hiệu ứng vòm của nhóm cọc xảy ra khi 2  
cọc liền kề nhau nó sẽ sinh ra hiệu ứng ngăn  
cản sự dịch chuyển (dòng chảy) của đất. Kết  
quả phân tích cho thấy độ chênh lệch giữa  
chuyển vị đầu cọc và đất giữa cọc nhỏ hơn 0  
khi khoảng cách cọc từ 2D-4D. Mũi cọc  
chuyển vị nhiều hơn đất giữa cọc. Khi đó,  
hiệu ứng vòm trong cọc xảy ra giúp cọc  
ngăn chặn hiệu quả chuyển vị của đất.  
5. KẾT LUẬN  
Với khoảng cách cọc lớn hơn 4D, độ chênh  
lệch chuyển vị lớn hơn 0, khi đó đất giữa  
cọc chuyển vị nhiều hơn mũi cọc (đất trôi  
giữa 2 cọc). Hiệu ứng vòm giữa đất và cọc  
hầu như không còn, cọc không hiệu quả  
trong ngăn chặn chuyển vị của đất giữa cọc.  
Bài báo trình bày nghiên cứu về ứng xử của  
mái dốc trên nền đất yếu được gia cường  
cọc BTCT trong trường hợp cọc được ngàm  
và không được ngàm vào nền đất cứng. Một  
số kết luận cụ thể như sau:  
Trong trường hợp cọc được ngàm vào lớp  
đất tốt, khoảng cách cọc càng nhỏ thì càng  
có khả năng gia cường mái dốc (hệ số an  
toàn Fs càng tăng). Đây là do khi khoảng  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Đinh Công Sản, Thorsten A. và Klaus S., 2013. “Hướng dẫn quản lý bờ biển: Bảo vệ bờ biển ở  
Đồng Bằng Sông Cửu Long“, Tháng 10-2013.  
Vũ Văn Hà, 2015. “Đặc điểm môi trường trầm tích và lịch sử phát triển địa chất holoxen vùng  
cửa sông ven biển của hệ thống sông Cửu Long”, Học viện Khoa học và Công Nghệ, Viện Hàn  
lâm KH&CN Việt Nam, Hà Nội – 2015.  
Donovan M., Fauziah A., Hemanta H., and Naoto W., 2013. “The Design Method of Slope  
Stabilizing Piles: A Review”, International Journal of Current Engineering and Technology  
ISSN 2277 – 4106.  
Fathi M. Abdrabbo, Naema A. Ali, 2015. “Behaviour of single pile in consolidating soil”,  
Alexandria Engineering Journal (2015) 54, 481–495.  
Hassiotis, S., J. L. Chameau,z and M. Gunaratne, 1997. “Design method for stabilization of  
slopes with piles”, J. Soil Mech. and Found. Div., ASCE, 99, 391-406.  
Kourkoulis, R., F. Gelagoti, I., Anastasopoulos, and G. Gazetas, 2011. “Slope Stabilizing Piles  
and Pile-Groups: Parametric Study and Design Insights”, © 2011 American Society of Civil  
Engineers.  
Kourkoulis, F. Gelagoti, I. Anastasopoulos, and G. Gazetas, 2012. “Hybrid Method for Analysis  
and Design of Slope Stabilizing Piles”, © 2012 American Society of Civil Engineers.  
Lee, C.Y., Hull T.S. and Poulos H.G., 1995. “Simplified Pile-Slope Stability Analysis”,  
Computers and Geotechnics 17 (1995) 1-16.  
Naresh, C.S., and Ed Commune, A.N., 2006. “Soils and foundations vols”. I and II, National  
Highway Institute, Federal Highway Administration, Washington, D.C.. Report No. FHWA–  
NHI–06–088, 2006.  
Poulos, H.G., 1999. “Design of reinforcing piles to increase slope stability”, Geotechnique,  
28(3): 309-326.  
Shikou Y., Xuhua R., Jixun Z., 2011. “Study on embedded length of piles for slope reinforced  
with one row of piles”, Journal of Rock Mechanics and Geotechnical Engineering. 2011, 3 (2):  
167–178.  
Tác giả chịu trách nhiệm bài viết:  
Họ tên: Đỗ Trọng Vi  
Đơn vị: Cty cổ phần Tư vấn – Xây lắp – Thương mại Sông Hồng  
Điện thoại: 0908411148  
BÀI BÁO KHOA HỌC  
THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ  
Bài báo khoa học của học viên  
có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn  
Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ  
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.  
Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý  
của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.  
ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN!  
Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2018-2019 của Thư viện Trường Đại học  
Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.  
pdf 10 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 19440 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu ứng xử cọc BTCT gia cường bờ kè bờ sông đồng bằng sông Cửu Long", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_ung_xu_coc_btct_gia_cuong_bo_ke_bo_song_dong_bang.pdf