Một số giải pháp phát triển văn hóa đọc cho sinh viên phân hiệu Trường Đại học Giao thông Vận Tải tại Thành phố Hồ Chí Minh

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VĂN HÓA ĐỌC  
CHO SINH VIÊN PHÂN HIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI  
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
TÓM TẮT  
Hiện nay, các trường đại học ở Việt Nam đang triển khai mạnh mẽ phương  
thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ và đổi mới phương pháp dạy - học theo hướng lấy  
người học làm trung tâm, giảm thời gian lý thuyết, tăng thời gian tự học, tự nghiên  
cứu cho sinh viên. Để thực hiện nhiệm vụ này, các trường đại học phải thực hiện  
nhiều giải pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng đào tạo, trong đó vấn đề hiện  
đại hóa hoạt động thông tin, thư viện, phát triển văn hóa đọc được đặc biệt quan  
tâm vì đây là yếu tố quyết định thúc đẩy quá trình học tập và nghiên cứu của sinh  
viên. Trong bài viết này, qua phân tích thực trạng văn hóa đọc của sinh viên trong  
trường đại học, chúng tôi đề xuất những giải pháp phát triển văn hóa đọc cho sinh  
viên trong giai đoạn hiện nay.  
Từ khóa: Vai trò thư viện, tự học, học tập suốt đời, văn hóa đọc.  
ABSTRACT  
At present, universities in Vietnam are implementing strong training methods  
under the credit system and innovating teaching-learning methods in the direction of  
learner-centered learning, reducing theoretical time, increasing time self study, self  
study for students. To perform this task, universities have to implement many  
synchronous solutions to improve the quality of training, in which the modernization  
of information activities, libraries, developing of reading cultural is very important.  
This is a decisive factor for promoting student learning and research. In this article,  
through the analysis of the reading culture at the university, we propose solutions for  
developing reading culture for students in the present stage.  
Library role  
Keywords:  
, self-learning, life-long learning, reading culture.  
1.  
Đặt vấn đề  
1.1 Khái niệm Văn hóa đọc:  
Là một thuật ngữ khá mới, “văn hóa đọc” chưa được định nghĩa thống nhất và  
chưa xuất hiện trong các bộ từ điển tiếng Việt. Theo Nguyễn Hữu Viêm, văn hóa  
1
đọc là một khái niệm có hai nghĩa, một nghĩa rộng và một nghĩa hẹp. Ở nghĩa  
rộng, đó là ứng xử đọc, giá trị đọc và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân, của  
c
và cơ quan quản lí nhà nước; còn ở nghĩa  
ộng đồng xã hội và của các nhà quản lí  
hẹp, đó là ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân .[4]  
Tại Hội thảo “Văn hóa đọc, thực trạng và giải pháp” tổ chức tại thành phố Hồ  
Chí Minh (2010), khái niệm “văn hóa đọc” được lý giải theo cả nghĩa rộng và nghĩa  
hẹp.  
Theo nghĩa rộng, văn hóa đọc là cách ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của các  
nhà quản lý và các cơ quan quản lý nhà nước; ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của  
cộng đồng và ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân trong xã hội. Xét từ  
góc độ cá nhân, văn hóa đọc cần hội tụ đủ 3 yếu tố là thói quen đọc, sở thích đọc  
và kỹ năng đọc.  
Theo nghĩa hẹp, “văn hóa đọc” là ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của mỗi  
cá nhân hình thành nên, hay nói cách khác là thói quen đọc, sở thích đọc và kỹ năng  
đọc của bản thân mỗi người. Các yếu tố này có mối quan hệ biện chứng cùng bổ sung,  
bồi đắp cho nhau. Khi cá nhân có những ứng xử, giá trị và chuẩn mực đúng đắn, lành  
mạnh sẽ hình thành thói quen đọc, sở thích đọc và kỹ năng đọc lành mạnh. [4].  
Như vậy, văn hóa đọc đã vượt lên khái niệm đọc đơn thuần. Trong phạm vi  
nghiên cứu của bài báo này, người nghiên cứu tìm hiểu Văn hóa đọc theo nghĩa hẹp, tức  
khái niệm “Văn hóa đọc là ứng xử đọc, giá trị đọc và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân  
hay nói cách khác là thói quen đọc, sở thích đọc và kỹ năng đọc của bản thân mỗi  
người”.  
1.2. Nội dung của Văn hóa đọc:  
“Văn hóa đọc” được biểu hiện qua các đặc điểm của người đọc đó là nhu cầu  
đọc, thói quen đọc và sở thích đọc, kỹ năng đọc và văn hóa ứng xử với tài liệu.  
Nhu cầu đọc: Nhu cầu đọc là đòi hỏi khách quan của chủ thể (cá nhân, nhóm,  
xã hội) đối với việc tiếp nhận và sử dụng tài liệu nhằm duy trì và phát triển các hoạt  
động sống của con người. Nói cách khác, nhu cầu đọc là thái độ của chủ thể với việc  
đọc như một hoạt động sống không thể thiếu được.  
2
- Thói quen đọc và sở thích đọc: là một hoạt động hay mối quan tâm của con  
người liên quan đến việc đọc sách, báo, tài liệu có tính chất lặp lại nhiều lần trong thời  
gian rảnh rỗi nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của bản thân.  
- Kỹ năng đọc: là thành tố quan trọng nhất trong cấu trúc văn hóa đọc, là khả  
năng hiểu, lĩnh hội và cảm thụ tác phẩm, biến tri thức, kinh nghiệm trong sách thành  
tri thức, kinh nghiệm của bản thân để có thể vận dụng một cách nhuần nhuyễn, sáng  
tạo trong khi tiến hành các hoạt động sống khác nhau. [1, tr.113].  
- Kỹ năng đọc phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tri thức, kinh nghiệm, năng lực và  
mục đích đọc của mỗi cá nhân. Trong đó, mục đích đọc là yếu tố quan trọng trong việc  
lựa chọn phương pháp đọc phù hợp với yêu cầu đọc. Từ đó sẽ giúp người đọc tránh được  
đọc tràn lan, tốn công sức và quản lý thời gian đọc sách hợp lý.  
- Văn hóa ứng xử với tài liệu: là nói tới việc bạn thu nhận các thông tin trong  
tài liệu bằng cách nào ? Bạn đối xử với tài liệu đó ra sao ? Hay nói một cách khác là  
bạn thể hiện sự tôn trọng đối với cuốn sách bạn đang sử dụng như thế nào ? Ứng xử  
có văn hoá đối với tài liệu chính là thái độ và hành động của người đọc đối với tài liệu  
trong quá trình đọc. Đòi hỏi người đọc phải có thái độ và hành vi phù hợp: biết trân  
trọng, giữ gìn tài liệu, biết cách sử dụng tài liệu có hiệu quả mà không làm hư hỏng  
tài liệu, giữ gìn, khai thác/ sử dụng đúng mục đích,  
k
h
ô
n
g
được chiếm giữ trái phép  
tài liệu, g có hành vi làm hư tổn tài liệu. Mặt khác, văn hóa ứng xử với tài liệu còn  
k
hôn  
thể hiện qua tư thế đọc, nơi lưu giữ tài liệu.  
Chính vì vậy, việc phát triển văn hóa đọc đang được đặt ra là một vấn  
đề cấp bách hiện nay. Tháng 11/2015, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch đã  
trình Thủ tướng Chính phủ đề án “Phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng giai  
đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2030”. Hưởng ứng “Ngày đọc sách thế giới”  
(23/4) và “Ngày đọc sách Việt Nam” (21/4) hằng năm, “Tuần lễ học tập suốt đời”  
(2015) đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) triển khai với chủ đề “Chung tay  
xây dựng thư viện, thường xuyên đọc nhiều sách hay”, nhằm mục tiêu “Phát  
triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”. Quyết định số  
329/QĐ-TTg ngày 15/3/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án phát  
3
triển văn hóa đọc trong cộng đồng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 là động  
thái mới nhất của Chính phủ quan tâm để phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng.[3]  
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã xây dựng Kế hoạch số 161/KH-BGDĐT ngày  
26/3/2018 về thực hiện Đề án phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng đến năm 2020,  
định hướng đến năm 2030 đối với Giáo dục và Đào tạo. [2] Theo đó, việc đọc sách  
và phát triển văn hóa đọc đã có nhiều khởi sắc trong toàn bộ hệ thống các cơ  
sở giáo dục cả nước.  
2. Thực trạng văn hóa đọc của sinh viên Phân hiệu đại học Giao thông Vận  
tải tại Tp. Hồ Chí Minh  
Để đánh giá khách quan thực trạng văn hóa đọc của sinh viên, tác giả Luận văn đã  
tiến hành khảo sát bằng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi. Đối tượng tiến hành khảo  
sát là sinh viên từ năm 1 đến năm 4 đang theo học các ngành đào tạo của trường. Tổng  
cộng các biến quan sát về thói quen, nhu cầu, sở thích, kỹ năng đọc trong phiếu khảo sát  
là 22. Để mẫu được chọn mang tính đại diện với độ tin cậy cao, người nghiên cứu tiến  
hành khảo sát sinh viên với tổng số phiếu phát ra là 550 phiếu, tổng số phiếu thu về là  
498 phiếu, đạt 90.5% trên tổng số phiếu phát ra.  
Bảng 1: Nội dung và mức độ sử dụng tài liệu của sinh viên  
Thường xuyên Thỉnh thoảng Chưa bao giờ  
Nôi dung thông tin/tài liệu  
Sl  
Tỉ lệ %  
Sl Tỉ lệ % Sl Tỉ lệ %  
1)Nội dung liên quan tới  
môn học  
292  
61.5%  
177 37.3%  
6
1.3%  
2)Nội dung liên quan tới vấn  
đề, đề tài nghiên cứu  
3)Tin tức thời sự, chính trị  
4)Tin tức an ninh, pháp luật  
5)Kinh tế  
6)Khoa học công nghệ  
7)Khoa học tự nhiên  
8)Khoa học xã hội  
85  
132  
56  
92  
162  
93  
19.7%  
28.9%  
26.5%  
21.3%  
37.1%  
21.7%  
21.9%  
259 60.0% 88 20.4%  
280 61.3% 45  
137 64.9% 18  
9.8%  
8.5%  
242 56.0% 98 22.7%  
238 54.5% 37 8.5%  
283 66.1% 52 12.1%  
280 66.5% 49 11.6%  
92  
9)Văn hóa, Nghệ thuật, thể  
thao.  
188  
221  
41.5%  
228 50.3% 37  
183 42.5% 27  
8.2%  
6.3%  
10)Tin tức giải trí đơn giản,  
hiện tượng nóng trong xã hội  
51.3%  
4
Thường xuyên Thỉnh thoảng Chưa bao giờ  
Nôi dung thông tin/tài liệu  
Sl  
Tỉ lệ %  
Sl Tỉ lệ % Sl Tỉ lệ %  
0% 0%  
11)Khác  
14  
100%  
0
0
Bảng 1 cho thấy: sinh viên có mức độ thường xuyên đọc các tài liệu liên quan  
đến môn học nhiều hơn các hoạt động khác tỷ lệ này chiếm 61.5%. Nội dung tiếp  
theo mà sinh viên thường xuyên đọc là các tin tức giải trí, hiện tượng nóng trong xã  
hội, chiếm 51.3%, các tài liệu về văn hóa nghệ thuật thể thao là lựa chọn tiếp theo  
của sinh viên thường xuyên đọc. Các tài liệu về tin tức thời sự, chính trị, khoa học  
công nghệ, kinh tế, … cũng được sinh viên quan tâm. Việc thường xuyên đọc các tài  
liệu liên quan đến môn học và liên quan đến tin tức khoa học công nghệ của sinh  
viên nhằm mục đích phục vụ học tập. Chính môi trường đại học cùng với với phương  
pháp đào tạo mới theo tín chỉ và lấy người học làm trung tâm đòi hỏi sinh viên phải  
dành nhiều thời gian cho việc tự học, tự đọc tài liệu. Ta cũng thấy tình hình thực tế là  
tỉ lệ khá nhiều sinh viên thích đọc các tin tức giải trí đơn giản, các hiện tượng nóng  
trong xã hội.  
Bảng 2. Nội dung và mức độ sử dụng thời gian rảnh rỗi của sinh viên  
Thường xuyên Thỉnh thoảng Chưa bao giờ  
Nội dung  
Sl  
Tỉ lệ % Sl  
Tỉ lệ % Sl  
Tỉ lệ %  
1. Nghe đài  
11  
1.9%  
295 50.3% 280 47.8%  
2. Xem ti vi  
77  
149  
14.2%  
30.6%  
313 57.9% 151 27.9%  
3. Đọc sách, báo, tài liệu  
4. Sử dụng Internet: xem  
phim, nghe nhạc, facebook,  
zalo, v.v…  
5. Tham gia câu lạc bộ  
6. Đi hiệu sách  
334 68.6%  
4
0.8%  
2.0%  
401  
57  
39  
108  
137  
79.9%  
12.4%  
8.3%  
22.5%  
34.2%  
91  
18.1% 10  
189 41.2% 213 46.4%  
345 73.2% 87 18.5%  
297 61.9% 75 15.6%  
7. Chơi điện tử/chơi game  
8. Việc khác  
236 58.9% 28  
7.0%  
Xét trên mức độ thường xuyên sử dụng, sinh viên có thói quen sử dụng Internet  
có tỷ lệ cao 79.9% để xem phim, nghe nhạc, vào facebook, zalo, tiếp theo là các việc  
khác (làm thêm, đi chơi…) chiếm 34.2%. Việc đọc sách báo, tài liệu chiếm 30.6% và  
5
sau đó là chơi điện tử, chơi game chiếm 22.5%. Ngoài ra, sinh viên thỉnh thoảng tham  
gia một số hoạt động khác như nghe đài, xem tivi, đi hiệu sách,… cũng chiếm số  
lượng đáng kể. Sinh viên là lứa tuổi năng động và sáng tạo, việc khai thác thông tin  
được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau.  
Bảng 3: Thời gian dành cho việc đọc sách mỗi tuần của sinh viên  
Thời gian  
1. Rất ít khi đọc sách  
2. Dưới 1 giờ/tuần  
Số lượng  
103  
37  
Tỉ lệ  
19.7%  
7.1%  
3. Từ 1 đến 2 giờ/tuần  
4. Từ 3 đến 4 giờ/tuần  
5. Trên 4 giờ/tuần  
115  
104  
80  
22.0%  
19.9%  
15.3%  
14.2%  
6. Đọc sách hàng ngày  
74  
Sinh viên dành thời gian từ 1 đến 2 giờ một tuần để đọc sách chiếm tỉ lệ nhiều  
nhất 22.%. Số sinh viên dành từ 3 đến 4 giờ /tuần để đọc sách chiếm 19.9%. số sinh  
viên Rất ít khi đọc sách là 19.7%, Số sinh viên dành trên 4giờ /tuần đọc sách cũng  
chiếm tỉ lệ khá cao là 15.3%. Thấp nhất là số sinh viên dành dưới 1giờ /tuần đọc sách  
là 7%.  
Bảng 4: Lý do sinh viên dành ít thời gian để đọc sách  
Lý do ít đọc sách  
1. Không có thời gian  
Số lượng  
57  
Tỉ lệ  
11.4%  
2. Không có sự tương tác, dễ gây chán  
3. Nhiều loại hình giải trí khác lôi cuốn hơn, Vd: đi  
chơi, Facebook,…  
150  
30.1%  
264  
53.0%  
4. Thích văn hóa nghe nhìn (nhạc, phim…) hơn văn  
hóa đọc  
5. Do mọi người xung quanh cũng ít đọc  
6. Dành thời gian cho việc tham gia các hoạt động xã  
hội  
198  
45  
39.8%  
9.0%  
39  
72  
51  
7.8%  
14.5%  
10.2%  
7. Dành thời gian cho việc học nhiều quá  
8. Lý do khác  
Lý do được lựa chọn nhiều nhất cho việc ít đọc sách là do có nhiều loại hình  
giải trí khác lôi cuốn hơn việc đọc sách chiếm tới 53%, lĩnh vực giải trí nghe nhìn  
cũng được sinh viên yêu thích và lựa chọn tới 39.8%, sinh viên cũng thấy đọc sách, tài  
liệu do không có sự tương tác nên dễ gây chán, không cuốn hút được sinh viên chiếm  
6
30.1% số lượng trả lời. 14,5% sinh viên cho biết ít đọc sách do dành thời gian cho  
việc học nhiều quá. Một số ít sinh viên cho biết do họ không có thời gian hoặc họ phải  
tham gia các hoạt động khác.  
Bảng 5: Mục đích truy cập Internet của sinh viên  
Số lượng  
Tỉ lệ  
Mục đích truy cập Internet  
1. Đọc sách, truyện  
2. Đọc truyện tranh  
3. Lướt Facebook  
4. Chơi game  
169  
73  
33.9%  
14.7%  
80.3%  
40.0%  
70.3%  
68.5%  
73.9%  
48.0%  
12.2%  
6.8%  
400  
199  
350  
341  
368  
239  
61  
5. Đọc tin tức  
6. Tìm tài liệu  
7. Xem phim, Nghe nhạc  
8. Chat  
9.Viết blog/vào các Forum  
10. Khác  
34  
Hiện nay sinh viên dành thời gian rất nhiều để truy cập Internet mỗi ngày, theo  
khảo sát có đến 80.3% sinh viên lựa chọn lên mạng để vào Facebook, mục đích tiếp  
theo để xem phim và nghe nhạc là 73.9% và để đọc tin tức là 70.3%, tìm tài liệu là  
68.5%, chat là 48%,..  
Bảng 6: Cách thức đọc tài liệu của sinh viên  
Cách thức đọc sách, tài liệu  
1. Chỉ đọc lướt qua nội dung  
Số lượng  
127  
Tỉ lệ  
25.5%  
23.7%  
9.8%  
2. Chỉ đọc đoạn hay, quan trọng  
3. Giở ra phần nào đọc phần đấy  
4. Đọc lần lượt từ đầu đến cuối  
5. Đọc chậm, nghiền ngẫm  
118  
49  
208  
41.8%  
36.9%  
184  
7
6. Vừa đọc vừa làm việc khác  
7. Chỉ đọc phần nào bị yêu cầu  
8. Vừa đọc vừa ghi chú lại  
22  
25  
64  
4.4%  
5.0%  
12.9%  
Từ biểu đồ trên cho thấy, khi đọc tài liệu, sinh viên có thói quen đọc lần lượt  
từ đầu đến cuối là 41.8% và đọc chậm, nghiền ngẫm chiếm 36.9%, chỉ đọc lướt qua  
nội dung chiếm 25.5%. Đặc trưng của các khối trường đại học lĩnh vực khoa học kỹ  
thuật, tài liệu chuyên ngành thường khó và đòi hỏi sinh viên phải đọc nghiền ngẫm,  
nghiên cứu từ các kiến thức cơ sở nền tảng, từ kiến thức đại cương cơ bản đến các  
kiến thức nâng cao chuyên sâu. Đó cũng là lý do để hiểu được tài liệu phục vụ cho  
việc học tập, nghiên cứu, đòi hỏi sinh viên phải đọc từ đầu, tức các kiến thức nền  
tảng, đến các kiến thức chuyên sâu hơn. Bên cạnh đó lượng sinh viên lựa chọn chỉ đọc  
lướt qua nội dung để nắm được nội dung chính của tài liệu, bố cục của cuốn sách, ý  
tưởng của tác giả đề cập đến. Cách đọc này phù hợp với nhiều loại tài liệu và mục  
đích đọc khác nhau.  
Như vậy, sinh viên có nhu cầu và quan tâm đến các tài liệu phục vụ mục đích  
học tập là chủ yếu, đồng thời sinh viên cũng dành rất nhiều thời gian cho việc truy cập  
Internet, vào facebook, zalo, đọc các tin tức giải trí đơn giản. Sinh viên biết và nắm  
được kỹ năng đọc và có văn hóa ứng xử với tài liệu khá tốt nhưng lại dành ít thời gian  
cho việc đọc sách.  
3. Một số biện pháp phát triển văn hóa đọc cho sinh viên  
Một là, nâng cao nhận thức của bạn đọc đối với việc phát triển văn hóa đọc  
Để nâng cao ý thức trách nhiệm của bạn đọc về văn hóa đọc cần phải đẩy  
mạnh giáo dục, trang bị các kiến thức, kỹ năng đọc, thể loại đọc... Bên cạnh đó, tích  
cực đổi mới phương pháp giảng dạy trong Nhà trường, gắn yêu cầu đọc đối với học  
viên, để nâng cao chất lượng đào tạo. Ngoài ra, Nhà trường cần đẩy mạnh các hoạt  
động tuyên truyền văn hóa đọc tới đông đảo bạn đọc. Cụ thể:  
8
Đa dạng hóa các hoạt động tuyên truyền như: Triển lãm sách, báo, tạp chí; tổ  
chức hội nghị bạn đọc; thi đọc sách, thuyết trình, giới thiệu về sách; phối hợp với các  
nhà xuất bản, nhà sách tặng sách và bán sách trợ giá, giảm giá cho bạn đọc…  
Hai là, Nhà trường cần ban hành cơ chế, chính sách hợp lý nhằm phát triển  
văn hóa đọc  
Nhận thức sâu sắc vai trò của văn hóa đọc trong công tác giáo dục – đào tạo  
và trong nghiên cứu khoa học, cho nên nhà trường cần đưa ra cơ chế, chính sách hợp lý  
để tạo hành lang pháp lý trong việc phối hợp giữa các khoa, phòng nhằm tạo ra sự  
thống nhất trong vấn đề phát triển văn hóa đọc. Vì vậy, trong thời gian tới Ban Giám  
hiệu cần phải chỉ đạo, điều hành, tổ chức triển khai Kế hoạch phát triển văn hóa đọc tại  
Trường theo từng năm học. Đồng thời, nhà trường cũng cần xây dựng định hướng đọc,  
tổ chức các hoạt động phát triển văn hóa đọc thiết thực và có thu hoạch .Ví dụ như:  
Hàng tháng các Khoa chuyên môn có các buổi giới thiệu chuyên đề theo chuyên môn  
giảng dạy và có báo cáo thu hoạch. Câu lạc bộ giảng viên trẻ tiếp tục giới thiệu những  
cuốn sách hay, bổ ích cho giảng viên, sinh viên thông qua các buổi sinh hoạt của Câu  
Lạc bộ và phải có biên bản thu hoạch.  
Ba là, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện, chất  
lượng phục vụ của Thư viện  
Trường cần đẩy mạnh việc phối hợp với các thư viện tổ chức các buổi nói  
chuyện chuyên đề, hoặc tập huấn về nghiệp vụ thư viện thời đại công nghệ thông tin  
đối với cán bộ thư viện, các nhà quản lý thư viện nhằm phục vụ tốt hơn đối với người  
đọc bởi “thư viện tốt nhất là thư viện làm hài lòng độc giả nhất”. Bên cạnh đó, thư  
viện nhà trường phải bám sát các nhu cầu và mong muốn của độc giả, tiếp tục nghiên  
cứu thói quen đọc sách của họ để có thể kịp thời thiết lập lại các bộ sưu tập, hệ thống  
và dịch vụ cho phù hợp. Đồng thời phải phát triển, thử nghiệm và triển khai các hình  
thức phục vụ mới như: Dịch vụ cung cấp thông tin có chọn lọc, dịch vụ cung cấp  
thông tin qua email,… để góp phần gìn giữ và phát triển văn hóa đọc, tạo mối quan hệ  
lâu dài và bền vững giữa thư viện và độc giả. Thời gian tới, nhà trường phải chú trọng  
9
đầu tư phát triển nguồn học liệu điện tử, số hóa toàn bộ nội dung tài liệu phục vụ khai  
thác dữ liệu số tóm tắt và toàn văn cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên.  
Để đẩy mạnh phát triển văn hóa đọc Trường cần nâng cao chất lượng đội ngũ  
cán bộ thông tin thư viện, chú trọng đào tạo một số kỹ năng mới bên cạnh các kiến  
thức chuyên môn như kỹ năng nhận dạng đúng các yêu cầu tin, kỹ năng truy cập  
thông tin hiệu quả, kỹ năng đánh giá thông tin và nguồn tin, khả năng tra cứu thông  
tin trên mạng, sử dụng thành thạo các công cụ tham khảo, bao quát được các nguồn  
tin, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ thư viện tham gia các khóa đào tạo nghiệp vụ,  
khuyến khích tham gia nghiên cứu khoa học phục vụ công tác chuyên môn, đóng góp  
các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của thư viện và phát triển văn  
hóa đọc cho bạn đọc.  
Nhà trường phải xây dựng cho mình nguồn lực thông tin phong phú, đa dạng  
(cả về số lượng và chất lượng sách, giáo trình, tài liệu tham khảo). Xây dựng cơ sở  
dữ liệu số, các bộ sưu tập số phục vụ cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học.  
Tiếp tục trang bị, nâng cấp đường truyền kết nối Internet phục vụ hiệu quả cho quá  
trình tìm kiếm và khai thác thông tin phục vụ cho công tác học tập, giảng dạy và  
nghiên cứu của cán bộ, giảng viên, học viên Nhà trường.  
Bốn là, đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực hóa hoạt động  
của người học, phát huy vai trò tự học, tự nghiên cứu của sinh viên  
Thực hiện tốt việc xây dựng kế hoạch giảng dạy, đòi hỏi giảng viên phải nắm  
vững mục tiêu, yêu cầu, nguyên tắc cấu tạo nội dung chương trình môn học; nguồn  
giáo trình, tài liệu tương ứng; kinh nghiệm, cách thức lập kế hoạch giảng dạy môn  
học. Trên cơ sở chương trình khung đào tạo, xây dựng chương trình chi tiết phù hợp  
với từng chuyên ngành của mình. Các khoa, bộ môn phải có kế hoạch, tạo điều điện  
tốt cho việc tổ chức giảng dạy và kiểm tra, giám sát kết quả giảng dạy của từng giảng  
viên trong tổ chuyên môn. Giảng viên chỉ dẫn sinh viên cách tiếp cận vấn đề, định  
hướng nội dung thảo luận, thực hành. Giảng viên đặt ra yêu cầu đòi hỏi sinh viên phải  
biết cách lập kế hoạch tự học; giới thiệu tài liệu tham khảo cho sinh viên, yêu cầu sinh  
viên lập kế hoạch đọc, viết thu hoạch, vận dụng để giải quyết các nhiệm vụ tự học.  
10  
Rèn luyện cho sinh viên kỹ năng phân tích và phê phán bằng việc khuyến khích họ tự  
hỏi, trao đổi và đưa ra ý kiến nhằm làm cho sinh viên nhận thức được đó là một quá  
trình học hỏi, đúc rút kinh nghiệm để áp dụng khi gặp phải bất kỳ bài tập nào hay  
nhiệm vụ nào trong quá trình học tập và công tác.  
Năm là, phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thanh niên và Hội sinh viên  
để phát triển văn hóa đọc  
Các tổ chức Đoàn thanh niên, Hội sinh viên cần liên kết hoạt động với Thư viện  
trong các buổi tuyên truyền, giới thiệu sách cũng như phổ biến thông tin đến với bạn  
đọc. Đối với thư viện, việc quảng bá hình ảnh cũng như giới thiệu sản phẩm và dịch  
vụ thông tin thư viện đóng vai trò quan trọng trong công tác tổ chức hoạt động của  
mình. Vì vậy, các tổ chức Đoàn thanh niên và Hội sinh viên với hình thức hoạt động  
đa dạng và tích cực sẽ là nguồn nhân lực hữu ích trong công tác tổ chức hoạt động của  
thư viện như giới thiệu sách mới, Hội thi tuyên truyền giới thiệu sách, Hội chợ sách,  
triển lãm, hội nghị, hội thảo về sách và đọc sách,... Thông qua các hoạt động này nhằm  
kích thích hứng thú đọc và sở thích đọc sách của Bạn đọc. Tuy nhiên, để duy trì và mở  
rộng hoạt động này thường xuyên cần có sự quan tâm chỉ đạo và đầu tư kinh phí của Nhà  
trường.  
3.  
Kết luận  
Nói tóm lại, Thực trạng văn hóa đọc trong giới trẻ hiện nay còn nhiều mặt hạn  
chế. Sinh viên dành ít thời gian cho việc đọc, dành nhiều thời gian cho việc truy  
cập Internet, đặc biệt là facebook, zalo, chat,…Do đó việc phát triển văn hóa đọc  
cho sinh viên trong các trường đại học có vai trò quan trọng góp phần nâng cao chất  
lượng học tập, chất lượng đào tạo của nhà trường. Đổi mới phương pháp dạy - học,  
nâng cao chất lượng phục vụ của Thư viện cùng các giải pháp được đề xuất như trên  
giúp cho sinh viên đến với sách, hình thành thói quen đọc sách, tạo nền tảng quan  
trọng cho việc tự học, học tập suốt đời của mỗi người, góp phần xây dựng xã hội  
học tập - một trong những mục tiêu quan trọng của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ  
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.  
11  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bùi Trọng Giao, Trò chuyện với bạn trẻ về Kỹ năng, http://www.changemylife.vn/  
15/08/2018.  
2. Kế hoạch số 161/KH-BGDĐT ngày 26/3/2018 về thực hiện Đề án phát triển văn  
hóa đọc trong cộng đồng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 đối với Giáo  
dục và Đào tạo.  
3. Quyết định số 329/QĐ-TTg ngày 15/3/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc  
phê duyệt Đề án phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng đến năm 2020, định  
hướng đến năm 2030.  
4. Nguyễn Hữu Viêm, Văn hoá đọc và phát triển văn hoá đọc ở Việt Nam,  
nam.html, truy cập ngày 10/08/2018.  
12  
Thông tin liên hệ tác giả chính (Người chịu trách nhiệm bài viết):  
Họ và tên: Đào Thị Lan  
Đơn vị: Học viên cao học trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.  
Điện thoại: 028 3730 63 19  
Xác nhận của giảng viên hướng dẫn  
GS. TS. Nguyễn Lộc  
13  
BÀI BÁO KHOA HỌC  
THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ  
Bài báo khoa học của học viên  
có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn  
Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ  
Bảnquyềntác phẩm đã được bảo hộ bởiLuậtxuất bảnvà LuậtSở hữu trí tuệ Việt Nam. Nghiêm  
cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý của tác giả và  
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.  
ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN!  
Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2018-2019 của Thư viện Trường Đại học  
Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.  
pdf 14 trang Mãnh Khiết 11/01/2024 16740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số giải pháp phát triển văn hóa đọc cho sinh viên phân hiệu Trường Đại học Giao thông Vận Tải tại Thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_giai_phap_phat_trien_van_hoa_doc_cho_sinh_vien_phan_h.pdf