Khảo sát đánh giá và cải thiện chất lượng phục vụ hành khách thông qua lắp đặt và cải tiến ghế mát xa trên xe khách

KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ VÀ CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG PHỤC VỤ HÀNH  
KHÁCH THÔNG QUA LẮP ĐẶT VÀ CẢI TIẾN GHẾ MÁT XA TRÊN XE  
KHÁCH  
Assess survey and quality improvement in customer services by installation  
massage chairs in bus cars  
Phạm Văn Tài 1, TS. Nguyễn Bá Hải 2  
1Học viên Trường đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM  
2Trường đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM  
TÓM TẮT  
Hiện nay, xe khách là một phương tiện giao thông rất thông dụng ở Việt Nam. Bởi vì nó giúp  
cho việc di chuyển thuận tiện trên các tuyến đường xa. Tuy nhiên, quá trình sử dụng xe khách để  
di chuyển trong mỗi chuyến đi xa gây ra những cảm giác mệt mỏi, đau nhức cơ thể. Giải pháp  
đánh giả vả cải thiện chất lượng phục vụ hành khách thông qua lắp đặt và cải tiến ghế mát xa  
trên xe khách. Hành khách tham gia khảo sát đánh giá trên xe khách có ghế mát xa. Bài báo này  
trình bày khảo sát đánh giá của hành khách sử dụng xe khách có ghế mát xa. Sau đó phân tích  
bằng phần mềm SPSS và đánh giá kết quả khảo sát, từ đó đề xuất các giải pháp lắp đặt và cải tiến  
ghế mát xa trên xe khách nhằm đem lại cảm giác thoải mái và giảm cảm giác mệt mỏi cho khách  
hàng khi di chuyển đường dài.  
Từ khóa: Ghế mát xa trên ô tô, xe limousine, xe VIP, cải tiến ghế mát xa trên xe khách.  
ABSTRACT  
Now bus car is very popular means of transportation in Vietnam. It helps for travelling  
afar. However, during travelling time, it is very tired for the guests for long time sitting with body  
pain. Solution of assessing and improving customer services by installation massage chairs. The  
survey results are analyzed with SPSS software and assess the results to propose solution for  
installation and modification of massage chairs for bus cars in order to bring comfortable feelings,  
and reduce body pain for messengers when travelling in long journey.  
Keywords: Car seats, limousines, VIP cars, improved car seats on the car.  
Trong nghiên cứu này đã thực hiện trên ba  
mẫu xe khác nhau, ghế được đánh giá qua các  
người ngồi trong xe khác nhau [2]. S.  
Hiemstra-van Mastrigt và cộng sự của trường  
đại học công nghệ Delft của Hà Lan đã nghiên  
cứu hệ thống chỗ ngồi cho ghế sau của chiếc  
xe BMW 7- series ,bao gồm các cảm biến  
được gắn ở phía sau trên cơ thể của con người  
để biết được chuyển động của hành khách.  
Nghiên cứu này đánh giá ba khía cạnh khác  
nhau của ghế với các hoạt động khác nhau  
(đọc, làm việc trên máy tính xách tay và chơi  
trò chơi trên máy tính bảng)… Đầu tiên, cảm  
giác khó chịu và thoải mái được đo trong một  
bài kiển tra lái xe 30 phút. Cảm giác không  
thoải mái rất thấp cho tất cả hoạt động của  
hành khách. Thứ hai, đo nhịp tim, biểu thị  
1. GIỚI THIỆU  
1.1. Tổng quan về xe sử dụng ghế mát xa  
Ô tô có sử dụng ghế mát xa đã được các hãng  
xe nghiên cứu từ rất lâu. Matthias Franz và  
công sự của ông [1] nghiên cứu xác định hiệu  
quả về sự thoải mái của ghế mát xa cường độ  
nhẹ trên điện tâm đồ của cơ cổ và vai được trải  
nghiệm trong khi lái xe. Hai thí nghiệm được  
thực hiện trong khi lái xe có và không có  
LWMAS hoạt động ở ghế ô tô. Quá trình này  
được trải nghiệm thông qua 20 người tham gia  
lái xe trong 120 phút. Kết quả cho thấy hệ  
thống mát xa này tăng sự thoải mái và giảm  
hoạt động cơ bắp trong khi lái xe. Nghiên cứu  
của trường đại học công nghệ Delft  
Landbergstraat về ảnh hưởng của việc thiết kế  
chỗ ngồi cho xe hơi dựa trên kinh nghiệm.  
Page 1  
cường độ ánh sáng với điều kiện hành khách ít  
vận động. Thứ ba, thay đổi trung bình, hoạt  
động của các cơ bằng cách thay đổi các tư thế  
và được đo bằng điện tâm đồ (EMG) [3]. Tác  
giả Y. Qiu và M.J. Griffin của trường đại học  
Southampton đã nghiên cứu việc rung động  
của người ngồi trên ghế xe bằng mười hai tín  
hiệu đầu vào ở chân ghế (rung động ba trục ở  
bốn góc) và sáu tín hiệu đầu ra (rung động ba  
trục ở tựa lưng và ghế ngồi) được đo trong khi  
lái xe. Kết quả cho thấy rằng, rung động vào  
chỗ ngồi khác nhau, giữa bốn vị trí tại cơ sở  
chỗ ngồi tăng tốc đầu vào ở phía bên tay trái  
của đế ghế và hai gia tốc đầu vào phía trước ở  
phía bên tay phải của đế ghế tương quan chặt  
chẽ với nhau [4]. Ở Việt Nam khi nói tới chiếc  
xe có ghế mát xa thì thường nghĩ tới những  
chiếc xe hạng sang. Đã có các công trình  
nghiên cứu về ghế mát xa trên xe khách. Hai  
bạn sinh viên: Phạm Đình Tuấn và Nguyễn  
Minh Tâm với đề tài: “Ghế massage lắp trên ô  
tô”. Đã thiết kế ra sản phẩm ghế mát xa và có  
tên là MSAB-Chair. MSAB-Chair có thể thực  
hiện việc mát xa phần lưng của những hành  
khách, người mà phải chịu mệt mỏi do đang  
phải di chuyển một quãng đường dài trên ô tô.  
Khi mát xa sẽ có bốn con lăn hoạt động di  
chuyển lên xuống để tạo cảm giác giống như  
có một ai đó đang mát xa lưng cho bạn.  
MSAB-Chair có thể điều chỉnh tốc độ mát xa  
từ công tắc vặn, khi người nằm lên ghế và lựa  
chọn chế độ mát xa nhanh hay chậm [5]. Hai  
bạn sinh viên Nguyễn Xuân Học và Đào Minh  
Nhật với đề tài: “Thiết kế và lập trình ghế  
massage cho giường nằm xe khách Trường  
Hải”. Chiếc ghế này được đặt tên là “S -  
Massage Chair” được gắn thêm 6 motor rung  
tại vị trí vai, lưng và hông của hành khách khi  
nằm trên chiếc ghế. Những chiếc motor rung  
này được điều khiển bởi remote có 8 nút nhấn  
đề vận hành những motor rung ở các vị trí vai,  
lưng và hông. Chiếc ghế “S - Massage Chair”  
[6]. Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Hoàng  
Khánh ứng dụng tính năng mát xa trên ô tô,  
tính toán, phát triển và tích hợp tính năng mát  
xa cho giường nằm được lắp trên xe khách  
Trường Hải. Tính toán hệ thống phát điện của  
dòng xe MobiHome Trường Hải để có thể  
cung cấp cho chiếc giường nằm có tính năng  
mát xa này và phát triển lên lắp 5 giường nằm  
mát xa cho xe [7].  
hàng  
Mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL  
(Parasuraman, 1988). được xây dựng dựa trên  
quan điểm chất lượng dịch vụ cảm nhận là sự so  
sánh giữa các giá trị kỳ vọng, mong đợi  
(expectation) và các giá trị khách hàng cảm  
nhận được (perception). được nghiên cứu thông  
qua hai mươi hai thang đo của năm tiêu chí: sự  
tin cậy (reliability), hiệu quả phục vụ  
(réponsiveness), sự hữu hình (tangibles), sự  
đảm bảo (assurance) và sự cảm thông  
(empathy).  
b. Mô hình hài lòng của khách hàng Mỹ  
Trong mô hình chỉ số hài lòng của Mỹ  
(ACSI), giá trị cảm nhận chịu tác động bởi  
chất lượng cảm nhận và sự mong đợi của khách  
hàng. Khi đó, sự mong đợi của khách hàng có  
tác động trực tiếp đến chất lượng cảm nhận.  
Hình 1. Mô hình chỉ số hài lòng của khách  
hàng Mỹ  
b. Mô hình hài lòng của khách Châu Âu  
Mô hình chỉ số hài lòng Châu Âu (ECSI) có  
một số khác biệt nhất định. So với ACSI, hình  
ảnh của sản phẩm, thương hiệu có tác động  
trực tiếp đến sự mong đợi của khách hàng. Khi  
đó, sự hài lòng của khách hàng là sự tác động  
tổng hòa của 4 nhân tố hình ảnh, giá trị cảm  
nhận, chất lượng cảm nhận về cả sản phẩm  
hữu hình và vô hình.  
Hình 2. Mô hình chỉ số hài lòng của các quốc  
gia Châu Âu  
1.3. Thiết kế phương pháp khảo sát  
Quy trình nghiên cứu  
Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu của đề tài,  
mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên  
cơ sở lý thuyết trước đó nhằm xác định các  
thang đo lường ảnh hưởng đến sự hài lòng của  
hành khách đối với các nhà xe, hình thành các  
giả thuyết nghiên cứu ban đầu phù hợp với  
mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra và đặc thù của  
hành khách về xe khách. Lựa chọn các biến  
1.2. Khách hàng và sự hài lòng  
a. Mô hình nghiên cứu sự hài lòng của khách  
Page 2  
quan sát cho thang đo, xác định mẫu cho  
nghiên cứu. Thang đo được sử dụng trong  
nghiên cứu là than đo Likert mức độ cho tất cả  
các biến quan sát và phương pháp chọn mẫu  
đã được sử dụng. Lựa chọn cách thức thu thập  
thông tin cần nghiên cứu. Bằng câu hỏi được  
điều tra phỏng vấn trực tiếp hành khách. Sau  
khi xây dụng được bảng câu hỏi, xác định  
được số lượng mẫu cần thu thập, bảng câu hỏi  
cần được thử nghiệm điều tra phù hợp với  
thực trạng của hành khách để hoàn chỉnh  
thang đo, bảng câu hỏi. Nếu bảng câu hỏi đạt  
yêu cầu nghiên cứu thì tiếp tục khảo sát hành  
khách trên xe khách lắp ghế mát xa, nếu  
không đạt yêu cầu thì xây dựng lại bảng câu  
hỏi. Phân tích kỹ thuật gồm: thống kê mô tả,  
các thang đo lường cần được kiểm định độ tin  
cậy bằng hệ số Cronbach’s Alpha nhằm loại  
bỏ những biến rác. Từ đó kiểm định lại giải  
thuyết ban đầu về đánh giá sự hài lòng của  
hành khách đối với ghế mát xa sử dụng trên xe  
khách. Sau khi phân tích kỹ thuật, dữ liệu suy  
diễn cần được kiểm định thống kê nhằm đảm  
bảo sự ổn định mô hình đánh giá sự hài lòng  
của hành khách đi xe khách. Cuối cùng là một  
số giải pháp cho xe khách và các nhà xe.  
Thang đo  
câu hỏi bất kì vào phiếu khảo sát người nghiên  
cứu cần trả lời những câu hỏi sau: “Câu hỏi  
này có cần thiết hay không?”, “Đối tượng  
khảo sát có hiểu câu hỏi không?”, “Họ có đủ  
thông tin/khả năng để trả lời câu hỏi này  
không?”, “Họ có sẵn lòng trả lời câu hỏi này  
không?”.  
2.4. Xác định hình thức câu trả lời  
Đối với một câu hỏi nhất định, đối  
tượng khảo sát có thể lựa chọn câu trả lời từ  
những đáp án đã có sẵn hoặc trả lời bằng  
chính ngôn ngữ của mình. Tương ứng với hai  
cách trả lời trên người ta phân ra hai dạng câu  
hỏi: câu hỏi đóng và câu hỏi mở. Đối với  
người nghiên cứu, câu hỏi mở thường khó mã  
hóa trong quá trình nhập liệu và phân tích, còn  
đối với đối tượng khảo sát dạng câu hỏi này  
đòi hỏi họ phải suy nghĩ nhiều hơn để trả lời,  
do đó dạng câu hỏi này thường được sử dụng  
phổ biến trong nghiên cứu định tính hơn trong  
nghiên cứu định lượng. Ngược lại, đối với câu  
hỏi đóng, vì đối tượng khảo sát lựa chọn  
những đáp án đã được gợi ý sẵn nên họ có thể  
trả lời rất nhanh mà không phải suy nghĩ nhiều,  
người nghiên cứu có thể mã hóa và phân tích  
dữ liệu nhanh chóng hơn. Tuy nhiên đối với  
câu hỏi đóng, câu trả lời có thể không chính  
xác do đối tượng khảo sát phải miễn cưỡng  
chấp nhận những đáp án đã có sẵn, hoặc do  
thành kiến gây ra bởi cách sắp xếp thứ tự câu  
trả lời.  
Sử dụng câu hỏi đóng trong nghiên  
cứu nói chung thuận lợi hơn. Với câu trả lời  
của hành khách trả lời dưới dạng thang đo này,  
ta sẽ thấy được sự thỏa sự đánh giá của hành  
khách trên từng khía cạnh, từng nhân tố của  
ghế mát xa ở mức phù hợp hay không và ở  
mức nhiều hay ít. Đồng thời, ta có thể sử dụng  
số liệu thu thập được để xử lý, phân tích định  
lượng để xác định mối quan hệ tương quan,  
quan hệ tuyến tính giữa các biến nói chung,  
cũng như giữa các biến độc lập và biến phụ  
thuộc.  
2. Xây dựng câu hỏi khảo sát đánh giá  
2.1. Xác định cụ thể dữ liệu cần thu thập và  
đối tượng khảo sát căn cứ vào mục tiêu  
nghiên cứu  
Đối tượng khảo sát sẽ quyết định đến cách  
dùng từ, cách đặt câu hỏi, nội dung câu hỏi.  
2.2. Xác định phương pháp phỏng vấn  
Phỏng vấn trực diện, phỏng vấn qua điện thoại,  
và phỏng vấn bằng cách gửi thư, email, câu  
hỏi điện tử.  
2.5. Xác định cách sử dụng từ ngữ.  
Cách sử dụng từ ngữ trong phiếu khảo sát  
đóng vai hết sức quan trọng trong việc thiết kế  
phiếu khảo sát vì nó ảnh hưởng lớn đến câu trả  
lời của đối tượng khảo sát. Chẳng hạn, nếu  
một câu hỏi được diễn đạt không rõ ràng, đối  
tượng khảo sát có thể từ chối trả lời hoặc trả  
lời không chính xác. Để đảm bảo đối tượng  
khảo sát và người nghiên cứu đang cùng nói  
về một vấn đề, người nghiên cứu cần lưu ý  
những điều sau: xác định vấn đề chính cần hỏi  
một cách rõ ràng; sử dụng từ ngữ đơn giản và  
thông dụng, khi muốn dùng thuật ngữ chuyên  
ngành cần giải thích cụ thể thuật ngữ đó theo  
cách dễ hiểu nhất; không sử dụng những từ  
ngữ mơ hồ; tránh những câu hỏi mang tính  
chất gợi ý; tránh những câu hỏi suy đoán và  
ước lượng; tránh những câu hỏi có hai câu trả  
lời một lúc.  
2.3. Xác định nội dung câu hỏi  
Mỗi câu hỏi trong phiếu khảo sát đều đóng vai  
trò quan trọng trong việc đạt được mục tiêu  
cuối cùng của bài nghiên cứu. Khi đưa một  
2.6. Xác định trình tự và hình thức phiếu  
câu hỏi.  
Mở đầu bảng câu hỏi cần có phần giới thiệu để  
Page 3  
đối tượng khảo sát có thông tin tổng quát về  
bài nghiên cứu. Phần nội dung chính của phiếu  
câu hỏi nên bắt đầu bằng những câu hỏi chung  
(câu hỏi gạn lọc), sau đó đến những câu hỏi  
chuyên về những vấn đề cụ thể, và kết thúc  
bằng thông tin về nhân khẩu học. Mục đích  
chính của câu hỏi gạn lọc là để lọc ra những  
đối tượng khảo sát phù hợp với mục tiêu  
nghiên cứu. Trong phần câu hỏi chính về vấn  
đề nghiên cứu, các câu hỏi cần được sắp xếp  
theo hướng tăng dần về mức độ cụ thể và độ  
khó.  
0,8 ≤ α < 1,0 Thang đo lường tốt.  
0,7 ≤ α < 0,8 Thang đo sử dụng được .  
α > 0.6 Thang đo đạt tiêu chuẩn trong phân  
tích Cronbach’s Alpha (8).  
Việc kiểm định độ tin cậy thang đo có thể  
được xác định nhờ hệ số tương quan biến tổng  
(Corrected Item-Total Correclation) nhằm loại  
bỏ các biến rác khỏi thang đo lường. Hệ số  
tương quan biển tổng là hệ số tương quan của  
một biến với điểm trung bình của các biến  
khác trong cùng một thang đo, do đó hệ số này  
càng cao thì sự tương quan của biến này với  
các biến khác trong nhóm càng cao.  
2.7. Phỏng vấn thử và hoàn thiện phiếu câu  
hỏi.  
3. KẾT QUẢ KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ  
Phiếu câu hỏi sau khi hoàn thành cần được thử  
nghiệm để loại bỏ những sai sót (lỗi chính tả,  
những câu hỏi, thuật ngữ, hướng dẫn khó hiểu,  
cách dùng từ chưa chính xác,…). Phỏng vấn  
thử được thực hiện bằng việc phỏng vấn một  
vài đối tượng khảo sát, thành viên nhóm  
nghiên cứu, hoặc chủ nhiệm đề tài, …(khoảng  
10-15 người). Phương pháp phỏng vấn trực  
diện cần được áp dụng cho một vài phiếu khảo  
sát (ngay cả khi đây không phải là phương  
pháp sử dụng khi tiến hành khảo sát thực tế) vì  
người phỏng vấn vừa quan sát được những  
phản ứng của đối tượng vừa khai thác thêm  
được những điểm còn vướng mắc khi đối  
tượng khảo sát trả lời câu hỏi. Sau khi chỉnh  
sửa những nội dung cần thiết, bảng khảo sát  
được dùng để phỏng vấn thử lần thứ hai (sử  
dụng đối tượng khảo sát khác với lần một) để  
hoàn thiện lần cuối.  
3.1. Hành khách đánh giá độ êm dịu của  
ghế mát xa.  
Có 59 trong 91 hành khách chiếm  
64,84% đánh giá ghế mát xa rất êm còn 32  
hành khách chiếm 35,16% đánh giá ghế mát  
xa bình thường. Không có hành khách nào  
đánh giá ghế mát xa không được êm và không  
có hành khách nào có ý kiến khác.  
Bảng 1. Hành khách đánh giá độ êm dịu của  
ghế mát xa  
Cumulat  
Frequ Perce Valid  
ive  
ency nt Percent Percent  
Val Rất êm  
59 64.8  
32 35.2  
64.8  
35.2  
64.8  
id  
Bình  
100.0  
2.8. Phương pháp phân tích kiểm đinh độ tin  
cây của thang đo.  
thường  
Kiểm định độ tin cậy của thang đo được đánh  
giá qua hệ số Cronbach’s Alpha (Cronbach,  
1951): Hệ số Cronbach Alpha (α) là hệ số tin  
cậy được sử dụng kiểm định thang đo lường  
tương quan giữa các cặp biến quan sát.  
Hệ số Cronbach’s Alpha được tính theo công  
thức sau:  
Total  
91 100.0  
100.0  
α =  
K
(cov/var)  
1 + (k-1) (cov/var)  
Trong đó:  
α: hệ số cronbach Alpha.  
K: số mục hỏi được kiểm tra.  
cov/var: hệ số tương quan trung bình giữa các  
cặp biến quan sát.  
Đánh giá độ tinh cậy thang đo qua hệ số  
Cronbach Alpha α :  
Page 4  
khác.  
Hình 3. Hành khách đánh giá độ êm dịu của ghế  
Bảng 3. Hành khách đánh giá độ êm dịu thoải  
mái, quên cảm giác mệt mỏi của ghế mát xa  
mát xa  
3.2. Hành khách đánh giá kích thước của  
ghế mát xa  
Freq  
Valid Cumul  
Có 47 trong 91 hành khách chiếm  
51,65% đánh giá ghế mát xa rộng còn 40  
hành khách chiếm 43,96% đánh giá ghế mát  
xa có độ rộng bình thường. Có 4 hành khách  
chiếm 4,40% đánh giá ghế mát xa nhỏ và  
không có hành khách nào có ý kiến khác.  
Bảng 2. Tần số hành khách đánh giá kích  
thước của ghế mát xa  
uenc Perc Percen ative  
y
ent  
t
Percent  
78.0  
Va Rất dễ chịu  
lid và thoải mái  
71 78.0  
78.0  
Bình thường  
20 22.0  
22.0 100.0  
Total  
91 100. 100.0  
0
Cumulat  
Frequ Perce Valid  
ive  
ency nt Percent Percent  
Val Rộng  
47 51.6  
40 44.0  
51.6  
44.0  
51.6  
95.6  
id  
Bình  
thường  
Nhỏ  
4
4.4  
4.4  
100.0  
Total  
91 100.  
0
100.0  
Hình 5. Hành khách đánh giá độ êm dịu thoải mái,  
quên cảm giác mệt mỏi của ghế mát xa  
3.4. Hành khách đánh giá độ rung của ghế  
mát xa.  
Có 7 trong 91 hành khách chiếm  
7,69% đánh giá chế độ rung của ghế mát xa  
rất mạnh, 62 hành khách chiếm 68,13% đánh  
giá chế độ rung của ghế mát xa vừa. 21 hành  
khách chiếm 23,08% đánh giá chế độ rung của  
ghế mát xa yếu. Chỉ có 1 hành khách chiếm  
1,10% có ý kiến khác.  
Hình 4. Hành Khách đánh giá kích thước  
Bảng 4. Hành khách đánh giá độ rung của ghế mát  
của ghế mát xa  
xa  
3.3. Hành khách đánh giá độ êm dịu thoải  
mái, quên cảm giác mệt mỏi của ghế mát xa  
Có 71 trong 91 hành khách chiếm 78,02%  
đánh giá ghế mát xa rất dễ chịu và thoải mái  
còn 20 hành khách chiếm 21,98% đánh giá ghế  
mát xa bình thường. Không có hành khách  
đánh giá ghế mát xa gây ra hiện tượng mệt mỏi,  
khó chịu và không có hành khách nào có ý kiến  
Frequ Perc Valid  
ency ent Percent  
Cumulative  
Percent  
Val Mạnh  
7
7.7  
7.7  
68.1  
23.1  
7.7  
id  
Vừa  
Yếu  
62 68.1  
21 23.1  
75.8  
98.9  
Page 5  
Ý kiến  
1
1.1  
1.1  
100.0  
3.6. Hành khách đánh giá ghế mát xa khi di  
khác  
chuyển trên xe.  
Total  
91 100.  
0
100.0  
Có 28 trong 91 hành khách chiếm  
30,77% đánh giá đi xe có ghế mát xa rất  
thoải mái không bị say xe. 58 hành khách  
chiếm 63,74% đánh giá đi xe có ghế mát xa  
khỏe hơn so với đi xe không có ghế mát xa.  
Có 5 hành khách đánh giá đi xe có ghế mát xa  
giống ghế bình thường.  
Bảng 6. Hành khách đánh giá ghế mát xa khi  
di chuyển trên xe  
Cumulati  
ve  
Percent Percent  
Freque Perce Valid  
ncy nt  
Vali Rất thoải mái 28  
không bị say xe  
30.8 30.8  
30.8  
Hình 6. Hành khách đánh giá độ  
d
rung của ghế mát xa  
Khỏe hơn so 58  
với đi xe không  
dùng ghế mát  
xa  
63.7 63.7  
94.5  
3.5. Hành khách đánh giá giá vé xe tăng  
+ Câu hỏi 5: Trong câu hỏi 5 có 49 trong 91  
hành khách chiếm 53,85% đánh giá giá vé  
tăng là rất thích hợp. 38 hành khách chiếm  
41,76% đánh giá giữ yên giá cũ. 4 hành khách  
có ý kiến khác.  
Giống ghế bình 5  
thường  
5.5 5.5  
100.0  
Total  
91  
100.0 100.0  
Bảng 5. Hành khách đánh giá giá vé xe tăng  
khi xe có ghế mát xa  
Cumulati  
Freque Percen Valid  
ncy Percent Percent  
Vali Rất thích 49  
hợp  
ve  
t
53.8 53.8  
53.8  
95.6  
100.0  
d
Giữ giá 38  
cũ  
41.8 41.8  
Ý
khác  
Total  
kiến 4  
4.4  
4.4  
Hình 8. Hành khách đánh giá ghế mát xa  
khi di chuyển trên xe  
91  
100.0 100.0  
3.7. Hành khách đánh giá ghế mát xa sau  
khi sử dụng ghế mát xa trên xe khách.  
Có 21 trong 91 hành khách chiếm  
23,08% đánh giá rất thích ghế mát xa sau khi  
sử dụng ghế. 61 hành khách chiếm 67,03%  
đánh giá thích ghế mát xa. 9 hành khách  
chiếm 9,89% đánh giá ghế mát xa bình  
thường.  
Bảng 7. Hành khách đánh giá ghế mát xa sau  
khi sử dụng ghế mát xa trên xe khách  
Hình 7. Hành khách đánh giá giá vé  
xe tăng khi xe có ghế mát xa  
Page 6  
Cumula  
Frequ Perce Valid tive  
ency nt  
Percent Percent  
ValiRất  
thích  
21  
23.1 23.1 23.1  
d
Thích 61  
67.0 67.0  
90.1  
Bình  
9
9.9 9.9  
100.0  
thường  
Total 91  
100.0 100.0  
Hình 10. Hành khách đánh giá ghế mát xa có thể sử  
dụng cho độ tuổi  
3.9. Hành khách đánh giá số điểm rung trên  
ghế mát xa.  
Có 72 trong 91 hành khách chiếm  
79,12% đánh giá ghế mát xa rất đã đủ điểm  
rung. 18 hành khách chiếm 19,78% đánh giá  
ghế mát xa ít điểm rung. Có 1 hành khách ý  
kiến khác thêm điểm rung ở vai gáy.  
Hình 9. Hành khách đánh giá ghế mát xa  
sau khi sử dụng ghế mát xa trên xe khách  
3.8. Hành khách đánh giá độ tuổi có thể sử  
dụng ghế mát xa trên xe khách.  
Bảng 9. Hành khách đánh giá số điểm rung  
trên ghế mát xa  
Có 15 trong 91 hành khách chiếm  
16,48% đánh giá ghế mát xa phù hợp với  
tuổi già. 6 hành khách chiếm 6,59% đánh giá  
ghế mát xa dùng cho tuổi trẻ. 69 hành khách  
chiếm 75,82% đánh giá ghế mát xa phù hợp  
cho mọi lứa tuổi. 1 hành khách chiếm 1,10%  
có ý kiến khác là tùy sức khỏe.  
Cumulat  
Freque Perce Valid  
ncy nt Percent Percent  
đủ 72  
điểm rung  
Ít điểm 18  
rung quá  
ive  
Vali Đã  
d
79.1 79.1  
19.8 19.8  
1.1 1.1  
79.1  
98.9  
100.0  
Bảng 8. Hành khách đánh giá ghế mát xa có  
thể sử dụng cho độ tuổi  
Ý
kiến 1  
Cumulati  
khác  
Total  
Freque Perce Valid  
ncy nt Percent Percent  
Vali Tuổi già 15  
ve  
91  
100.0 100.0  
16.5 16.5  
6.6 6.6  
75.8 75.8  
16.5  
23.1  
98.9  
d
Tuổi trẻ  
Tất cả các 69  
độ tuổi  
6
Ý
kiến 1  
1.1 1.1  
100.0  
khác  
Total  
91  
100.0 100.0  
Hình 11. Hành khách đánh giá số điểm rung trên ghế  
mát xa  
Page 7  
4. KẾT LUẬN  
Xe khách sử dụng ghế mát xa đã đem  
Giới hạn về khảo sát sự hài lòng của  
hành khách khi di chuyển trên xe khách có ghế  
mát xa là đề tài rất rộng, nó liên quan rất nhiều  
vấn đề như quãng đường di ngắn hay dài, địa  
hình di chuyển. Trong giới hạn không thể khảo  
sát hết được tất cả các nhà xe, các tuyến  
đường khác nhau. Do vậy sự đánh giá về chất  
lượng phục vụ hành khách sử dụng xe khách  
có ghế mát xa còn gặp nhiều hạn chế.  
lại các cảm nhận cho hành khách về sự thoải  
mái rộng rãi, giảm mệt mỏi mỗi khi di chuyển  
trên quãng đường dài. Các nhà xe nên đầu tư  
thêm nhiều xe sử dụng ghế mát xa để nâng cao  
được chất lượng phục vụ hành khách tốt nhất.  
Các nhà xe có thể cải tiến các ghế xe từ các xe  
đã có sẵn để giảm chi phí giá thành cho việc  
đầu tư xe mới.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Matthias Franz, PhD, Raphael Zenk, PhD, Peter Vink, PhD and Susan Hallbeck, PhD, PE,  
CPE Md. The Effect of a Lightweight Massage System in a Car Seat on Comfort and  
Electromyogram, Volume 34, Issue 2, Pages 107-113 February 2011.  
[2] a BMW AG Forschungs- und Innovationszentrum, Knorrstrasse 147, D-80788 München,  
Germany b Faculty of Industrial Design Engineering, Delft University of Technology,  
Landbergstraat 15, 2628 CE Delft, The Netherlands. The influence of car-seat design on its  
character experience, 2012, Pages 329-335.  
[3] S.Hiemstra-van Mastigt, I. Kamp, S.A.T. van Veen, P. Vink, T. Bosch. The influence of active  
seating on car passengers' perceived comfort and activity levels. Volume Applied Ergonomics 47,  
Pages 211-219, 2015.  
[4] Y. Qiu, M.J. Griffin Transmission of vibration to the backrest of a car seat evaluated with  
multi-input models. Volurme Received 27, Pages 297-321, June 2002; accepted 20 May 2003.  
[5] Đề tài: “Ghế Massage lắp trên Ô Tô” do Phạm Đình Tuấn và Nguyễn Minh Tâm thực hiện  
dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Bá Hải.  
[6] Đề tài: “Thiết kế và lập trình ghế massage cho giường nằm xe khách Trường Hải” do Nguyễn  
Xuân Học và Đào Minh Nhật thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Bá Hải.  
[7] Đề tài“Nghiên cứu, phát triển và tích hợp tính năng massage cho giường nằm lắp trên xe khách  
trường hải”. do KS. Nguyễn Văn Hoàng Khánh Nhật thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS.  
Nguyễn Bá Hải.  
Tác giả chịu trách nhiệm bài viết:  
Họ tên: Phạm Văn Tài  
Đơn vị: Trường Cao Đẳng Giao Thông Vận Tải Trung Ương VI  
Điện thoại: 0988053533  
Page 8  
BÀI BÁO KHOA HỌC  
THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ  
Bài báo khoa học của học viên  
có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn  
Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ  
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.  
Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý  
của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.  
ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN!  
Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2018-2019 của Thư viện Trường Đại học  
Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.  
pdf 9 trang Mãnh Khiết 10/01/2024 16620 Free
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát đánh giá và cải thiện chất lượng phục vụ hành khách thông qua lắp đặt và cải tiến ghế mát xa trên xe khách", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_danh_gia_va_cai_thien_chat_luong_phuc_vu_hanh_khach.pdf