Dự báo phụ tải ngắn hạn sử dụng mạng Nơ Ron kết hợp dữ liệu từ đồng hồ số thông minh

DỰ BÁO PHỤ TẢI NGẮN HẠN SỬ DỤNG MẠNG NƠ RON KẾT HỢP DỮ  
LIỆU TỪ ĐỒNG HỒ SỐ THÔNG MINH  
SHORT-TERM ENERGY LOAD FORECASTING USING ARTIfiCIAL  
NEURAL NETWORKS MODEL AND DATA OF SMART METER  
Nguyễn Nhân Bổn & Đoàn Thành Ân  
Học viên cao học Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM  
TÓM TẮT  
Với đặc thù không thể dự trữ năng lượng điện trong quá trình sản xuất, truyền tải và phân phối  
điện năng, sự mất cung cầu của sản xuất gây ra tình trạng thất thoát khi thừa cung hay thiếu  
điện do thiếu cung điện năng đều làm tổn thất tiền. Dự báo phụ tải ngắn hạn cho phép nhà điều  
hành giảm thiểu sự tổn thất này thông qua điều chỉnh kịp thời công suất phát theo nhu cầu tiêu  
thụ điện. dự báo phụ tải theo giờ hiện nay đã được chú ý nhiều hơn khi có sự tham gia của các  
đồng hồ điện tử thông minh. Bài báo đề xuất phương pháp dự báo phụ tải ngắn hạn dựa trên  
mạng nơ ron truyền thẳng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động mua bán điện trong thị trường  
điện cạnh tranh. Dựa trên kết quả thực tế ghi nhận được tại điện lực bến trên đã chứng minh  
hiệu quả cho phương pháp dự báo được đề xuất qua mô phỏng bằng phần mềm MatLab.  
Từ khóa: Dự báo phụ tải ngắn hạn; mạng nơ ron; đồng hồ đo điện thông minh; thị trường điện  
cạnh tranh; phần mềm MatLab;  
ABSTRACT  
In particular, it is impossible to store electrical energy in the process of producing, transmitting  
and distributing electricity, and the loss of supply and demand causes a loss of power supply or a  
lack of electricity due to the lack of power supply lead to lost money. Short-term load forecasting  
allows operators to minimize this loss through timely adjustment of generation capacity  
according to power demand. Current hourly load forecasts have been paid more attention with  
the participation of smart electronic meter. The paper proposes short-term load forecasting  
methods based on neural networks to improve the efficiency of electricity trading in the  
competitive electricity market. Based on the actual results recorded at the above berth power, it  
has been proved effective for the prediction method proposed through simulation by MatLab  
software.  
Keywords: Load forecasting; smart meter; time series forecasting; machine learning; energy  
prediction  
Với sự phát triển của dữ liệu lớn và công  
nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), các phương pháp  
học máy mới đã được áp dụng cho ngành  
1. GIỚI THIỆU  
Dự báo phụ tải điện rất quan trọng đối  
với việc lập lịch trình hệ thống điện được  
thông qua bởi các nhà cung cấp năng  
lượng[4]. Cụ thể, việc lưu trữ và xả điện  
không hiệu quả có thể phải chịu các chi phí  
không cần thiết, trong khi ngay cả một cải  
thiện nhỏ trong dự báo phụ tải điện cũng có  
thể giảm chi phí sản xuất và tăng lợi thế kinh  
doanh [4], đặc biệt là trong giai đoạn tiêu thụ  
điện cao điểm. Do đó, điều quan trọng đối  
với các nhà cung cấp điện là phải lập mô  
hình và dự báo tải điện chính xác nhất có thể,  
trong cả hai giai đoạn ngắn hạn [5-12] (trước  
một ngày đến một tháng) và trung hạn [13]  
(một tháng đến 5 năm sau).  
điện, nơi dữ liệu điện lớn cần phải được quản  
lý cẩn thận. Theo Viện toàn cầu Mckinsey  
[14], AI có thể được áp dụng trong ngành  
điện để dự đoán nhu cầu điện và khả năng  
cung cấp điện năng, bởi vì dự báo tải điện  
ảnh hưởng đến nhiều bên liên quan. Dựa trên  
dự báo ngắn hạn (trước 1-2 ngày), các hệ  
thống phát điện có thể xác định nguồn năng  
lượng nào sẽ huy động trong 24 giờ tới và  
lưới truyền tải có thể phân bổ kịp thời các  
nguồn lực phù hợp cho khách hàng dựa trên  
các yêu cầu truyền dẫn hiện tại. Hơn nữa, sử  
dụng dự báo cung và cầu phù hợp, các nhà  
bán lẻ điện có thể tính toán giá năng lượng  
dựa trên nhu cầu ước tính hiệu quả hơn.  
Các công nghệ thu thập và phân tích dữ  
liệu mạnh mẽ đang trở nên có sẵn trên thị  
trường, vì vậy các công ty năng lượng đang  
bắt đầu khám phá tính khả thi để có được kết  
quả chính xác hơn bằng cách sử dụng AI  
trong các dự báo tải ngắn hạn. Chẳng hạn, tại  
Vương quốc Anh (UK), National Grid hiện  
đang làm việc với Deep Mind [15,16], một  
nhóm AI thuộc sở hữu của Google, được sử  
dụng để dự đoán các đỉnh cung và cầu điện ở  
Anh dựa trên thông tin từ đồng hồ thông  
minh và bằng cách kết hợp các biến liên  
quan đến thời tiết.  
dụng thường xuyên bao gồm hồi quy tuyến  
tính [5,6,20], phương pháp hồi quy tự động  
[7,21] và mạng nơ ron nhân tạo [9,22,23].  
Hơn nữa, các phương pháp phân cụm cũng  
được đề xuất [24]. Trong [20,25] các chuỗi  
thời gian tương tự đã được khớp trong khi  
trong [24], trọng tâm là phân loại khách  
hàng. Một cách tiếp cận mới dựa trên máy  
vectơ hỗ trợ đã được đề xuất trong [26,27].  
Các phương pháp dự báo khác, chẳng hạn  
như làm mịn theo cấp số nhân và bộ lọc  
Kalman, cũng được áp dụng trong một vài  
nghiên cứu [28]. Một đánh giá tài liệu cẩn  
thận về phương pháp STLF mới nhất có thể  
được tìm thấy trong [8]. Trong [13], người ta  
đã chứng minh rằng độ chính xác của STLF  
được tính toán bởi nhiều yếu tố, chẳng hạn  
như nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió, v.v. Trong  
nhiều nghiên cứu, các phương pháp dự báo  
mạng thần kinh nhân tạo (ANN) đã được  
chứng minh là chính xác hơn các phương  
pháp thống kê truyền thống và độ chính xác  
của các phương pháp ANN khác nhau đã  
được nhiều nhà nghiên cứu xem xét [1,30].  
Dự báo tải có thể được phân loại theo độ  
dài của khoảng dự báo. Mặc dù không có  
phân loại cụ thể trong ngành điện, nhưng có  
ba loại dự báo tải [17]: dự báo tải ngắn hạn  
(short term load forecasting STLF), dự báo  
tải trung hạn (MTLF) và dự báo tải dài hạn  
(LTLF). STLF dự đoán tải trong khoảng thời  
gian đến một tuần, MTLF dự báo tải trong  
khoảng thời gian từ một tuần đến một năm  
và LTLF dự báo hiệu suất tải trong khoảng  
thời gian dài hơn một năm. Loại dự báo tải  
được chọn dựa trên yêu cầu ứng dụng. Cụ  
thể, STLF được áp dụng cho hoạt động của  
hệ thống điện hàng ngày và tính toán giá  
giao ngay, do đó, yêu cầu độ chính xác cao  
hơn nhiều so với dự đoán dài hạn. MTLF và  
LTLF được sử dụng để dự đoán việc sử dụng  
năng lượng trong một thời gian dài và chúng  
thường được tham chiếu trong các hợp đồng  
dài hạn khi xác định công suất hệ thống, chi  
phí vận hành và bảo trì hệ thống và kế hoạch  
mở rộng lưới trong tương lai.  
Trong bài báo này, một mô hình dự báo  
tải mới dựa trên thuật toán học được trình  
bày. Độ chính xác dự báo của mô hình đề  
xuất nằm trong phạm vi được yêu cầu và mô  
hình có lợi thế về tính đơn giản và hiệu suất  
dự báo cao. Kết quả thu được sẽ được chứng  
minh qua mô hình hóa mô phỏng trên phần  
mềm MatLab.  
2. DỮ LIỆU SỬ DỤNG TRONG DỰ  
BÁO PHỤ TẢI NGẮN HẠN.  
2.1 Thông tin chung trạm Mỏ Cày  
Ngoài ra, dự báo tải có thể được phân  
loại bằng phương pháp tính toán thành  
phương pháp thống kê và phương pháp tính  
toán thông minh (CI). Với những phát triển  
gần đây trong khoa học tính toán và đo sáng  
thông minh, các phương pháp dự báo tải  
truyền thống đã dần được thay thế bằng công  
nghệ AI. Đồng hồ thông minh cho các tòa  
nhà dân cư đã có sẵn trên thị trường vào  
khoảng năm 2010 và kể từ đó, các nghiên  
cứu khác nhau về STLF cho các cộng đồng  
dân cư đã được công bố [18,19]. Khi so sánh  
với các phương pháp dự báo thống kê truyền  
thống, khả năng phân tích lượng lớn dữ liệu  
trong khung thời gian rất ngắn sử dụng công  
nghệ AI đã cho thấy những lợi thế rõ ràng  
[10].  
Trạm 110kV Mỏ Cày nhận điện từ trạm  
220kV Mỏ Cày: gồm 02 máy biến áp  
40MVA - 115/23kV được cấp điện qua  
đường dây 110kV 172 Mỏ Cày 2 – 171 Mỏ  
Cày và đường dây 110kV 173 Mỏ Cày 2 –  
172 Mỏ Cày. Trạm Mỏ Cày: 2x40MVA -  
115/23kV gồm 8 từ Tuyến 471 đến 478 cho  
các khu vực trong vùng.  
Trạm Mỏ Cày cấp điện chủ yếu cho  
Huyện Mỏ Cày Nam và một phần Huyện Mỏ  
Cày Bắc, hai huyện này không có khu công  
nghiệp phụ tải chủ yếu là ánh sáng sinh hoạt,  
một phần tưới tiêu cho cây ăn quả, chăn nuôi  
nhỏ lẻ và ngành thủ công sản xuất chỉ sơ  
dừa. Đây là trạm mang đặc trưng cơ bản của  
vùng đồng bằng sông cửu long. Trong luận  
văn, dữ liệu của phát tuyến 472 được sử  
Một số phương pháp dự báo tải được sử  
dụng làm dữ liệu dự báo phụ tải ngắn hạn.  
các thức truy cập và phân loại được trình bày  
cụ thể trong các phần sau.  
dụng.  
 ảng 2 Kết quả dữ liệu thời gian đã được  
chuyển đổi.  
2.2 Dữ liệu thu thập được tại trạm Mỏ  
STT  
1
2
3
4
5
6
7
8
P
96  
Q
34  
ngày tháng năm giờ phút  
Cày  
11  
11  
11  
11  
11  
11  
11  
11  
11  
11  
11  
11  
11  
11  
11  
11  
10  
10  
10  
10  
10  
10  
10  
10  
12 2018  
12 2018  
12 2018  
12 2018  
12 2018  
12 2018  
12 2018  
12 2018  
12 2018  
12 2018  
12 2018  
12 2018  
12 2018  
12 2018  
12 2018  
12 2018  
12 2018 23 30  
12 2018 23  
12 2018 22 30  
12 2018 21 30  
12 2018 21  
12 2018 20 30  
12 2018 20  
12 2018 19 30  
8
7
7
6
6
5
5
4
3
3
2
2
1
1
0
0
0
30  
0
30  
0
30  
0
30  
30  
0
30  
0
30  
0
30  
0
Nhằm có cơ sở dữ liệu thực tế phục vụ  
đề tài dự báo phụ tải, được sự hỗ trợ của điện  
lực Bến Tre, thông số đo lường tại đầu phát  
tuyến 472 thuộc trạm 110/22 KV Mỏ Cày  
được thu thập dựa trên ghi nhận bởi hệ thống  
SCADA có cấu trúc như thể hiện trong  ảng  
1. Các thông số về nhiệt độ được ghi nhận  
dựa trên thông tin ghi chép của trạm và được  
ghi nhận theo bảng thông số riêng.  
99.2 31  
97.6 27  
126 26  
134 30  
120 25  
159 22  
154 26  
105 22  
9
10 104 22  
11 66.4 25  
12  
13 105 22  
14 72.8 22  
15  
16  
17 75.2 19  
18  
19  
20 105 28  
21 110 29  
22 118 28  
23 111 30  
24 110 30  
 ảng 1 Dữ liệu được ghi nhận dựa vào hệ  
thống SCADA của phát tuyến 472  
64  
22  
Tuyến 472 trạm Mỏ Cày  
Tháng 1/2018  
UA UB UC IA IB IC  
P
Q
68  
72  
19  
21  
1/1/2018 1:00 23 23 23 92 89 89 3.5 0.7  
1/1/2018 2:00 23 23 23 86 85 84 3.4 0.5  
1/1/2018 3:00 23 23 23 92 88 87 3.5 0.4  
1/1/2018 4:00 23 23 23 95 92 93 3.7 0.5  
1/1/2018 5:00 23 23 23 103 98 99 3.9 0.7  
80  
80  
20  
21  
0
1/1/2018 6:00 23 23 23 101 102 101  
4
0.4  
1/1/2018 7:00 23 23 23 104 103 99 4.1 0.5  
1/1/2018 8:00 23 23 23 105 105 100 4.2 0.5  
1/1/2018 9:00 23 23 23 107 105 105 4.4 0.5  
0
0
1/1/2018 10:00 23 23 23 106 108 105 4.3  
1/1/2018 11:00 23 23 23 105 105 106 4.3  
1/1/2018 12:00 23 23 23 100 100 101 4.1  
0
0
0
2.3 Phân tích dữ liệu dự báo  
1/1/2018 13:00 23 23 23 109 113 112 4.4 0.5  
1/1/2018 14:00 23 23 23 110 115 115 4.5 0.7  
1/1/2018 15:00 23 23 23 115 115 114 4.5 0.5  
1/1/2018 16:00 23 23 23 119 119 118 4.7 0.2  
1/1/2018 17:00 23 23 23 112 109 108 4.3 0.4  
1/1/2018 18:00 23 23 23 136 136 133 5.3 0.1  
1/1/2018 19:00 23 23 23 135 135 130 5.2 0.3  
Sau quá trình thu thập và sắp xếp dữ  
liệu, phụ tải trong 7 ngày từ ngày 1 đến 7  
tháng 1 năm 2018 được thể hiện như trong  
Hình 4.1. Qua đồ thị thu được có thể thấy  
phụ tải của thời điểm giờ trong ngày có tính  
tương tự nhau và không có sự khác biệt  
nhiều giữa các ngày trong tuần bởi tính chất  
nông vụ của người dân không theo lịch hành  
chính.  
1/1/2018 20:00 23 23 23 130 130 125  
5
0.4  
1/1/2018 21:00 23 23 23 111 107 108 4.3 0.5  
1/1/2018 22:00 23 23 23 112 110 110 4.4 0.5  
1/1/2018 23:00 23 23 23 100 97 97 3.8 0.8  
2/1/2018 0:00 23 23 23 100 95 96 3.7 0.5  
Các thông số được ghi nhận bao gồm  
thời gian ghi nhận, điện áp và dòng điện trên  
các pha, công suất tác dụng và công suất  
phản kháng trên phát tuyến. Ngày giờ trong  
số liệu thô sẽ được hiệu chỉnh lại cho phù  
hợp hơn với kiểu dữ liệu dùng trong dự báo.  
Kết quả chỉnh sửa số liệu được thể hiện như  
trong  ảng 2. Sau khi đã lọc và sắp xếp  
dữ liệu để phục vụ tính toán, trước quá trình  
tính toán, các dữ liệu được đánh giá và phân  
tích nhằm xác định các dữ liệu nào được sử  
  nh 1 Biểu đồ phụ tải trong thời gian 7  
ngày trong tuần  
Trong đặc trưng lưới điện nông thôn, các  
   
nhu cầu của người dân chủ yếu là bơm nước  
tưới tiêu là phục vụ tưới tiêu trong nông  
nghiệp và phục vụ sinh hoạt trong gia đình.  
Do đó, nhu cầu điện có liên hệ mật thiết với  
sự thay đổi của nhiệt độ môi trường. dựa vào  
nhiệt độ thu thập trong trạm biến áp, thông  
số nhiệt độ được đưa vào nhằm xét đến nhu  
cầu điện thay đổi khác nhau theo nhiệt độ  
môi trường.  
Theo phân tích ở phần trên, ngoài các  
thông số phụ như độ ẩm không khí, sự biến  
động dân cư, nhu cầu phụ tải phụ thuộc  
chính vào nhiệt độ và mức tiêu thụ công suất  
trước đó để làm tham chiếu đề xuất dự báo  
phụ tải.  
Tuy nhiên, nhiệt độ trong ngày thì đo  
được còn nhiệt độ trong ngày dự báo thì  
buộc phải dự báo. Do đó, ngoài dự báo phụ  
tải cho ngày hôm sau thì luận văn đề xuất kết  
hợp dự báo nhiệt độ trong 24 giờ trong ngày  
dự báo phụ tải. Điều này làm thay đổi cấu  
trúc dữ liệu mạng nơ ron cần thiết kế.  
Để dự báo phụ tải chính xác hơn, luận  
văn đề xuất xây dựng nên 2 mạng nơ ron với  
mục tiêu các mạng này khác nhau.  
  nh 2 Nhiệt độ môi trường ghi nhận được  
trong 72 giờ  
Mạng nơ ron thứ nhất có nhiệm vụ dự  
báo nhiệt độ trong ngày tiếp theo và có cấu  
trúc được thể hiện như trong Hình 4.3. Trong  
mạng nơ ron này, dữ liệu đầu vào là nhiệt độ  
đo được trong ba ngày liền kề trước đó (gồm  
72 giờ trong ba ngày) và giá trị ngõ ra là  
nhiệt độ được dự báo cho ngày tiếp theo  
(gồm 24 giờ trong một ngày).  
Mạng nơ ron thứ hai có nhiệm vụ dự báo  
công suất phụ tải cho ngày tiếp theo. Dữ liệu  
đầu vào chính là công suất tiêu thụ được ghi  
nhận trong thời gian ba ngày trước đó (gồm  
72 dữ liệu công suất) và nhiệt độ được dự  
báo trong 24 giờ tới. Nhiệt độ này là kết quả  
của dựa báo trong mạng nơ ron thứ nhất.  
Như vậy, bằng việc phân chia thành 2  
mạng nơ ron cho phép sự linh hoạt trong  
chương trình và kết quả dự báo cũng được  
nâng cao độ chính xác khi kết hợp dự báo  
nhiệt độ theo giờ.  
Ngoài nhiệt độ và công suất phụ tải các  
ngày liền kề, theo phân tích của các công bố  
về dự báo phụ tải thì có nhiều yếu tố khác  
ảnh hưởng đến nhu cầu phụ tải như là sự  
biến động dân cư, ngày nghĩ trong tuần, các  
lễ hội của dân cư địa phương, độ ẩm không  
khí…. Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố  
này trong dự báo phụ tải được thể hiện như  
sau:  
Về biến động dân số: Với yêu cầu dự  
báo ngắn hạn hằng ngày, sự thay đổi dân cư  
hầu như không tác động đáng kể đến dự báo  
do gần như không xuất hiện sự thay đổi dân  
số đột ngột trong dân cư các vùng nông thôn  
do sự tham gia của tăng dân số cơ học trên  
diện rộng. Ngoài ra, sự cập nhật công suất  
phụ tải thường xuyên đã bao hàm một phần  
sự thay đổi dân số cơ học trong vùng cấp  
điện. Do đó yếu tố này được loại trừ và  
không đưa vào dự báo phụ tải trong luận văn.  
Về ngày nghĩ trong tuần. Với đặc thù là  
sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp  
là chính nên hầu như không có sự phân biệt  
ngày nghĩ hay ngày thường về nhu cầu điện.  
Nhu cầu điện chỉ thay đổi theo mùa vụ là  
chính.  
Các lễ hội trong vùng. Với đặc thù  
nông thôn nên các lễ hội cũng nhỏ lẻ, nhu  
cầu điện chủ yếu dùng tương tự điện sinh  
hoạt phụ vụ nhu cầu thắp sáng, quạt gió, bơm  
nước là chính. Điều này ít tác dụng đến thay  
đổi công suất phụ tải đột ngột và lớn như đối  
với các vùng đô thị.  
3. DỰ BÁO NGẮN HẠN SỬ DỤNG  
MẠNG NƠ RON  
3.1 Cấu trúc của mạng thần kinh nhân  
tạo.  
Các mạng nơ ron nhân tạo (ANN) là các  
hệ thống máy tính được lấy cảm hứng từ các  
mạng thần kinh sinh học. Cấu trúc chung của  
ANN chứa tế bào thần kinh, trọng số và độ  
lệch. Dựa trên khả năng tích hợp kiểu  
module mạnh mẽ của chúng, ANN vẫn rất  
phổ biến trong lĩnh vực máy học. Tuy nhiên,  
có nhiều cấu trúc ANN được sử dụng trong  
các vấn đề về máy học, nhưng Perceptionron  
đa lớp (Multilayer Perceptron MLP) là loại  
ANN được sử dụng phổ biến nhất. MLP là  
một cấu trúc mạng lưới thần kinh được kết  
2.4 Cấu trúc dữ liệu trong dự báo phụ  
tải phát tuyến 472  
P
1
Phụ tải của  
72 giờ  
trước đó.  
nối đầy đủ. Cấu trúc của MLP được hiển thị  
trong Hình 3. Nói chung, MLP bao gồm một  
lớp đầu vào, một hoặc nhiều lớp ẩn và một  
lớp đầu ra. Tuy nhiên, mạng MLP được trình  
bày trong Hình 3 là cấu trúc MLP phổ biến  
nhất, chỉ có một lớp ẩn. Trong MLP, tất cả  
các tế bào thần kinh của lớp trước được kết  
nối đầy đủ với các tế bào thần kinh của lớp  
tiếp theo. Trong Hình 3, x1, x2,...,x6 là các  
P
2
P
...  
P
73  
Phụ tải dự  
đoán của  
24 giờ sau.  
P
72  
P
74  
P
...  
t703  
t704  
t.0..  
P
Nhiệt độ  
dự báo 24  
giờ sau.  
96  
t906  
Hình 5 Mô hình mạng nơ ron dự báo công  
suất phụ tải.  
3.3 Ràng buộc trong mua bán điện tương  
nơ ron của lớp vào. h ,h2,h3,h4 là các nơ ron  
1
lai.  
lớp ẩn và các nơ ron lớp ngõ ra là  
y1, y2, y3, y4 . Trong trường hợp dự báo phụ  
Theo quyết định số 07/QĐ-ĐTĐL ngày  
14/03/2013 về dự báo phụ tải và mua bán  
điện đầu nguồn, nếu dự báo sai thì phần sai  
sót sẽ được tính vào giá bán điện hiện hành.  
Sai số trong dự báo phụ tải điện được xác  
tải, đầu vào là công suất phụ tải trong quá  
khứ và đầu ra là tcông suất phụ tải trong  
tương lai. Mặc dù, cấu trúc MLP rất đơn  
giản, nhưng nó cung cấp kết quả tốt trong  
nhiều ứng dụng. Thuật toán được sử dụng  
phổ biến nhất cho đào tạo MLP là thuật toán  
backpropagation.  
định như trong phương trình (1) với  
P
là  
real  
công suất thực tế sử dụng và  
báo với điều độ A0.  
P
est là công suất  
P - P  
real  
A=  
est .100  
%
( )  
(1)  
P
est  
Cụ thể về việc tính toán khoảng tiền tăng  
theo dựa trên quyết định này được xác định  
như sau:  
Cho phép sai số trong dự báo phụ tải là  
±3%. Nghĩa là khi dự báo sai trong giới  
hạn này sẽ không bị tính thêm chi phí  
bán điện nào.  
  nh 3 Cấu trúc mạng Perceptron đa lớp  
3.2 Dự báo ngắn hạn sử dụng mạng nơ  
Khi sai số trong dự báo phụ tải nằm  
trong khoảng 3 đến 6% thì giá bán điện  
cho khoảng tăng thêm đó là 5%.  
Khi sai số trong dự báo phụ tải nằm  
trong khoảng 6 đến 9% thì giá bán điện  
cho khoảng tăng thêm đó là 10%.  
Khi sai số trong dự báo phụ tải nằm  
trong khoảng 9 đến 12% thì giá bán điện  
cho khoảng tăng thêm đó là 20%.  
Khi sai số trong dự báo phụ tải trên 12%  
thì giá bán điện cho khoảng tăng thêm  
đó là 50%.  
Khi sai số trong dự báo phụ tải nằm  
trong khoảng -3 đến -6% thì giá bán điện  
cho khoảng tăng thêm đó là 5%.  
Khi sai số trong dự báo phụ tải nằm  
trong khoảng -6 đến -12% thì giá bán  
điện cho khoảng tăng thêm đó là 10%.  
Khi sai số trong dự báo phụ tải dưới -  
12% thì giá bán điện cho khoảng tăng  
thêm đó là 20%.  
ron.  
Mạng nơ ron được huấn luyện trên  
nguyên tắc lấy các giá trị trong các ngày  
trước đó để huấn luyện mạng. Việc huấn  
luyện diễn ra liên tục nhằm cập nhật nhanh  
nhất các thay đổi của điều kiện làm việc  
trong hệ thống. trong luận văn, mạng được  
huấn luyện bằng dữ liệu của ba tuần trước đó  
(21 ngày) để dự báo cho từng ngày trong  
tuần tiếp theo. Kết quả dự báo và đánh giá  
các kết quả dự báo được thể hiện trong các  
phần sau.  
t
1
0  
t
2
0  
t
7
0
3  
t
7
0
4  
Nhiệt độ dự  
đoán của 24 giờ  
sau.  
Nhiệt độ của 72  
giờ trước đó.  
t
.
0
..  
t
9
0
6  
t
.
0
..  
t
7
0
2  
Hình 4 Mô hình mạng nơ ron dự báo nhiệt  
Dựa theo thông tư này, số tiền tăng theo  
độ  
 
khi dự báo phụ tải được thể hiện trong Hình  
6 như bên dưới. Dựa vào thông tư này cho  
thấy khi dựa báo sai càng lớn thì chi phí tăng  
thêm sẽ rất cao. Đây là chi phí tăng theo cấp  
số nhân nên việc giảm thiểu sai số trong dự  
báo là rất quan trọng.  
-12  
-9  
-6  
-3  
0
3
6
9
12  
sai số (%)  
Giá bán  
tăng thêm (%)  
20  
10  
10  
5
0
0
5
10  
20  
50  
Hình 6 Chi phí mua điện gia tăng theo sai số  
dự báo phụ tải.  
4. KẾT QUẢ MÔ PHỎNG.  
Bài báo sử dụng dữ liệu thu được từ hệ  
thống SCADA của điện lực bến tre tại trạm  
110/22 KV. Kết quả đo đạt trong tháng được  
dùng làm tham chiếu trong tính toán và đánh  
giá kết quả thu được. Dữ liệu huấn luyện  
mạng được lấy từ ngày 1 đến ngày 21 của  
tháng. Các dữ liệu từ ngày 22 đến ngày 28  
được sử dụng làm dữ liệu đánh giá. Kết quả  
mô phỏng và đánh giá được thể hiện như bên  
dưới.  
Kết quả dự báo trong 7 ngày của tháng 1  
được thể hiện như trong các hình sau:  
 
Tiền phạt  
Ngày thứ  
Dự báo theo  
Dự báo bằng  
kinh nghiệm  
10.375  
9.125  
mạng nơ ron  
1
2
3
4
5
6
7
0
0.275  
1.625  
1.25  
0
0
0
0
0
1.125  
3
  nh 7 Đồ thị dự báo phụ tải trong 7 ngày  
cuối tháng 1/2018.  
5. KẾT LUẬN.  
Qua các kết quả nhận thấy khi có dự báo  
phụ tải bằng mạng nơ ron thì độ chính xác  
của dự báo sẽ cao hơn nhiều so với khi dự  
báo bằng thông tin của ngày trước đó. Các  
kết quả tổng kết về số tiền phải tăng lên khi  
công suất đặt mua sai lệch với công suất thực  
mua qua các ngày trong tuần được thể hiện  
qua Bảng 3. Qua kết quả này có thể nhận  
thấy khi có dự báo dùng mạng nơ ron thì  
hiệu quả sẽ tăng lên khi tiền phạt giảm xuống  
do nâng độ chính xác dự báo lên.  
 ài báo đề xuất giải pháp áp dụng mạng  
nơ ron trong dự báo phụ tải. Đối với các mô  
hình phi tuyến đa tác nhân thì mạng nơ ron  
có ưu điểm là đơn giản, dễ hiểu và có độ  
chính xác cao. Kết quả dự báo phụ tải ngắn  
hạn đã cho thấy tính hiệu quả của nó so với  
các loại dự báo kinh nghiệm khác. Đây là  
một đóng góp lớn giúp nâng cao hiệu quả  
vận hành hệ thống điện trong thị trường cạnh  
tranh tự do.  
Bảng 3 Kết quả chi phí tăng thêm do dự báo  
sai thực tế của 1/2018  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
H. Madsen, P. Pinson, G. Kariniotakis, H. A. Nielsen, and T. S. Nielsen, “Standardizing the  
[1]  
Performance Evaluation of Short-Term Wind Power Prediction Models,” Wind Eng., vol. 29,  
no. 6, pp. 475–489, Dec. 2005.  
[2]  
[3]  
 . R. Giebel G, Kariniotakis G, “The state of the art in short-term prediction of wind power – a  
literature overview,” Tech. Report, EU Proj. ANEMOS, Deliv. Rep. D-1.1, 2018.  
A. Costa, A. Crespo, J. Navarro, G. Lizcano, H. Madsen, and E. Feitosa, “A review on the  
young history of the wind power short-term prediction,” Renew. Sustain. Energy Rev., vol. 12,  
no. 6, pp. 1725–1744, Aug. 2008.  
[4]  
[5]  
A.  otterud, J. Wang, V. Miranda, and R. J.  essa, “Wind Power Forecasting in U.S.  
Electricity Markets,” Electr. J., vol. 23, no. 3, pp. 71–82, Apr. 2010.  
J. L. Angarita, J. Usaola, and J. Martínez-Crespo, “Combined hydro-wind generation bids in a  
pool-based electricity market,” Electr. Power Syst. Res., vol. 79, no. 7, pp. 1038–1046, Jul.  
2009.  
[6]  
“Pump Up the Volume: Using Hydro Storage to Support Wind Integration - Renewable Energy  
12/issue-5/hydropower/pump-up-the-volume-using-hydro-storage-to-support-wind-  
integration.html. [Accessed: 27-Apr-2019].  
[7]  
[8]  
[9]  
C. Weber, “Adequate intraday market design to enable the integration of wind energy into the  
European power systems,” Energy Policy, vol. 38, no. 7, pp. 3155–3163, Jul. 2010.  
K. Skytte, “The regulating power market on the Nordic power exchange Nord Pool: an  
econometric analysis,” Energy Econ., vol. 21, no. 4, pp. 295–308, Aug. 1999.  
J.  .  remnes, “Probabilistic wind power forecasts using local quantile regression,” Wind  
 
Energy, vol. 7, no. 1, pp. 47–54, Jan. 2004.  
[10] S. N. Singh and I. Erlich, “Strategies for Wind Power Trading in Competitive Electricity  
Markets,” IEEE Trans. Energy Convers., vol. 23, no. 1, pp. 249–256, Mar. 2008.  
[11] T. Gneiting, “Quantiles as optimal point forecasts,” Int. J. Forecast., vol. 27, no. 2, pp. 197–  
207, Apr. 2011.  
[12] R. J.  arthelmie, F. Murray, and S. C. Pryor, “The economic benefit of short-term forecasting  
for wind energy in the UK electricity market,” Energy Policy, vol. 36, no. 5, pp. 1687–1696,  
May 2008.  
[13] J. L. Angarita-Márquez, C. A. Hernandez-Aramburo, and J. Usaola-Garcia, “Analysis of a  
wind farm’s revenue in the  ritish and Spanish markets,” Energy Policy, vol. 35, no. 10, pp.  
5051–5059, Oct. 2007.  
[14] J. Chang, B. C. Ummels, W. G. J. H. M. van Sark, H. P. G. M. den Rooijen, and W. L. Kling,  
“Economic evaluation of offshore wind power in the liberalized Dutch power market,” Wind  
Energy, vol. 12, no. 5, pp. 507–523, Jul. 2009.  
[15] S. Galloway, G.  ell, G.  urt, J. McDonald, and T. Siewierski, “Managing the risk of trading  
wind energy in a competitive market,” IEE Proc. - Gener. Transm. Distrib., vol. 153, no. 1, p.  
106, 2006.  
[16] M. Gibescu, W. L. Kling, and E. . Van Zwet, “ idding and regulating strategies in a dual  
imbalance pricing system: case study for a Dutch wind producer,” Int. J. Energy Technol.  
Policy, vol. 6, no. 3, p. 240, 2008.  
[17] J. M. Morales, A. J. Conejo, and J. Perez-Ruiz, “Short-Term Trading for a Wind Power  
Producer,” IEEE Trans. Power Syst., vol. 25, no. 1, pp. 554–564, Feb. 2010.  
[18] H. Dommel and W. Tinney, “Optimal Power Flow Solutions,” IEEE Trans. Power Appar.  
Syst., vol. PAS-87, no. 10, pp. 1866–1876, Oct. 1968.  
[19] X.  ai, L. Qu, and W. Qiao, “Robust AC Optimal Power Flow for Power Networks With Wind  
Power Generation,” IEEE Trans. Power Syst., vol. 31, no. 5, pp. 4163–4164, Sep. 2016.  
[20] J. Lin, V. O. K. Li, K. C. Leung, and A. Y. S. Lam, “Optimal Power Flow with Power Flow  
Routers,” IEEE Trans. Power Syst., vol. 32, no. 1, pp. 531–543, 2017.  
[21] I. Egido, E. Sáiz-Marín, and E. Lobato, “Optimal voltage control by wind farms using data  
mining techniques,” IET Renew. Power Gener., vol. 8, no. 2, pp. 141–150, Mar. 2014.  
[22] M. A. Abido and M. Waqar Ahmed, “Multi-objective optimal power flow considering the  
system transient stability,” IET Gener. Transm. Distrib., vol. 10, no. 16, pp. 4213–4221, Dec.  
2016.  
program.com/wind_statistics.htm. [Accessed: 27-Apr-2019].  
Tác giả chịu trách nhiệm bài viết:  
Họ tên: Đoàn Thành Ân  
Đơn vị: Tổng Công ty Điện lực miền Nam  
Điện thoại: 0913.44.54.53  
pdf 9 trang Mãnh Khiết 09/01/2024 19320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Dự báo phụ tải ngắn hạn sử dụng mạng Nơ Ron kết hợp dữ liệu từ đồng hồ số thông minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdu_bao_phu_tai_ngan_han_su_dung_mang_no_ron_ket_hop_du_lieu.pdf