Giải pháp ổn định điện áp tại trạm biến áp 110kv intel

GIẢI PHÁP ỔN ĐỊNH ĐIỆN ÁP TẠI TRẠM BIẾN ÁP 110KV INTEL  
ELECTRIC STABILITY SOLUTION AT INTEL 110KV STATION  
Nguyen Nhan Bon1, Pham Hong Thai2  
1 GV.Trường đại học Sư Phạm Kỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh  
2 HV.Trường đại học Sư Phạm Kỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh  
TÓM TẮT  
Ổn định điện áp được quan tâm nhiều những năm gần đây do sự đòi hỏi ngày càng cao về  
chất lượng điện năng của những phụ tải có yêu cầu chất lượng điện áp cao như: các dây chuyền sản  
xuất vi xử lý, chip điện tử, và các thiết bị cần chất lượng để điều khiển chính xác khác. Mục đích  
nghiên cứu nhằm đưa ra giải pháp ổn định điện áp tại trạm biến áp 110kV Intel đảm bảo phục vụ sản  
xuất của nhà máy Intel nói riêng và khu công nghệ cao nói chung. Tổng hợp thu thập số liệu lưới  
điện thực tế cung cấp nguồn cho trạm biến áp 110kV Intel, mô phỏng đánh giá các trường hợp dẫn  
đến dao động điện áp, sử dụng thiết bị FACTS để ổn định điện áp, so sánh các giải pháp và chọn  
giải pháp tối ưu nhất. Từ kết quả sự cố lưới điện và thay đổi phụ tải lớn so sánh dạng sóng khi áp  
dụng SVC và STATCOM để ổn định điện áp. Sử dụng STATCOM cho kết quả điện áp ổn định  
nhanh hơn và cao hơn so với SVC, chính vì vậy áp dụng STATCOM phù hợp để ổn điện điện áp tại  
trạm biến áp 110kV Intel.  
Từ khóa: Ổn định điện áp; Sự cố lưới điện; FACTS; SVC; STATCOM.  
ABSTRACT  
Voltage stabilization has been paid attention in recent years due to the increasing demand  
for power quality of loads with high voltage requirements such as microprocessor chips, , and other  
quality control devices for precision control. The purpose of this research is to provide voltage  
stabilization solution at Intel 110kV substation to ensure production of Intel factory in particular and  
hi-tech zone in general. The aggregate data collection grid actually provides power to the Intel  
110kV substation, simulates the case of voltage fluctuations, uses FACTS to stabilize the voltage,  
compares the solution And choose the best solution. From the result of the grid incident and the  
large load changes compare the waveform when applied FACTS and STATCOM to stabilize the  
voltage. Using STATCOM results in faster and more stable voltages than SVCs, thus applying the  
appropriate STATCOM to stabilize the voltage at the 110kV substation.  
Keywords: Voltage stabilization; grid Fault; FACTS; SVC; STATCOM.  
điều kiện vận hành trong hệ thống. Các thay đổi  
đó có thể làm cho quá trình giảm điện áp xảy ra  
và nặng nhất là có thể rơi vào tình trạng không  
thể điều khiển điện áp.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Chất lượng điện năng không đảm bảo có nhiều  
nguyên nhân: mất cân bằng giữa công suất phát  
và phụ tải, sự cố lưới điện bao gồm nhà máy  
điện đường dây và trạm biến áp, đóng cắt các  
thiết bị có công suất lớn hoặc tụ bù. do đó nó sẽ  
gây gián đoạn điện hoặc gây dao động điện áp,  
mất điện áp tạm thời.  
Ổn định điện áp là khả năng duy trì điện áp tại  
tất cả các nút trong hệ thống nằm trong một  
phạm vi cho phép ở điều kiện vận hành bình  
thường hoặc sau các kích động. Hệ thống sẽ đi  
vào trạng thái không ổn định khi xuất hiện các  
kích động như tăng tải đột ngột hay thay đổi các  
II. PHÂN LOẠI ỔN ĐỊNH HỆ THỐNG  
ĐIỆN  
Sự ổn định hệ thống điện là một vấn đề chủ yếu.  
Tuy nhiên, các dạng bất ổn định khác nhau mà  
một hệ thống điện có thể trải qua không thể  
được hiểu đúng và hiệu quả phân loại bằng cách  
nghiên cứu nó. Do tính đa dạng và phức tạp cao  
của vấn đề ổn định, nó giúp làm cho đơn giản  
hoá các giả định để phân tích loại đặc trưng của  
vấn đề cụ thể sử dụng một mức độ thích hợp của  
trường hợp của hệ thống đặc trưng và kỹ thuật mất ổn định và các phương pháp phát triển để  
phân tích thích hợp. Phân tích sự ổn định, bao cải thiện vận hành ổn định, làm cho dễ dàng hơn  
gồm xác định các yếu tố chính góp phần gây rất nhiều bằng cách phân loại sự ổn định [2].  
các nhóm thích hợp. Do đó phân loại là điều cần  
thiết cho ý nghĩa phân tích thực tế và giải quyết  
các vấn đề ổn định hệ thống điện [1].  
Hình 2.3 Võng điện áp tạm thời nguyên nhân do  
động cơ điện khởi động  
III. ỔN ĐỊNH ĐIỆN ÁP BẰNG THIẾT BỊ  
FACTS  
Hình 2.1 Phân loại ổn định trong hệ thống điện  
3.1 Bù tĩnh SVC  
Một bộ bù tĩnh (SVC), là một máy phát  
công suất phản kháng tĩnh, giá trị dung lượng  
ngõ ra có thể thay đổi hoặc dòng điện cảm ứng  
để duy trì hoặc điều khiển các thông số cụ thể  
của hệ thống điện, điển hình là điện áp bus [2].  
[1]  
Trong bài báo này chỉ khảo sát đánh giá ổn định  
điện áp khi dao động lớn trong thời gian ngắn  
hạn.  
2.1 Võng điện áp do sự cố và khởi động  
động cơ công suất lớn  
Mục đích chính của SVC thường là điều  
khiển nhanh điện áp tại các điểm yếu trong  
mạng. có thể lắp đặt ở giữa các đường dây kết  
nối hoặc trong các khu vực tải.  
SVC có thể cải thiện vận hành của hệ  
thống điện và khách hàng tiêu thụ bằng nhiều  
cách như sau.  
Ứng dụng hệ thống truyền tải [3]:  
-
-
-
Ổn định điện áp trong điều kiện hệ thống  
điện thiếu công suất.  
Giảm tổn thất điện năng trong đường dây  
truyền tải.  
Tăng khả năng truyền tải để giảm, trì hoãn,  
hoặc loại bỏ sự cần thiết cho đường dây  
mới.  
Hình 2.2 Võng điện áp nguyên nhân do sự cố.  
(a) dạng sóng giá trị hiệu dụng võng điện áp, (b)  
dạng sóng võng điện áp [2].  
-
-
Bổ sung công suất và ổn định dao động điện  
áp  
Cải thiện điện áp và ổn định điều khiển  
Là sự giảm điện áp hoặc dòng điện hiệu dụng  
còn lại trong khoảng 0.1 – 0.9 pu trong thời gian  
từ 0.5 chu kỳ đến 1 phút như mô tả qua hình  
2.2. Võng điện áp thường kèm theo sự cố trên hệ  
thống nhưng cũng có thể do sự đóng điện của  
Ứng dụng hệ thống phân phối [3]:  
-
Ổn định điện áp tại cuối đầu nhận của các  
đường phân phối dài;  
-
Giảm công suất phản kháng hấp thụ từ lưới Hình 3.2 Đặc tuyến V-I tổng hợp của SVC và hệ  
điện chính dẫn đến tổn thất thấp hơn và  
giảm giá thành.  
Cân bằng tải không đối xứng.  
Làm giảm sự dao động điện áp và nhấp  
nháy ánh sáng.  
thống điện  
Xem xét các đặc tính V-I của hệ thống điện  
tương ứng với ba giá trị khác nhau cho điện áp  
cung cấp tương đương Eth(1), Eth(0), Eth(2). Đường  
-
-
(0)  
đặc tuyến giữa Eth - tương ứng với hệ thống  
điện đang hoạt động trong điều kiện bình  
thường, qua đặc tính bù tĩnh tại điểm này  
VA=V(0) và IS = 0. Hai trường hợp được xác định  
bổ sung [3]:  
(1)  
- Nếu điện áp hệ thống tăng lên đến Eth tiếp  
theo giảm nhu cầu phụ tải, điện áp tại thiết bị  
đầu cuối của mạch tăng lên V(1), khi mạch  
không có thiết bị bù tĩnh kết nối vào, nếu  
công suất phản kháng được hấp thụ một dòng  
cảm ứng Is=IB được kết nối tại điểm kết nối  
cuối, điểm vận hành sẽ thay đổi đến B và  
điện áp giảm đến VB>VA (tham khảo giá trị).  
(2)  
Hình 3.1 Sơ đồ bộ bù tĩnh SVC  
Bao gồm các thành phần:  
- Nếu điện áp cung cấp giảm xuống đến Eth  
,
- Thyristor-controlled reactor (TCR), nó điều  
khiển liên tục điện cảm, giữa L = 0 (khi  
thyristor đóng) và giá trị điện cảm L= Max  
(khi thyristor dẫn hoàn toàn).  
tiếp theo tăng nhu cầu phụ tải, điện áp tại  
thiết bị đầu cuối của mạch tăng lên V(2), khi  
không có thiết bị bù tĩnh, nếu SVC phát ra  
dòng dung được kết nối vào, điểm vận hành  
sẽ chuyển đến điểm C và điện áp trở thành  
VC<VA , nhưng VC>V(2).  
- Thyristor-switched capacitors (TSC), nó là  
công tắc đóng mở thiết bị cố định. Bằng cách  
điều khiển thích hợp của TCR, một miền  
kiểm soát liên tục của SVC giữa điện cảm lớn  
nhất và điện dung lớn nhất đạt được. Sự kết  
hợp này cho phép SVC hấp thụ / tạo ra chính  
xác tổng công suất phản kháng cần thiết.  
3.3 Bù tĩnh đồng bộ STATCOM  
- Bộ lọc cố định, được sử dụng đặc biệt cho  
việc lọc sóng hài thấp, được tạo ra bởi TCR.  
Bao gồm các tụ điện trong bộ lọc sinh ra  
công suất phản kháng.  
3.2 Đặc tuyến V-I của SVC  
Hình 3.3 Sơ đồ tổng quát của STATCOM  
Nguyên lý hoạt động bao gồm việc duy trì  
nạp vào tụ điện một điện áp DC Vdc và tạo ra  
qua cầu chuyển đổi, sử dụng năng lượng lưu trữ  
trong tụ điện, điện áp AC V0 trong pha với điện  
áp hệ thống V. Sự chênh lệch giữa biên độ của  
các điện áp này qua điện kháng cảm ứng XT  
nguyên nhân là dòng điện cảm ứng chạy qua.  
Độ lớn của điện áp này sự khác nhau được xác  
định độ lớn của dòng phản kháng, và cực tính  
xác định hướng của góc pha (+ hoặc – 900) dòng  
điện phản kháng liên quan đến điện áp hệ thống.  
STATCOM sẽ "giám sát" bởi mạng lưới điện  
như là một thành phần phản kháng của sự thay  
đổi dòng điện phản kháng. Dòng phản kháng  
được tạo ra bởi STATCOM chỉ phụ thuộc vào  
biên độ điện áp AC V0, giả sử rằng tụ điện được  
nạp. Giá trị của điện áp V0 tương ứng với  
voltage Vdc của tụ điện DC [2].  
Hình 3.4 Đặc tuyến V-I của (a) STATCOM và  
(b) SVC  
- SVC và STATCOM giống nhau trong chức  
năng và khả năng bù của chúng, nhưng  
nguyên lý hoạt động cơ bản là khác nhau [3].  
- Chức năng STATCOM là kết nối song song  
đồng bộ nguồn áp.  
- Một SVC kết nối song song có tác dụng điều  
khiển dẫn nạp công suất phản kháng.  
- Tất cả sự khác nhau là STATCOM có đặc  
điểm chức năng tốt hơn, vận hành tốt hơn, và  
được áp dụng rộng rãi hơn đối với SVC đạt  
được.  
3.4 So sánh SVC và STATCOM  
- Trong dãy đặc tuyến hoạt động đặc tuyến V-I  
và chức năng khả năng bù của STATCOM và  
SVC là tương tự nhau.  
- Liên quan đến giới hạn hoạt động phi tuyến,  
STATCOM có thể cung cấp đầy đủ dòng  
dung ngõ ra tại một giá trị bất kỳ của hệ  
thống trong khi đó SVC chỉ có thể cung cấp,  
phần nhỏ dòng điện ngõ ra khi điện áp hệ  
thống giảm.  
- STATCOM hiệu quả hơn SVC khi hỗ trợ  
cung cấp điện áp giảm lớn, trong khi điện áp  
vượt ra khỏi bên ngoài đặc tuyến hoạt động  
của thiết bị bù, khả năng STATCOM duy trì  
đầy đủ dòng dung ngõ ra tại thời điểm điện  
áp thấp, nó hiệu quả hơn SVC trong việc cải  
thiện ổn định dao động thoáng qua.  
- Thời gian đáp ứng và độ rộng giải điện áp  
điều chỉnh của STATCOM tốt hơn nhiều so  
với SVC.  
- Trong trường hợp hệ thống cần cung cấp  
công suất tác dụng STATCOM nó có thể  
nhận công suất từ nguồn dự trữ DC của nó và  
phát nguồn xoay chiều lên hệ thống, trong  
khi đó SVC không có khả năng này [3].  
IV. SƠ ĐỒ LƯỚI ĐIỆN  
4.1 Lưới điện khu vực trạm biến áp 110kV  
Intel  
Từ sơ đồ lưới điện khu vực trạm 110kV  
Intel được cung cấp điện đường dây 110kV Cát  
Lái (171)- Thủ Đức Đông- Intel (171 và 177),  
đường dây 2 từ trạm Cát Lái (172)- Thủ Đức  
Đông- Tăng Nhơn Phú- Intel (172 và 174),  
(b)  
đường dây 3 từ trạm Thủ Đức 220kV (178)  
– Thủ Đức Bắc – Intel (176 và 177).  
Sơ đồ lưới điện cung cấp nguồn cho trạm  
biến áp 110kV Intel được trình bày trong hình  
Lưới điện khu vực cung cấp cho trạm Intel 4.1 dưới đây  
có nhiều nhánh rẽ T rất phức tạp nguy cơ xẩy ra  
sự cố cao.  
Hình 4.1 Sơ đồ lưới điện khu vực cung cấp điện cho trạm biến áp Intel  
4.2 Giải pháp nâng cao độ tin cậy cho lưới  
điện  
Từ các thông số của hệ thống điện khảo sát,  
ta tiến hành xây dựng mô hình trên phần mềm  
Matlab để tiến hành khảo sát và thử nghiệm các  
đề xuất để nâng cao chất lượng điện năng của hệ  
thống, trong đó chất lượng điện áp là một trong  
những thông số quan tâm hàng đầu.  
Hình 4.6 trình bày biên độ điện áp của các  
bus trong điều kiện vận hành được lựa chọn sao  
cho điện áp tại các bus nằm trong giới hạn cho  
phép.  
Hình 4.2 Biên độ điện áp trong điều kiện ổn  
định.  
Để đánh giá mức độ đáp ứng của hệ thống quả giữa việc gắn các thiết bị này tại bus Intel  
khi có các điều kiện vận hành khác nhau ta tiến để nâng cao chất lượng điện năng. Hình 4.3 là  
hành các kịch bản sau:  
kết quả mô phỏng trong miền thời gian của  
trường hợp này trong đó đường màu xanh nước  
biển là đáp ứng của hệ thống khi chưa có gắn  
thiết bị bù, đường màu xanh lá là khi gắn SVC  
và đường màu đỏ là trường hợp gắn STATCOM  
dạng sóng được mô phỏng các nút trong trường  
hợp này như sau:  
4.3 Tăng tải tại bus của Intel  
Giả sử tại bus Intel ta đóng thêm 1 tải động  
có công suất tương đương 20% của trạm hiện tại  
và tiến hành mô phỏng. Kết quả được cho trong  
hình 4.3.  
Hình 4.3 Biên độ điện áp sau khi tăng tải đột  
ngột thêm 20%  
Hình 4.5 Dạng sóng điện áp tại nút Thủ Đức  
trường hợp tăng tải đột ngột thêm 20%  
Dễ dàng nhận thấy rằng, điện áp tại các bus  
giảm xuống, trong đó điện áp tại bus Intel là  
thấp nhất khoảng 0.915 p.u. điều này sẽ ảnh  
hưởng đến quá trình sản xuất củng như chất  
lượng sản phẩm của khu công nghệ cao và nhà  
máy Intel. Với kết quả này, tác giả đề xuất  
gắn thêm thiết bị bù để nâng cao điện áp tại  
bus Intel nói riêng, cũng như các bus trong  
toàn hệ thống nói chung.  
Hình 4.6 Dạng sóng điện áp tại nút Cát Lái  
trường hợp tăng tải đột ngột thêm 20%  
Hình 4.4 Biên độ điện áp khi bù trường hợp tăng  
tải đột ngột thêm 20%  
Như phân tích ở trên, thiết bị bù SVC và  
STATCOM là 2 thiết bị phù hợp cho việc nâng  
cao ổn định điện áp cho hệ thống, vì vậy trong  
nghiên cứu này, tác giả sẽ tiến hành so sánh kết  
Hình 4.7 Dạng sóng điện áp tại nút Thảo Điền  
trường hợp tăng tải đột ngột thêm 20%  
Hình 4.8 Dạng sóng điện áp tại nút Intel trường  
hợp tăng tải đột ngột thêm 20%  
Hình 4.12 Dạng sóng điện áp nút Linh Trung 1  
trường hợp tăng tải đột ngột thêm 20%  
Hình 4.9 Dạng sóng điện áp tại nút Thủ Đức  
Bắc trường hợp tăng tải đột ngột thêm 20%  
Hình 4.13 Dạng sóng điện áp nút Linh Trung 2  
trường hợp tăng tải đột ngột thêm 20%  
4.4 Ngắn mạch tại 1 trong 2 đường dây  
220kV Thủ Đức và Cát Lái  
Khi ngắn mạch tại 1 trong 2 đường dây  
220kV Thủ Đức và Cát Lái được mô phỏng theo  
Hình 4.14 với đặc tuyến đường màu xanh mô tả  
dạng sóng chưa khi đưa STATCOM vào hệ  
thống khi sự cố duy trì 2 chu kỳ, điện áp hệ  
thống sụt giảm rất lớn. Trong trường hợp khi có  
STATCOM tại nút thanh cái Intel điện áp các  
nút được mô tả theo đường đặc tuyến màu đỏ đã  
được bù vào đáng kể kết qủa như sau.  
Hình 4.10 Dạng sóng điện áp nút Thủ Đức  
Đông trường hợp tăng tải đột ngột thêm 20%  
Hình 4.11 Dạng sóng điện áp nút Tăng Nhơn  
Phú trường hợp tăng tải đột ngột thêm 20%  
Hình 4.14 Dạng sóng điện áp tại nút Thủ Đức  
khi sự cố đường dây 220kV  
Hình 4.18 Dạng sóng điện áp tại nút Thủ Đức  
Bắc khi sự cố đường dây 220kV  
Hình 4.15 Dạng sóng điện áp tại nút Cát  
Lái khi sự cố đường dây 220kV  
Hình 4.19 Dạng sóng điện áp tại nút Linh Trung  
1 khi sự cố đường dây 220kV  
Hình 4.16 Dạng sóng điện áp tại nút Thảo Điền  
khi sự cố đường dây 220kV  
Hình 4.20 Dạng sóng điện áp tại nút Thủ Đức  
Đông khi sự cố đường dây 220kV  
Hình 4.17 Dạng sóng điện áp tại nút Intel khi sự  
cố đường dây 220kV  
Hình 4.21 Dạng sóng điện áp tại nút Linh Trung  
2 khi sự cố đường dây 220kV  
Từ kết quả mô phỏng 2 trường hợp nói trên  
và so sánh dạng sóng điện áp thu được giữa  
SVC và STATCOM khi sự cố lưới điện khu  
vực trạm biến áp 110kV Intel, kết quả cho thấy  
việc sử dụng STATCOM cho kết quả bù điện áp  
tại các nút tốt hơn so với SVC. Do đó chọn giải  
pháp lắp đặt thêm thiết bị STATCOM là phù  
hợp trong trường hợp này.  
KẾT LUẬN  
Từ lưới điện khu vực trạm biến áp 110kV  
Bài báo đã mô phỏng và so sánh trường  
hợp trường hợp sử dụng thiết bị bù SVC và  
STATCOM, kết quả khi sử dụng STATCOM  
cho điện áp ổn định nhanh hơn và độ sụt giảm  
điện áp ít hơn so với dùng SVC.  
Intel bài báo đã đưa ra hai trường hợp dao động  
điện áp gồm: thay đổi tải lớn và sự cố đường  
dây để đánh giá, từ kết quả mô phỏng đánh giá  
so sánh khi không có thiết bị bù điện áp giảm  
thấp xuống dưới mức cho phép, với trường hợp  
có thiết bị bù là SVC hoặc STATCOM thì điện  
áp giảm ít hơn và được phục hồi trạng thái ổn  
định nhanh hơn.  
Từ đó đề xuất sử dụng STATCOM để cải  
thiện ổn định điện áp tại trạm biến áp 110kV  
Intel là phù hợp.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Prabha Kundur (Canada, Convener), John Paserba (USA, Secretary), Venkat Ajjarapu (USA),  
Göran Andersson (Switzerland), Anjan Bose (USA), Claudio Canizares (Canada), Nikos  
Hatziargyriou (Greece), David Hill (Australia), Alex Stankovic (USA), Carson Taylor (USA),  
Thierry Van Cutsem (Belgium), and Vijay Vittal (USA), " Definition and Classificationof  
Power System Stability" IEEE transactions on power systems, page (1387-1401) vol. 19, no. 2,  
may 2004.  
[2] Roger C. Dugan, Mark F. Mcgranaghan, Surya Santoso, H. Wayne Beaty "Electrical Power  
Systems Quality, Second Edition". McGraw-Hill (2004), chapter 2, page 19-31.  
[3] Mircea Eremia, Chen-Ching Liu, Abdel-Aty Edris."Advanced solutions in power systems hvdc,  
facts, and Artificial Intelligence" Published by John Wiley & Sons, Inc., Hoboken, New Jersey,  
2016, chapter 5, page (271-293), chapter 8, page (459-476).  
Ý kiến của cán bộ hướng dẫn khoa học  
Học viên thực hiện  
Phạm Hồng Thái  
TS. Nguyễn Nhân Bổn  
BÀI BÁO KHOA HỌC  
THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ  
Bài báo khoa học của học viên  
có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn  
Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ  
Bảnquyềntác phẩm đã được bảo hộ bởiLuậtxuất bảnvà LuậtSở hữu trí tuệ Việt Nam. Nghiêm  
cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý của tác giả và  
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.  
ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN!  
Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2018-2019 của Thư viện Trường Đại học  
Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.  
pdf 10 trang Mãnh Khiết 09/01/2024 24740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giải pháp ổn định điện áp tại trạm biến áp 110kv intel", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiai_phap_on_dinh_dien_ap_tai_tram_bien_ap_110kv_intel.pdf