Nghiên cứu ảnh hưởng của nguồn điện công suất nhỏ vào lưới điện hạ thế

LUẬN VĂN THẠC SĨ  
GVHD: PGS.TS. TRƯƠNG ĐÌNH NHƠN  
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NGUỒN ĐIỆN  
CÔNG SUẤT NHỎ VÀO LƯỚI ĐIỆN HẠ THẾ  
STUDYING THE EFFECTS OF SMALL POWER SOURCE  
ON LOW VOLTAGE GRID  
Bùi Quang Tú  
Học viện Cao học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật  
Tp.HCM  
TÓM TẮT  
Nội dung nghiên cứu của bài báo trình bày về các ảnh hưởng của nguồn điện công  
suất nhỏ khi kết nối lưới hạ thế hệ thống điện đường 30/4, lối vào khu du lịch 30/4, xã Long  
Hòa, huyện Cần Giờ, TP.HCM. Các kết quả mô phỏng được thực hiện trên môi trường  
Matlab khi hệ thống xãy ra các sự cố như ngắn mạch 3 pha, 1 pha trong nhiều trường hợp  
chưa gắn tua-bin gió, khi gắn tua-bin gió, khi tốc độ gió cố định và khi tốc độ gió thay đổi  
đột ngột. Từ các kết quả mô phỏng ta có thể kết luận rằng bằng cách phân tích FFT, đã cho  
thấy được càng nhiều tua-bin gió thì tổng độ méo hài càng lớn, thời gian phục hồi điện áp  
và dòng điện càng tăng làm ảnh hưởng đến chất lượng điện năng của lưới dẫn đến hệ thống  
không ổn định.  
Từ khóa: Mô hình hóa hệ thống điện Cần Giờ, Điện áp MCCB 2/9, Điện áp chợ Hàng  
Dương, Phân tích FFT bus V04, Công suất MCCB Nguyễn Văn Vấn  
ABSTRACT  
The content of the paper presents the effects of small power sources when connecting the  
distributed grid of the 30/4 power system, the entrance to 30/4 the tourist area, Long Hoa commune,  
Can Gio district, Ho Chi Minh City. The simulation results were performed on Matlab environment  
when the system occurred problems such as 3-phase, 1-phase short circuits in many cases without  
wind turbines, when installing wind turbines, when fixed wind speed and when the wind speed  
changes abruptly. From the simulation results we can conclude that by analyzing FFT, it has shown  
that the more wind turbines the greater the total harmonic distortion, the greater the recovery time  
of voltage and current, the problem will affect to the power quality of the grid and the system  
instability.  
Keywords: Modeling of the electrical system of Can Gio, MCCB 2/9 voltage, Hang Duong  
market voltage, analysis FFT bus V04, Nguyen Van Van MCCB  
1. Giới thiệu  
ta đã xây dựng một loạt các chính sách công  
nghiệp dựa trên luật năng lượng tái tạo.  
Trong những năm gần đây, một loạt các luật,  
quy định, chính sách và các chương trình về  
sản xuất năng lượng tái tạo đã được đưa ra để  
khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo.  
So với các thế hệ năng lượng mới khác, điện  
gió là năng lượng gió rẻ nhất và có lợi thế rõ  
ràng, đặc biệt là điện gió công suất nhỏ.  
Khi mức tiêu thụ năng lượng hóa thạch  
và mức độ ô nhiễm môi trường không ngừng  
tăng lên, ngày càng có nhiều tác động môi  
trường của năng lượng truyền thống. Do đó,  
việc tìm kiếm các nguồn năng lượng mới là  
rất cần thiết cho khủng hoảng năng lượng  
của Việt Nam hiện nay. Từ năm 2011, nước  
HVTH: BÙI QUANG TÚ  
76  
LUẬN VĂN THẠC SĨ  
GVHD: PGS.TS. TRƯƠNG ĐÌNH NHƠN  
Trong bài báo này, tác giả tập trung nghiên  
cứu các ảnh hưởng của việc tích hợp các tua-  
bin gió công suất nhỏ vào lưới hạ thế khu  
vực ven biển TP.HCM, cụ thể là đường 30/4,  
khu du lịch 30/4 thuộc xã Long Hòa, huyện  
Cần Giờ, TP.HCM, kiểm tra cả độ ổn định  
điện áp, tần số, công suất của lưới điện trong  
các tình huống khác nhau. Hệ thống nghiên  
cứu gồm 2 trạm biến áp 22-0,4 kV: Trạm  
Nguyễn Văn Vấn 250 kVA và trạm 2/9 400  
kVA cung cấp cho khoảng 25 tải, 3 tua-bin  
gió công suất 9 kW, tua-bin gió tích hợp sử  
dụng máy phát điện nam châm vĩnh cửu 3  
pha tích hợp dự trữ, inverter là các thiết bị  
điện tử công suất để điều khiển hoạt động  
của máy phát. Các thiết bị điện tử công suất  
cho phép linh hoạt đáng kể trong việc cung  
cấp năng lượng cho lưới điện và cũng chính  
đây là nguyên nhân gây ra một số ảnh hưởng  
khi tích hợp tua-bin vào lưới như sóng hài,  
sự chập chờn điện áp,…. khi tốc độ gió thay  
đổi hoặc các sự cố nghiêm trọng, làm ảnh  
hưởng đến chất lượng điện năng. Các kết quả  
nghiên cứu của tác giả được thực hiện trên  
phần mềm Matlab sinmulink.  
Năm 2018  
Năm 2019  
Hình 1: Hoa gió trạm Nhà Bè - Cần Giờ từ  
năm 2014 đến năm 2019  
2. Mô hình hóa hệ thống điện nghiên cứu  
Trong nghiên cứu này, tua-bin gió sử  
dụng máy phát điện 3 pha - PMSG có  
công suất 3 kW, 3 cánh, điện áp ra 120V  
DC, tốc độ gió khởi động 2m/s, tốc độ  
gió danh định 12 m/s, tốc độ gió tối đa  
35m/s.  
1. Tiềm năng năng lượng gió TP.HCM  
Hình 2: Mô hình máy phát điện tua-bin gió  
2.1. Mô hình toán học của máy phát điện  
PMSG [1]  
2.1.1. Phương trình điện áp và dòng điện  
Lq  
id eid  
Ld  
d
Vd Rs  
Năm 2014  
Năm 2015  
id   
(1)  
dt  
Ld Ld  
Vq  
L
d
Rs  
0e  
Lq  
iq   
iq q eid   
(2)  
dt  
Ld Ld  
Ld  
p  
Với  
e
m
2.1.2. Mô men điện từ  
Mô men điện từ trong máy phát PMSG được  
mô tả bởi phương trình sau:  
Năm 2016  
Năm 2017  
T 1.5p[0iq (Ld Lq )idiq ](N.m) (3)  
e
HVTH: BÙI QUANG TÚ  
77  
LUẬN VĂN THẠC SĨ  
GVHD: PGS.TS. TRƯƠNG ĐÌNH NHƠN  
Trong đó:  
2
2  
3
fc fd cos  
e   
fq sin  
e   
(7c)  
3
Ld  
,
: Độ tự cảm của máy phát trên trục d  
Lq  
Turbine Power Characteristics  
và q (H)  
1.6  
1.4  
1.2  
1
8.8 m/s  
8.2 m/s  
7.6 m/s  
Rs : điện trở Stato  
Max. power at base wind speed (7 m/s)  
0.8  
0.6  
0.4  
0.2  
0
7 m/s  
6.4 m/s  
5.8 m/s  
5.2 m/s  
4.6 m/s  
id , : dòng điện trên trục d và trục q (A)  
iq  
4 m/s  
1 pu  
-0.2  
0
0.2  
0.4  
0.6  
0.8  
1
1.2  
1.4  
Turbine speed (pu of nominal generator speed)  
Vd  
,
: điện thế trụ c d và trục q (V)  
Vq  
m : tốc độ góc Rotor (rad/s)  
0 : từ thông của nam châm vĩnh cửu (Wb)  
Hình 3. Đặc tính công suất của tuabin gió  
Hình 4 cho thấy đặc tính công suất phổ biến  
của tuabin gió với các tốc độ gió khác nhau.  
Nó cho thấy sự thay đổi công suất đầu của  
tuabin gió với tốc độ gió khác nhau. Ở đây  
tua-bin đạt công suất tối đa khi tốc độ gió ở  
mức 7 m/s và tốc độ định mức của máy phát  
là 1p.u. Rõ ràng là nếu được yêu cầu, đầu ra  
của tuabin gió có thể được thay đổi bằng  
cách thay đổi tốc độ cánh quạt với tốc độ gió  
đặt trước, chẳng hạn 7 m/s. Đầu ra của phía  
rôto / máy phát bộ chuyển đổi được thao tác  
để kiểm soát công suất đầu ra của tua-bin  
gió. Do đó, để kiểm soát đầu ra máy phát  
điện. Tua bin gió không hoạt động khi tốc độ  
gió nhỏ hơn tốc độ tối thiểu (trường hợp này  
nhỏ hơn 4 m/s) vì năng lượng gió thu được  
không đủ để bù các tổn thất và chi phí vận  
hành.  
p: số cặp cực  
2.1.3. Biến đổi Park (chuyển đổi hệ tọa độ  
abc sang dq và ngược lại  
Sự chuyển đổi giữa hệ tọa độ quay dq và hệ  
tọa độ 3 pha abc và ngược lại được thực hiện  
bởi phép biến đổi park cho dưới đây (Patel et  
al.., 2015)  
f
   
f
   
q
a
   
   
fd [Tqd 0 ] fb  
(4)  
   
   
   
   
f0  
fc  
   
   
f
   
f
   
q
a
   
   
fb [Tqd 0 ]1 fd  
Và  
(5)  
   
   
   
   
fc  
f0  
   
   
2   
2  
3
2  
fd   
fa cose fb cos e   
fc cos e   
3
3
(6a)  
2   
2  
3
2  
fq    
fa cose fb sin e   
fc sin e   
3
3
(6b)  
Hình 4: Sơ đồ một nhánh của hệ thống điện  
ở Long Hòa, Cần Giờ tích hợp điện gió công  
suất nhỏ trong môi trường Matlab  
fa fd cos  
e fq sine (7a)  
- Hệ thống điện nghiên cứu là lưới điện hạ  
thế 22 kV được rẽ nhánh từ trạm 110 kV  
thuộc xã Long Hòa, huyện Cần Giờ,  
TP.HCM, lối vào đường 30/4 khu du lịch  
2  
2  
3
fb fd cos e   
fq sin e   
(7b)  
3
HVTH: BÙI QUANG TÚ  
78  
LUẬN VĂN THẠC SĨ  
GVHD: PGS.TS. TRƯƠNG ĐÌNH NHƠN  
biển Cần Giờ. Để đơn giản trong việc mô tả  
hệ thống điện nghiên cứu cũng như xét đến  
ảnh hưởng của các tua-bin gió trong hệ thống  
này, tác giả chỉ nghiên cứu 2 trạm hạ thế là  
trạm Nguyễn Văn Vấn 250 kVA gồm 3 CB  
250A cung cấp cho khoảng 13 phụ tải (170  
kVA) và trạm 2/9 400 kVA gồm 4 CB 250A  
cung cấp cho khoảng 12 phụ tải (190 kVA)  
khu vực trục dọc đường 30/4.  
MCCB 2/9 xuống 0V và nhanh chóng phục  
hồi trong 0,1s.  
- Khi ngắn mạch 1 pha MCC7 tại thời điểm  
2s thì sụt áp ở MCCB Nguyễn Văn Vấn giảm  
không đáng kể và cũng nhanh chóng phục  
hồi.  
3.2. Khi gắn tua-bin gió  
- Khi tốc độ gió ổn định ở mức 8m/s. Tại  
thời điểm 0,5 s đóng tải 2,5 kW và thời điểm  
1s bị ngắn mạch 3 pha trong thời gian 0,1 s.  
Các tua-bin gió được đề xuất gắn ở các vị  
trí sau:  
10  
- Khu vực Chợ Hàng Dương  
- Khu Resort Cần giờ  
9
8
7
6
- BQL khu du lịch 30/4  
5
4
0
0.5  
1
1.5  
2
t (s)  
3. Kết quả nghiên cứu  
3.1. Khi chưa gắn tua-bin gió  
Hình 8: Tốc độ tua-bin gió  
- Khi chưa có các máy phát điện gió, giả sử  
xảy ra sự cố ngắn mạch 3 pha tại MCCB 1  
vào thời điểm 1 giây và ngắn mạch 1 pha tại  
MCCB7 vào thời điểm 2 giây.  
300  
250  
200  
150  
100  
50  
1.2  
1
0
0
0.5  
1
1.5  
2
0.8  
0.6  
0.4  
0.2  
0
t (s)  
Hình 9: Dòng điện tua-bin gió  
450  
400  
350  
300  
250  
200  
150  
100  
50  
0
0.5  
1
1.5  
t (s)  
2
2.5  
3
Hình 5: Điện áp tại MCCB Nguyễn Văn Vấn  
khi ngắn mạch.  
0
0.5  
1
1.5  
2
2.5  
3
0.1  
0.2  
0.3  
0.4  
0.5  
0.6  
0.7  
0.8  
0.9  
1
0
0
0.5  
1
1.5  
2
t (s)  
Hình 10: Điện áp tua-bin gió  
1.1  
Dựa vào các đồ thị kết quả mô phỏng, khi tốc  
độ gió ổ định ở mức 8 m/s, đóng tải 2,5 kW  
đột ngột tại thời điểm 0,5 s thì điện áp, dòng  
điện của tua-bin tăng không đáng kể. Tuy  
nhiên, khi ngắn mạch 3 pha trong thời gian  
0,1 s tại thời điểm 1s thì điện áp xuống 0 và  
nhanh chóng phục hồi, dòng điện thì ngược  
lại đột ngột tăng đến 250A.  
Hình 6: Điện áp tại MCCB 2/9 khi ngắn  
mạch.  
1.4  
1.2  
1
0.8  
0.6  
0.4  
0.2  
0
0
0.5  
1
1.5  
2
2.5  
3
t (s)  
Hình 7: Điện áp tại chợ Hàng Dương khi  
ngắn mạch.  
- Khi xảy ra sự cố ngắn mạch 3 pha MCC1  
tại thời điểm 1s, điện áp tại các tải L1 (Chợ  
Hàng Dương), MCCB Nguyễn Văn Vấn,  
HVTH: BÙI QUANG TÚ  
79  
LUẬN VĂN THẠC SĨ  
GVHD: PGS.TS. TRƯƠNG ĐÌNH NHƠN  
- Khi tốc độ gió thay đổi từ 8 m/s xuống 6  
m/s tại thời gian 1,5 s với tải không đổi.  
Khi ngắn mạch 1 pha tại 0,5 s với tốc độ gió  
ổn định 8 m/s, điện áp đầu ra tua-bin xuống  
0, dao động chút ít rồi trở về ban đầu, ngược  
lại dòng điện tăng cao gần 200A tại 0,5 s,  
dao dộng chút ít trước khi phục hồi. Tuy  
nhiên, công suất lại không thay đổi nhiều  
10  
9
8
7
6
5
3.3. Phân tích FFT của điện áp tại tua-bin  
gió khi ngắn mạch 1 pha MCC7 tại 0,5s  
4
0
0.5  
1
1.5  
2
t (s)  
2.5  
3
3.5  
4
Hình 11: Tốc độ tua-bin gió  
Hệ thống chuyển đổi năng lượng gió  
(WECS) của máy phát đồng bộ nam châm  
(PMSG) được kết nối với tải ba pha thông  
qua các bộ chuyển đổi (AC / DC / AC). Sóng  
hài là gây ra bởi những hệ thống chuyển đổi  
này. Để giảm các sóng hài này cần sử dụng  
một bộ lọc. Có hai loại bộ lọc thường được  
sử dụng, bộ lọc chủ động và bộ lọc thụ động.  
Để phân tích mức độ sóng hài của hai bộ  
chuyển đổi AC / DC làm việc ở tốc độ gió  
khác nhau, ta sử dụng phương pháp biến đổi  
Fourier nhanh (FFT) để xác định sóng hài.  
400  
380  
360  
340  
320  
300  
0
0.5  
1
1.5  
2
t (s)  
2.5  
3
3.5  
4
Hình 12: Điện áp tua-bin gió  
20  
18  
16  
14  
12  
10  
Selected signal: 100 cycles. FFT window (in red): 100 cycles  
400  
200  
0
-200  
-400  
0
0.5  
1
1.5  
2
2.5  
3
3.5  
4
0
0.2  
0.4  
0.6  
0.8  
1
1.2  
1.4  
1.6  
1.8  
2
t (s)  
Time (s)  
Fundamental (50Hz)  
=
351.4  
,
THD= 15.80%  
20  
Hình 13: Dòng điện tua-bin gió  
18  
16  
14  
12  
10  
8
Khi tốc độ gió thay đổi từ 8 m/s xuống 6 m/s  
tại thời gian 1,5 s với tải không đổi thì điện  
áp và dòng điện của tua-bin vẫn ổn định,  
nhưng công suất đầu ra của tua-bin giảm  
đáng kể, từ 7500 W xuống còn 3000 W trong  
2 s và ổn định ở mức 3000 W.  
6
4
2
0
0
2
4
6
8
10  
Harmonic order  
12  
14  
16  
18  
20  
Hình 16: Phân tích FFT của điện áp tại tua-  
bin gió  
Dựa vào phân tích FFT điện áp tại tua-bin  
gió ở hình 5.34, tổng méo hài khi có sự cố ở  
điều kiện có tải là 15,8%, chủ yếu là bậc 1 ở  
tần số cơ bản 50Hz.  
- Ngắn mạch 1 pha tại MCC7 với tốc độ  
gió 8 m/s  
400  
350  
300  
250  
200  
150  
100  
50  
3.4. Phân tích FFT điện áp tại bus xa nhất  
so với điểm ngắn mạch  
Selected signal: 100 cycles. FFT window (in red): 100 cycles  
400  
200  
0
0
0.5  
1
1.5  
2
-200  
-400  
t (s)  
0
0.2  
0.4  
0.6  
0.8  
1
1.2  
1.4  
1.6  
1.8  
2
Time (s)  
Hình 14: Điện áp tua-bin gió  
Fundamental (50Hz)  
=
360.5  
,
THD= 12.82%  
16  
14  
12  
10  
8
200  
150  
100  
50  
6
4
2
0
0
2
4
6
8
10  
Harmonic order  
12  
14  
16  
18  
20  
Hình 17: Phân tích FFT điện áp tại bus xa  
0
0
0.5  
1
t (s)  
1.5  
2
nhất so với điểm ngắn mạch  
Hình 15: Dòng điện tua-bin gió  
HVTH: BÙI QUANG TÚ  
80  
LUẬN VĂN THẠC SĨ  
GVHD: PGS.TS. TRƯƠNG ĐÌNH NHƠN  
Kết quả phân tích FFT ở hình 5.35 cho thấy  
tổng méo hài điện áp tại bus xa nhất so với  
điểm ngắn mạch thấp hơn tại tua-bin gió, cụ  
thể là 12,82%, thấp hơn 2,98%  
3.5. Phân tích khả năng tích hợp tuabin  
gió vào lưới hạ thế  
Để đánh giá mức độ ảnh hưởng của việc lắp  
đặt điện gió công suất nhỏ vào lưới hạ thế,  
tác giả tiến hành lắp đặt thêm 3 máy phát  
điện gió (2 tua-bin 3kw, 1 tua-bin 2,5kw) tại  
hộ dân (MCCB7) và tiến hành mô phỏng sự  
cố ngắn mạch 1 pha (100%) tại MCCB7 khi  
tốc độ gió là 5 m/s.  
Hình 20: Phân tích FFT điện áp tại tua-bin  
gió khi ngắn mạch 3 pha chợ Hàng Dương và  
1 pha tại hộ dân gắn tua-bin gió  
Với biên độ đỉnh 351,2V thì tổng độ méo hài  
THD = 11,96%  
Các kết quả mô phỏng điện áp tại các bus  
như trong các hình sau:  
1
0.9  
0.8  
0.7  
0.6  
0.5  
0.4  
0.3  
0.2  
1.5  
2
2.5  
3
t (s)  
Hình 21: Phân tích FFT dòng điện tại tua-  
bin gió khi ngắn mạch  
Hình 18: Điện áp (p.u) tại MCCB 2/9 khi  
ngắn mạch 1 pha, tốc độ gió 5 m/s.  
Với biên độ đỉnh 75,67V thì tổng độ méo hài  
THD = 46,45%  
1
0.9  
0.8  
0.7  
0.6  
0.5  
0.4  
4. Kết luận  
1.5  
2
2.5  
3
t (s)  
Bài báo đã trình bày những ảnh hưởng  
của việc tích hợp điện gió công suất nhỏ vào  
lưới điện hạ thế tại khu vực Khu du lịch 30/4  
thuộc xã Cần Thạnh, huyện Cần Giờ,  
Tp.HCM và đề xuất một số phương pháp  
nhằm nâng cao ổn định cho hệ thống điện.  
Hình 19: Điện áp (p.u) tại MCCB Nguyễn  
Văn Vấn khi ngắn mạch 1 pha, tốc độ gió 5  
m/s  
Dựa vào các kết quả điện áp ta thấy giá trị  
giảm xuống dưới 0,95 và khi sự cố xãy ra thì  
thời gian phục hồi điện áp cũng khá chậm.  
Cụ thể, điện áp tại MCCB 2/9 và MCCB  
Nguyễn Văn Vấn giảm xuống dưới 0,5 p.u  
chút ít, cũng bị dao động đôi chút rồi phục  
hồi lại giá trị định mức ban đầu.  
Các kết quả mô phỏng đã được trình bày và  
thực hiện trên các điều kiện vận hành nguy  
hiểm khác nhau của hệ thống điện như sự cố  
ngắn mạch 3 pha, hoặc khi tốc độ gió thay  
đổi đột ngột. Có thể kết luận từ các kết quả  
nghiên cứu rằng càng nhiều tua-bin gió thì  
tổng độ méo hài càng lớn, thời gian phục hồi  
điện áp và dòng điện càng tăng làm ảnh  
hưởng đến chất lượng điện năng của lưới dẫn  
đến hệ thống không ổn định. Do đó, tác giả  
xin đề xuất một số giải pháp để nâng cao độ  
ổn định của hệ thống như sau:  
HVTH: BÙI QUANG TÚ  
81  
LUẬN VĂN THẠC SĨ  
GVHD: PGS.TS. TRƯƠNG ĐÌNH NHƠN  
Sử dụng giải thuật thông minh để  
điều khiển tối ưu các nguồn công suất  
phân tán nhằm giảm các ảnh hưởng  
đến lưới hạ thế khi tích hợp điện gió  
công suất nhỏ.  
Có thể kết hợp các thiết bị FACTS để  
nâng cao khả năng hoạt động ổn định  
của hệ thống.  
Tuy nhiên, trong nghiên cứu này vẫn còn  
một số hạn chế, cần phát triển thêm trong  
tương lai như nghiên cứu các giải pháp  
tang độ ổn định của hệ thống và nghiên  
cứu them các ảnh hưởng của máy phát  
điện gió PMSG khi kết nối lưới.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Số 4A Nguyễn Thái Sơn, Nguyễn Phát Lợi , Quảng Đức Thành , Lương Nhân và Trần Hữu  
Danh, Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ, Tập 55, trang 4-5, 2019  
[2] Bùi Đình Tiếu, Trần Văn Thịnh, Nguyễn Duy Khiêm, Luận văn thạc sĩ mô phỏng ảnh  
hưởng của nhà máy phát điện chạy bằng sức gió ở Bình Định đến lưới điện quốc gia sử dụng  
phần mềm Matlab – Simulink, Đại học Bách Khoa Hà Nội, 2009  
[3] G. M. Shafiullah, Amanullah M. T. Oo, A.B.M.ShawkatAli and Alex Stojcevski, Influences  
of Wind Energy Integration into the Distribution Network, Hindawi Publishing Corporation  
Journal of Wind Energy Volume 2013, Article ID 903057, 2013  
[4] Tony B. Nguyen, M.A. Pai, Eduard Muljadi, Impact of Wind Power Plants on Voltage and  
Transient Stability of Power Systems, 2008 IEEE Energy 2030 Conference, 17-18 Nov, 2008  
Thông tin liên hệ tác giả chính  
(người chịu trách nhiệm bài viết):  
Họ tên: Bùi Quang Tú  
Xác Nhận Của GVHD  
Đơn vị: Cao Đẳng Nghề Tây Nnh  
Điện thoại: 0987.756.913  
PGS.TS Trương Đình Nhơn  
HVTH: BÙI QUANG TÚ  
82  
BÀI BÁO KHOA HỌC  
THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ  
Bài báo khoa học của học viên  
có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn  
Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ  
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.  
Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý  
của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.  
ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN!  
Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2019-2020 của Thư viện Trường Đại học  
Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.  
pdf 9 trang Mãnh Khiết 09/01/2024 19340 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu ảnh hưởng của nguồn điện công suất nhỏ vào lưới điện hạ thế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_anh_huong_cua_nguon_dien_cong_suat_nho_vao_luoi_d.pdf