Áp dụng chỉ số tổn thương sinh kế trong đánh giá tổn thương do biến đổi khí hậu ở vùng Ngũ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

Tạp chí Khoa học – Đại học Huế  
ISSN 1859-1388  
Tập 120, Số 6, 2016, Tr. 41-51  
ÁP DỤNG CHỈ SỐ TỔN THƯƠNG SINH KẾ TRONG ĐÁNH  
GIÁ TỔN THƯƠNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VÙNG  
NGŨ ĐIỀN, HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ  
,
Lê Quang Cảnh* Hồ Ngọc Anh Tuấn, Hồ Thị Ngọc Hiếu, Trần Hiếu Quang  
Viện Tài nguyên và Môi trường, Đại học Huế  
Tóm tắt. Áp dụng chỉ số tổn thương sinh kế (Livelihood Vulnerability Index – LVI) được xây dựng bởi  
Hahn và côṇ g sự năm 2009 [7], để đánh giá mức độ tổn thương sinh kế ở vùng Ngũ Điền, huyện Phong  
Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế được thực hiện dựa vào nhiều phương pháp khác nhau. Dữ liệu bài báo dựa  
trên số liệu thu thập từ 150 phiếu điều tra người dân cùng với số liệu thứ cấp về số lượng các trận thiên  
tai. Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ số tổn thương sinh kế ở vùng Ngũ Điền tăng dần theo các yếu tố  
chính là sức khỏe (M3), nguồn nước sử dụng (M6), đặc điểm hộ (M1), thảm họa tự nhiên - biến đổi khí hậu  
(M7), Mạng lưới xã hội (M4), chiến lược sinh kế (M2) và thực phẩm - tài chính (M5) với các giá trị lần lượt  
0,079; 0,178; 0,204; 0,223; 0,27; 0,46; và 0,578. Chỉ số LVI tổng hợp của vùng Ngũ Điền là 0,296 chỉ ra rằng  
chỉ số tổn thương sinh kế không quá cao, dao động trong khoảng từ 0 (mức tổn thương thấp nhất) đến 0,6  
(mức độ tổn thương cao nhất).  
Từ khóa: biến đổi khí hậu, tổn thương sinh kế, chỉ số tổn thương sinh kế, vùng Ngũ Điền  
1
Đặt vấn đề  
Biến đổi khí hậu đang là mối quan tâm lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 21. Biến đổi  
khí hậu tác động đến mọi mặt trong đời sống xã hội, đặc biệt là sinh kế của người dân ở vùng  
nghèo ven biển [2]. Theo đánh giá của Ủy ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu [4], Châu Á  
là một trong những châu lục dễ bị tổn thương nhất bởi biến đổi khí hậu bởi chịu nhiều cú sốc  
khí hậu và khả năng thích ứng hạn chế [4]. Việt Nam từ lâu được xem là một trong những quốc  
gia bị tác động nặng nhất bởi biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Tỉnh Thừa Thiên Huế nói  
chung và vùng Ngũ Điền nói riêng là những trường hợp điển hình khi nhắc đến tác động của  
biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan.  
Khái niệm sinh kế thường xuyên được sử dụng và trích dẫn trong các nghiên cứu hiện  
nay là dựa trên ý tưởng về sinh kế của Chambers và Conway năm 1992 [8]; theo đó, sinh kế  
theo cách hiểu đơn giản nhất là phương tiện để kiếm sống. Một cách đầy đủ hơn, sinh kế bao  
gồm khả năng, nguồn lực và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người. Dựa  
trên khái niệm sinh kế này thì sinh kế “bao gồm khả năng, nguồn lực” (bao gồm các nguồn lực  
vật chất và nguồn lực xã hội).  
*Liên hệ: [email protected]  
Nhậnbài: 03-03-2016; Hoànthànhphảnbiện: 04-04-2016; Ngày nhận đăng: 15-08-2016.  
Lê Quang Cảnh và CS.  
Tập 120, Số 6, 2016  
Phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững cho phép đánh giá ảnh hưởng của những yếu tố  
khác nhau đến sinh kế của con người, đặc biệt là những yếu tố gây khó khăn và tạo ra cơ hội  
trong sinh kế [8]. Tuy nhiên, phương pháp này còn hạn chế trong việc giải quyết các vấn đề  
nhạy cảm và chỉ ra năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu. Gần đây, một phương pháp tiếp  
cận mới cho phép khắc phục được những vấn đề trên là phương pháp đánh giá dựa vào chỉ số  
tổn thương sinh kế (LVI- Livelihood Vulnerability Index) được Hahn và cộng sự đề xuất [7].  
Theo các tác giả, có hai cách tiếp cận đối với chỉ số tổn thương sinh kế: cách đầu tiên thể hiện  
LVI như là một chỉ số hỗn hợp bao gồm 7 yếu tố chính (đặc điểm hộ, các chiến lược sinh kế, các  
mạng lưới xã hội, sức khỏe, lương thực và tài chính, nguồn nước, các thảm họa tự nhiên và biến  
đổi khí hậu). Mỗi yếu tố chính sẽ có các chỉ thị (yếu tố phụ). Trong khi đó cách tiếp cận thứ hai  
sẽ tập hợp 7 yếu tố chính vào trong 3 tác nhân “đóng góp” theo định nghĩa của Uỷ ban Liên  
chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đối với khả năng tổn thương là sự “hứng chịu” (exposure),  
sự nhạy cảm/tính dễ bị tổn thương (sensitivity), và khả năng thích ứng (adaptive capacity).  
Trong bối cảnh biêń đổi khí hâụ đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ đêń các lĩnh vực khać  
nhau, đã có một số nghiên cứu đań h giá mức độ tổn thương sinh kế do biêń đôỉ khí hậu, đăc̣  
biêṭ tại cać vùng nông thôn ven biên̉ , trong đó nghiên cứu của Nguyễn Văn Bôi và Đoàn Thị  
Thanh Kiêù (2012) [1] đã áp dụng chỉ số tổn thương trong nghiên cứu sinh kế ở xã đaỏ Tam  
Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Tuy nhiên, cać nghiên cứu này vẫn thiêú chi tiêt́ và  
cần tiếp tục bổ sung để hoàn thiện. Bài báo này tập trung vaò viêc̣ mô phỏng cać h tiń h chỉ số  
tổn thương sinh kế (LVI) được đề xuất bởi Hahn và cộng sự áp dụng cho vùng Ngũ Điêǹ ,  
huyện Phong Điêǹ , tỉnh Thừa Thiên Huế nhằm đánh giá mức độ tổn thương sinh do biêń đổi  
khí hậu phù hợp với điều kiện riêng ở khu vực nghiên cứu.  
Hình 1. Sơ đồ khu vực nghiên cứu  
42  
Lê Quang Cảnh và CS.  
Tập 120, Số 6, 2016  
2
Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 9/2014 đến tháng 10/2015 tại 5 xã vùng Ngũ Điền  
gồm: Điền Hương, Điền Môn, Điền Lộc, Điền Hòa, Điền Hải, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa  
Thiên Huế đã áp dụng kỹ thuật phỏng vấn bán cấu trúc (Semi-structured interview) đối với các  
hộ gia đình một cách ngẫu nhiên.  
Nguồn số liệu sơ cấp được tổng hợp dựa trên quá trình phỏng vấn trực tiếp người dân  
trong khu vực nghiên cứu thông qua bộ câu hỏi trong phiếu điều tra. Tổng số phiếu điều tra  
thực hiện trong nghiên cứu này được tính theo công thức [9].  
N
n =  
2
1+N.e  
Trong đó, n là kích cỡ mẫu, N là tổng số hộ ở khu vực nghiên cứu và e là xác suất có khả  
năng gặp sai số loại 2 (thông thường từ 5 % đến 10 %) [9].  
Căn cứ vào công thức trên và tỷ lệ số hộ ở các xã ở khu vực nghiên cứu, số mẫu được phân bổ  
như trong bảng 1.  
Bảng 1. Phân bổ số phiếu điều tra theo các xã  
Dân số  
(người)  
Xã  
Số hộ  
Số phiếu  
Điền Hương  
Điền Môn  
Điền Lộc  
2970  
665  
848  
20  
25  
3032  
6017  
1204  
1021  
1336  
5074  
36  
Điền Hòa  
Điền Hải  
4479  
30  
5521  
39  
Toàn vùng  
22019  
150  
Số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo cấp xã và các tổ chức ban ngành, đoàn thể  
địa phương.  
Số liệu sơ cấp và số liệu thứ cấp được thống kê, tổng hợp và phân tích bằng phần mềm  
Miccrosoft Excel (version 2007). Thông tin được xử lý theo từng nội dung dựa vào phiếu điều tra.  
Cách tính LVI tổng hợp  
Chỉ số tổn thương sinh kế (LVI) bao gồm 7 hợp phần chính: đặc điểm hộ, chiến lược sinh  
kế, mạng lưới xã hội, sức khỏe, thực phẩm và tài chính, nguồn nước, thiên tai và thay đổi khí  
43  
Lê Quang Cảnh và CS.  
Tập 120, Số 6, 2016  
hậu. Mỗi hợp phần bao gồm nhiều hợp phần phụ. Chúng được hình thành dựa trên tổng quan  
của mỗi thành phần chính khi tiến hành điều tra, phỏng vấn các hộ dân ở khu vực nghiên cứu.  
LVI sử dụng cách tiếp cận trung bình trọng số cân bằng của Sulivan [6]; trong đó mỗi  
hợp phần phụ có sự đóng góp ngang nhau đối với chỉ số tổng thể mặc dù mỗi hợp phần chính  
có số lượng các hợp phần phụ khác nhau. Công thức LVI sử dụng cách tiếp cận đơn giản bằng  
cách áp dụng trọng số bằng nhau cho tất cả các hợp phần chính.  
Cách tính LVI được mô phỏng theo Hahn và cộng sự, nhưng có một số thay đổi để phù  
hợp với điều kiện thực tế như: tiêu chí khoảng cách từ nhà đến cơ sở khám chữa bệnh gần nhất  
được thay thế bằng số lần đến các cơ sở y tế gần nhất để khám, chữa bệnh trong năm. Do mỗi  
yếu tố phụ được đo lường theo một hệ thống đơn vị khác nhau nên chúng sẽ được chuẩn hóa  
để trở thành một chỉ số thống nhất theo phương trình (1):  
푆 − 푆  
푟
푚푖푛  
IndexSr  
=
(1)  
푆
− 푆  
푚푖푛  
푚푎푥  
Trong đó, Sr là giá trị gốc yếu tố phụ (giá trị thực) đối với khu vực nghiên cứu, và Smin và  
Smax lần lượt là các giá trị tối thiểu và tối đa. Sau khi được chuẩn hóa, các yếu tố phụ được lấy  
trung bình để tính giá trị của mỗi yếu tố chính (major component) bằng cách áp dụng phương  
trình (2)  
푛
푖=1  
∑
푖푛푑푒푥  
푆푟푖  
Mri  
=
(2)  
푛
Trong đó, Mri là giá trị của một trong bảy yếu tố chính đối với khu vực nghiên cứu,  
indexsri thể hiện giá trị các yếu tố phụ được ghi chỉ số theo i, chúng tạo nên mỗi yếu tố chính, và  
n là số lượng yếu tố phụ trong mỗi yếu tố chính. Khi giá trị của các yếu tố chính được xác định,  
chỉ số tổn thương sinh kế tổng hợp tại khu vực nghiên cứu được tính toán theo phương trình  
(3)  
7
푖=1  
∑
푊 푀  
푀푖 푟푖  
LVIr  
=
(3)  
7
푖=1  
∑
푊
푀푖  
Trong đó LVIr là chỉ số tổn thương sinh kế ở khu vực nghiên cứu; WMi là trọng số của  
một trong bảy yếu tố chính. WMi được định nghĩa là số lượng các yếu tố phụ tạo thành yếu tố  
chính theo nguyên tắc trọng số cân bằng của Sullivan [6].  
Trong nghiên cứu này, LVI dao động trong khoảng 0 (mức tổn thương thấp nhất) đến 0,6  
(mức tổn thương cao nhất).  
44  
Lê Quang Cảnh và CS.  
Tập 120, Số 6, 2016  
3
Kết quả và thảo luận  
Kết quả nghiên cứu từ nguồn số liệu sơ cấp và thứ cấp được thể hiện qua bảng 3.  
Bảng 3. Giá trị các yếu tố phụ, giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của chỉ số LVI  
Giá trị  
thực  
(Sd)  
Giá trị  
lớn  
nhất  
Giá trị  
nhỏ  
nhất  
Các yếu tố  
chính  
Đơn vị  
tính  
Các yếu tố phụ  
Tỷ lệ phụ thuộc  
%
%
%
31,12  
9,33  
100  
100  
100  
0
0
0
Đặc điểm  
hộ  
Phần trăm số hộ có chủ hộ thất học  
Phần trăm số hộ có chủ hộ là phụ nữ  
20,67  
Phần trăm số hộ thu nhập chỉ dựa vào sản  
xuất nông nghiệp  
%
%
79,33  
24,67  
100  
100  
0
0
Chiến  
lược sinh  
kế  
Phần trăm số hộ có thu nhập không đủ  
trang trải cuộc sống  
Phần trăm số hộ có người thất nghiệp  
Phần trăm số hộ có người làm ăn xa  
Số ngày đến cơ sở y tế kiểm tra sức khỏe  
%
%
18,67  
60,67  
2,53  
100  
100  
360  
0
0
0
Ngày/năm  
Phần trăm số hộ có người mắc bệnh mãn  
tính  
%
%
%
32,00  
12,00  
2,00  
100  
100  
100  
0
0
0
Sức khỏe  
Phần trăm số hộ có thành viên nghỉ  
học/nghỉ làm do bị ốm  
Phần trăm số hộ có người chết hoặc mất sức  
lao động do bị bệnh  
Phần trăm hộ không được chính quyền tạo  
công ăn việc làm  
%
%
%
45,33  
84,67  
17,33  
100  
100  
100  
0
0
0
Tỷ lệ hộ có nhu cầu hỗ trợ từ chính quyền  
Mạng lưới  
xã hội  
Phần trăm số hộ không tiếp cận được nguồn  
thông tin  
Phần trăm hộ không nhận được sự giúp đỡ  
của người thân hoặc bạn bè  
%
22,67  
100  
0
45  
Lê Quang Cảnh và CS.  
Tập 120, Số 6, 2016  
Bảng 3. Giá trị các yếu tố phụ, giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của chỉ số LVI (tiếp theo)  
Giá trị  
thực  
(Sd)  
Giá trị  
lớn  
nhất  
Giá trị  
nhỏ  
nhất  
Các yếu tố  
chính  
Đơn vị  
tính  
Các yếu tố phụ  
Phần trăm hộ thiếu lương thực, thực phẩm  
thiết yếu để sử dụng  
%
49,33  
0,68  
100  
1
0
0
Thực  
phẩm và  
1/số lượng  
cây trồng  
canh tác  
Chỉ số đa dạng các loại cây trồng  
Tài chính  
Phần trăm hộ vay vốn sản xuất, kinh doanh  
%
%
32,00  
8,00  
100  
100  
0
0
Phần trăm số hộ báo cáo có va chạm, xung  
đột về nguồn nước  
Phần trăm số hộ sử dụng nguồn nước tự  
nhiên  
%
%
%
%
54,67  
12,00  
5,33  
100  
100  
100  
100  
10  
0
0
0
0
0
0
Nguồn  
nước  
Phần trăm số hộ không được sử dụng nước  
máy  
Phần trăm số hộ thiếu nước sinh hoạt, sản  
xuất  
Phần trăm số hộ không được sử dụng  
nguồn nước ổn định  
10,00  
3,50  
Số lượng trung bình các trận bão, lũ lụt, hạn  
hán, lốc xoáy trong vòng 5 năm qua  
Số  
lượng/năm  
Phần trăm số hộ không nhận được cảnh báo  
thiên tai  
%
%
14,0  
100  
Thiên tai  
và biến  
đổi khí  
hậu  
Phần trăm số hộ báo cáo có người bị chết  
hoặc bị thương do thiên tai gây ra trong  
năm qua  
1,33  
100  
0
Phần trăm số hộ bị thiệt hại về nhà cửa do  
thiên tai gây ra  
%
%
24,67  
36,00  
100  
100  
0
0
Phần trăm số hộ nhận thấy sự thay đổi bất  
thường về thiên tai/khí hậu ở địa phương  
46  
Lê Quang Cảnh và CS.  
Tập 120, Số 6, 2016  
Theo các yếu tố phụ được trình bày ở bảng 3 có thể xác định được các yếu tố chính của chỉ số  
LVI như sau: trình bày ở bảng 4.  
Bảng 4. Giá trị các yếu tố chính của chỉ số LVI  
Các yếu tố  
chính  
Chỉ  
số  
Chỉ  
số  
Các yếu tố phụ  
Tỷ lệ phụ thuộc  
0,31  
0,093  
0,21  
0,79  
0,25  
0,19  
0,61  
0,007  
0,17  
0,12  
0,02  
0,53  
0,15  
0,17  
0,23  
0,82  
0,49  
0,68  
0,32  
0,08  
0,41  
0,12  
0,1  
Đặc điểm  
hộ (M1)  
0,204  
Phần trăm số hộ có chủ hộ thất học  
Phần trăm số hộ có chủ hộ là phụ nữ  
Phần trăm số hộ thu nhập chỉ dựa vào sản xuất nông nghiệp  
Phần trăm số hộ có thu nhập không đủ trang trải cuộc sống  
Phần trăm số hộ có người thất nghiệp  
Chiến lược  
sinh kế  
(M2)  
0,460  
Phần trăm số hộ có người làm ăn xa  
Số ngày đến cơ sở y tế kiểm tra sức khỏe  
Phần trăm số hộ có người mắc bệnh mãn tính  
Sức khỏe  
(M3)  
0,079  
0,270  
0,578  
0,178  
Phần trăm số hộ có thành viên nghỉ học/nghỉ làm do bị ốm  
Phần trăm hộ có người chết hoặc mất sức lao động do bị bệnh  
Tỷ lệ hộ không được chính quyền tạo công ăn việc làm  
Tỷ lệ hộ không có nhu cầu hỗ trợ từ chính quyền  
Phần trăm số hộ không tiếp cận được nguồn thông tin  
Phần trăm hộ không nhận được sự giúp đỡ của người thân hoặc bạn bè  
Phần trăm hộ có nhu cầu mua lương thực bên ngoài để sử dụng  
Phần trăm hộ thiếu lương thực, thực phẩm thiết yếu để sử dụng  
Chỉ số đa dạng các loại cây trồng  
Mạng lưới  
xã hội (M4)  
Thực  
phẩm và  
tài chính  
(M5)  
Phần trăm hộ có vay vốn sản xuất, kinh doanh  
Phần trăm số hộ báo cáo có va chạm, xung đột về nguồn nước  
Phần trăm số hộ sử dụng nguồn nước tự nhiên  
Phần trăm số hộ không được sử dụng nước máy  
Phần trăm số hộ không được sử dụng nguồn nước ổn định  
Nguồn  
nước (M6)  
47  
Lê Quang Cảnh và CS.  
Tập 120, Số 6, 2016  
Bảng 4. Giá trị các yếu tố chính của chỉ số LVI (tiếp theo)  
Các yếu  
tố chính  
Chỉ  
số  
Chỉ  
số  
Các yếu tố phụ  
Số lượng trung bình các trận bão, lũ lụt, hạn hán, lốc xoáy trong vòng  
5 năm qua  
0,35  
0,14  
Phần trăm số hộ không nhận được cảnh báo thiên tai  
Thiên tai  
và biến  
đổi khí  
Phần trăm số hộ báo cáo có người bị chết hoặc bị thương do thiên tai 0,013  
gây ra trong năm qua  
0,223  
hậu (M7)  
Phần trăm số hộ bị thiệt hại về nhà cửa do thiên tai gây ra  
0,25  
0,36  
Phần trăm số hộ nhận thấy sự thay đổi bất thường về thiên tai/khí hậu  
ở địa phương  
Bảng 3 biểu diễn giá trị LVI của các yếu tố phụ ở vùng Ngũ Điền cũng như giá trị tối đa  
và tối thiểu. Giá trị của các yếu tố chính và giá trị LVI tổng hợp được trình bày ở bảng 4. Kết  
quả tính toán cho thấy chỉ số của 7 yếu tố chính lần lượt: 0,204; 0,460; 0,079; 0,270; 0,578; 0,178  
và 0,223. Trong đó, yếu tố thực phẩm và tài chính có giá trị LVI cao nhất 0,578. Điều này là do  
phần lớn các hộ dân trong khu vực nghiên cứu gặp rất nhiều khó khăn trong sản xuất nông  
nghiệp, người dân không chủ động được nguồn lương thực, thực phẩm, đặc biệt trong tình  
hình biến đổi khí hậu và thiên tai ngày càng gia tăng và khắc nghiệt như hiện nay. Ngoài ra,  
yếu tố chiến lược sinh kế có giá trị cao thứ hai 0,46 do phần lớn nguồn sinh kế của các hộ dân phụ  
thuộc vào các tài nguyên có tính rủi ro cao (chủ yếu là sản xuất nông nghiệp) nên nguồn thu nhập  
thấp và không ổn định. Bên cạnh đó, do vùng này thiếu đất sản xuất nên có đến 61 % các hộ dân  
có người dân phải đi tìm công việc ở địa phương khác (chủ yếu là vào miền Nam sinh sống hoặc  
đi làm thuê ở thành phố Huế và các vùng lân cận).  
Yếu tố thiên tai và biến đổi khí hậu cũng rất đáng chú ý với giá trị là 0,223, đặc biệt trong  
bối cảnh tình hình thời tiết ngày càng diễn biến khó lường như hiện nay. Trong nghiên cứu này,  
giá trị của yếu tố thiên tai và biến đổi khí hậu được tính toán dựa vào số liệu sơ cấp thu thập  
được bằng phiếu điều tra và số liệu thứ cấp từ UBND các xã ở khu vực nghiên cứu. Trong đó,  
hai yếu tố phụ có giá trị cao nhất là số lượng trung bình các trận bão, lụt và hạn hán là 0,35 và  
số lượng người dân nhận thấy sự thay đổi thất thường của khí hậu và thiên tai là 0,36.  
Yếu tố mạng lưới xã hội là 0,27; trong đó, tỷ lệ hộ dân không được chính quyền tạo công  
ăn việc làm là 0,53 cho thấy khả năng hỗ trợ của chính quyền địa phương còn rất hạn chế và cần  
khắc phục trong thời gian tới nhằm tạo thêm công ăn việc làm cho người dân, đặc biệt trong  
thời gian xảy ra thiên tai và nông nhàn.  
48  
Lê Quang Cảnh và CS.  
Tập 120, Số 6, 2016  
Theo kết quả tính toán, chỉ số LVI tổng hợp ở vùng Ngũ Điền là 0,296 và cho thấy mức  
độ tổn thương ở mức trung bình. Giá trị các yếu tố chính của LVI được thể hiện trên hình 2 và  
dao động trong khoảng từ 0 (mức độ tổn thương thấp nhất) ở trung tâm đến 0,6 (mức độ tổn  
thương cao nhất) ở vùng ngoài.  
Đặc điểm hộ  
0,6  
Thiên tai và  
Biến đổi khí hậu  
Chiến lược sinh  
kế  
0,4  
0,2  
0
Vùng Ngũ Điền  
Nguồn nước  
Sức khỏe  
Thực phẩm và  
Tài chính  
Mạng lưới xã  
hội  
Hình 2. Biểu diễn các yêú tố chính của chỉ số LVI ở vùng Ngũ Điêǹ  
Bên cạnh các yếu tố chính đã được phân tích ở trên, hình 2 cho thấy các yếu tố sức khỏe  
(M3), nguồn nước (M6) và đặc điểm hộ (M1) có giá trị thấp nhất cũng đồng nghĩa với mức độ tổn  
thương nhỏ nhất. Điều này có thể do điều kiện chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng  
được nâng cao, mạng lưới nước sạch đã phủ khắp các khu vực ở vùng nghiên cứu, trình độ văn  
hóa của người dân từng bước được cải thiện và rất ít hộ gia đình mà chủ hộ không biết chữ.  
Đây là những yếu tố góp phần kéo chỉ số LVI chung giảm xuống.  
4
Kết luận  
Chỉ số LVI ở vùng Ngũ Điền cho thấy khả năng tổn thương giảm dần theo các yếu tố  
chính lần lượt là thực phẩm và tài chính, chiến lược sinh kế, mạng lưới xã hội, thiên tai và biến  
đổi khí hậu, đặc điểm hộ, nguồn nước và sức khỏe với các giá trị lần lượt là 0,578, 0,46, 0,27,  
0,223, 0,204, 0,178 và 0,079.  
Giá trị tổn thương sinh kế của vùng Ngũ Điền là 0,296 và giá trị này cho thấy mức độ tổn  
thương không quá cao nhưng cũng phải chú ý trong thời gian tới. Các giá trị dao động trong  
khoảng 0 (mức độ tổn thương thấp nhất) đến 0,6 (mức độ tổn thương cao nhất) với khoảng dao  
động 0,1.  
Hạn chế của phương pháp đánh giá mức độ tổn thương sinh kế dựa vào chỉ số LVI là  
việc lựa chọn các yếu tố phụ và mối liên quan giữa yếu tố phụ và các yếu tố chính. Ngoài ra,  
việc phỏng vấn một cách ngẫu nhiên các hộ dân ở khu vực nghiên cứu cũng gặp một số hạn chế  
49  
Lê Quang Cảnh và CS.  
Tập 120, Số 6, 2016  
về độ tin cậy của những số liệu sơ cấp thu thập được. Tuy nhiên, hạn chế này có thể khắc phục  
được bằng cách nâng số phiếu điều tra và áp dụng các phương pháp thống kê để loại bỏ những  
sai số trong điều tra.  
Tài liệu tham khảo  
1. Nguyễn Văn Bôi và Đoàn Thị Thanh Kiều (2012), Áp dụng chỉ số tổn thương trong nghiên cứu sinh kế  
trường hợp xã Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ, số  
24b, Tr. 251 - 260.  
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam. Nxb. Tài  
nguyên - Môi trường và Bản đồ Việt Nam.  
3. Chi cục Thống kê huyện Phong Điền (2015). Niên giám thống kê 2014.  
4. Ủy ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC, 2007), Báo cáo đánh giá lần thứ 4 về biến đổi khí hậu:  
Tác động, thích ứng và tính dễ tổn thương.  
5. UBND huyện Phong Điền (2013), Báo cáo thuyết minh tổng hợp: Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế  
hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011- 2015) huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.  
6. Sullivan, C. et al. (2002), Calculating a water poverty index. World Development, 30(1), pp. 1195 - 1210.  
7. Hahn, M. B., Anne M. R., Stanley O. F. (2009), The livelihood Vulnerabitily Index: A pragmatic approach to  
assessing risks from climate vulnerability and change – A case study in Mozambique. Global Environ, Change,  
(in press- doi 10.1016/j.gloenvcha.2008.11.002).  
8. Chamber, R., Conway, G. (1992), Sustainable rural livelihood: Practical concept for the 21st Century.  
Dicussion paper 296, Institute of Development Studies, Brighton, UK.  
9. Ram, C. B. (2008), Stastistica in Aquaculture, Asian Institutes of Technology (AIT). Wiley - Blackwell.  
50  
Lê Quang Cảnh và CS.  
Tập 120, Số 6, 2016  
LIVELIHOOD VULNERABILITY INDEX IN ASSESSING  
VULNERABILITY DUE TO CLIMATE CHANGES  
IN NGU DIEN REGION, PHONG DIEN DISTRICT,  
THUA THIEN HUE PROVINCE  
Le Quang Canh*, Ho Ngoc Anh Tuan, Ho Thi Ngoc Hieu, Tran Hieu Quang  
Institute of Resources and Environment, Hue University  
Abstract: The level of livelihood vulnerability of the local people in Ngu Dien region, Phong Dien district,  
Thua Thien Hue province was assessed using different methods based on the livelihood vulnerability  
index (LVI) built by Haln et al. (2009). The data were collected based on a survey of 150 local people and  
complemented with secondary information on the number of natural disasters. The results showed that  
LVI of Ngu Dien region increases with the main factors in the following order: health (M3), used water  
sources (M6), household profile (M1), natural disasters-climate changes (M7), social networks (M4), liveli-  
hood strategies (M2), and food-finance (M5) with the values of 0.079, 0.178, 0.204, 0.223, 0.27, 0.46, and  
0.578, respectively. The overall LVI value of Ngu Dien region is 0.296 indicating that the livelihood vulner-  
ability is not high, and the value of major components fluctuates from 0 (lowest vulnerability) to 0.6 (high-  
est vulnerability).  
Keywords: climate changes, livelihood vulnerability, livelihood vulnerability index-LVI, Ngu Dien region  
51  
pdf 11 trang Mãnh Khiết 13/01/2024 12820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Áp dụng chỉ số tổn thương sinh kế trong đánh giá tổn thương do biến đổi khí hậu ở vùng Ngũ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfap_dung_chi_so_ton_thuong_sinh_ke_trong_danh_gia_ton_thuong.pdf