Đánh giá các điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển cây cao su ở huyện Mường La, tỉnh Sơn La với sự trợ giúp của viễn thám và GIS

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 121-136  
Đánh giá các điều kiện tự nhiên  
phục vụ phát triển cây cao su ở huyện Mường La, tỉnh Sơn La  
với sự trợ giúp của viễn thám và GIS  
Nguyễn Ngọc Thạch*, Lê Phương Nhung, Bùi Quang Thành, Trần Tuấn Anh  
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, 334 Nguyễn Trãi, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 21 tháng 5 năm 2018  
Chỉnh sửa ngày 12 tháng 6 năm 2018; Chấp nhận đăng ngày 13 tháng 6 năm 2018  
Tóm tắt: Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá các điều kiện tự nhiên nhằm xác định cơ sở khoa  
học cho việc phát triển cây cao su trong quy hoạch sử dụng đất đai, góp phần khai thác tốt các tiềm  
năng tự nhiên phục vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Nghiên cứu  
được triển khai trên cơ sở tích hợp viễn thám, GIS và phương pháp phân tích thứ bậc AHP. Bảy  
yếu tố tác động đến sinh thái cây cao su (địa hình, độ dốc, thổ nhưỡng, lượng mưa, nhiệt độ, lớp  
phủ và sương muối) được xử lý thành các bản đồ đánh giá tương ứng, sau đó, tiến hành xác định  
trọng số của các yếu tố ảnh hưởng bằng phương pháp AHP. Kết quả đã chia ra các vùng có mức  
độ thích nghi khác nhau đối với cây cao su là: vùng có mức thích nghi cao chiếm 12,6%, vùng có  
mức thích nghi: chiếm tỷ lệ 24,6%, vùng ít thích nghi: chiếm 22%, vùng không thích nghi: chiếm  
40,8%. Dựa trên bản đồ thích nghi, có thể rút ra thông tin hữu ích và tin cậy để xây dựng các dự án  
quy hoạch lãnh thổ và quy hoạch môi trường, tạo điều kiện phát triển công ăn việc làm cho cuộc  
sống của người dân trong huyện và thu được lợi ích kinh tế lớn cho sự phát triển của huyện  
Mường La, tỉnh Sơn La.  
Từ khóa: Đánh giá thích nghi, GIS, AHP, cây cao su, quy hoạch.  
1. Mở đầu  
đất đai. Với sự phát triển của công nghệ GIS,  
quá trình đánh giá đất đai trở nên nhanh chóng  
Đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất  
nông nghiệp trên quan điểm sinh thái và phát  
triển bền vững đang là yêu cầu cấp bách nhằm  
kiến tạo một hệ thống nông nghiệp bền vững,  
có hiệu quả về kinh tế mà không làm suy thoái  
và chính xác [1-3].  
Mường La là huyện miền núi của tỉnh Sơn  
La, cách thành phố Sơn La 42 km về phía Đông  
Bắc có diện tích đất tự nhiên là 142.924 ha,  
mang đặc trưng của miền núi Tây Bắc. Địa bàn  
huyện là một trong 62 huyện nghèo đặc biệt  
khó khăn của cả nước cần chuyển đổi cơ cấu  
cây trồng, theo định định hướng nghiên cứu cây  
trồng của Chính phủ và chiến lược phát triển  
_______  
Tác giả liên hệ. ĐT.: 84-913032680.  
121  
N.N. Thạch và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 121-136  
122  
kinh tế - xã hội của đảng bộ huyện Mường La,  
Từ thực tế trên, đề tài “Đánh giá các điều  
kiện tự nhiên phục vụ cho phát triển cây cao su  
với sự trợ giúp của viễn thám và GIS ở huyện  
Mường La, tỉnh Sơn La”được thực hiện nhằm  
góp phần khai thác tốt các tiềm năng tự nhiên  
phục vụ chiến lược phát triển kinh tế- xã hội và  
bảo vệ môi trường.  
cây cao su là một sự lựa chọn ưu tiên nhằm phát  
triển kinh tế, bảo vệ môi trường, nâng cao mức  
sống cho người dân địa phương. Việc phát triển  
cây cao su gắn với mô hình “Bản mới phát triển  
toàn diện” của huyện.  
Cho đến nay vẫn chưa có đầy đủ căn cứ  
khoa học cũng như mô hình thực tiễn để khẳng  
định chắc chắn cây cao su sẽ thích nghi hoàn  
toàn và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho vùng  
núi phía Bắc [4, 5]. Theo khuyến cáo của của  
nhiều nghiên cứu cần có kế hoạch khảo nghiệm  
kỹ ở quy mô hợp lý để khẳng định về khả năng  
phát triển, hiệu quả kinh tế - xã hội và môi  
trường của cây cao su trước khi nhân rộng. Vì  
vậy, việc phát triển trồng cây cao su ở huyện  
Mường La để đảm bảo cho chất lượng cây  
trồng thì cần phải nghiên cứu thật kĩ điều kiện  
khí hậu, thủy văn, địa hình, cũng như có những  
đánh giá phân hạng đất thích hợp cho việc trồng  
cây cao su.  
2. Khái quát về khu vực nghiên cứu  
2.1. Đặc điểm chung  
Mường La có toạ độ địa lý: 20°15' - 21°42'  
vĩ độ Bắc, 103°45' - 104°20' kinh độ Đông, là  
một huyện miền núi phía Đông Bắc của tỉnh  
Sơn La, nơi có nhà máy thuỷ điện Sơn La và  
các công trình thuỷ điện cỡ nhỏ như: Nậm  
Chiến, Huổi Quảng. Mường La còn là địa bàn  
để phát triển mở rộng đô thị xung quanh công  
trình thủy điện Sơn La [6-8]  
Hình 1. Bản đồ hành chính huyện Mường La, tỉnh Sơn La.  
N.N. Thạch và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 121-136  
123  
Hình 2. Bước đầu phát triển cao su ở Mường la với sự tham gia của nhân dân địa phương.  
Mường La có tổng diện tích đất tự nhiên là  
142.924 ha, mang nhiều đặc điểm đặc trưng của  
miền núi Tây Bắc nói chung và Sơn La nói  
riêng. Theo số liệu thống kê đến 31/12/2012  
dân số toàn huyện là 83.710 nhân khẩu. Mật độ  
dân số bình quân 59 người/km2, nhưng phân bố  
không đều. Toàn huyện có 7 dân tộc anh em  
cùng chung sống, bao gồm: dân tộc Thái,  
Mông, Kinh, La Ha, Xá, Kháng, Khơ Mú. Phần  
lớn các dân tộc thiểu số có trình độ dân trí thấp,  
còn du canh du cư. Năm 2012 tốc độ tăng  
trưởng kinh tế đạt 25,03%, tổng GDP đạt 287,9  
tỷ, thu nhập bình quân đầu người 3,7 triệu  
đồng. Từ năm 2008, trong phương hướng phát  
triển kinh tế - xã hội, Mường La đã lựa chọn  
phát triển cây cao su là nội dung cơ bản nhằm  
triển khai chương trình xóa đói giảm nghèo và  
đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của địa  
phương [6, 9].  
Vào mùa đông, từ cuối tháng 12 đến tháng  
2, ở Mường La có thể xuất hiện sương muối ở  
khu vực có độ cao ≥ 600 mét [7, 8].  
Mùa hè nóng trùng với mùa mưa từ tháng  
4 đến tháng 10. Nhiệt độ trung bình trong năm  
là 22°C. Tổng lượng mưa bình quân 1.347  
mm/năm, mưa tập trung vào các tháng 6, 7, 8  
với lượng mưa chiếm 76% tổng lượng mưa cả  
năm. Mùa khô lượng mưa nhỏ chỉ chiếm 24%  
tổng lượng mưa cả năm, độ ẩm trung bình là  
85%.  
Về thủy văn, ngoài dòng sông Đà chảy qua  
huyện với chiều dài 50km, Mường La còn có hệ  
thống suối dày đặc thuộc lưu vực sông Đà như:  
Nậm Mu, Nậm Chiến, Nậm Trai, Nậm Păm,  
Nậm Pia, Nậm Pàn với tổng chiều dài khoảng  
200km và nhiều con suối nhỏ khác, mật độ  
sông suối khoảng 1,7 km/km2.  
Do địa hình của huyện chia cắt mạnh, dốc  
nên phần lớn các con suối có lưu vực nhỏ, hẹp,  
ngắn và đều bắt nguồn từ núi cao do đó độ dốc  
lưu vực lớn đã tạo nên tính đa dạng về chế độ  
dòng chảy và lưu lượng nước giữa hai mùa  
chênh lệch lớn.  
Theo kết quả tổng hợp từ bản đồ thổ  
nhưỡng tỉnh Sơn La, tài nguyên đất của huyện  
có 3 nhóm chính: Đất Feralit: bao gồm hầu hết  
ở vùng đồi núi; đất phù sa sông suối, phân bố  
chủ yếu ven các suối Nậm Mu, Nậm Chiến,  
Nậm Trai, Nậm Pàn, Nậm Pia, Nậm Păm; đất  
dốc tụ: phân bố chủ yếu ở các phiêng bãi bằng  
phẳng. Hầu hết các loại đất trên địa bàn huyện  
2.2. Điều kiện tự nhiên  
Mường La mang nhiều đặc điểm đặc trưng  
của miền núi Tây Bắc với địa hình phức tạp và  
chia cắt mạnh bởi các con suối lớn và các đỉnh  
nhọn có độ cao từ 1000m đến gần 3000m, bao  
gồm hai dạng địa hình chính là địa núi cao, dốc  
và núi trung bình, hướng thấp dần từ Tây sang  
Đông và Bắc xuống Nam.  
Khu vực nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới  
gió mùa với 2 mùa rõ rệt trong năm. Mùa đông  
lạnh trùng với mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm  
trước đến tháng 3 năm sau.  
N.N. Thạch và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 121-136  
124  
có độ dày tầng đất từ trung bình đến khá, thành  
phần cơ giới từ trung bình đến nặng [8].  
khác nhau để phân tích khả năng thích nghi, kỹ  
thuật tổ hợp các tiêu chuẩn khác nhau để cho ra  
kết quả cuối cùng được sử dụng như là công cụ  
hỗ trợ ra quyết định. Để đánh giá đất đai, những  
nguồn thông tin có thể được sử dụng, bao gồm  
ảnh vệ tinh, bản đồ sử dụng đất, thông tin địa  
giới hành chính, phân bố thực vật và thông tin  
thống kê kinh tế, xã hội, môi trường. Thêm vào  
đó, bởi vì tính thích nghi của bất kỳ đơn vị đánh  
giá nào cũng phụ thuộc vào từng loại hình sử  
dụng đất, nên mục tiêu quá trình đánh giá thích  
nghi đất đai có thể đạt được thông qua phỏng  
vấn các bên liên quan và phân tích chính sách.  
Do đó, đánh giá thích nghi đất đai là vấn đề ra  
quyết định đa tiêu chí và phương pháp MCA  
được sử dụng để phân loại và tính trọng số các  
tiêu chí [10]. Trong vấn đề ra quyết định đa tiêu  
chuẩn, bước đầu tiên quan trọng nhất là xác  
định tập hợp các tiêu chuẩn đánh giá cho từng  
chỉ tiêu, tiếp theo, lượng hóa các tiêu chuẩn,  
xác định tầm quan trọng tương đối của những  
phương án tương ứng với mỗi tiêu chuẩn đánh  
giá. Phương pháp này đã được trình bày trong  
nhiều tài liệu [11-16].  
3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu  
3.1. Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu  
Các dữ liệu sau khi thu thập sẽ được xử lý  
bằng phần mềm ArcMap 10.2, chi tiết về dữ  
liệu thu thập được mô tả ở Bảng 1.  
3.2. Phương pháp nghiên cứu  
Phương pháp phân tích đa tiêu chuẩn  
(MCA)  
Phương pháp phân tích đa tiêu chuẩn là  
một kỹ thuật phân tích tổ hợp các tiêu chuẩn  
khác nhau nhằm đưa ra kết quả cuối cùng. Phân  
tích đa tiêu chuẩn (Multi - Criteria Analysis -  
MCA) cung cấp cho người ra quyết định các  
mức độ quan trọng khác nhau của các tiêu  
chuẩn khác nhau hay là trọng số của các tiêu  
chuẩn liên quan. Trong đánh giá thích nghi đất  
đai bền vững, thường sử dụng nhiều tiêu chuẩn  
Bảng 1. Hệ thống cơ sở dữ liệu  
Dữ liệu thu thập  
Dữ liệu sau khi xử lý  
Nguồn dữ liệu  
Hành chính  
- Bản đồ hình chính  
Sở Tài nguyên và Môi trường  
tỉnh Sơn La  
Ảnh Landsat 8-OLI,  
độ phân giải 30m. (Thu  
ngày 11/12/2016)  
Bản đồ phân cấp thích nghi của yếu tố lớp  
phủ thực vật – sử dụng đất  
Cục Địa chất Hoa Kỳ (USGS )  
Địa hình, đường bình độ  
với khoảng cao đều 10m.  
Bản đồ phân cấp thích nghi của yếu tố độ  
caođịa hình.  
Bản đồ phân cấp thích nghi của yếu tố độ  
dốc địa hình  
Sở Tài nguyên vàMôi trường tỉnh  
Sơn La.  
Bộ TN và MT  
Thổ nhưỡng  
Khí hậu  
Bản đồ phân cấp thích nghi của yếu tố thổ Sở Tài nguyên và Môi trường  
nhưỡng  
tỉnh Sơn La  
- Bản đồ phân cấp thích nghi của yếu tố  
Sở Tài nguyên và Môi trường  
tỉnh Sơn La.  
Tổng cục Khí tượng thủy văn .Bộ  
TN và MT.  
- Nhiệt độ trung bình năm nhiệt độ trung bình năm  
- Lượng mưa trung bình  
năm  
- Bản đồ phân cấp thích của nghi yếu tố  
lượng mưa trung bình năm  
Sương muối và nhiệt độ  
thấp  
Bản đồ phân cấp vùng an toàn với sương  
muối  
Viện Khí tượng Thủy văn và  
Biến đổi khí hậu. Bộ TN và MT  
N.N. Thạch và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 121-136  
125  
Cho đến nay, trên thế giới đã có rất nhiều  
nghiên cứu ứng dụng GIS và MCA trong ánh  
giá thích nghi đất đai như trong nghiên cứu của  
Alejandro Ceballoss - Silva và Jorge Lopez –  
Blanco, Godilano, E. C, Boje G và cộng sự,  
Henok Mulugeta [11-13, 17].  
Ở Việt Nam trong lĩnh vực đánh giá thích  
nghi hầu hết các nghiên cứu đều ứng dụng GIS,  
chủ yếu tập trung nghiên cứu theo các hướng  
dẫn của FAO. Một số nghiên cứu điển hình:  
Huỳnh Văn Chương, Lê Cảnh Định, Trần  
Trọng Đức, Trần Thúy Hằng, Võ Thị Phương  
Thúy,Nguyễn Thoại Vũ [3, 5, 14, 18].Trong  
những nghiên cứu này , các yếu tố đánh giá đều  
được xem xét theo góc độ mức độ thích nghi  
mà chưa xét đến các yếu tố cực đoan ít hoặc  
hoàn toàn không thích nghi cho cây trồng .  
Phương pháp này đã được trình bày trong nhiều  
tài liệu [13-16].  
Tích hợp thông tin GIS trong phân tích đa  
chỉ tiêu  
Sau khi có được trọng số và giá trị các tiêu  
chuẩn phân cấp, chồng xếp các lớp bản đồ để  
tính chỉ số thích nghi tổng hợp cho bản đồ  
kết quả.  
(1)  
Trong đó:  
- Si: Chỉ số thích nghi chung  
- wi: Trọng số của tiêu chuẩn i  
- xi: Giá trị các tiêu chuẩn i  
- Ci: Giá trị của yếu tố hạn chế C.  
Phương pháp xác định trọng số theo phân  
cấp thứ bậc (Analytic Hierarchy Process -  
AHP)  
Trong nghiên cứu tại huyện Mường La,  
phương pháp đánh giá đa chỉ tiêu và phương  
pháp so sánh cặp và phân tích thứ bậc AHP  
(Saaty 1970) đã được áp dụng cho đánh giá các  
thông số của tự nhiên và lựa chọn các khu vực  
thích hợp cho việc phát triển cây cao su trên địa  
bàn huyện Mường La. Từ những số liệu thu  
thập được, đề tài tiến hành xử lý bằng phương  
pháp viễn thám và GIS, kết quả đưa ra được hệ  
thống các bản đồ phân cấp thích nghi tương ứng  
với sự phát triển của cây cao. Quy trình nghiên  
cứu được mô tả trong Hình 3.  
Một cách tiếp cận để xác định tầm quan  
trọng tương đối của các chỉ tiêu đánh giá (hay  
trọng số) trong phân tích đa chỉ tiêu MCA là  
dựa vào sự so sánh cặp được đề xuất bởi  
Thomas L.Saaty (1970) [19]. Đây là quy trình  
phân tích thứ bậc (Analytic Hierarchy Process -  
AHP) nhằm xử lý các vấn đề ra quyết định đa  
tiêu chuẩn phức tạp. AHP cho phép tập hợp các  
kiến thức chuyên gia về vấn đề của họ, kết hợp  
các dữ liệu chủ quan và khách quan trong một  
khuôn khổ thứ bậc logic, cung cấp cho người ra  
quyết định một cách tiếp cận trực giác theo  
phán đoán của chuyên gia để đánh giá sự quan  
trọng của mỗi thành phần thông qua quá trình  
so sánh cặp các chỉ tiêu. Đây là phương pháp  
cho phép kết hợp cả hai mặt tư duy của con  
người cả về định tính và định lượng: định tính  
là sự sắp xếp thứ bậc và định lượng là sự mô tả  
các đánh giá và và tính toán thành các con số cụ  
thể về trọng số của các chỉ tiêu, vấn đề vô hình  
lẫn hữu hình. Ngày nay AHP được sử dụng khá  
phổ biến trong nhiều lĩnh vực quản lý tài  
nguyên, đánh giá đất đất đai, thương mại  
4. Khái quát chung về sinh thái cây cao su  
Cây cao su có tên khoa học là Hevea  
brasiliensis, thuộc họ thầu dầu Euphorbiacea.  
Cây cao su đòi hỏi những điều kiện sinh thái  
đặc thù, nếu được chăm sóc rất kỹ lưỡng cũng  
phải sau 6 - 7 năm mới cho thu hoạch mủ.  
Ngược lại, nếu trồng không đúng vị trí thì mặc  
dù cây đã lớn sau vài năm không có sương  
muối nhưng vẫn có thể bị chết hàng loạt khi có  
sương muối xuất hiện [4, 5]. Dưới đây là những  
đặc điểm cơ bản về nhu cầu sinh thái của cây  
cao su [4].  
N.N. Thạch và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 121-136  
126  
Hình 3. Quy trình nghiên cứu.  
Đất đai: Cây cao su có thể sống trên hầu  
trồng cao su. Các thành phần hạt thô sẽ gây trở  
ngại cho sự phát triển của rễ cao su và ảnh  
hưởng bất lợi đến khả năng dự trữ nước của đất.  
Khí hậu và Nhiệt độ: Cây cao su là cây  
trồng nhiệt đới điển hình nên sinh trưởng bình  
thường trong khoảng nhiệt độ 22 – 30°C và  
khoảng nhiệt độ tối thích là 26 - 28°C (Nhiệt độ  
25°C là nhiệt độ mà năng suất cây có thể đạt  
mức tối đa). Ở nhiệt độ này, môi trường sẽ mát  
dịu vào buổi sáng sớm (1giờ - 5giờ), giúp cây  
sản xuất mủ cao nhất. Các vùng đất trồng cao  
su hiện nay trên thế giới phần lớn ở vùng khí  
hậu nhiệt đới, có nhiệt độ trung bình 20 - 28°C.  
Nhiệt độ thấp hơn 18°C, sẽ ảnh hưởng đến  
sức nảy mầm của hạt, tốc độ sinh trưởng của  
cây chậm lại. Nếu nhiệt độ thấp hơn 10°C, hạt  
mất sức nảy mầm hoàn toàn, đối với cây ngoài  
vườn thì bị rối loạn hoạt động trao đổi chất và  
chết nếu nhiệt độ này kéo dài. Nhiệt độ thấp  
hơn 5°C, đặc biệt là khi có sương muối, cây sẽ  
bị nứt vỏ, chảy mủ hàng loạt, đỉnh sinh trưởng  
bị khô và cây sẽ bị chết. Nếu nhiệt độ lớn hơn  
30°C, sẽ gây ra hiện tượng mủ chảy dai trong  
khai thác, làm giảm năng suất mủ. Nhiệt độ mà  
cao hơn 40°C, gây ra hiện tượng khô vỏ ở gốc  
cây và dẫn đến cây chết [7].  
hết các loại đất khác nhau ở vùng nhiệt đới ẩm,  
tơi xốp, thành phần sét trong đất thấp. Các loại  
đất phát triển trên phù sa cổ, đất feralit phát  
triển trên đá phiến sét, đất feralit phát triển trên  
đá bazan trẻ, đất pha cát là những loại đất thích  
hợp cho cây cao su phát triển.  
Đai cao: cao su thích hợp với các vùng đất  
có bình độ tương đối thấp: dưới 200m. Bình độ  
lý tưởng được khuyến cáo để trồng cao su là:  
Vùng xích đạo, trong đó có Việt Nam, có thể  
trồng cao su ở độ cao đến 500 - 600m.  
Độ dốc: Cây cao su thường được trồng trên  
nền đất có độ dốc nhỏ hơn 8%. Với độ dốc 8 -  
30% thì vẫn trồng được nhưng chú ý đến các  
biện pháp chống xói mòn. Độ sâu tầng đất: độ  
sâu lý tưởng cho trồng cây cao su là 2m, tuy  
nhiên trong thực tế nếu độ sâu tầng đất là 0,8 -  
2m thì vẫn có thể trồng được, độ pH trong đất  
thích hợp cho cây cao su là 4,5 - 5,5, giới hạn  
pH đất có thể trồng cây cao su là 3,5 - 7,0. Đất  
trồng cao su phải có cấp hạt sét ở lớp đất mặt (0  
- 30cm) tổi thiểu là 20%, ở lớp đất sâu hơn  
(>30cm) tối thiểu là 25%. Đất nơi có mùa khô  
kéo dài thì thành phần sét phải đạt 30 - 40%.  
Đất có thành phần hạt thô chiếm dưới 50%  
trong 0,8m lớp đất mặt là ít thích hợp cho việc  
N.N. Thạch và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 121-136  
127  
Lượng mưa và ẩm độ: Cây cao su thường  
được trồng trong những vùng có lượng mưa  
1800 - 2500 mm/năm, số ngày mưa thích hợp là  
100 - 150 ngày/năm. Ẩm độ không khí bình  
quân thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển  
của cây cao su là trên 75%, đồng thời ẩm độ  
không khí cũng thể hiện tương quan tỷ lệ thuận  
với dòng chảy mủ khi khai thác. Bên cạnh  
lượng mưa thì sự phân bố mưa và tính chất cơn  
mưa cũng rất quan trọng. Việc khai thác mủ tập  
trung vào buổi sáng, vì thế số ngày mưa vào  
buổi sáng càng nhiều thì năng suất càng giảm.  
Khả năng chịu hạn: Cây cao su có khả  
năng chịu hạn cao hơn một số cây công nghiệp  
khác như: tiêu, cà phê. Tuy nhiên, cây cao su  
trồng mới từ 6 tháng trở xuống không thể chịu  
hạn tốt do bộ rễ chưa được phát triển đầy đủ,  
cao su trong vườn ươm thì không thể chịu hạn  
quá 1 tháng. Nhưng cao su trồng mới trên 6  
tháng có thể chịu hạn trên 4 - 5 tháng.  
và độ dốc địa hình đều ảnh hưởng không nhỏ  
đến sự sinh trưởng và phát triển, năng suất và  
quá trình chăm sóc, khai thác mủ cao su.  
Vùng có địa hình núi cao và dốc phân bố ở  
phía Đông và Đông Bắc của huyện. Đây là  
một phần sườn Tây Nam của dãy Hoàng Liên  
Sơn kéo dài từ Quỳnh Nhai qua Mường La và  
kết thúc tại Phù Yên tạo thành ranh giới giữa  
Sơn La, Lào Cai và Yên Bái. Địa hình ở đây bị  
chia cắt mạnh bởi các con suối lớn và các đỉnh  
nhọn có độ cao từ 1000m đến gần 3000m.  
Khu vực địa hình núi trung bình: Có độ  
cao từ 300m đến 700m so với mực nước biển,  
xen kẽ giữa các dãy núi là các phiêng bãi nhỏ  
hẹp, phân bố ở phía tây nam, hai bên bờ của  
sông Đà.  
Độ dốc là yếu tố có ảnh hưởng quyết định  
trong việc lựa chọn và phân bố loại hình sử  
dụng đất, đặc biệt trên vùng đất dốc, có nguy cơ  
rửa trôi và xói mòn đất cao.  
Khả năng chịu úng: Cây cây cao su cũng  
thể hiện một sức chịu đựng tốt. Tuy nhiên tuỳ  
thuộc vào từng giống, đối với cây đang trong  
giai đoạn cạo mủ, nếu bị ngập sâu khoảng 30 -  
40 ngày, thì 75% số cây trên vườn sẽ chết, số  
còn lại tăng trưởng chậm, cây khô và bong vỏ  
nên không cạo mủ được nữa.  
Với điều kiện sinh thái như trên thì miền  
nam có rất nhiều nơi phù hợp với cây cao su,  
song ở miền núi phía bắc thì có nhiều yếu tố trở  
ngại là địa hình dốc, điều kiện khí hậu quá lạnh,  
nhiều năm có sương muối và băng giá xuất hiện  
vào mùa đông. Vì vậy, để triển khai việc trồng  
cây cao su ở vùng núi phía Bắc thì cần phải có  
những nghiên cứu kỹ lưỡng [9, 14].  
b. Thổ nhưỡng  
Đất là yếu tố tiên quyết và quan trọng hàng  
đầu khi đánh giá thích nghi cây trồng, căn cứ  
vào đặc điểm sinh thái cây cao su cũng như  
phân tích các chỉ tiêu hóa lý và thành phần đất  
khu vực nghiên cứu đề tài đã phân cấp thích  
nghi yếu tố thổ nhưỡng.  
c. Khí hậu  
Là nhân tố sinh thái quan trọng không thể  
thiếu trong sự tồn tại, sinh trưởng và phát triển  
của sinh vật đặc biệt là thực vật. Mỗi một yếu tố  
khí hậu tác động đến thực vật theo từng loài,  
từng thời điểm khác nhau. Tùy vào đặc điểm  
sinh lý mỗi loài thực vật có khả năng thích ứng  
với những đặc điểm của khí hậu ơ những cường  
độ nhất định.  
Khi các đặc điểm của khí hậu nằm ngoài  
ngưỡng giới hạn của cây trồng thì sẽ hạn chế  
quá trình sinh trưởng, phát triển cũng như năng  
suất cây trồng. Cây cao su là loại cây có nguồn  
gốc nhiệt đới, vì vậy cây thích nghi với cường độ  
nhiệt độ tương đối cao, cây không thể chống chịu  
được sương giá, cây ít chịu hạn tuy nhiên nếu  
mưa quá nhiều cũng làm giảm năng suất mủ.  
Để nhận xét mức độ thích nghi của cây cao  
su đối với khí hậu, có thể phân chia các yếu tố  
5. Kết quả nghiên cứu  
5.1. Đánh giá thông tin về tự nhiên cho mục  
tiêu phát triển cây cao su ở Mường La.  
Thành lập bản đồ đánh giá thích nghi các  
điều kiện tự nhiên đối với cây cao su  
a. Địa hình  
Địa hình là một trong những nhân tố quan  
trọng. Đối với cây cao su cả hình thái, độ cao  
N.N. Thạch và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 121-136  
128  
nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, gió, bức xạ [4, 5,  
16]  
(Hình 3), sau đó tiến hành phân cấp theo 4 cấp  
rất thích nghi, thích nghi, ít thích nghi và không  
thích nghi (Bảng 2). Từ đó, đề tài thành lập hệ  
thống các bản đồ phân cấp thích nghi tương ứng  
(Hình 4).  
Dựa vào đặc điểm sinh lý và yêu cầu sinh  
thái của cây cao su cũng như nguồn dữ liệu hiện  
có nhóm nghiên cứu lựa chọn các yếu tố để đưa  
vào đánh giá bao gồm nhiệt độ trung bình năm,  
lượng mưa trung bình năm.  
Thành lập bản đồ thảm phủ thực vật phục  
vụ lựa chọn vùng có thể phát triển cây cao su  
d. Sương muối và nhiệt độ thấp  
Phần lớp phủ thực vật dùng để chọn đất  
theo ý nghĩa là lựa chọn những lớp phủ để có  
thể chuyển đổi sang đất trồng cao su. Chỉ  
chuyển đổi từ các khu vực khác mà lớp phủ  
thực vật nghèo, kém hiệu quả về kinh tế và môi  
trường. Ở những nơi nào có rừng thường xanh  
hoặc đất trồng lúa thì cần giữ nguyên.  
Sương muối là hiện tượng thường xảy ra  
nhiều ở khu vực miền núi, đây là cản trở lớn và  
có tầm ảnh hưởng khi đánh giá bất kỳ một cây  
trồng nào.  
Đề tài tiến hành thu thập các dữ liệu về các  
điều kiện tự nhiên có tác động đến cây cao su  
Bảng 2. Phân cấp mức độ thích nghi các yếu tố điều kiện tự nhiên đối với cây cao su huyện Mường La,  
tỉnh Sơn La  
Phân cấp thích nghi  
Chỉ tiêu  
I
II  
III  
IV  
Độ cao (m)  
Độ dốc (°)  
0 - 300  
0 - 5  
300 - 500  
5 - 15  
500 - 700  
15 - 30  
> 700  
> 30  
Đất đỏ vàng trên  
đá macma axit,  
đất mùn vàng đỏ  
trên đá macma  
axit, đất vàng  
Đất feralit trên núi  
cao 1800 –  
2000m,  
Đất dốc tụ và thung lũng,  
Đất feralit phát triển trên  
đá phiến sét  
Loại đất  
Đất phù sa  
Đất mùn alit trên  
núi cao  
nhạt trên đá cát  
Nhiệt độ  
trung bình năm (°C)  
> 21  
18 - 21  
13 - 18  
< 10  
Lượng mưa  
trung bình năm  
(mm)  
< 1300  
An toàn  
1300 - 1500  
An toàn nhẹ  
1500 - 1800  
> 1800  
Sương muối  
và nhiệt độ thấp  
An toàn trung  
bình  
Không an toàn,  
Rất không an toàn  
Đất nông nghiệp  
,Bãi bồi , Rừng  
trung bình , rừng  
giàu  
Đất trồng cao su ,  
Trảng cỏ xen cây bụi  
Đất trống quanh  
khu dân cư,  
Rừng trồng  
Rừng nghèo  
kiệt, rừng tái  
sinh.  
Lớp phủ -sử dụng  
đất  
Đất hoang hóa , Đồi núi  
không có rừng, cây bụi  
rải rác  
Rừng trên núi đá  
vôi  
Ghi chú*: I: Rất thích nghi; II: Thích nghi; III: Ít thích nghi; IV: Không thích nghi (tương ứng với  
thông số Ci trong phương trình 1)  
N.N. Thạch và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 121-136  
129  
a
b
c
d
e
f
N.N. Thạch và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 121-136  
130  
g
Hình 4. Bản đồ các yếu tố tự nhiên sử dụng trong nghiên cứu: a) Bản đồ lớp phủ thực vật; b) Bản  
đồ độ cao; c) Bản đồ thổ nhưỡng; d) Bản đồ phân độ dốc; e) Bản đồ nhiệt độ trung bình năm (oC); f)  
Bản đồ lượng mưa trung bình năm (mm); g) Bản đồ sương muối  
b
a
c
d
N.N. Thạch và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 121-136  
131  
e
f
g
Hình 5. Bản đồ đánh giá thích nghi với cây cao suvới: a) lớp phủ thực vật; b) độ cao; c) thổ nhưỡng; d) độ dốc;  
e) nhiệt độ trung bình năm (oC); f) lượng mưa trung bình năm (mm);  
g) sương muối  
Xác định trọng số của các lớp thông tin  
theo phương pháp AHP  
Sau khi tham khảo ý kiến của các chuyên  
gia của Cục trồng trọt và cán bộ kỹ thuật tại  
trung tâm phát triển cây cao su ở thị trấn Ít Ong  
- huyện Mường La, bảng ma trận so sánh cặp  
được xây dựng như sau:  
Xác định ma trận trọng số đánh giá các yếu  
tố tự nhiên cho phát triển cây cao tại huyện  
Mường La  
Bảng 3. Bảng ma trận tương quan giữa các yếu tố thích nghi cây cao su  
Sương  
muối  
Lượng mưa  
trung bình  
Nhiệt độ  
trung bình  
Độ  
cao  
Độ  
dốc  
Thổ  
nhưỡng  
Lớp phủ -sử  
dụng đất  
Lớp Thành  
phần  
(a)  
1
(b)  
3
(c)  
3
(d)  
5
(e)  
5
(f)  
2
(g)  
7
(a)  
(b)  
1/3  
1
1
3
3
1/2  
5
N.N. Thạch và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 121-136  
132  
(c)  
(d)  
(e)  
(f)  
1/3  
1/5  
1/5  
1/2  
1/7  
2,71  
1
1
3
3
1/2  
1/3  
1/3  
1
5
1/3  
1/3  
2
1/3  
1/3  
2
1
1
3
1
1
3
4
4
6
(g)  
1/5  
6,87  
1/5  
6,87  
1/3  
1/3  
1/6  
4,84  
1
TỔNG  
17,33 17,33  
30  
Bảng 4. Ma trận xác định trọng số của các yếu tố  
Sương  
muối  
Lượng mưa  
trung bình  
Nhiệt độ  
trung bình  
Độ  
cao  
Độ  
dốc  
Thổ  
nhưỡng  
Thực vật  
Lớp  
Thành  
phần  
Trọng số  
(a)  
(b)  
(c)  
(d)  
(e)  
(f)  
(g)  
(h)  
(a)  
(b)  
(c)  
(d)  
(e)  
(f)  
0,369  
0,123  
0,123  
0,074  
0,074  
0,185  
0,053  
0,437  
0,145  
0,145  
0,05  
0,437  
0,145  
0,145  
0,05  
0,05  
0,291  
0,03  
0,289  
0,173  
0,173  
0,058  
0,058  
0,231  
0,019  
0,289  
0,173  
0,173  
0,058  
0,058  
0,231  
0,019  
0,413  
0,103  
0,103  
0,069  
0,069  
0,206  
0,034  
0,233  
0,167  
0,167  
0,1  
0,352  
0,147  
0,147  
0,066  
0,066  
0,234  
0,031  
0,05  
0,1  
0,291  
0,03  
0,2  
(g)  
0,03  
Tỷ số nhất quán CR được tính theo công thức: CR = CI/RI  
Trong đó: RI (chỉ số ngẫu nhiên) được xác định từ bảng cho sẵn:  
Bảng 5. Bảng phân loại chỉ số ngẫu nhiên RI  
n
3
4
5
6
7
8
9
10  
1,49  
RI  
0,58  
0,90  
1,12  
1,24  
1,32  
1,41  
1,45  
Trong đó: n là số lượng yếu tố trong ma  
trận so sánh.  
Tính toán chỉ số nhất quán CI (chỉ số nhất  
quán), được xác định theo các bước sau đây:  
Tính vector tổng có trọng số = ma trận so  
sánh x vector trọng số  
Theo AHP, để kiểm tra lại độ tin cậy của  
các trọng số thì cần tính toán các thông số của  
ma trận so sánh tổng hợp nhằm xác định tỷ số  
nhất quán CR. Kết quả các thông số được thể  
hiện ở bảng 6.  
Bảng 6. Các thông số theo AHP tính toán cho huyện  
Mường La  
Tính vector nhất quán = vector tổng có  
trọng số/vector trọng số  
Xác định λmax (giá trị riêng ma trận so  
sánh) và CI (chỉ số nhất quán):  
+ λmax = trị trung bình của vector nhất  
quán.  
+ CI = (λmax - n)/(n - 1) = (λmax - 7)/6  
Phương pháp AHP đo sự nhất quán qua tỷ  
số nhất quán (consistency ratio) giá trị của tỷ số  
nhất quán nên < 10%, nếu lớn hơn, sự nhận  
định là hơi ngẫu nhiên, cần được thực hiện lại.  
Thông số  
Kết quả  
7,258  
0,043  
1,32  
Giá trị riêng của ma trận (ƛmax)  
Chỉ số nhất quán (CI)  
Chỉ số ngẫu nhiên (RI)  
Tỉ số nhất quán (CR)  
0,033  
Như vậy tỷ số nhất quán CR = 0,033 đạt yêu  
cầu, nên các trọng số trung bình được xác nhận  
N.N. Thạch và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 121-136  
133  
và có thể đưa vào tính toán chỉ số thích nghi  
hay bản đồ thích nghi cho cây cao su.  
Từ kết quả chồng lớp bản đồ tiến hành xây  
dựng bản đồ đánh giá thích nghi cây cao su  
huyện Mường La, tỉnh Sơn La (Hình 6).  
5.2. Tích hợp trong GIS thành lập bản đồ đánh  
giá thích nghi cây cao su  
5.3. Bản đồ kết quả đánh giá thích nghi cây cao  
su huyện Mường La  
Sau khi có kết quả trọng số các yếu tố, tiến  
hành chồng lớp các bản đồ, và tính toán tổng  
điểm tiêu chí theo công thức chung:  
Bản đồ thích nghi = 0,352.TC sương muối  
+ 0,147. TC nhiệt độ TB + 0,147. TC lượng  
mưa TB + 0,066. TC độ cao + 0,066. TC Độ  
dốc + 0,234. TC thổ nhưỡng + 0,031. TC thực  
vật (2)  
Sau khi có được bản đồ kết quả đánh giá  
thích nghi cây cao su cần loại trừ các vùng thích  
nghi nằm trong vùng sương muối không an toàn  
(yếu tố hạn chế C của phương trình 3). Để loại  
trừ ảnh hưởng của sương muối, bản đồ kết quả  
được tích hợp theo nguyên tắc loại trừ các vùng  
thích nghi nằm trong vùng sương muối không  
an toàn (Hình 7).  
Hình 6. Bản đồ phân bố các yếu cực đoan của khí hậu (sương muối).  
N.N. Thạch và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 121-136  
134  
Hình 7. Bản đồ kết quả đánh giá thích nghi cây cao su huyện Mường La, tỉnh Sơn La  
Bảng 7. Kết quả đánh giá thích nghi cây cao su huyện Mường La, tỉnh Sơn La  
Cấp thích  
I
II  
III  
IV  
nghi  
Diện tích  
(ha)  
18.109,4 35.381 31.584 58.475  
Tổng diện  
tích  
huyện  
(ha)  
143.550  
12,6  
%
24,6  
22  
40,8  
N.N. Thạch và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 121-136  
135  
Kết quả đánh giá cho thấy diện tích đất rất  
thích nghi với cây cao su là 18.109,4 ha chiếm  
12,6% diện tích toàn huyện. Trong đó có nhiều  
nơi đang được Công ty cổ phần cao su Sơn La  
trồng tại xã Ít Ong. Vùng có mức thích nghi:  
chiếm tỷ lệ 24,6% chủ yếu ở các xã Mường  
Chãi, Ti Phoong, Siềng Chan, Ít Ong, Chiềng  
Lao.Vùng ít thích nghi: chiếm 22%. Đây là  
vùng có tồn tại hiện tượng thời tiết sương muối  
nhưng tần xuất xuất hiện thấp, có thể gây tác  
động hạn chế đến sự phát triển của cây cao su.  
Vùng không thích nghi: chiếm 40,8%. Đây là  
những khu vực có độ dốc cao, hiện tượng thời  
tiết tiêu cực là sương muối xảy ra hàng năm nên  
không thể trồng và phát triển cây cao su ở các khu  
vực này.  
phải có các thông số kinh tế, xã hội, đặc biệt là  
khả năng tham gia của cộng đồng các dân tộc  
thiểu số trong vùng. Mặt khác, cũng cần quan  
tâm đến hiệu quả kinh tế của các loại hình sử  
dụng đất. Vấn đề này thường xuyên được xem  
xét thông qua việc phân tích chi phí lợi ích [17].  
Những đánh giá thích nghi về khía cạnh kinh tế  
sẽ cung cấp thông tin quan trọng cho phân cấp  
thích nghi định lượng, một trong những cơ sở  
để lựa chọn phương án sử dụng đất nông nghiệp  
tối ưu cho vùng nghiên cứu.  
Lời cảm ơn  
Bài báo được thực hiện với sự tài trợ của  
đề tài khoa học: “Nghiên cứu xây dựng mô hình  
và hệ thống dự báo thời tiết tiểu vùng và cảnh  
báo nguy cơ lũ quét, cháy rừng và sâu bệnh  
nông nghiệp cấp huyện vùng Tây Bắc, mã số:  
KHCN-TB.13C/13-18 thuộc Chương trình  
Khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp Nhà  
nước giai đoạn 2013-2018 mang tên “Khoa học  
và Công nghệ phục vụ phát triển bền vững vùng  
Tây Bắc -Việt Nam”  
6. Kết luận  
Kết quả nghiên cứu cho thấy huyện  
Mường La là huyện có khí hậu mát mẻ, lượng  
mưa trung bình, địa hình chủ yếu là đồi núi  
thấp, đất đai đa dạng, có điều kiện khá thích  
hợp để trồng và phát triển cây cao su. Từ khi hồ  
thủy điện Sơn La đi vào hoạt động, do mực  
nước hồ lên cao và diện tích mặt nước được mở  
rộng nên có tác động tích cực đến khí hậu của  
khu vực. Tuy nhiên ở khu vực núi trung bình  
phía bắc và đông bắc còn có hiện tượng sương  
muối, đây là hiện tượng khí hậu rất cực đoan,  
ảnh hưởng rất tiêu cực đến việc phát triển cây  
cao su [7].  
Ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ  
thông tin địa lý, cụ thể phương pháp phân tích  
đánh giá đa tiêu chí MCA và phân tích trọng số  
AHP, kết hợp với viễn thám có thể đánh giá các  
yếu tố tự nhiên một cách chính xác phục vụ cho  
việc phát triển cây cao su tại huyện Mường La,  
tỉnh Sơn La. Các yếu tố tự nhiên được lựa chọn  
cho quá trình đánh giá gồm: độ cao, độ dốc,  
lượng mưa trung bình năm, nhiệt độ trung bình  
năm, thổ nhưỡng, lớp phủ-sử dụng đất, sương  
muối.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Bộ Nông nghiệp và PTNN (2/2012), Quy hoạch  
tổng thể phát triển ngành nông nghiệpcả nước đến  
năm 2020 và tầm nhìn đến 2030, Hà Nội 2012.  
[2] Chính phủ Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam  
(2015), Báo cáo thuyết minh tổnghợp Điều chỉnh  
quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch  
sử dụng đất kỳ cuối (2016 – 2020) cấp Quốc gia,  
Hà nội.  
[3] Lê Cảnh Định (2011), “Tích hợp GIS và phân tích  
quyết định nhóm đa tiêu chí trong đánh giá thích  
nghi đất đai”, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển  
nông thôn, tr 82-89.  
[4] Nguyễn Thị Huệ, Cây cao su, Sách của Hiệp hội  
cao su Việt Nam.2015  
[5] Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền  
Nam, Phát triển cây cao su ở Việt Nam, 2005.  
Kết quả đánh giá thích nghi thể hiện tính  
thích hợp về mặt tự nhiên của từng khu vực  
lãnh thổ nghiên cứu, nhưng khi so sánh, lựa  
chọn để đưa vào quy hoạch sản xuất, cần thiết  
[7] Dương Văn Khảm, Nguyễn Hồng Sơn (2012),  
Nghiên cứu khả năng xuất hiện sương muối ở  
khu vực Tây Bắc. Hoạt động Khoa học 2012, số 5  
tr.88-81.  
N.N. Thạch và nnk. / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 2 (2018) 121-136  
136  
[8] Đào Vọng Đức, Nguyễn Ngọc Thạch và nnk  
application: a case study in Legambo Woreda, Ph.  
Ddissertation, Addis Ababa university, Ethiopia.  
[14] Nguyễn Thoại Vũ (2007), Ứng dụng phần mềm  
ALES và GIS trong đánh giá thích nghi đất đai  
huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, Đại học Nông  
lâm Thành phố Hồ Chí Minh.  
[15] Võ Thị Phương Thủy (2011), Tích hợp GIS và đa  
tiêu chuẩn (MCA) trong đánh giá thích nghi, Kỷ  
yếu hội thảo GIS toàn quốc 2011 tr 165 - 174.  
[16] Vũ Năng Dũng và ctv, Phân hạng đánh giá đất đai  
(2008), NXB khoa học và kỹ thuật.  
(1993), Xây dựng ngân hàng dữ liệu điều tra cơ  
bản tỉnh Sơn La (Báo cáo khoa học)  
[9] Nguyễn Văn Quân (2013), Thực trạng và giải  
pháp bố trí sửdụng đất nôngnghiệp phục vụ tái  
định cư công trình Thủy Điện Sơn La trên địa bàn  
tỉnh Điện Biên.  
[10] Bùi Nữ Hoàng Anh (2013), Giải pháp nâng cao  
hiệu quảkinh tếtrong sửdụng đấtnông nghiệp tại  
Yên Bái giai đoạn 2012-2020, Luận án tiến sĩ  
nông nghiệp, Đại học Thái nguyên.  
[11] Alejandro Ceballos-Silva and Jorge Lopez-Blanco  
(2003), Delineaion of suitable areas for crops  
using a Multi-Criteria Evaluation approach and  
land use/cover mapping: a case study in Central  
Mexico.  
[12] Godilano, E. C. (1993), Geospatial Maps of the  
Philippines.DA-Bureau of Agricultural Research,  
Visayas Ave., Diliman, Quezon City.  
[17] Serey Mardy, Nguyễn Phúc Thọ, Chu Thị Kim  
Loan (2013), “Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về  
phát triển nông nghiệp bền vững và những bài học  
cho phát triển nông nghiệp ở CamPuchia”, Tạp  
chí Khoa học và Pháttriển, tập 11, (số 3), 439 -  
446.  
[18] Huỳnh Văn Chương (2011), Giáo trình đánh giá  
đất, Nhà xuất bản Nông nghiệp, TP Hồ Chí Minh.  
[13] Henok Mulugeta (2010), Land suitability and crop  
suitability analysis usingRemote Sensing and GIS  
[19] Thomas L. Saaty, Decision making with the  
analytic hierarchy process, 2008.  
Evaluating the Natural Conditions for Developing  
the Rubber Plant in Muong La District, Son La Province  
by Using Remote Sensing and GIS  
Nguyen Ngoc Thach, Le Phuong Nhung, Bui Quang Thanh, Tran Tuan Anh  
VNU University of Science, 334 Nguyen Trai, Hanoi, Vietnam  
Abstract: With the goal of the study is to evaluate the natural conditions in order to determine the  
scientific basis for development rubber plant in the land use planning,contributing to exploiting the  
natural potentials in service of the socio-economic development strategy and environmental  
protection. The research was implemented on the basis of integrated GIS, remote sensing and  
hierarchical analysis method in AHP. Five factors affecting ecological rubber tree (Elevation, soil,  
climate, temperatures, land cover and frost-low) are processed into corresponding evaluated maps,  
then, proceed to determine weight of influence factors by the method of AHP. The resultmap show  
areas of varying suitability for rubber trees as follow: regions with high suitable levels has the 12.6%  
area, the moderated suitable has the proportion of 24.6% and less adapted areas with 22% proportion,  
non-adaptive region: 40.8%. Based on adaptive map, usefulinformations can be extracted to build  
projects of territorial planning and environmental planning, facilitate the development of jobs for the  
life of the people in the district and obtained great economic benefits for the development of Muong  
La district, Son La province. Bản đồ đánh giá  
Keywords: Assessement, GIS, adapted, rubber plant, planning.  
pdf 16 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 23460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá các điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển cây cao su ở huyện Mường La, tỉnh Sơn La với sự trợ giúp của viễn thám và GIS", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_cac_dieu_kien_tu_nhien_phuc_vu_phat_trien_cay_cao_s.pdf