Xác định vị trí và dung lượng máy phát điện phân tán trên lưới điện 22kv trong thị trường cạnh tranh bằng giải thuật lai
XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ VÀ DUNG LƢỢNG MÁY PHÁT ĐIỆN
PHÂN TÁN TRÊN LƢỚI ĐIỆN 22KV TRONG THỊ TRƢỜNG CẠNH
TRANH BẰNG GIẢI THUẬT LAI
DETERMINATION OF GENERATOR LOCATION AND QUANTITY
DISTRIBUTION ON 22KV POWER NETWORK IN THE COMPETITIVE
COMPETITION MARKET
Đoàn Minh Hậu
Học viên cao học Trường ĐHSPKT TP.HCM
TÓM TẮT
Lưới điện phân phối thường được quy hoạch và quản lý theo một hướng công suất từ nguồn đến
phụ tải. Hiện nay, với sự phát triển của các nguồn năng lượng mới từ các máy phát điện phân
tán (DG) được kết nối nhiều hơn vào hệ thống điện phân phối. Việc kết nối DG vào lưới điện
phân phối sẽ giúp nâng cao độ tin cậy và khả năng cung cấp điện. Tuy nhiên, nó cũng đòi hỏi
một cấu hình lưới phù hợp để nâng cao hiệu quả cung cấp điện.
Đề tài này tiếp cận bài toán xác định vị trí và công suất của các DG trên lưới điện phân phối có
xét đến bài toán tái cấu hình vận hành lưới điện với mục tiêu là giảm tổn thất công suất tác dụng
và thỏa mãn công suất đưa vào lưới điện của các khách hàng tham gia cung cấp trên hệ thống
điện. Việc xác định vị trí và công suất của các DG tối ưu và xác định cấu hình vận hành mới của
lưới điện phân phối được thực hiện bằng hai giai đoạn với thuật toán PSO. Trong đó, giai đoạn
1 sử dụng thuật toán PSO xác định vị trí và công suất tối ưu của các máy phát phân tán trên lưới
điện phân phối kín (tất cả các khóa điện đều đóng), ở giai đoạn 2, giải thuật PSO được sử dụng
để xác định cấu trúc vận hành hở tối ưu của hệ thống. Kết quả bài toán được kiểm nghiệm trên
lưới điện 33 nút và lưới điện 72 nút của Thành phố Bến Tre đã cho thấy hiệu quả của phương
pháp đề xuất.
Từ khóa: Xác định vị trí và công suất của các DG tối ưu và xác định cấu hình vận hành mới
của lưới điện phân phối được thực hiện bằng hai giai đoạn với thuật toán PSO.
ABSTRACT
Distribution grids are often planned and managed in a power direction from source to load.
Currently, the development of new energy sources from distributed generators (DG) is more
connected to distribution power systems. Connecting DG to the distribution grid will help
improve reliability and power supply. However, it also requires an appropriate grid
configuration to improve power supply efficiency.
This topic approaches the problem of determining the position and capacity of DGs on the
distribution grid considering the re-configuring the operation of the grid with the goal of
reducing the capacity loss and satisfying capacity put into the grid of participating customers on
the electrical system. The determination of the position and power of the optimal DG and the
determination of the new operating configuration of the distribution grid is carried out in two
stages with the PSO algorithm. In particular, phase 1 uses PSO algorithm to determine the
optimal position and capacity of distributed generators on the closed distribution grid (all
- 1 -
electric locks are closed), in phase 2, PSO algorithm. used to determine the optimal open
operating structure of the system. The results of the 33-node grid test and the 72-node grid of
Ben Tre City showed the effectiveness of the proposed method.
Key words: The determination of the position and power of the optimal DG and the
determination of the new operating configuration of the distribution grid is carried out in two
stages with the PSO algorithm, power system.
định dung lượng, kết hợp với bài toán
tái cấu trúc lưới.
1.GIỚI THIỆU
Lưới điện phân phối truyền tải điện từ
các trạm biến áp trung gian đến khách hàng
sử dụng điện. Lưới điện phân phối thường
có cấu trúc mạch vòng nhưng được vận
hành hình tia do những ưu điểm liên quan
đến thiết bị bảo vệ, dễ dàng vận hành. Khi
các nguồn phát phát triển, việc kết nối các
nguồn phân tán với lưới điện phân phối có
nhiều ưu điểm. Một trong những ưu điểm
lớn khi đặt máy phát phân tán trên lưới điện
phân phối là giảm tổn thất công suất do bởi
khả năng đáp ứng nhu cầu phụ tải tại chỗ và
các vùng lân cận.
(4) Sử dụng các thuật toán tối ưu để giải
bài toán xác định vị trí, công suất
nguồn phân tán và xác định cấu trúc
vận hành hình tia tối ưu.
Trong bốn kỹ thuật được sử dụng, phương
pháp (1) và (2) có ưu điểm là dễ dàng thực
hiện, thời gian tính toán nhanh. Nhưng kết
quả thu được thường không phải là hệ thống
phân phối có tổn thất công suất bé nhất do
sự độc lập của hai lần tính toán. Phương
pháp (3), đã hạn chế được nhược điểm của
phương pháp (1) và (2). Tuy nhiên, các chỉ
số ban đầu của lưới phân phối để lựa chọn vị
trí của nguồn phân tán lại thường bị thay đổi
khi cấu trúc lưới thay đổi dẫn đến giải pháp
thu được sau cùng cũng có thể không phải là
tối ưu nhất. Phương pháp (4) đã giải quyết
được những hạn chế của các phương pháp
trên. Nhưng rõ ràng, bài toán sẽ trở nên
phức tạp hơn do bởi sự khác nhau về bản
chất của các biến trong véc tơ biến điều
khiển của các thuật toán tối ưu và ít nhiều
ảnh hưởng đến các cơ chế tạo ra các véc tơ
biến mới trong quá trình tối ưu. Mặt khác,
thời gian tính toán trên thuật toán sẽ lâu hơn
do số biến cần tối ưu lớn bao gồm vị trí
nguồn phân tán, công suất nguồn phân tán
và các khóa điện cần thay đổi trong hệ
thống.
Như vậy, rõ ràng với sự xuất hiện của
các nguồn phân tán trên lưới điện phân phối,
cùng với các khóa điện tồn tại trên lưới điện
phân phối làm xuất hiện bài toán cần giải
quyết là tối ưu vị trí, công suất các nguồn
phân tán và thay đổi cấu trúc lưới điện thông
qua thao tác chuyển khóa điện sẵn có trên
lưới để nâng cao hiệu quả của lưới điện
phân phối. Để giải quyết bài toán này, một
số nghiên cứu đã sử dụng các kỹ thuật khác
nhau để giải quyết và có thể được tóm tắt
một số phương pháp chung như sau:
(1) Xác định vị trí và công suất của các
nguồn phân tán tối ưu trên lưới điện
phân phối hình tia ban đầu bằng các
thuật toán tối ưu. Sau đó sử dụng các
thuật toán tối ưu để xác định cấu trúc
lưới có tổn thất công suất bé nhất.
Có thể thấy rằng lưới điện kín có dòng phân
bố công suất tối ưu nơi mà tổn thất công
suất trên lưới điện phân phối là nhỏ nhất.
Ngoài ra, việc thay đổi cấu trúc vận hành
lưới điện phân phối cũng thường được thay
đổi tùy theo sự phát triển của phụ tải và
thường được thay đổi tương đối dễ dàng
thông qua thao tác đóng mở. Tuy nhiên đối
với các nguồn phân tán, việc tối ưu nguồn
phân tán đặc biệt là vị trí lại tương đối khó
khăn và khó thay đổi theo thời gian. Vì vậy,
xác định vị trí và công suất nguồn phát sao
(2) Xác định cấu trúc lưới có tổn thất bé
nhất bằng các thuật toán tối ưu. Sau đó,
Xác định vị trí và công suất của các
nguồn phân tán tối ưu trên lưới điện
phân phối có cấu trúc hình tia tối ưu.
(3) Xác định vị trí của các nguồn phân tán
dựa trên các chỉ số như độ ổn định điện
áp, độ nhạy điện áp các nút… Sau đó
sử dụng các thuật toán tối ưu để xác
- 2 -
cho ít bị ảnh hưởng bởi cấu trúc lưới hình tia
là điều đặc biệt quan trọng và chưa được
quan tâm giải quyết.
Lưu đồ giải thuật chi tiết được trình bày
trong Hình 2.1.
Bắt đầu
2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đóng các khóa điện tạo thành vòng kín
Thuật toán PSO (Particle Swarm
Optimization) là một trong những thuật toán
tiến hóa, dựa trên khái niệm trí tuệ bầy đàn
để giải các bài toán tối ưu hóa. Thuật toán
có nhiều ứng dụng quan trọng trong tất cả
các lĩnh vực mà ở đó đòi hỏi phải giải quyết
các bài toán tối ưu hóa đặc biệt là các bài
toán liên quan đến hệ thống điện. Ý tưởng
chính của PSO dựa trên nền tảng tâm lý bầy
đàn và tập tính xã hội của bầy chim hoặc
đàn cá. Chúng di chuyển để tìm kiếm thức
ăn với một vận tốc và vị trí tương ứng. Sự di
chuyển của chúng phụ thuộc vào kinh
nghiệm của chính nó và của các thành viên
khác trong bầy đàn (Pbest và Gbest).
Chọn thông số: quần thể N, số biến (vị trí, dung lượng DG), số
vòng lặp lớn nhất Itermax,1
Khởi tạo ngẫu nhiên [vị trí DG,..., công suất DG...]
Giải bài toán phân bố công suất và tính toán tổn thất công suất cho mỗi nhiễm sắc thể
Kiểm tra các giới hạn ràng buộc của các nhiễm sắc thể mới
đúng
Iter1 = Iter1 + 1
Iter1 <= Itermax,1
sai
Xuất kết quả vị trí và dung lượng tốt nhất (có tổn thất công suất nhỏ
nhất) [vị trí DG, công suất DG]
Lưới điện vận hành kín đạt hiệu quả cao
nhất về chỉ tiêu tổn thất điện áp, nâng cao độ
tin cậy của lưới điện, và các chỉ tiêu kỹ thuật
khác… Tuy nhiên, việc vận hành lưới điện
kín cũng gây nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn
đề phối hợp bảo vệ cho các phần tử trên lưới
rất phức tạp, dễ dẫn đến hệ thống bảo vệ làm
việc không chọn lọc gây ra hiệu quả nghiêm
trọng. Do đó, các lưới phân phối được thiết
kế theo mạch vòng liên thông nhưng vẫn
được vận hành với cấu hình là hình tia bằng
cách mở các khóa trong những mạch vòng
trên hệ thống điện. Mở khóa tối ưu cho lưới
mạch vòng này chính là điểm mà tại đó phụ
tải nhận công suất từ cả hai chiều của lưới
điện. Phương pháp xác định vị trí và công
suất nguồn phát trong quy hoạch lưới điện
phân phối được thực hiện như sau:
Cập nhật thông số DG vào thông số lưới
Chọn thông số: quần thể N, số biến (số khóa điện mở), Số vòng
lặp lớn nhất Itermax,2
- Khởi tạo ngẫu nhiên các khóa [s1, s2, , sn]
Giải bài toán phân bố công suất và tính toán tổn thất công suất cho mỗi nhiễm sắc thể
Kiểm tra các giới hạn ràng buộc của các nhiễm sắc thể mới
đúng
Iter2 = Iter2 + 1
Iter2 <= Itermax,2
sai
Xuất nhiễm sắc thể tốt nhất (có tổn thất công suất nhỏ nhất) bao gồm
[các khóa mở]
Bước 1: Đóng tất cả các khóa điện tạo thành
lưới điện phân phối kín
Kết thúc
Bước 2: Sử dụng giải thuật PSO xác định vị
trí và công suất các máy phát điện phân tán
trên lưới điện phân phối giảm tổn thất công
suất.
Hình 2. 1. Lưu đồ giải thuật đề nghị
3. KẾT QUẢ
3.1. Thông số đầu vào
Bước 3: Cập nhật lại thông số lưới điện
phân phối có sự xuất hiện của các nguồn
phân tán vừa xác định.
Bước 4: Sử dụng giải thuật PSO xác định
cấu trúc vận hành hình tia lưới điện phân
phối giảm tổn thất công suất.
- 3 -
phân phối. Tổng tổn thất công suất đã được
giảm 73.64% so với chưa thực hiện tối ứu
lưới điện Ngoài ra, điện áp thấp nhất trong
hệ thống đã được cải thiện từ 0.91081 tới
0.9685pu.
Từ kết quả ở Bảng 3.1 cho thấy tổn thất điện
năng giảm từ 202,68 KW trong cấu hình ban
đầu xuống còn 41,9051 KW và 53.329 KW
khi sử dụng giai đoạn 1 và giai đoạn 2 tương
ứng. Kết quả từ giai đoạn 1 cho thấy, tổn
thất điện năng là tối thiểu vì đây là tổn thất
điện năng do mạng lưới gây ra. Sau khi sử
dụng giai đoạn 1 để tìm vị trí và công suất
của máy phát phân tán (DG) trong mạng
lưới, giai đoạn 2 được sử dụng để xác định
các công tắc mở cho hoạt động hình tia,
trong đó các công tắc mở đạt được trong cấu
hình tối ưu là {33, 34, 11, 30, 28}.
Hình 3.1. Lưới điện 33 nút
Hệ thống phân phối 33 nút, bao gồm 37
nhánh, 32 khóa điện thường đóng và 5 khóa
điện thường mở{33, 34, 35, 36 và 37}. Sơ
đồ đơn tuyến được trình bày trong Hình 3.1.
Tổng công suất thực của tải và công suất
phản kháng của hệ thống tương ứng là
3.72MW và 2.3 MVAR [15]. Tổng tổn thất
công suất thực và công suất phản kháng đối
với các trường hợp ban đầu tính từ phân bố
công suất tương ứng là 202.68 kW và
135.14 kVAr.
Vì vậy, tổn thất điện năng được tăng lên tới
53.329 kW so với 41,9051 kW ở giai đoạn
1. Tuy nhiên, so với phương pháp tái cấu
hình đồng thời và đặt máy phát phân tán
(DG), các kết quả này gần giống với kết quả
thu được từ tái cấu hình đồng thời và
phương pháp đặt nhiều máy phát phân tán
(DGs). Tổn thất công suất tối thiểu thu được
bằng cách tái cấu hình đồng thời và phương
pháp đặt nhiều máy phát phân tán (DGs) là
50.825 kW, chỉ thấp hơn 2.4879 kW so với
tổn thất điện năng do giải pháp tối ưu thu
được từ phương pháp đề xuất. Ngoài ra,
phương pháp được đề xuất mất 34,39 giây
để thực hiện vấn đề cho cả hai trạng thái,
ngắn hơn 46,39 giây so với phương pháp tái
cấu hình đồng thời và phương pháp đặt
nhiều máy phát phân tán (DGs). Ngoài ra,
cũng có thể thấy từ Bảng 3.1, các giá trị
trung bình của hàm thích nghi ở giai đoạn 1
và giai đoạn 2 gần với giá trị tối thiểu của
hàm thích nghi hơn so với phương pháp tái
cấu hình đồng thời và phương pháp đặt
nhiều máy phát phân tán (DGs). Điều này
chứng tỏ rằng phương pháp được đề xuất
cũng giúp PSO dễ dàng xác định kết quả tối
ưu cho vấn đề.
3.2 Trình bày kết quả tính toán lƣới điện
33 nút trong hai giai đoạn
- Trong giai đoạn 1: Vị trí các máy phát
phân tán lần lượt được lắp đặt tại các vị trí
tối ưu là các nút: 32, nút 8 và nút 25 với
công suất tương ứng là 0.8234, 1.1047 và
1.1073 MW.
Tổn thất công suất trên lưới điện này là
41.9082 kW. Tuy nhiên, cần lưu ý là cấu
trúc lưới trong giai đoạn 1 là cấu trúc của
lưới điện kín và tổn thất công suất trên lưới
điện kín là tổn thất bé nhất mà lưới điện có
thể đạt được. Sau khi xác định được vị trí và
công suất tối ưu của máy phát phân tán trên
cấu trúc lưới kín, tiếp tục tiến hành tính toán
trong giai đoạn 2.
- Trong giai đoạn 2: Sau khi tìm được vị trí
và dung lượng tối ưu trong mạch kín (với vị
trí nút là các nút: nút 32, nút 8 và nút 25 và
tương ứng công suất là 0.8234, 1.1047 và
1.1073 MW) tiếp tục tìm các khóa điện mở
và cấu hình lưới có được với các khóa mở là
33, 34, 11, 30 và 28 tương ứng với tổn thất
công suất 53.4274 kW trên toàn lưới điện
Sự hội tụ cho giai đoạn 1 và giai đoạn 3
được trình bày Hình 3.2 và Hình 3.3. Các
cấu hình điện áp của phương pháp máy phát
phân tán (DG) ban đầu (giai đoạn 1), giai
đoạn 2 và tái cấu hình đồng thời và đặt
phương pháp máy phát phân tán (DG) được
- 4 -
trình bày trong Hình 3.4. Như trong hình,
cường độ điện áp ở tất cả các nút đã được
nâng cao sau khi sử dụng phương pháp được
đề xuất và cấu hình điện áp của giai đoạn 12
gần giống với cấu hình điện áp của tái cấu
hình đồng thời và phương pháp đặt nhiều
máy phát phân tán (DGs).
Phương pháp đề xuất
Đồng thời
cả Tái cấu
hình và DG
sử dụng
PSO
Ban
Thông số
Khóa mở
đầu
GĐ-I
GĐ-II
PSO
33, 34,
35, 36,
37
33, 34,
11, 30,
28
Hình 3.2. Sự hội tụ của PSO trong giai đoạn
đầu tiên trên 50 lần chạy độc lập cho hệ
thống 33 nút
33, 34, 11,
30, 28
None
1.1326
(25),
1.1326
(25),
1.12095
(25),
Dung lượng
DG MW
0.8146
(32),
0.8146
(32),
0.87689
(18),
None
(Nút số)
1.1011
(8)
1.1011
(8)
0.969711
(7)
Tổn thất
(kW)
202.68
41.9051
79.32
53.3129
73.70
50.825
74.92
% Giảm tổn
thất
-
-
-
Thích nghi
tối đa
46.2885
42.6949
59.5526
55.4702
64.0135
56.0123
Thích nghi
trung bình
STD của
hàm thích
nghi
Hình 3.3. Sự hội tụ của PSO trong giai đoạn
đầu tiên trên 50 lần chạy độc lập cho hệ
thống 33 nút
Comment [G1]: Please define all terms in table
upon first reference.
-
1.17681
2.50883
3.20373
Thời gian
CPU
-
-
25.0779
245.2
9.3156
18.5
80.7789
751.9
(second)
Số lần lặp
trung bình
Bảng 3.1. Kết quả của kỹ thuật được đề xuất
trên hệ thống 33 nút
Hình 3.4. Cấu hình điện áp trong bốn
trường hợp của hệ thống 33 nút.
- 5 -
kết quả của việc áp dụng thử nghiệm
phương pháp vào hệ thống mạng 33 nút, và
hệ thống 72 nút của Bến Tre. Học viên rút ra
được một số kết luận như sau:
4. KẾT LUẬN
Luận văn này tiếp cận bài toán xác định vị
trí và công suất máy phát điện phân tán trên
lưới điện phân phối có xét đến cấu trúc vận
hành lưới điện với mục tiêu là giảm tổn thất
công suất tác dụng trên hệ thống phân phối.
Giải pháp xác định vị trí và công suất máy
phát điện phân tán tối ưu và xác định cấu
trúc vận hành được thực hiện riêng rẽ bằng
hai giai đoạn sử dụng thuật toán di truyền.
Trong đó hai giai đoạn, giai đoạn 1 sử dụng
thuật toán PSO xác định vị trí và công suất
tối ưu của các máy phát phân tán trên lưới
điện phân phối kín và sau đó giai đoạn 2,
giải thuật PSO được sử dụng để xác định
cấu trúc vận hành hở tối ưu của hệ thống. Từ
- Ưu điểm của phương pháp thực hiện là
đơn giản, rút ngắn thời gian thực hiện cho
giải thuật PSO vì số lượng biến cần tối ưu
trong mỗi lần thực hiện là tương đối nhỏ.
Kết qua thực hiện so sánh với một số nghiên
cứu cho thấy sự phù hợp của phương pháp
đề xuất.
- Nhược điểm của phương pháp thực hiện là
chưa thực hiện tất cả các ràng buộc đối với
hệ thống. Quá trình kiểm nghiệm đối với
lưới điện của Bến Tre chỉ áp dụng cho 1
phát tuyến.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]
[2]
[3]
[4]
[5]
D. Shirmohammadi and H. W. Hong, “Reconfiguration of electric distribution networks
for resistive line losses reduction,” IEEE Trans. Power Deliv., vol. 4, no. 2, pp. 1492–
1498, 1989.
R. S. Rao, K. Ravindra, K. Satish, and S. V. L. Narasimham, “Power Loss Minimization
in Distribution System Using Network Reconfiguration in the Presence of Distributed
Generation,” IEEE Trans. Power Syst., vol. 28, no. 1, pp. 1– 9, 2013.
A. Mohamed Imran, M. Kowsalya, and D. P. Kothari, “A novel integration technique for
optimal network reconfiguration and distributed generation placement in power
distribution networks,” Int. J. Electr. Power Energy Syst., vol. 63, pp. 461–472, 2014.
T. T. Nguyen, A. V. Truong, and T. A. Phung, “A novel method based on adaptive
cuckoo search for optimal network reconfiguration and distributed generation allocation
in distribution network,” Int. J. Electr. Power Energy Syst., vol. 78, pp. 801–815, 2016.
Ameli A, Shahab B, Farid K, Mahmood-Reza H. A multiobjective particle swarm
optimization for sizing and placement of DGs from DG Owner’s and distribution
company’s viewpoints. IEEE Trans Power Deliv 2014;29 (4):1831–40.
[6]
[7]
Tan S, Xu JX, Panda SK. Optimization of distribution network incorporating distributed
generators: an integrated approach. IEEE Trans Power Syst 2013; 28(3): 2421–32.
Mohamed Imran A, Kowsalya M, Kothari DP. A novel integration technique for optimal
network reconfiguration and distributed generation placement in power distribution
networks. Int J Electr Power Energy Syst 2014;63:461–72.
[8]
[9]
Trương Quang Đăng Khoa, Phan Thị Thanh Bình, Hồng Bảo Trân - Xác định dung lượng
và vị trí của máy phát phân bố (DG) tối ưu tổn thất lưới phân phối - Trường Đại học
Bách Khoa TP. HCM - 2016
Lê Kim Hùng – Lê Thái Thanh – Tối ưu hóa vị trí đặt và công suất phát của nguồn phân
tán trên mô hình lưới điện phân phối 22kV – Tạp chí KHCN Đà Nẵng – 2015
[10] César Augusto Peñuela Meneses and José Roberto Sanches Mantovani, “Improving the
Grid Operation and Reliability Cost of Distribution Systems With Dispersed
Generation” IEEE Trans Power Syst 2013; 28
- 6 -
[11] T . P Wagner , A.Y . Chikhanni and R. Hackam, Feeder reconfiguration for loss
reduction an application of distribution automation, IEEE transactions on power
Delivery , vol 6, SUMMARY no. 4, October (1994).
[12] Y oung Jae Jeon and Jae Chul Kim, Network reconfiguration in radial distribution
systems using simulated annealing and T abu search, IEEE (2000).
[13] Bhoomesh Radha, Robert T .F .Ah King and Harry C.S. Rughooputh, A modified
genetic algorithm for optimal electrical distribution network r econfiguration, IEEE
(2003).
[14] Jen-Hao Teng and Chan Nan Lu, Feederswitches relocation for customer
interruption cost minimization, IEEE transactions on power delivery , vol. 17, No. 1,
January(2002)
[15] "Haibao Zhai, Haozhong Cheng And Xuwang, Using ant colony system algorithm
to solve dynamic transmission network expansion plainning, Singapore, 27-29
November (2003).
[16] Enrico Carpaneto and Gianfranco chicco, Ant colony search based minimum
losses reconfiguration of distribution systems, IEEE, MELECON 2004, Dubrovnik,
croaria, May12-15, (2004)
[17] Jen-Hao Teng and Yi-Hwa Lui, A novel ACS based optimum switch relocation
method, IEEE transactions on power systems, V ol 18, No, 1 February(2003).
[18] Phạm Thị Hồng Anh, Nâng cao chất lượng điện năng lưới điện phân phối theo phương
pháp tái cấu trúc lưới, Tạp chí Khoa Học & Công Nghệ, 128(14): 43 – 48.
[19] Nguyễn Tùng Linh, Nguyễn Thanh Thuận, Tôn Ngọc Triều, Nguyễn Anh Xuân, Trương
Việt Anh, Áp dụng giải thuật di truyền cho bài toán tối ưu vị trí và công suất nguồn điện
phân tán có xét đến tái hình cấu hình lưới điện phân phối, Tạp chí Phát Triển KH&CN,
Tập 20, số K7-2017.
Thông tin liên hệ tác giả chính (ngƣời chịu trách nhiệm bài viết):
Họ tên:
Đơn vị:
Điện thoại:
Email:
Đoàn Minh Hậu
Học viên Cao học Trƣờng Đại Học Sƣ Phạm Kỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh
0917.430.768
XÁC NHẬN
- 7 -
Bạn đang xem tài liệu "Xác định vị trí và dung lượng máy phát điện phân tán trên lưới điện 22kv trong thị trường cạnh tranh bằng giải thuật lai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
ac_dinh_vi_tri_va_dung_luong_may_phat_dien_phan_tan_tren_luo.pdf

