Xác định vị trí và dung lượng máy phát điện phân tán trên lưới điện 22kv trong thị trường cạnh tranh bằng giải thuật lai

XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ VÀ DUNG LƢỢNG MÁY PHÁT ĐIỆN  
PHÂN TÁN TRÊN LƢỚI ĐIỆN 22KV TRONG THỊ TRƢỜNG CẠNH  
TRANH BẰNG GIẢI THUẬT LAI  
DETERMINATION OF GENERATOR LOCATION AND QUANTITY  
DISTRIBUTION ON 22KV POWER NETWORK IN THE COMPETITIVE  
COMPETITION MARKET  
Đoàn Minh Hậu  
Học viên cao học Trường ĐHSPKT TP.HCM  
TÓM TẮT  
Lưới điện phân phối thường được quy hoạch và quản lý theo một hướng công suất từ nguồn đến  
phụ tải. Hiện nay, với sự phát triển của các nguồn năng lượng mới từ các máy phát điện phân  
tán (DG) được kết nối nhiều hơn vào hệ thống điện phân phối. Việc kết nối DG vào lưới điện  
phân phối sẽ giúp nâng cao độ tin cậy và khả năng cung cấp điện. Tuy nhiên, nó cũng đòi hỏi  
một cấu hình lưới phù hợp để nâng cao hiệu quả cung cấp điện.  
Đề tài này tiếp cận bài toán xác định vị trí và công suất của các DG trên lưới điện phân phối có  
xét đến bài toán tái cấu hình vận hành lưới điện với mục tiêu là giảm tổn thất công suất tác dụng  
và thỏa mãn công suất đưa vào lưới điện của các khách hàng tham gia cung cấp trên hệ thống  
điện. Việc xác định vị trí và công suất của các DG tối ưu và xác định cấu hình vận hành mới của  
lưới điện phân phối được thực hiện bằng hai giai đoạn với thuật toán PSO. Trong đó, giai đoạn  
1 sử dụng thuật toán PSO xác định vị trí và công suất tối ưu của các máy phát phân tán trên lưới  
điện phân phối kín (tất cả các khóa điện đều đóng), ở giai đoạn 2, giải thuật PSO được sử dụng  
để xác định cấu trúc vận hành hở tối ưu của hệ thống. Kết quả bài toán được kiểm nghiệm trên  
lưới điện 33 nút và lưới điện 72 nút của Thành phố Bến Tre đã cho thấy hiệu quả của phương  
pháp đề xuất.  
Từ khóa: Xác định vị trí và công suất của các DG tối ưu và xác định cấu hình vận hành mới  
của lưới điện phân phối được thực hiện bằng hai giai đoạn với thuật toán PSO.  
ABSTRACT  
Distribution grids are often planned and managed in a power direction from source to load.  
Currently, the development of new energy sources from distributed generators (DG) is more  
connected to distribution power systems. Connecting DG to the distribution grid will help  
improve reliability and power supply. However, it also requires an appropriate grid  
configuration to improve power supply efficiency.  
This topic approaches the problem of determining the position and capacity of DGs on the  
distribution grid considering the re-configuring the operation of the grid with the goal of  
reducing the capacity loss and satisfying capacity put into the grid of participating customers on  
the electrical system. The determination of the position and power of the optimal DG and the  
determination of the new operating configuration of the distribution grid is carried out in two  
stages with the PSO algorithm. In particular, phase 1 uses PSO algorithm to determine the  
optimal position and capacity of distributed generators on the closed distribution grid (all  
- 1 -  
electric locks are closed), in phase 2, PSO algorithm. used to determine the optimal open  
operating structure of the system. The results of the 33-node grid test and the 72-node grid of  
Ben Tre City showed the effectiveness of the proposed method.  
Key words: The determination of the position and power of the optimal DG and the  
determination of the new operating configuration of the distribution grid is carried out in two  
stages with the PSO algorithm, power system.  
định dung lượng, kết hợp với bài toán  
tái cấu trúc lưới.  
1.GIỚI THIỆU  
Lưới điện phân phối truyền tải điện từ  
các trạm biến áp trung gian đến khách hàng  
sử dụng điện. Lưới điện phân phối thường  
có cấu trúc mạch vòng nhưng được vận  
hành hình tia do những ưu điểm liên quan  
đến thiết bị bảo vệ, dễ dàng vận hành. Khi  
các nguồn phát phát triển, việc kết nối các  
nguồn phân tán với lưới điện phân phối có  
nhiều ưu điểm. Một trong những ưu điểm  
lớn khi đặt máy phát phân tán trên lưới điện  
phân phối là giảm tổn thất công suất do bởi  
khả năng đáp ứng nhu cầu phụ tải tại chỗ và  
các vùng lân cận.  
(4) Sử dụng các thuật toán tối ưu để giải  
bài toán xác định vị trí, công suất  
nguồn phân tán và xác định cấu trúc  
vận hành hình tia tối ưu.  
Trong bốn kỹ thuật được sử dụng, phương  
pháp (1) và (2) có ưu điểm là dễ dàng thực  
hiện, thời gian tính toán nhanh. Nhưng kết  
quả thu được thường không phải là hệ thống  
phân phối có tổn thất công suất bé nhất do  
sự độc lập của hai lần tính toán. Phương  
pháp (3), đã hạn chế được nhược điểm của  
phương pháp (1) và (2). Tuy nhiên, các chỉ  
số ban đầu của lưới phân phối để lựa chọn vị  
trí của nguồn phân tán lại thường bị thay đổi  
khi cấu trúc lưới thay đổi dẫn đến giải pháp  
thu được sau cùng cũng có thể không phải là  
tối ưu nhất. Phương pháp (4) đã giải quyết  
được những hạn chế của các phương pháp  
trên. Nhưng rõ ràng, bài toán sẽ trở nên  
phức tạp hơn do bởi sự khác nhau về bản  
chất của các biến trong véc tơ biến điều  
khiển của các thuật toán tối ưu và ít nhiều  
ảnh hưởng đến các cơ chế tạo ra các véc tơ  
biến mới trong quá trình tối ưu. Mặt khác,  
thời gian tính toán trên thuật toán sẽ lâu hơn  
do số biến cần tối ưu lớn bao gồm vị trí  
nguồn phân tán, công suất nguồn phân tán  
và các khóa điện cần thay đổi trong hệ  
thống.  
Như vậy, rõ ràng với sự xuất hiện của  
các nguồn phân tán trên lưới điện phân phối,  
cùng với các khóa điện tồn tại trên lưới điện  
phân phối làm xuất hiện bài toán cần giải  
quyết là tối ưu vị trí, công suất các nguồn  
phân tán và thay đổi cấu trúc lưới điện thông  
qua thao tác chuyển khóa điện sẵn có trên  
lưới để nâng cao hiệu quả của lưới điện  
phân phối. Để giải quyết bài toán này, một  
số nghiên cứu đã sử dụng các kỹ thuật khác  
nhau để giải quyết và có thể được tóm tắt  
một số phương pháp chung như sau:  
(1) Xác định vị trí và công suất của các  
nguồn phân tán tối ưu trên lưới điện  
phân phối hình tia ban đầu bằng các  
thuật toán tối ưu. Sau đó sử dụng các  
thuật toán tối ưu để xác định cấu trúc  
lưới có tổn thất công suất bé nhất.  
Có thể thấy rằng lưới điện kín có dòng phân  
bố công suất tối ưu nơi mà tổn thất công  
suất trên lưới điện phân phối là nhỏ nhất.  
Ngoài ra, việc thay đổi cấu trúc vận hành  
lưới điện phân phối cũng thường được thay  
đổi tùy theo sự phát triển của phụ tải và  
thường được thay đổi tương đối dễ dàng  
thông qua thao tác đóng mở. Tuy nhiên đối  
với các nguồn phân tán, việc tối ưu nguồn  
phân tán đặc biệt là vị trí lại tương đối khó  
khăn và khó thay đổi theo thời gian. Vì vậy,  
xác định vị trí và công suất nguồn phát sao  
(2) Xác định cấu trúc lưới có tổn thất bé  
nhất bằng các thuật toán tối ưu. Sau đó,  
Xác định vị trí và công suất của các  
nguồn phân tán tối ưu trên lưới điện  
phân phối có cấu trúc hình tia tối ưu.  
(3) Xác định vị trí của các nguồn phân tán  
dựa trên các chỉ số như độ ổn định điện  
áp, độ nhạy điện áp các nút… Sau đó  
sử dụng các thuật toán tối ưu để xác  
- 2 -  
cho ít bị ảnh hưởng bởi cấu trúc lưới hình tia  
là điều đặc biệt quan trọng và chưa được  
quan tâm giải quyết.  
Lưu đồ giải thuật chi tiết được trình bày  
trong Hình 2.1.  
Bắt đầu  
2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Đóng các khóa điện tạo thành vòng kín  
Thuật toán PSO (Particle Swarm  
Optimization) là một trong những thuật toán  
tiến hóa, dựa trên khái niệm trí tuệ bầy đàn  
để giải các bài toán tối ưu hóa. Thuật toán  
có nhiều ứng dụng quan trọng trong tất cả  
các lĩnh vực mà ở đó đòi hỏi phải giải quyết  
các bài toán tối ưu hóa đặc biệt là các bài  
toán liên quan đến hệ thống điện. Ý tưởng  
chính của PSO dựa trên nền tảng tâm lý bầy  
đàn và tập tính xã hội của bầy chim hoặc  
đàn cá. Chúng di chuyển để tìm kiếm thức  
ăn với một vận tốc và vị trí tương ứng. Sự di  
chuyển của chúng phụ thuộc vào kinh  
nghiệm của chính nó và của các thành viên  
khác trong bầy đàn (Pbest và Gbest).  
Chọn thông số: quần thể N, số biến (vị trí, dung lượng DG), số  
vòng lặp lớn nhất Itermax,1  
Khởi tạo ngẫu nhiên [vị trí DG,..., công suất DG...]  
Giải bài toán phân bố công suất và tính toán tổn thất công suất cho mỗi nhiễm sắc thể  
Kiểm tra các giới hạn ràng buộc của các nhiễm sắc thể mới  
đúng  
Iter1 = Iter1 + 1  
Iter1 <= Itermax,1  
sai  
Xuất kết quả vị trí và dung lượng tốt nhất (có tổn thất công suất nhỏ  
nhất) [vị trí DG, công suất DG]  
Lưới điện vận hành kín đạt hiệu quả cao  
nhất về chỉ tiêu tổn thất điện áp, nâng cao độ  
tin cậy của lưới điện, và các chỉ tiêu kỹ thuật  
khác… Tuy nhiên, việc vận hành lưới điện  
kín cũng gây nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn  
đề phối hợp bảo vệ cho các phần tử trên lưới  
rất phức tạp, dễ dẫn đến hệ thống bảo vệ làm  
việc không chọn lọc gây ra hiệu quả nghiêm  
trọng. Do đó, các lưới phân phối được thiết  
kế theo mạch vòng liên thông nhưng vẫn  
được vận hành với cấu hình là hình tia bằng  
cách mở các khóa trong những mạch vòng  
trên hệ thống điện. Mở khóa tối ưu cho lưới  
mạch vòng này chính là điểm mà tại đó phụ  
tải nhận công suất từ cả hai chiều của lưới  
điện. Phương pháp xác định vị trí và công  
suất nguồn phát trong quy hoạch lưới điện  
phân phối được thực hiện như sau:  
Cập nhật thông số DG vào thông số lưới  
Chọn thông số: quần thể N, số biến (số khóa điện mở), Số vòng  
lặp lớn nhất Itermax,2  
- Khởi tạo ngẫu nhiên các khóa [s1, s2,  , sn]  
Giải bài toán phân bố công suất và tính toán tổn thất công suất cho mỗi nhiễm sắc thể  
Kiểm tra các giới hạn ràng buộc của các nhiễm sắc thể mới  
đúng  
Iter2 = Iter2 + 1  
Iter2 <= Itermax,2  
sai  
Xuất nhiễm sắc thể tốt nhất (có tổn thất công suất nhỏ nhất) bao gồm  
[các khóa mở]  
Bước 1: Đóng tất cả các khóa điện tạo thành  
lưới điện phân phối kín  
Kết thúc  
Bước 2: Sử dụng giải thuật PSO xác định vị  
trí và công suất các máy phát điện phân tán  
trên lưới điện phân phối giảm tổn thất công  
suất.  
Hình 2. 1. Lưu đồ giải thuật đề nghị  
3. KẾT QUẢ  
3.1. Thông số đầu vào  
Bước 3: Cập nhật lại thông số lưới điện  
phân phối có sự xuất hiện của các nguồn  
phân tán vừa xác định.  
Bước 4: Sử dụng giải thuật PSO xác định  
cấu trúc vận hành hình tia lưới điện phân  
phối giảm tổn thất công suất.  
- 3 -  
phân phối. Tổng tổn thất công suất đã được  
giảm 73.64% so với chưa thực hiện tối ứu  
lưới điện Ngoài ra, điện áp thấp nhất trong  
hệ thống đã được cải thiện từ 0.91081 tới  
0.9685pu.  
Từ kết quả ở Bảng 3.1 cho thấy tổn thất điện  
năng giảm từ 202,68 KW trong cấu hình ban  
đầu xuống còn 41,9051 KW và 53.329 KW  
khi sử dụng giai đoạn 1 và giai đoạn 2 tương  
ứng. Kết quả từ giai đoạn 1 cho thấy, tổn  
thất điện năng là tối thiểu vì đây là tổn thất  
điện năng do mạng lưới gây ra. Sau khi sử  
dụng giai đoạn 1 để tìm vị trí và công suất  
của máy phát phân tán (DG) trong mạng  
lưới, giai đoạn 2 được sử dụng để xác định  
các công tắc mở cho hoạt động hình tia,  
trong đó các công tắc mở đạt được trong cấu  
hình tối ưu là {33, 34, 11, 30, 28}.  
Hình 3.1. Lưới điện 33 nút  
Hệ thống phân phối 33 nút, bao gồm 37  
nhánh, 32 khóa điện thường đóng và 5 khóa  
điện thường mở{33, 34, 35, 36 và 37}. Sơ  
đồ đơn tuyến được trình bày trong Hình 3.1.  
Tổng công suất thực của tải và công suất  
phản kháng của hệ thống tương ứng là  
3.72MW và 2.3 MVAR [15]. Tổng tổn thất  
công suất thực và công suất phản kháng đối  
với các trường hợp ban đầu tính từ phân bố  
công suất tương ứng là 202.68 kW và  
135.14 kVAr.  
Vì vậy, tổn thất điện năng được tăng lên tới  
53.329 kW so với 41,9051 kW ở giai đoạn  
1. Tuy nhiên, so với phương pháp tái cấu  
hình đồng thời và đặt máy phát phân tán  
(DG), các kết quả này gần giống với kết quả  
thu được từ tái cấu hình đồng thời và  
phương pháp đặt nhiều máy phát phân tán  
(DGs). Tổn thất công suất tối thiểu thu được  
bằng cách tái cấu hình đồng thời và phương  
pháp đặt nhiều máy phát phân tán (DGs) là  
50.825 kW, chỉ thấp hơn 2.4879 kW so với  
tổn thất điện năng do giải pháp tối ưu thu  
được từ phương pháp đề xuất. Ngoài ra,  
phương pháp được đề xuất mất 34,39 giây  
để thực hiện vấn đề cho cả hai trạng thái,  
ngắn hơn 46,39 giây so với phương pháp tái  
cấu hình đồng thời và phương pháp đặt  
nhiều máy phát phân tán (DGs). Ngoài ra,  
cũng có thể thấy từ Bảng 3.1, các giá trị  
trung bình của hàm thích nghi ở giai đoạn 1  
và giai đoạn 2 gần với giá trị tối thiểu của  
hàm thích nghi hơn so với phương pháp tái  
cấu hình đồng thời và phương pháp đặt  
nhiều máy phát phân tán (DGs). Điều này  
chứng tỏ rằng phương pháp được đề xuất  
cũng giúp PSO dễ dàng xác định kết quả tối  
ưu cho vấn đề.  
3.2 Trình bày kết quả tính toán lƣới điện  
33 nút trong hai giai đoạn  
- Trong giai đoạn 1: Vị trí các máy phát  
phân tán lần lượt được lắp đặt tại các vị trí  
tối ưu là các nút: 32, nút 8 và nút 25 với  
công suất tương ứng là 0.8234, 1.1047 và  
1.1073 MW.  
Tổn thất công suất trên lưới điện này là  
41.9082 kW. Tuy nhiên, cần lưu ý là cấu  
trúc lưới trong giai đoạn 1 là cấu trúc của  
lưới điện kín và tổn thất công suất trên lưới  
điện kín là tổn thất bé nhất mà lưới điện có  
thể đạt được. Sau khi xác định được vị trí và  
công suất tối ưu của máy phát phân tán trên  
cấu trúc lưới kín, tiếp tục tiến hành tính toán  
trong giai đoạn 2.  
- Trong giai đoạn 2: Sau khi tìm được vị trí  
và dung lượng tối ưu trong mạch kín (với vị  
trí nút là các nút: nút 32, nút 8 và nút 25 và  
tương ứng công suất là 0.8234, 1.1047 và  
1.1073 MW) tiếp tục tìm các khóa điện mở  
và cấu hình lưới có được với các khóa mở là  
33, 34, 11, 30 và 28 tương ứng với tổn thất  
công suất 53.4274 kW trên toàn lưới điện  
Sự hội tụ cho giai đoạn 1 và giai đoạn 3  
được trình bày Hình 3.2 và Hình 3.3. Các  
cấu hình điện áp của phương pháp máy phát  
phân tán (DG) ban đầu (giai đoạn 1), giai  
đoạn 2 và tái cấu hình đồng thời và đặt  
phương pháp máy phát phân tán (DG) được  
- 4 -  
trình bày trong Hình 3.4. Như trong hình,  
cường độ điện áp ở tất cả các nút đã được  
nâng cao sau khi sử dụng phương pháp được  
đề xuất và cấu hình điện áp của giai đoạn 12  
gần giống với cấu hình điện áp của tái cấu  
hình đồng thời và phương pháp đặt nhiều  
máy phát phân tán (DGs).  
Phương pháp đề xuất  
Đồng thời  
cả Tái cấu  
hình và DG  
sử dụng  
PSO  
Ban  
Thông số  
Khóa mở  
đầu  
GĐ-I  
GĐ-II  
PSO  
33, 34,  
35, 36,  
37  
33, 34,  
11, 30,  
28  
Hình 3.2. Sự hội tụ của PSO trong giai đoạn  
đầu tiên trên 50 lần chạy độc lập cho hệ  
thống 33 nút  
33, 34, 11,  
30, 28  
None  
1.1326  
(25),  
1.1326  
(25),  
1.12095  
(25),  
Dung lượng  
DG MW  
0.8146  
(32),  
0.8146  
(32),  
0.87689  
(18),  
None  
(Nút số)  
1.1011  
(8)  
1.1011  
(8)  
0.969711  
(7)  
Tổn thất  
(kW)  
202.68  
41.9051  
79.32  
53.3129  
73.70  
50.825  
74.92  
% Giảm tổn  
thất  
-
-
-
Thích nghi  
tối đa  
46.2885  
42.6949  
59.5526  
55.4702  
64.0135  
56.0123  
Thích nghi  
trung bình  
STD của  
hàm thích  
nghi  
Hình 3.3. Sự hội tụ của PSO trong giai đoạn  
đầu tiên trên 50 lần chạy độc lập cho hệ  
thống 33 nút  
Comment [G1]: Please define all terms in table  
upon first reference.  
-
1.17681  
2.50883  
3.20373  
Thời gian  
CPU  
-
-
25.0779  
245.2  
9.3156  
18.5  
80.7789  
751.9  
(second)  
Số lần lặp  
trung bình  
Bảng 3.1. Kết quả của kỹ thuật được đề xuất  
trên hệ thống 33 nút  
Hình 3.4. Cấu hình điện áp trong bốn  
trường hợp của hệ thống 33 nút.  
- 5 -  
kết quả của việc áp dụng thử nghiệm  
phương pháp vào hệ thống mạng 33 nút, và  
hệ thống 72 nút của Bến Tre. Học viên rút ra  
được một số kết luận như sau:  
4. KẾT LUẬN  
Luận văn này tiếp cận bài toán xác định vị  
trí và công suất máy phát điện phân tán trên  
lưới điện phân phối có xét đến cấu trúc vận  
hành lưới điện với mục tiêu là giảm tổn thất  
công suất tác dụng trên hệ thống phân phối.  
Giải pháp xác định vị trí và công suất máy  
phát điện phân tán tối ưu và xác định cấu  
trúc vận hành được thực hiện riêng rẽ bằng  
hai giai đoạn sử dụng thuật toán di truyền.  
Trong đó hai giai đoạn, giai đoạn 1 sử dụng  
thuật toán PSO xác định vị trí và công suất  
tối ưu của các máy phát phân tán trên lưới  
điện phân phối kín và sau đó giai đoạn 2,  
giải thuật PSO được sử dụng để xác định  
cấu trúc vận hành hở tối ưu của hệ thống. Từ  
- Ưu điểm của phương pháp thực hiện là  
đơn giản, rút ngắn thời gian thực hiện cho  
giải thuật PSO vì số lượng biến cần tối ưu  
trong mỗi lần thực hiện là tương đối nhỏ.  
Kết qua thực hiện so sánh với một số nghiên  
cứu cho thấy sự phù hợp của phương pháp  
đề xuất.  
- Nhược điểm của phương pháp thực hiện là  
chưa thực hiện tất cả các ràng buộc đối với  
hệ thống. Quá trình kiểm nghiệm đối với  
lưới điện của Bến Tre chỉ áp dụng cho 1  
phát tuyến.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]  
[2]  
[3]  
[4]  
[5]  
D. Shirmohammadi and H. W. Hong, “Reconfiguration of electric distribution networks  
for resistive line losses reduction,” IEEE Trans. Power Deliv., vol. 4, no. 2, pp. 1492–  
1498, 1989.  
R. S. Rao, K. Ravindra, K. Satish, and S. V. L. Narasimham, “Power Loss Minimization  
in Distribution System Using Network Reconfiguration in the Presence of Distributed  
Generation,” IEEE Trans. Power Syst., vol. 28, no. 1, pp. 1– 9, 2013.  
A. Mohamed Imran, M. Kowsalya, and D. P. Kothari, “A novel integration technique for  
optimal network reconfiguration and distributed generation placement in power  
distribution networks,” Int. J. Electr. Power Energy Syst., vol. 63, pp. 461–472, 2014.  
T. T. Nguyen, A. V. Truong, and T. A. Phung, “A novel method based on adaptive  
cuckoo search for optimal network reconfiguration and distributed generation allocation  
in distribution network,” Int. J. Electr. Power Energy Syst., vol. 78, pp. 801–815, 2016.  
Ameli A, Shahab B, Farid K, Mahmood-Reza H. A multiobjective particle swarm  
optimization for sizing and placement of DGs from DG Owner’s and distribution  
company’s viewpoints. IEEE Trans Power Deliv 2014;29 (4):1831–40.  
[6]  
[7]  
Tan S, Xu JX, Panda SK. Optimization of distribution network incorporating distributed  
generators: an integrated approach. IEEE Trans Power Syst 2013; 28(3): 2421–32.  
Mohamed Imran A, Kowsalya M, Kothari DP. A novel integration technique for optimal  
network reconfiguration and distributed generation placement in power distribution  
networks. Int J Electr Power Energy Syst 2014;63:461–72.  
[8]  
[9]  
Trương Quang Đăng Khoa, Phan Thị Thanh Bình, Hồng Bảo Trân - Xác định dung lượng  
và vị trí của máy phát phân bố (DG) tối ưu tổn thất lưới phân phối - Trường Đại học  
Bách Khoa TP. HCM - 2016  
Lê Kim Hùng – Lê Thái Thanh – Tối ưu hóa vị trí đặt và công suất phát của nguồn phân  
tán trên mô hình lưới điện phân phối 22kV – Tạp chí KHCN Đà Nẵng – 2015  
[10] César Augusto Peñuela Meneses and José Roberto Sanches Mantovani, “Improving the  
Grid Operation and Reliability Cost of Distribution Systems With Dispersed  
Generation” IEEE Trans Power Syst 2013; 28  
- 6 -  
[11] T . P Wagner , A.Y . Chikhanni and R. Hackam, Feeder reconfiguration for loss  
reduction an application of distribution automation, IEEE transactions on power  
Delivery , vol 6, SUMMARY no. 4, October (1994).  
[12] Y oung Jae Jeon and Jae Chul Kim, Network reconfiguration in radial distribution  
systems using simulated annealing and T abu search, IEEE (2000).  
[13] Bhoomesh Radha, Robert T .F .Ah King and Harry C.S. Rughooputh, A modified  
genetic algorithm for optimal electrical distribution network r econfiguration, IEEE  
(2003).  
[14] Jen-Hao Teng and Chan Nan Lu, Feederswitches relocation for customer  
interruption cost minimization, IEEE transactions on power delivery , vol. 17, No. 1,  
January(2002)  
[15] "Haibao Zhai, Haozhong Cheng And Xuwang, Using ant colony system algorithm  
to solve dynamic transmission network expansion plainning, Singapore, 27-29  
November (2003).  
[16] Enrico Carpaneto and Gianfranco chicco, Ant colony search based minimum  
losses reconfiguration of distribution systems, IEEE, MELECON 2004, Dubrovnik,  
croaria, May12-15, (2004)  
[17] Jen-Hao Teng and Yi-Hwa Lui, A novel ACS based optimum switch relocation  
method, IEEE transactions on power systems, V ol 18, No, 1 February(2003).  
[18] Phạm Thị Hồng Anh, Nâng cao chất lượng điện năng lưới điện phân phối theo phương  
pháp tái cấu trúc lưới, Tạp chí Khoa Học & Công Nghệ, 128(14): 43 – 48.  
[19] Nguyễn Tùng Linh, Nguyễn Thanh Thuận, Tôn Ngọc Triều, Nguyễn Anh Xuân, Trương  
Việt Anh, Áp dụng giải thuật di truyền cho bài toán tối ưu vị trí và công suất nguồn điện  
phân tán có xét đến tái hình cấu hình lưới điện phân phối, Tạp chí Phát Triển KH&CN,  
Tập 20, số K7-2017.  
Thông tin liên hệ tác giả chính (ngƣời chịu trách nhiệm bài viết):  
Họ tên:  
Đơn vị:  
Điện thoại:  
Email:  
Đoàn Minh Hậu  
Học viên Cao học Trƣờng Đại Học Sƣ Phạm Kỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh  
0917.430.768  
XÁC NHẬN  
- 7 -  
pdf 7 trang Mãnh Khiết 09/01/2024 20120 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xác định vị trí và dung lượng máy phát điện phân tán trên lưới điện 22kv trong thị trường cạnh tranh bằng giải thuật lai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfac_dinh_vi_tri_va_dung_luong_may_phat_dien_phan_tan_tren_luo.pdf