Vai trò phản biện của báo chí và dư luận xã hội

VAI TRÒ PHẢN BIỆN CỦA BÁO CHÍ  
VÀ DƯ LUẬN XÃ HỘI  
NGUYỄN VĂN DỮNG*  
1. Đặt vấn đề  
Tiếp cận từ quan điểm hệ thống, báo chí là một tiểu hệ thống thành  
viên của hệ thống xã hội trong tổng thể, tồn tại và hoạt động chịu sự tác  
động, chi phối của hệ thống xã hội cũng như các tiểu hệ thống khác,  
thông qua các mối quan hệ ràng buộc, chi phối lẫn nhau trong cùng hệ  
thống và trong các điều kiện lịch sử xác định. Trong các quan hệ ấy, mối  
quan hệ giữa báo chí và dư luận xã hội (DLXH) luôn có ý nghĩa khoa  
học – thực tiễn đặc biệt, được giới khoa học xã hội học, chính trị học  
cũng như hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội… thường xuyên chú ý  
trong sự quan tâm đặc biệt từ các phương diện và mục đích khác nhau.  
Trong lý luận và thực tiễn báo chí hiện đại, mối quan hệ của báo chí và  
DLXH cũng là một trong những vấn đề có vị trí nền tảng và vai trò trung  
tâm, thu hút tâm lực của các nhà nghiên cứu khoa học, các nhà lãnh đạo,  
quản lý cũng như hoạt động tác nghiệp thường ngày của nhà báo.  
Bài viết này góp phần bàn luận về phản biện xã hội của báo chí và dư  
luận xã hội trên cơ sở cách tiếp cận mới về dư luận xã hội; từ đó ta có cái  
nhìn rõ hơn về mối quan hệ gắn bó giữa báo chí và dư luận xã hội trong  
xã hội hiện đại.  
2. Về bản chất của DLXH và cách tiếp cận dư luận xã hội trong  
mối quan hệ với ý thức quần chúng. Về phương diện lịch sử, dư luận  
xã hội là hiện tượng xã hội xuất hiện cùng với sự xuất hiện xã hội loài  
người. Ngay từ khi cộng đồng người nguyên thủy được hình thành đã có  
hiện tượng xã hội này. Buổi khởi nguyên của loài người, dư luận xã hội  
có tác dụng định hướng và tự định hướng nhận thức, thái độ và hành vi  
của con người và cộng đồng người, thông qua những ký hiệu nguyên sơ,  
thông báo cho nhau về những tin tức hái lượm thức ăn, về thú dữ, và cả  
những giao tiếp nhóm nhỏ rồi nhóm lớn…Thế nhưng về thuật ngữ khoa  
học, khái niệm này mới được xuất hiện lần đầu vào thế kỷ XII, gắn liền  
với tên tuổi nhà văn, nhà hoạt động xã hội người Anh John Solsbery vào  
* PGS.TS. Học viện Báo chí và Tuyên truyền.  
32  
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam - 5/2010  
năm 1159; đến giữa cuối thế kỷ XVIII, khái niệm này được Jean-Jacques  
Rousseau1 sử dụng với nhiều ý nghĩa tiến bộ vượt trội trong trào lưu khai  
sáng Pháp. Cùng với sự phát triển của dân trí và dân chủ ở châu Âu, hiện  
tượng dư luận xã hội bắt đầu lên ngôi vào cuối thế kỷ XVIII, trở thành  
trung tâm của sự chú ý vào thế kỷ XX, và ngày càng là tâm điểm chú ý  
của thực tiễn hoạt động nhà nước và vấn đề lý luận của nhiều khoa học  
khác nhau, như chính trị học, luật học, tâm lý học xã hội, xã hội học và  
báo chí học,…  
Theo ý kiến của Glen M. Broom, thì “DLXH là tập hợp các quan điểm  
của một số người trong một thời điểm nào đó, DLXH không thể định nghĩa  
như một nhận thức cá nhân; ngược lại DLXH thể hiện quá trình phát triển,  
mà ở đó tư tưởng được thể hiện, được mô phỏng, đạt được sự thoả thuận  
qua lại bằng cách đưa ra khái niệm tập thể về hướng hành động chung.  
DLXH được hình thành từ một nhóm người, họ trao đổi và cùng nhau xác  
định rõ bản chất của vấn đề là gì, tại sao vấn đề này lại làm xã hội lo lắng  
hoặc vui mừng và cần phải làm gì để giải quyết vấn đề đó. Mặc dù quá trình  
này liên quan đến nhận thức của các nhân, các quan điểm của mỗi cá nhân  
về vấn đề xã hội này hay vấn đề khác - cả về hình thức và nội dung - đều phụ  
thuộc vào sự trao đổi tranh luận của xã hội về vấn đề đó.”2 Nhà văn, Biên tập  
viên đầu tiên của Tạp chí “Đại Tây Dương hàng tháng”, James Russell  
Lowell ở thế kỷ XIX, đã nói: "Áp lực của công luận, như áp suất không khí  
này. Nó vô hình, nhưng cho mỗi centimet vuông của cơ thể là áp lực một vài  
cân trọng lượng."3 Tóm lại, theo tác giả, sức mạnh của dư luận xã hội là ở  
mọi nơi, trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và luôn luôn thay đổi.  
Tiếp cận từ Xã hội học thực nghiệm, từ góc nhìn hiệu ứng kết quả  
điều tra Xã hội học, “Warner giới hạn cách hiểu về DLXH vào những  
cuộc điều tra DLXH. Ông cho rằng, DLXH bao gồm những phản ứng  
của người dân với những tuyên bố hoặc những câu hỏi trong điều kiện  
những cuộc phỏng vấn. Trong khi đó, theo định nghĩa của Childs, thì  
DLXH là “bộ sưu tập những ý kiến cá nhân ở bất cứ nơi nào mà ta có thể  
tìm thấy chúng” (Childs, 1965)”4.  
1 Jean Jacques Rousseau (Giăng Giắc Rút-xô, 1712 – 1778), sinh tại Geneva, nhà triết  
học thuộc trào lưu Khai sáng có ảnh hưởng lớn tới Cách mạng Pháp 1789.  
2 GS.TS. Trường Truyền thông thuộc Đại học San Diego (Hoa Kỳ).  
3 Nguyễn Quý Thanh (2005), Xã hội học về dư luận xã hội, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.  
4 Nguyễn Quý Thanh, sđd.  
Vai trò phản biện…  
33  
Hoặc quan niệm “DLXH là tập hợp các luồng ý kiến cá nhân trước  
các vấn đề, sự kiện, hiện tượng có tính thời sự. Khái niệm “luồng ý kiến”  
có những nội hàm đáng lưu ý: 1) Mỗi luồng ý kiến là một tập hợp các ý  
kiến cá nhân giống nhau; 2) DLXH có thể bao gồm nhiều luồng ý kiến  
khác nhau, thậm chí đối lập nhau; 3) Luồng ý kiến có thể rộng (tuyệt đại  
đa số, đa số, nhiều ý kiến) hoặc hẹp 5  
Hêghen lý giải: “Đáng bị khinh bỉ nếu xem xét nó (DLXH) từ góc độ ý  
thức và phát ngôn cụ thể, đáng được kính trọng nếu xem xét từ góc độ cái  
thực thể, cái bản chất của nó, cái thực thể chỉ thâm nhập vào hiện tượng cụ  
thể bằng các tia sáng bị vẩn đục hoặc nhiều hoặc ít của mình”. Bởi vì theo  
ông, dư luận xã hội cũng bao gồm trong đó tính sơ khai, nguyên hợp “ tính  
tùy tiện, sự dốt nát, sự xuyên tạc, sự giả dối, sự lừa phỉnh của nó”6  
Nhìn nhận như một trạng thái tinh thần xã hội ở một thời điểm cụ thể,  
có ý kiến cho rằng, “DLXH là sự biểu hiện trạng thái ý thức xã hội của  
một cộng đồng người nào đó, là sự phán xét, đánh giá của đại đa số trong  
cộng đồng người đối với các sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội có liên  
quan đến nhu cầu, lợi ích của họ trong một thời điểm nhất định”7 .  
“DLXH là tập hợp các luồng ý kiến cá nhân trước các vấn đề, sự kiện,  
hiện tượng có tính thời sự”. Và nội hàm này bao gồm:  
1. “Mỗi luồng ý kiến là một tập hợp các ý kiến cá nhân giống nhau;  
2. DLXH có thể bao gồm nhiều luồng ý kiến khác nhau, thậm chí đối  
lập nhau;  
3. Luồng ý kiến có thể rộng (tuyệt đại đa số, đa số, nhiều ý kiến), hoặc hẹp  
(một số ý kiến);  
4. DLXH là tập hợp các ý kiến cá nhân, tự phát, chứ không phải là ý  
kiến của một tổ chức, được hình thành theo con đường tổ chức (hội nghị,  
hội thảo);  
5. DLXH không phải là phép cộng các ý kiến cá nhân, tự phát mà là một  
chỉnh thể tinh thần xã hội, thể hiện nhận thức, tình cảm, ý chí của các lực  
lượng xã hội nhất định;  
5 Mấy vấn đề về DLXH ở nước ta hiện nay, Viện Dư luận xã hội, Ban Tuyên giáo TW, Hà Nội,  
1989, tr. 14.  
6 Hêghen, Toàn tập; tập 7, tiếng Nga, tr. 324, 332.  
7
Dư luận xã hội trong sự nghiệp đổi mới; Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr 14.  
34  
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam - 5/2010  
6. Chỉ có những sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội có tính thời sự (động  
chạm đến lợi ích, các mối quan hệ hiện có của nhiều người) mới có khả năng  
tạo ra DLXH.”8  
Các nhà khoa học Nga cũng đã bàn luận nhiều đến hiện tượng dư luận  
xã hội, từ khái niệm, bản chất, cấu trúc, chức năng và vai trò của nó  
trong tiến trình phát triển xã hội. Chẳng hạn, B. K. Paderin cho rằng: “Dư  
luận xã hội là tổng thể các ý kiến, trong đó chủ yếu là các ý kiến thể hiện  
sự phán xét đánh giá, sự nhận định (bằng lời hoặc không bằng lời), phản  
ánh ý nghĩa của các thực tế, quá trình, hiện tượng, sự kiện đối với các tập  
thể, giai cấp, xã hội nói chung và thái độ công khai hoặc che đậy của các  
nhóm xã hội lớn nhỏ đối với các vấn đề của cuộc sống xã hội có động  
chạm đến các lợi ích chung của họ”9.  
M. K. Garơskôp – nhà báo và là nhà nghiên cứu Xã hội học Nga lại  
nhấn mạnh những đặc điểm sau đây của dư luận xã hội. Thứ nhất, nó bao  
giờ cũng gắn với người mang vật thể của mình - những khối đông quần  
chúng, với những nhu cầu và lợi ích thiết thực của họ; Thứ hai, có mặt  
trong mỗi lĩnh vực đời sống xã hội (trong chính trị, kinh tế, tư tưởng, lĩnh  
vực giáo dục - đạo đức,…); Thứ ba, dư luận xã hội có những tiềm năng  
tâm lý – xã hội lớn lao, với tư cách như tố chất kích thích thiết yếu có  
khả năng đem lại phương hướng cụ thể và tính ổn định cho những hành  
động xã hội và những hành vi của mọi người; Thứ tư, cùng với sự phát  
triển giáo dục, văn hoá và thông tin của con người, phạm vi thể hiện của  
dư luận xã hội cũng mở rộng nhanh chóng nhờ thông tin đại chúng, nó  
trở thành yếu tố biến đổi xã hội ngày càng rõ rệt10.  
Như vậy, dư luận xã hội là dạng thức đặc biệt của ý thức hay nhận  
thức quần chúng – một dạng thức biểu hiện cụ thể, sinh động hàng ngày  
của ý thức xã hội. B.A. Grusin – Giám đốc Trung tâm nghiên cứu công  
chúng và dư luận xã hội của Báo Izvetxtia (LB Nga), đã nhấn mạnh ba  
nhóm yếu tố quan trọng trong nhận thức quần chúng. Một là, những hình  
thái nhận thức tình cảm (trực quan và cảm xúc) - hiện vật sinh động- sự  
tiếp nhận, những thói quen, sở thích, tình cảm, cảm xúc, rung động, tâm  
trạng, kỹ năng và v..v… ; Hai là, những hình thái nhận thức lôgic (hợp  
lý, lý trí) - trừu tượng - những khái niệm, tiêu chuẩn, hình ảnh ấn tượng,  
8 TS. Phạm Chiến Khu, sách đd.  
9 Dẫn theo Mấy vấn đề về Dư luận xã hội ở nước ta hiện nay; Viện Dư luận xã hội, Ban Tuyên  
giáo TW, Hà Nội, 1989, tr. 6.  
10 Garơskôp M. K. Dư luận xã hội, M., Nxb. Chính trị, 1988, tr. 56. (Bản tiếng Nga).  
Vai trò phản biện…  
35  
những đam mê, thị hiếu, sở thích và những định hướng giá trị; Ba là,  
những lý tưởng xã hội, kể cả những hình thái viễn tưởng (phi lý), những  
tín ngưỡng, giáo lý, kể cả những tư tưởng không tưởng và những khái  
niệm phi lý khác11  
Như vậy, có thể nói rằng, Dư luận xã hội là hiện tượng xã hội đặc thù –  
là phương thức tồn tại và biểu hiện đặc biệt của ý thức quần chúng, - dạng  
thức biểu hiện thực tế và sinh động hàng ngày của ý thức xã hội; Dư luận  
xã hội là biểu thị nhận thức, tình cảm và cảm xúc, ý chí và nguyện vọng, ý  
kiến và phán xét, đánh giá và thái độ,.. (và thậm chí cả hành vi), là sự phản  
ánh tâm trạng xã hội,…của các nhóm lớn xã hội hoặc của cộng đồng xã hội  
nói chung về những sự kiện, vấn đề đã và đang diễn ra liên quan mật thiết  
đến lợi ích của họ.  
Từ quan niệm trên đây, có thể mô phỏng cấu trúc ý thức quần chúng  
và dư luận xã hội như sau12  
Thế giới quan  
Ý thức  
Dư luận  
xã hội  
Nhân sinh quan  
lịch sử -  
văn hóa  
Mô phỏng cấu trúc ý thức quần chúng và DLXH  
Từ mô hình cấu trúc này, có thể đưa ra mấy nhận xét sau đây.  
Thứ nhất, ý thức quần chúng (có thể được hiểu trong sự tương đồng  
với các khái niệm nhận thức quần chúng, nhân dân hoặc nhóm công  
chúng – đối tượng truyền thông, thậm chí với từng con người cá thể) là  
thực thể phức tạp được cấu thành từ rất nhiều yếu tố khác nhau (mà việc  
nhìn nhận những yếu tố này tùy theo cách tiếp cận của các khoa học khác  
11  
Grusin B. A. Báo cáo tại Hội nghị Toàn Liên Bang về những vấn đề nhận thức xã hội. M.,  
1981 (tiếng Nga).  
12 Xem thêm: Đối tượng tác động của báo chí (Nguyễn Văn Dững, Tạp chí Xã hội học, số 4/2004).  
36  
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam - 5/2010  
nhau, như triết học, tâm lý học xã hội, xã hội học,…); trong đó, có thể  
trừu tượng hóa các yếu tố khác để nhận diện rõ hơn các thành tố đang  
xem xét – dư luận xã hội và ý thức quần chúng.  
Thứ hai, có mối liên hệ chặt chẽ giữa thế giới quan, nhân sinh quan, ý  
thức lịch sử - văn hóa và DLXH; trong đó, DLXH vừa là thành tố cấu  
thành, vừa là màng bao phủ toàn bộ hiện tượng ý thức quần chúng; và  
với cách tiếp cận của báo chí học, DLXH có những đặc tính cần lưu ý: 1)  
là điểm tiếp xúc trước tiên với các sự kiện và vấn đề thời sự đã và đang  
diễn ra (chủ yếu và phần nhiều do báo chí, truyền thông đại chúng cung  
cấp). Mức độ quan tâm của DLXH đối với các sự kiện và vấn đề thời sự  
này phụ thuộc vào mối quan hệ về lợi ích cũng như ý nghĩa chính trị - xã  
hội của sự kiện và vấn đề đã và đang diễn ra; 2) DLXH mang đặc tính  
tổng hợp, hỗn mang, tức là hàm chứa trong đó cả lý trí, tình cảm và cảm  
xúc, cả đúng và chưa đúng, hiện tượng và bản chất,…; 3) DLXH dễ thay  
đổi, dễ điều chỉnh, nếu biết cách sử dụng phương tiện và phương thức  
phù hợp với tâm lý, tâm trạng xã hội.  
Thứ ba, từ hai điểm trên đây, có thể nói rằng, vai trò của báo chí và  
truyền thông đại chúng trong việc định hướng tư tưởng, hướng dẫn nhận  
thức, thái độ và hành vi của công chúng xã hội, trước hết thể hiện ở vai  
trò của nó trong việc khơi nguồn, phản ánh, định hướng và điều hòa  
DLXH, tâm lý và tâm trạng xã hội. Mặt khác, nói vai trò báo chí phản  
biện xã hội, tức là báo chí phản biện bằng và thông qua DLXH; sức  
mạnh báo chí trước hết được thể hiện bằng sức mạnh DLXH. Quan hệ  
báo chí và DLXH là một trong những mối quan hệ cơ bản nhất – xét cả  
trên hai bình diện lý luận và thực tiễn.  
3. Báo chí với vấn đề phản biện xã hội.  
Phản biện là thuật ngữ được dùng trước hết trong hoạt động khoa học –  
phản biện khoa học. Tức là, đánh giá chất lượng một công trình khoa học  
khi công trình được đưa ra trước hội đồng khoa học. Theo đó, phản biện có  
nhiệm vụ khẳng định những kết quả đạt được, những ưu điểm nổi trội của  
công trình; đồng thời nêu ra những hạn chế, khiếm khuyết để tiếp tục hoàn  
thiện; và cuối cùng, khẳng định rằng công trình đó có đạt được những tiêu  
chí khoa học cần thiết không. Như vậy, phản biện khác với phản bác. Phản  
bác là dùng lý lẽ và lập luận để bác bỏ ý kiến hay công trình của người  
khác; còn phản biện vừa khẳng định (nếu phù hợp với tiêu chí khoa học),  
vừa phản bác (nếu không đáp ứng tiêu chí cơ bản) và hướng tới giúp hoàn  
thiện công trình ấy.  
Vai trò phản biện…  
37  
Trong đời sống xã hội hay sinh hoạt hàng ngày xung quanh chúng ta,  
phản biện như một lẽ đương nhiên, là hoạt động thường xuyên diễn ra giúp  
con người nhận thức bản chất các ý kiến, sự việc vấn đề và từ đó mỗi người  
có thể hoàn thiện, nâng cao nhận thức và như hành vi của mình. Phản biện  
xã hội có nhiều cách hiểu, thể hiện nhiều cấp độ và phương thức khác nhau;  
nhưng có thể hiểu là sự tham gia rộng rãi của xã hội – các tầng lớp xã hội,  
nhân dân các vùng miền trong việc góp ý kiến cho các chủ trương, quyết  
sách lớn của Đảng và Nhà nước trên các lĩnh vực chính trị - kinh tế - văn  
hóa – xã hội. Khi nói phản biện xã hội là sự tham gia rộng rãi của các tầng  
lớp xã hội, cũng đồng thời phải khẳng định vai trò của đội ngũ tri thức –  
linh hồn trí tuệ của cộng đồng dân tộc. Do đó, đất nước cần phải xây  
dựng để có đội ngũ tri thức tầm cao trí tuệ cùng với bản lĩnh bảo vệ chân  
lý, lẽ phải.  
Phản biện xã hội là quá trình huy động nguồn lực trí tuệ, tinh thần và  
cảm xúc của nhân dân, trước hết là thông qua việc khơi dậy nguồn lực trí  
tuệ trong xã hội, thể hiện sức mạnh DLXH vào việc khẳng định những  
cái tốt, cái hay, cái có lợi cho cộng đồng vì sự phát triển bền vững của  
đất nước trong các quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước; đồng thời chỉ  
ra những hạn chế, khiếm khuyết, thậm chí sai lầm hay sự lợi dụng và lạm  
dụng quyền lực, nhằm mưu lợi cá nhân hoặc vì lợi ích nhóm. Phản biện  
xã hội được thực hiện bằng nhiều con đường, cách thức khác nhau, như  
phản biện thông qua tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phản biện  
thông qua các tổ chức kinh tế - xã hội, …Nhưng trong xã hội hiện đại,  
phản biện bằng và thông qua báo chí - truyền thông đại chúng là phương  
tiện và cách thức có hiệu quả nhất. Bởi vì, phản biện thông qua báo chí  
và DLXH là cách phản biện trực tiếp nhất, kịp thời nhất, phong phú và  
sinh động nhất, tập hợp và tổ chức được nhiều nguồn lực trí tuệ và cảm  
xúc nhất, công khai minh bạch nhất, có tác dụng – hiệu quả nhanh nhất.  
Phản biện xã hội, do đó cũng đồng thời là môi trường, là trường học và  
phương cách nâng cao dân trí, giáo dục nhân cách công dân hiệu quả.  
Những phản biện của báo chí và DLXH xung quanh các vấn đề Đề án  
xây dựng đường sắt cao tốc Hà Nội – TP Hồ Chí Minh, Đề án quy hoạch  
Thủ đô Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn đến 2050, trục Thăng Long – Ba  
Vì,… trong phiên họp lần thứ 7 Quốc hội khóa XII là một dẫn chứng sinh  
động về phương thức khai thác và tập hợp nguồn lực xã hội cũng như sự  
trưởng thành văn hóa phản biện xã hội, hiệu quả phản biện của báo chí  
và DLXH đối với những vấn đề quan trọng của đất nước.  
38  
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam - 5/2010  
Thực hiện chức năng phản biện xã hội là báo chí góp phần khơi thức, tập  
hợp nguồn lực trí tuệ toàn dân, trước hết là đội ngũ tri thức, góp ý và phản  
biện các quyết sách lớn của Nhà nước trong quá trình xây dựng và thực  
hiện, nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững vì mục tiêu “dân giàu, nước  
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Đó là quá trình quán triệt  
quan điểm của Đảng CSVN “lấy dân làm gốc”, là tư tưởng về nhà nước dân  
chủ nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo đó, giám sát và phản biện xã  
hội bằng và thông qua báo chí thể hiện sinh động nhất của việc phát huy  
dân chủ xã hội và “quyền lực nơi dân”13. Dân chủ, theo Hồ Chí Minh, “Dân  
chủ có nghĩa là để cho người dân được mở mồm ra nói”14  
Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ: “Xây dựng quy chế giám  
sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã  
hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính  
sách, quyết định lớn của Đảng và việc tổ chức thực hiện, kể cả đối với  
công tác tổ chức và cán bộ”.  
Chẳng hạn, trước Tết Nguyên đán năm 2010, Trung tướng Đồng Sĩ  
Nguyên đã gửi thư cho Bộ Chính trị và Thủ tưởng Chính phủ, phản đối về  
việc nhiều tỉnh cho doanh nghiệp nước ngoài thuê rừng, nhưng mãi cuối  
tháng 2 năm 2010, báo chí mới thông tin và từ đó, hình thành tâm trạng bất  
an và lo âu, dư luận phản đối gay gắt vấn đề này. Nhờ đó, Thủ tướng Chính  
phủ đã cho kiểm tra, ra chỉ thị cho các tỉnh tạm dừng ngay việc cho công ty  
nước ngoài thuê rừng, đồng thời chấm dứt việc làm bất lợi này.  
Vấn đề khai khoáng tràn lan, bừa bãi ở Cao Bằng, chỉ sau loạt bài điều  
tra của Vietnamnet mới khơi nguồn dư luận phản đối, phẫn nộ về chủ  
trương và cách làm của Cao Bằng. Từ dư luận xã hội về những vấn đề  
này, diễn đàn trong và ngoài Hội trường của kỳ họp Quốc hội cũng nóng  
lên “vấn đề "loạn" khai thác khoáng sản gây thất thoát tài sản quốc gia;  
doanh nghiệp "chạy" dự án, địa phương quản lý lỏng, còn Trung ương  
"buông" đã làm "nóng" cả trong và ngoài Hội trường trong ngày thảo  
luận kinh tế - xã hội hôm nay (27/5)”15.  
Rõ ràng là báo chí không lên tiếng, không xã hội hóa các sự kiện thời  
sự đang diễn ra liên quan mật thiết đến lợi ích cơ bản, lợi ích sống còn  
của cộng đồng dân cư hay của nhân dân nói chung, thì công chúng và  
13 Trích từ câu nói của Hồ Chí Minh.  
14 Trích lại Tuổi trẻ online ngày 12.2.2006.  
15  
chinh-sach-912742/ Cập nhật lúc 19:29, Thứ năm, ngày 27/05/2010 (GMT+7).  
Vai trò phản biện…  
39  
nhân dân khó có thể biết, nên không thể bày tỏ thái độ, phán xét hay  
đánh giá kịp thời về các sự kiện và vấn đề ấy. Nói cách khác, báo chí  
không khơi nguồn thì khó có thể bùng lên dư luận xã hội về những vấn  
đề quốc kế dân sinh.  
Phản biện bằng báo chí, thông qua báo chí và DLXH là cách làm công  
khai, minh bạch, có thể giúp ngăn ngừa và hạn chế lạm dụng quyền lực  
trong bối cảnh thiếu vắng sự giám sát độc lập. Bởi vì, nếu không ngăn  
chặn, hạn chế được việc lạm dụng quyền lực, sẽ dẫn đến tha hóa quyền  
lực và tha hóa chế độ xã hội. Do đó, trong xã hội hiện đại, vai trò giám  
sát và phản biện xã hội của báo chí và DLXH ngày càng gia tăng, ngày  
càng có ý nghĩa quan trọng đặt biệt.  
4. Một số yếu tố tác động đến chất lượng phản biện xã hội của báo  
chí và dư luận xã hội  
Thứ nhất, không ngừng mở rộng tính công khai và dân chủ hoá đời  
sống xã hội, trước hết là dân chủ về kinh tế, tài chính, về công tác tổ  
chức - cán bộ. Tính công khai và dân chủ hoá xã hội được mở rộng đến  
đâu, thì vai trò, năng lực giám sát và phản biện xã hội của báo chí -  
DLXH tăng lên đến đấy. Bộ Chính trị TW Đảng khoá VIII đã ban hành  
Quy chế dân chủ cơ sở với quyết tâm chính trị là mở rộng và nâng cao  
chất lượng dân chủ cơ sở, nhưng trong thực tế kết quả còn chưa được  
như mong muốn. Mở rộng tính công khai và dân chủ hoá là một quá  
trình, một cuộc đấu tranh phức tạp, quyết liệt đòi hỏi bản lĩnh và văn hoá  
chính trị của người lãnh đạo, của bộ máy, sự kiên trì lâu dài và kiên định  
mục tiêu cũng như đòi hỏi bức xúc của nhân dân, của cuộc sống - của dư  
luận xã hội. Chống xu hướng của độc quyền, bưng bít thông tin để dung  
túng, chi phối và trục lợi. Chống độc quyền, hạn chế bưng bít thông tin,  
thực hiện dân chủ phải bằng các quy định pháp luật, đồng thời bằng cơ  
chế giám sát chặt chẽ nhằm hạn chế lạm dụng quyền lực. Như vậy, công  
khai, dân chủ không dừng lại ở khẩu hiệu chính trị suông, mà phải được  
bảo đảm bằng thể chế xã hội, bảo đảm hành lang pháp lý cho báo chí và  
DLXH thực hiện chức năng phản biện của mình. Dân chủ phải gắn với  
công khai thông tin, bảo đảm quyền được biết, được thông tin của nhân  
dân. Nhân dân có quyền được biết tổng số vay nợ nước ngoài, định  
hướng và hiệu quả đầu tư tiền vay cũng như tiền ngân sách; cần được  
công khai hiệu quả kinh doanh của các cơ sở kinh tế nhà nước, cũng như  
việc chi tiêu tài chính công trong các cơ quan. Chống khuynh hướng dân  
chủ hình thức, chiếu lệ hoặc lợi dụng “dân chủ” để trục lợi vì nhóm lợi  
40  
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam - 5/2010  
ích. Dân chủ nhân dân về nguyên tắc là thúc đẩy tự do báo chí, bảo đảm  
cho báo chí làm tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội, trước hết là  
giám sát các cơ quan và cán bộ trong bộ máy công quyền và phản biện  
đối với các đề án hay quyết sách lớn. Chính phủ có nghĩa vụ bảo vệ an  
ninh quốc gia và duy trì trật tự xã hội; nhưng đồng thời cũng chú ý bảo  
đảm thực hiện quyền được biết, quyền được thông tin của nhân dân;  
đồng thời đặc biệt chú ý lắng nghe, tiếp thu phản biện của báo chí và  
DLXH; coi phản biện xã hội là kênh thông tin quan trọng trong việc hoàn  
thiện chính sách, chủ trương và giải pháp quản lý, điều hành của mình.  
Sinh thời, V. I. Lê-nin đã dùng thuật ngữ “công khai và dân chủ hóa đời  
sống xã hội” từ đầu những năm hai mươi của thế kỷ XX như một giải pháp  
đột phá mở ra một kênh thông tin quan trọng để nắm bắt ý kiến, nguyện  
vọng và đề xuất của nhân dân; trong đó, đặc biệt quan trọng là ý kiến của  
các tri thức yêu nước, các nhà khoa học tâm huyết, trí tuệ và bản lĩnh.  
Thứ hai, nâng cao trình độ dân trí, trước hết và quan trọng nhất là  
trình độ hiểu biết của dân về các văn bản quy phạm pháp luật và thể chế  
phân chia quyền lực của Nhà nước. Bởi vì, giám sát là giám sát bằng  
pháp luật, thông qua và trên cơ sở pháp luật. Trong quá trình hội nhập  
vào WTO, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của chúng ta đã  
được xây dựng mới và bổ sung rất nhanh, nhưng sự hiểu biết của nhân  
dân về luật pháp còn rất nhiều hạn chế, ý thức chấp hành luật lại càng  
nhiều vấn đề. Do đó, muốn nâng cao năng lực giám sát và phản biện xã  
hội của mình, báo chí cần tích cực truyên truyền, giáo dục, giải thích cho  
nhân dân nhận thức đầy đủ và đúng đắn các chính sách và luật pháp của  
Nhà nước, động viên khích lệ nhân dân không chỉ tích cực thực hiện, mà  
còn có khả năng giám sát và phản biện quá trình thực hiện ấy. Mặt khác,  
cũng cần giám sát quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật.  
Người đứng đầu cơ quan hành pháp có nên là người đứng đầu cơ quan  
chống tham nhũng hay cần tách ra, độc lập? Việc phân chia quyền lực  
thông thường chỉ thể hiện ngắn gọn trong một văn bản ngắn, thậm chí  
trong một câu, nhưng có thể theo đó, của cải của nhân dân tuôn chảy vào  
túi một nhóm người nào đó vì sự lợi dụng và trục lợi do quyền lực không  
được kiểm soát chặt chẽ. Việc nâng cao dân trí, nâng cao trình độ am  
hiểu luật pháp của nhân dân liên quan chặt chẽ đến vai trò giám sát của  
đại biểu Quốc hội và của Quốc hội nói chung. Cần phải có cơ chế để  
Quốc hội không chỉ có tiếng, mà còn phải có quyền và cần sử dụng  
quyền của mình để bảo vệ lợi ích của nhân dân, của đất nước. Cần nâng  
Vai trò phản biện…  
41  
cao năng lực và quyền lực giám sát của Quốc hội, kết hợp chặt chẽ với  
giám sát và phản biện xã hội của báo chí và DLXH.  
Cần quán triệt mục đích, nguyên tắc, phương thức phản biện và xây  
dựng văn hóa phản biện, cũng như văn hóa và bản lĩnh tiếp nhận phản  
biện, nhằm tạo sự đồng thuận xã hội trong quá trình tranh luận - phản  
biện xã hội.  
Thứ ba, không ngừng nâng cao năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức  
và văn hoá chính trị của đội ngũ cán bộ công chức trong bộ máy công  
quyền các cấp, như dư luận xã hội đặt ra, không chỉ nâng cao dân trí mà  
còn phải nâng cao quan trí. Thái độ trách nhiệm của cán bộ công chức  
đối với các vấn đề báo chí và dư luận xã hội nêu ra không chỉ thể hiện  
trách nhiệm pháp lý trước nhân dân, trước Đảng, mà còn thể hiện văn  
hoá chính trị, đạo đức, lối sống và lương tâm của con người. Văn hoá  
chính trị không chỉ là một đòi hỏi chung chung, mà cần có quy định cụ  
thể và một định chế bắt buộc thực hiện, có sự giám sát của nhân dân, của  
báo chí và DLXH. Thời gian gần đây, báo chí lại thông tin về tranh luận  
xung quanh đồng ý hay không đồng ý xây dựng trục giao thông Hồ Tây  
– Ba Vì giữa thành phố Hà Nội và Bộ Xây dựng trước khi trình Thủ  
tướng Quy hoạch Thủ đô, cũng đã nảy sinh vấn đề văn hóa tranh luận.  
Cũng cần nhận thức rằng, chúng ta nên làm quen với việc phê phán hay  
chỉ trích trước một vấn đề, chứ không chỉ quen với việc ca ngợi và tán  
dương không thực chất.  
Thứ tư, không ngừng hoàn thiện môi trường pháp lý, xây dựng Nhà  
nước pháp quyền, tích cực làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội bằng  
thể chế phân chia quyền lực một cách khoa học, chặt chẽ, có cơ chế kiểm  
soát và giám sát quyền lực để chống lạm dụng quyền lực; chống bao biện  
làm thay, thậm chí tranh nhau làm, nhưng khi có sự cố lại chẳng ai chịu  
trách nhiệm cụ thể. Đảng ta chủ trương thực hiện tốt dân chủ và kiểm  
soát được quyền lực để chống tiêu cực, để phát triển kinh tế, xây dựng  
đất nước phồn vinh, nâng cao chất lượng cuộc sống. Đây là điều mong  
muốn cháy bỏng của nhân dân xuất phát từ những bài học lịch sử của đất  
nước trong những năm đổi mới và truyền thống văn hoá của dân tộc ta;  
cũng như từ những bài học lịch sử của sự sụp đổ Liên Xô. Chừng nào  
chưa có được một cơ chế chống lạm dụng quyền lực một cách hữu hiệu,  
quyền được biết, được thông tin của nhân dân chưa thực sự được tôn  
trọng..., thì vai trò giám sát, phản biện xã hội của báo chí và DLXH, của  
nhân dân sẽ còn bị hạn chế và đương nhiên năng lực lãnh đạo của Đảng  
42  
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam - 5/2010  
sẽ không được phát huy và niềm tin của nhân dân không những bị xói  
mòn, mà còn tiềm ẩn những nguy cơ ngoài mong đợi.  
Thứ năm, không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt, năng lực tác  
nghiệp, đạo đức và bản lĩnh nghề nghiệp cũng như cải thiện điều kiện  
làm việc cho đội ngũ nhà báo. Nhà báo phải là những người cần có trình  
độ, am hiểu cuộc sống, nhất là pháp luật- như sự hiểu biết, kinh nghiệm  
vận dụng và năng lực phân tích sự kiện và vấn đề pháp lý. Họ là những  
người có năng lực tác nghiệp thành thạo trong môi trường pháp lý, có  
bản lĩnh hành nghề trong những điều kiện phức tạp của kinh tế thị trường  
- khả năng tiếp cận nguồn tin, năng lực điều tra, thu thập và phân tích sự  
kiện pháp lý... Nhà báo thường hoạt động độc lập, đơn tuyến, nên ở họ  
cần phẩm chất đạo đức trong sáng. Cùng với đòi hỏi về trình độ, năng  
lực chuyên môn - bản lĩnh nghề nghiệp, phẩm chất chính trị và đạo đức,  
cần trang bị cho các nhà báo những phương tiện kỹ thuật - nghiệp vụ  
hiện đại, cơ chế cung cấp thông tin... để họ có thể tác nghiệp thuận lợi  
trong quá trình thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của báo  
chí, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập với thế giới.  
Quốc hội vừa thông qua Luật Phòng chống tham nhũng, theo đó, trao  
cho báo chí nhiều quyền hơn trong việc tiếp cận và khai thác thông tin  
phục vụ hoạt động điều tra của phóng viên. Cũng cần có hành lang pháp  
lý, có chế tài tạo điều kiện và bảo vệ nhà báo tác nghiệp trong điều kiện  
kinh tế thị trường diễn biến ngày càng phức tạp. Coi việc sử dụng báo chí  
- truyền thông và DLXH như một công cụ hữu ích nhất, nhằm thực hiện  
giám sát và phản biện xã hội, trong việc mở rộng tính công khai và dân  
chủ hoá đời sống xã hội, trong cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tham  
nhũng, làm lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế - xã hội là một trong  
những phương thức và giải pháp tối ưu hiện nay. Cần coi báo chí - truyền  
thông không chỉ là diễn đàn rộng rãi để mọi người dân bày tỏ chính kiến,  
bàn luận những vấn đề quốc kế dân sinh, mà còn là công cụ thể hiện và  
trường học nâng cao năng lực, trình độ dân trí về dân chủ và công khai,  
minh bạch cũng như công cụ tập hợp, tổ chức, huy động DLXH trong  
cuộc đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng.  
Thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội của báo chí - DLXH,  
tức là báo chí thể hiện tính độc lập của mình. Tính độc lập không có  
nghĩa là độc lập với chính trị - điều đó không bao giờ có. Báo chí và  
truyền thông là một công cụ thể hiện quyền lực chính trị. Tính độc lập ở  
đây có nghĩa là, khi thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội  
Vai trò phản biện…  
43  
của báo chí - DLXH, nhà báo không “theo đuôi”, nghe một cách thụ  
động, một chiều; phải coi trọng kết quả khai thác, điều tra độc lập của  
mình từ tai mắt của nhân dân và chịu trách nhiệm trước pháp luật về  
những thông tin và các dữ liệu mà mình điều tra được. Đảng và Nhà  
nước cũng cần những chứng cứ độc lập để phản biện chính sách, để đấu  
tranh chống tiêu cực, làm lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế - xã hội,  
trên cơ sở ấy có thể góp phần gây dựng và củng cố lòng tin của nhân dân  
vào bộ máy công quyền và chế độ xã hội. Thực tế phản biện xã hội của  
báo chí trong kỳ họp Quốc hội vừa qua đã chứng minh điều đó.  
Trong quá trình hoạt động, báo chí thực hiện tốt, có hiệu quả chức  
năng giám sát và phản biện xã hội của mình, tức là góp phần tích cực vào  
tính bền vững của sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đồng thời,  
đó cũng là giải pháp quan trọng tham gia xây dựng và quảng bá thương  
hiệu quốc gia ở trong nước và nhất là trên trường quốc tế trong thời kỳ  
hội nhập và phát triển bền vững./.  
____________________  
Tài liệu tham khảo  
1. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X.  
2. Mấy vấn đề về DLXH ở nước ta hiện nay (1989); Viện Dư luận xã hội, Ban Tuyên giáo TW;  
Hà Nội.  
3. Lương Khắc Hiếu (chủ biên) (1999); Dư luận xã hội trong sự nghiệp đổi mới Nxb. Chính trị  
quốc gia; Hà Nội.  
4. Nguyễn Quý Thanh (2005), Xã hội học về dư luận xã hội; Nxb. Đại học quốc gia, Hà Nội  
5. Tạp chí Xã hội học (Viện Xã hội học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam).  
6. Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông (Học viện Báo chí và Tuyên truyền).  
7. Nguyễn Văn Dững (1994), Báo chí và dư luận xã hội – các hình thức của mối quan hệ tác  
động; Luận án tiến sĩ báo chí; MGU.  
8. Nguyễn Văn Dững (chủ biên) (2000); Báo chí – Những điểm nhìn từ thực tiễn, tập 2, Nxb.  
Văn hóa Thông tin, Hà Nội.  
9. M. K. Garơskôp: Dư luận xã hội; M., Nxb. Chính trị, 1988. (Bản tiếng Nga).  
10. Tạp chí Những vấn đề triết học (LB Nga); số 11/1983.  
11. Paul Chanlter-Peter Stewart, Basic Radio Journalism, Focal Press, 2004.  
12. Robert L. Hilliard, Writing for Television, Radio and New Media, 8th edition, Thomson,  
Australia, Canada, Mexico, 2004.  
13. James Glen Stovall, Web Journalism, Pearson, the USA, 2004.  
14. Jonathan Bignell, An Introduction to Television Studies, Routledge, London and New York, 2004.  
15. Một số báo in và báo mạng điện tử.  
pdf 13 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 10360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò phản biện của báo chí và dư luận xã hội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_phan_bien_cua_bao_chi_va_du_luan_xa_hoi.pdf