Mối quan hệ giữa thương hiệu tổ chức và thương hiệu cá nhân trong lĩnh vực báo chí: Trường hợp tại Việt Nam

Tô Đình Tuân và Nguyễn Minh Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 3-22 3  
MỐI QUAN HỆ GIỮA THƯƠNG HIỆU TỔ CHỨC  
VÀ THƯƠNG HIỆU CÁ NHÂN TRONG LĨNH VỰC BÁO CHÍ:  
TRƯỜNG HỢP TẠI VIỆT NAM  
TÔ ĐÌNH TUÂN  
Ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh – [email protected]om  
NGUYỄN MINH HÀ  
Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh – [email protected].vn  
(Ngày nhận: 23/03/2018; Ngày nhận lại: 22/04/2018; Ngày duyệt đăng: 04/05/2018)  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu nhằm phân tích mối quan hệ giữa thương hiệu tổ chức và thương hiệu cá nhân trong lĩnh vực báo  
chí. Với số lượng khảo sát 520 nhà báo và sử dụng các kỹ thuật phân tích thống kê, phân tích Cronbach’s Alpha,  
EFA và SEM, kết quả nghiên cứu cho thấy i) Tên cơ quan báo chí có ảnh hưởng dương đến Hình ảnh cơ quan báo  
chí và danh tiếng của cơ quan báo chí; ii) Hình ảnh cơ quan báo chí có ảnh hưởng dương đến danh tiếng cơ quan  
báo chí và Sự cam kết/lòng trung thành của cơ quan báo chí; iii) Danh tiếng của cơ quan báo chí có ảnh hưởng  
dương đến Thương hiệu cá nhân của những nhà báo và Sự cam kết/lòng trung thành với nhân viên của cơ quan báo  
chí; iv) Sự cam kết/lòng trung thành của cơ quan báo chí ảnh hưởng dương đến thương hiệu cá nhân của nhà báo.  
Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy Tên cơ quan báo chí không ảnh hưởng đến thương hiệu cá nhân của những nhà báo  
và Sự cam kết/lòng trung thành của cơ quan báo chí; Hình ảnh cơ quan báo chí không ảnh hưởng đến Thương hiệu  
cá nhân của các nhà báo.  
Từ khóa: Báo chí; Nhà báo; Thương hiệu cá nhân; Thương hiệu tổ chức.  
The relationship between corporate brand and personal brand in the press: The case  
study in Vietnam  
ABSTRACT  
The study investigates the relationship between corporate brand and personal brand in the press in Vietnam.  
520 journalists and reporters were surveyed and the analysis of statistics, Cronbach Alpha, EFA and SEM was  
applied to the study, the results show that i) the name of press corporate positively influences the press corporate’s  
image and reputation, ii) the press corporate’s image strongly affects the press corporate’s reputation and  
commitment; iii) the press corporate’s reputation has a positive impact on journalists’ personal brands and the press  
corporate’s commitment; iv) the press corporate’s committment deeply influences journalists’ personal brands.  
However, the study demonstrates that the name of press corporate does not affect journalists’ personal brands and  
the press corporate’s commitment; the press corporate’s image does not influence journalists ’ personal brands.  
Keywords: Press; Journalist; Personal brand; Corporate brand.  
của các cơ quan báo chí được cấp phép), 67  
đài phát thanh, truyền hình. Tổng cộng có 950  
cơ quan báo chí, hơn 18.000 người được cấp  
thẻ nhà báo.  
Theo Holton và Molyneux (2015),  
thương hiệu - đặc biệt là thương hiệu báo chí  
là vấn đề đã và đang thu hút sự chú ý, quan  
1. Giới thiệu  
Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện  
nay tại Việt Nam có 860 tờ báo, tạp chí in  
(200 báo, 660 tạp chí), 135 báo, tạp chí điện  
tử (112 báo, tạp chí điện tử của cơ quan báo in  
và 23 báo, tạp chí điện tử độc lập, ngoài ra  
còn có 258 trang thông tin điện tử tổng hợp  
4 Tô Đình Tuân và Nguyễn Minh Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 3-22  
tâm của giới chuyên môn, các nhà nghiên cứu.  
Trong bối cảnh sự cạnh tranh thông tin ngày  
càng khốc liệt, công nghệ phát triển như vũ  
bão trong những năm gần đây, việc nghiên  
cứu về thương hiệu nói chung, thương hiệu  
trong lĩnh vực báo chí nói riêng ngày càng trở  
nên bức thiết.  
Việc nghiên cứu về thương hiệu trong  
lĩnh vực báo chí tại Việt Nam là một đòi hỏi  
cấp thiết (Đỗ Thị Thu Hằng, 2013). Tuy  
nhiên, theo sự hiểu biết của người nghiên cứu,  
đến thời điểm hiện nay tại Việt Nam chưa tìm  
thấy nghiên cứu khoa học nào về thương hiệu  
trong lĩnh vực báo chí. Do đó, sự hiểu biết về  
thương hiệu trong lĩnh vực báo chí còn khá  
mơ hồ, cách hiểu và sự ứng dụng lý thuyết  
vào thực tiễn có sự khác biệt. Vì vậy, tiềm  
năng to lớn của thương hiệu trong lĩnh vực  
báo chí chưa được phát huy.  
một số giải pháp nhằm làm tăng giá trị thương  
hiệu tổ chức và thương hiệu cá nhân trong  
lĩnh vực báo chí.  
2. Cơ sở lý thuyết và Mô hình nghiên  
cứu đề xuất  
2.1.Cơ sở lý thuyết  
Thương hiệu: Fournier (1998) cho rằng,  
thương hiệu là nhận thức, tình cảm và niềm  
tin của khách hàng, đối tác về tất cả các yếu tố  
của tổ chức.  
Thương hiệu tổ chức: Souiden và cộng sự  
(2006) định nghĩa thương hiệu tổ chức là  
những gì nổi bật nhất, tạo dấu ấn sâu đậm  
nhất của tổ chức đó đối với khách hàng, đối  
tác và công chúng; thương hiệu tổ chức bao  
gồm: Tên tổ chức, Hình ảnh tổ chức, Danh  
tiếng tổ chức và Sự cam kết/lòng trung thành  
của tổ chức đối với khách hàng, nhân viên và  
mục tiêu phát triển thị trường, đảm bảo chất  
lượng sản phẩm.  
Việc nghiên cứu thành công mối quan hệ  
giữa thương hiệu tổ chức và thương hiệu cá  
nhân sẽ cung cấp cho các nhà nghiên cứu  
khoa học về báo chí và những người đã, đang,  
sẽ làm công tác báo chí một cơ sở lý thuyết  
vững chắc để có sự hiểu biết sâu sắc về  
thương hiệu báo chí. Từ đó, các nhà nghiên  
cứu về báo chí sẽ có nhiều công trình nghiên  
cứu về thương hiệu báo chí cũng như về mối  
quan hệ giữa Thương hiệu tổ chức và Thương  
hiệu cá nhân nhà báo. Bên cạnh đó, kết quả  
nghiên cứu về mối quan hệ giữa Thương hiệu  
tổ chức và Thương hiệu cá nhân nhà báo sẽ  
cung cấp cho lãnh đạo, quản lý các cơ quan  
báo chí cơ sở khoa học đáng tin cậy để họ có  
thể ứng dụng vào thực tế tại đơn vị, phát triển  
thương hiệu tổ chức của họ. Ngoài ra, các nhà  
báo có mong muốn xây dựng thương hiệu cá  
nhân cũng sẽ có một cơ sở khoa học để ứng  
dụng vào thực tiễn, từng bước phát triển và  
duy trì thương hiệu cá nhân của mình.  
Thương hiệu cá nhân: Theo Schawbel  
(2010), thương hiệu cá nhân là hình ảnh, giá  
trị bản thân của một cá nhân giúp người khác  
phân biệt được cá nhân đó với mọi người  
xung quanh. Thương hiệu cá nhân chính là  
hình ảnh của một con người trước công  
chúng, cộng đồng, có thể đo lường được  
thông qua các tiêu chí được xếp theo thứ tự:  
(i) Mức độ được biết đến; (ii) Những giá trị,  
thành tích hay phẩm chất; (iii) Mức độ ảnh  
hưởng với công chúng.  
Mối quan hệ giữa các thành phần của  
thương hiệu tổ chức và thương hiệu cá nhân  
Từ định nghĩa của Souiden và cộng sự  
(2006), Thương hiệu tổ chức có 4 thành phần:  
Tên tổ chức, Hình ảnh tổ chức, Danh tiếng tổ  
chức và Sự cam kết của tổ chức. Do đó,  
nghiên cứu sẽ phân tích từng thành phần của  
Thương hiệu tổ chức đều tác động với nhau  
và mỗi thành phần của Thương hiệu tổ chức  
đều tác động đến Thương hiệu cá nhân.  
Tên tổ chức đối với các thành phần  
khác của thương hiệu tổ chức và thương  
hiệu cá nhân  
Từ những yêu cầu đó, nghiên cứu đi sâu  
phân tích mối quan hệ giữa thương hiệu tổ  
chức và thương hiệu cá nhân trong lĩnh vực  
báo chí. Căn cứ vào kết quả nghiên cứu và  
tình hình thực tế, nghiên cứu cũng sẽ đề xuất  
Mỗi con người, mỗi đồ vật, tổ chức…  
Tô Đình Tuân và Nguyễn Minh Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 3-22 5  
đều có tên. Tên là cách để người ta gọi và  
hiểu đúng về đối tượng đó. Tên tổ chức trước  
tiên có tác dụng xác định một thương hiệu và  
tạo điều kiện cho định hình vị trí thương hiệu.  
Tên tổ chức là cách rõ ràng nhất để phân biệt  
với những thương hiệu khác (Hankinson và  
Cowking, 1993).  
các đối tác, khách hàng nhưng nên gắn liền  
với lĩnh vực đang hoạt động; không thể hiện  
quá những khả năng mà tổ chức đó có thể đáp  
ứng. Việc đặt tên cho tổ chức cũng có thể thay  
đổi theo thời gian, tùy thuộc vào điều kiện,  
thực tế hoạt động. Sau một thời gian hoạt  
động, có không ít tổ chức buộc phải thay đổi  
tên để xác định lại hình ảnh tổ chức của mình.  
Khi một tổ chức cần phá vỡ hình ảnh quá khứ  
và thiết lập một hình ảnh mới, việc thay đổi  
tên tổ chức có thể giúp họ thay đổi một phần  
nào đó hình ảnh cũ của tổ chức (Gregory và  
Wiechmann, 1999).  
Theo Schawbel (2010), tên của tổ chức  
có tác động đến danh tiếng của tổ chức đó.  
Tên tổ chức là yếu tố đầu tiên, quan trọng  
nhất để mọi người đánh giá về danh tiếng của  
tổ chức đó. Ở góc độ ngược lại, danh tiếng  
của tổ chức khẳng định giá trị đối với tên của  
tổ chức.  
Souiden và cộng sự (2006) cho rằng tên  
của tổ chức có tác động đến lòng trung thành  
với tổ chức của người tiêu dùng và các cá  
nhân đang làm việc, cống hiến cho tổ chức đó.  
Người tiêu dùng thường có lòng trung thành  
với những sản phẩm có cái tên quen thuộc,  
nổi tiếng, uy tín. Những tổ chức có tên nổi  
tiếng, là “thương hiệu lớn” thường có sự cam  
kết/lòng trung thành với mục tiêu phát triển đã  
đề ra; luôn đảm bảo quyền lợi cho nhân viên,  
sẵn sàng hỗ trợ nhân viên nếu họ bị tai nạn  
trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được tổ  
chức giao.  
Tên của một tổ chức còn là biểu tượng  
của tổ chức, tượng trưng cho quyền sở hữu,  
giúp mọi người đưa ra quyết định mua hàng,  
hợp tác, làm việc với tổ chức đó nhanh hơn.  
Ngoài ra, tên tổ chức đảm bảo với khách hàng  
rằng các tính năng, chức năng và đặc điểm  
của thương hiệu được thể hiện trên các sản  
phẩm của tổ chức đó, nó sẽ không thay đổi  
theo thời gian. Tên tổ chức có ảnh hưởng trực  
tiếp đến thương hiệu cá nhân của người tiêu  
dùng, các đối tác và những người thuộc tổ  
chức đó. Người tiêu dùng, các đối tác cảm  
thấy an tâm, tự tin, thậm chí là có phong cách,  
đẳng cấp, có thương hiệu khi sử dụng hàng  
hóa hoặc làm việc, hợp tác với các tổ chức có  
tên quen thuộc, nổi tiếng như Sony, Toyota,  
Sanyo, Samsung, Hyundai, Apple, Google,…  
Nhân viên làm việc trong các tổ chức có tên  
tuổi, nổi tiếng, uy tín cũng cho biết thương  
hiệu cá nhân của họ được nâng cao và đảm  
bảo hơn so với các nhân viên đang làm việc  
trong các tổ chức ít nổi tiếng khác (Hankinson  
và Cowking, 1993).  
Theo Souiden và cộng sự (2006), tên của  
tổ chức tác động đến hình ảnh tổ chức. Thông  
thường, ngay khi nghe tên của một tổ chức  
nào đó, trong não bộ mỗi người sẽ xuất hiện  
hình ảnh bao quát về tổ chức đó. Hình ảnh  
xuất hiện có thể tích cực hoặc tiêu cực tùy  
thuộc vào việc xây dựng hình ảnh của tổ chức  
đó và quan điểm, góc nhìn, sự cảm nhận của  
mỗi người. Tên của tổ chức luôn tạo ấn tượng  
đầu tiên nên rất quan trọng đối với khách  
hàng, đối tác. Ấn tượng tốt thường tạo cho họ  
cảm giác tốt về tổ chức đó hoặc ngược lại.  
Việc đặt tên cho tổ chức phải hướng đến  
việc góp phần xây dựng một hình ảnh tổ chức  
tích cực, tạo cảm giác an tâm, lạc quan cho  
Từ những lý luận trên, nghiên cứu đề xuất  
một số giả thuyết như sau:  
H1: Tên tổ chức có tác động dương đến  
thương hiệu cá nhân của những người đang  
làm việc tại tổ chức.  
H2: Tên tổ chức có tác động dương đến  
hình ảnh của tổ chức.  
H3. Tên tổ chức có tác động dương đến  
danh tiếng của tổ chức.  
H4. Tên tổ chức có tác động dương đến  
sự cam kết của tổ chức đó đối với quyền lợi  
của nhân viên.  
6 Tô Đình Tuân và Nguyễn Minh Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 3-22  
chức cũng được tác động bởi sự cam kết/lòng  
trung thành của tổ chức đối với mục tiêu phát  
triển và đảm bảo quyền lợi của nhân viên. Tổ  
chức nào luôn đảm bảo sự cam kết/lòng trung  
thành với mục tiêu phát triển và bảo vệ quyền  
lợi cho nhân viên, hỗ trợ họ khi gặp tai nạn  
trong lúc thực hiện nhiệm vụ của tổ chức thì  
hình ảnh tổ chức đó thường tốt đẹp, tích cực  
hoặc ngược lại.  
Từ những phân tích trên, nghiên cứu đề  
xuất một số giả thuyết như sau:  
H5: Hình ảnh tổ chức có tác động dương  
đến thương hiệu cá nhân của những người  
đang làm việc tại tổ chức.  
H6: Hình ảnh tổ chức có tác động dương  
đến danh tiếng của tổ chức.  
H7: Hình ảnh tổ chức có tác động dương  
đến sự cam kết của tổ chức đối với quyền lợi  
của nhân viên.  
Danh tiếng của tổ chức đối với các  
thành phần của thương hiệu tổ chức và  
thương hiệu cá nhân.  
Theo Druckenmiller (2004), lãnh đạo  
nhiều tổ chức ngày càng nhận ra tầm quan  
trọng của danh tiếng tổ chức bởi danh tiếng tổ  
chức có tác động tích cực để đạt được mục  
tiêu kinh doanh và duy trì sự cạnh tranh.  
Trong những năm gần đây, nhiều tổ chức lớn  
và có thương hiệu đã học được những bài học  
cay đắng về sự giảm sút uy tín của họ đã gây  
hại cho nhân viên và làm giảm lòng trung  
thành của khách hàng, đe dọa tài chính và cả  
sự sống còn của tổ chức. Trong nhiều năm  
qua, sự giám sát công khai của công chúng  
ngày càng cao; sự phổ biến rộng rãi của các  
phương tiện truyền thông, nhu cầu của các  
nhà đầu tư là tăng tính minh bạch và trách  
nhiệm xã hội ngày càng được quan tâm. Tất  
cả những điều đó khiến các tổ chức ngày càng  
quan tâm đến việc tạo ra, duy trì và phát triển  
danh tiếng tổ chức. Việc phát triển thương  
hiệu của tổ chức có liên quan đến danh tiếng  
của tổ chức. Nói cách khác, Danh tiếng tổ  
chức có sự tác động mạnh mẽ đến thương  
hiệu tổ chức và thương hiệu cá nhân của  
những người làm việc cho tổ chức đó.  
Hình ảnh tổ chức đối với các thành  
phần của thương hiệu tổ chức và thương  
hiệu cá nhân.  
Hình ảnh tổ chức là những hình ảnh gắn  
liền với bản chất của tổ chức; giúp mọi người  
hình dung một cách nhanh chóng, trực quan  
nhất về một tổ chức. Hình ảnh tổ chức gắn  
liền với tên của một tổ chức. Theo Kennedy  
(1977), hình ảnh tổ chức luôn đóng một vai  
trò quan trọng trong quá trình xây dựng và  
phát triển của tổ chức. Hình ảnh tổ chức là  
một tài sản có giá trị mà tổ chức cần phải  
quản lý (Abratt và Mofokeng, 2001). Hatch và  
cộng sự (2003) cũng cho rằng, hình ảnh tổ  
chức có vai trò hết sức quan trọng đối với sự  
tồn tại và phát triển của tổ chức. Nếu hình ảnh  
tổ chức tích cực sẽ tạo thuận lợi cho tổ chức  
đó. Ngược lại, nếu hình ảnh tổ chức tiêu cực  
sẽ gây khó khăn cho tổ chức. Đối với một  
doanh nghiệp, việc có một hình ảnh tốt, tích  
cực có thể ảnh hưởng đến doanh số bán hàng  
và thị trường cổ phiếu của doanh nghiệp đó  
(Shapiro,1983). Do đó, bất cứ tổ chức nào  
cũng cần duy trì một hình ảnh tích cực trong  
lòng mọi người.  
Hsieh và cộng sự (2004) kết luận rằng  
hình ảnh tổ chức có thể ảnh hưởng đến hành  
vi của người tiêu dùng hoặc đối tác. Hình ảnh  
tổ chức là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng  
đến nhận thức về chất lượng, đánh giá của  
người tiêu dùng về sự hài lòng và lòng trung  
thành của khách hàng; tác động đến thương  
hiệu cá nhân của người tiêu dùng và những  
nhân viên đang làm việc tại tổ chức đó. Một  
số nhà nghiên cứu khẳng định rằng hình ảnh  
tổ chức có khả năng tạo nên uy tín của tổ  
chức. Một hình ảnh tổ chức tích cực, tốt đẹp  
sẽ dẫn đến việc hình thành danh tiếng của tổ  
chức trong tâm trí của công chúng. Nói cách  
khác, danh tiếng của tổ chức được hình thành  
qua thời gian bởi những ấn tượng lặp đi lặp lại  
của hình ảnh tổ chức.  
Bhattacharya và Sen (2003) cho rằng một  
tổ chức có hình ảnh tích cực, tốt đẹp sẽ khiến  
cho nhân viên gắn bó, trung thành hơn với tổ  
chức đó. Nhưng đồng thời, hình ảnh của tổ  
Tô Đình Tuân và Nguyễn Minh Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 3-22 7  
Gotsi và Wilson (2001) kết luận rằng, có  
một mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau  
giữa Danh tiếng tổ chức và Hình ảnh tổ chức.  
Theo Souiden và cộng sự (2006), Danh  
tiếng tổ chức có ảnh hưởng đáng kể đến lòng  
trung thành của tổ chức. Danh tiếng tổ chức  
cũng là một trung gian hòa giải về ảnh hưởng  
của Hình ảnh tổ chức đối với việc đánh giá  
sản phẩm, chất lượng công việc của người  
tiêu dùng hoặc đối tác đối với tổ chức đó.  
Theo Saraniemi và cộng sự (2010), danh  
tiếng của tổ chức được củng cố thông qua  
cách điều hành tổ chức của những người quản  
lý. Tất cả mọi người trong một tổ chức đều có  
thể ảnh hưởng đến danh tiếng của tổ chức, có  
thể là tích cực hoặc tiêu cực. Để giữ gìn danh  
tiếng của tổ chức, những người trong bộ máy  
cần thực hiện tốt những gì đã hứa, làm việc  
với chất lượng tốt và cố gắng giải quyết sớm  
các vấn đề mới phát sinh. Một tổ chức có  
danh tiếng tốt sẽ dễ dàng hơn khi xây dựng  
một thương hiệu tổ chức tốt; nhờ đó, các nhân  
viên làm việc trong tổ chức đó cũng sẽ được  
“thơm lây”, giá trị thương hiệu cá nhân của  
mỗi người sẽ tăng lên. Đó là lý do khiến nhân  
viên trong những tổ chức có thương hiệu hoặc  
đang phát triển thương hiệu phải nỗ lực làm  
việc, cống hiến cho tổ chức và gắn bó lâu dài  
với tổ chức của họ. Ngoài ra, các tổ chức có  
danh tiếng thường duy trì tốt sự cam kết/lòng  
trung thành về mục tiêu phát triển đã đề ra và  
đảm bảo quyền lợi cho nhân viên, hỗ trợ nhân  
viên khi họ gặp tai nạn, khó khăn trong lúc  
thực hiện nhiệm vụ của tổ chức, thậm chí lúc  
nhân viên đã về hưu. Những hành động này  
tác động vào danh tiếng tổ chức nói riêng và  
thương hiệu tổ chức nói chung.  
Sự cam kết của tổ chức đối với các  
thành phần của thương hiệu tổ chức và  
thương hiệu cá nhân.  
Theo Saraniemi và cộng sự (2010), sự  
cam kết đã trở thành một mục tiêu quan trọng  
đối với nhiều tổ chức, nhất là trong bối cảnh  
cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Mỗi tổ chức  
đều có sự cam kết đảm bảo quyền lợi cho  
nhân viên… Sự cam kết của tổ chức góp phần  
tạo ra uy tín, củng cố thương hiệu của tổ chức.  
Cũng chính sự cam kết của tổ chức đối với  
quyền lợi của nhân viên tác động đến thương  
hiệu cá nhân của những nhân viên đang làm  
việc trong tổ chức đó. Nếu sự cam kết của tổ  
chức được duy trì, đảm bảo thì giá trị thương  
hiệu của tổ chức và giá trị thương hiệu cá  
nhân của những nhân viên đang làm việc  
trong tổ chức đó càng tăng. Ngược lại, nếu sự  
cam kết của tổ chức đối với quyền lợi của  
nhân viên không được đảm bảo thì giá trị  
thương hiệu tổ chức sẽ bị sụt giảm; thương  
hiệu cá nhân của nhân viên bị tác động tiêu  
cực. Thực tế cho thấy, nhiều người không  
mong muốn làm việc trong một tổ chức không  
giữ lời hứa với khách hàng, không thực hiện  
đúng các cam kết về chất lượng sản phẩm,  
không đảm bảo quyền lợi cho nhân viên vì  
điều đó gây tổn hại uy tín cá nhân của họ.  
Với các tổ chức luôn đảm bảo sự cam kết  
đối với quyền lợi của nhân viên, không chỉ tác  
động đến thương hiệu của những nhân viên  
đang làm việc trong tổ chức đó mà còn tạo  
dựng và duy trì lòng trung thành của nhân viên  
đối với tổ chức đó. Căn cứ trên các nhận định,  
đánh giá này, nghiên cứu đề ra giả thuyết sau:  
H10: Sự cam kết của tổ chức đối với  
quyền lợi của nhân viên có tác động dương  
đến thương hiệu cá nhân.  
Nghiên cứu đề xuất một số giả thuyết  
như sau:  
2.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
H8: Danh tiếng của tổ chức có tác động  
dương đến thương hiệu cá nhân của những  
người đang làm việc tại tổ chức.  
H9: Danh tiếng của tổ chức có tác động  
dương đến sự cam kết của tổ chức đối với  
quyền lợi của nhân viên.  
Dựa vào cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu  
trước của Souiden và cộng sự (2006),  
Saraniemi và cộng sự (2010) và kết quả nghiên  
cứu định tính, mô hình nghiên cứu về mối quan  
hệ giữa thương hiệu tổ chức và thương hiệu cá  
nhân được trình bày trong Hình 1 sau:  
8 Tô Đình Tuân và Nguyễn Minh Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 3-22  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa thương hiệu tổ chức và thương hiệu cá nhân  
3. Phương pháp nghiên cứu và Dữ liệu  
nghiên cứu  
3.2. Dữ liệu nghiên cứu  
Nghiên cứu thực hiện lấy mẫu bằng  
phương pháp phi xác suất (phương pháp thuận  
tiện). Dữ liệu nghiên cứu được thu thập bằng  
cách phỏng vấn trực tiếp, gửi bảng câu hỏi  
trực tiếp cho 520 nhà báo; Số lượng phiếu thu  
về là 515, đạt tỷ lệ là 99,04% so với phiếu  
phát ra; Số lượng phiếu hợp lệ là 508, chiếm  
98,64% số lượng phiếu thu về.  
Toàn bộ dữ liệu thu thập được xử lý bằng  
phần mềm SPSS, AMOS, kiểm định thang đo,  
phân tích nhân tố khám phá (EFA) và SEM.  
4. Kết quả nghiên cứu  
3.1. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu gồm 2 bước chính: nghiên  
cứu định tính và nghiên cứu định lượng.  
Nghiên cứu định tính bằng khảo sát ý kiến  
chuyên gia để bổ sung và hiệu chỉnh thang đo.  
Phỏng vấn trực tiếp mặt đối mặt 10 nhà báo  
đang công tác tại các báo trung ương và  
Thành phố Hồ Chí Minh nhằm trao đổi chi  
tiết về các nội dung cần nghiên cứu cũng như  
các thang đo trong nghiên cứu.  
Sau khi thực hiện nghiên cứu định tính để  
hoàn thiện thang đo, nghiên cứu tiến hành  
phân tích định lượng, phân tích SEM (Mô  
hình cấu trúc) để xác định các yếu tố tác động  
đến thương hiệu tổ chức, các yếu tố tác động  
đến thương hiệu cá nhân và mối quan hệ giữa  
thương hiệu tổ chức và thương hiệu cá nhân  
trong lĩnh vực báo chí.  
4.1. Phân tích thống kê mẫu theo các  
đặc tính  
Về tuổi tác, trong 508 nhà báo được khảo  
sát, lứa tuổi 31- 40 chiếm tỷ lệ cao nhất với  
42,91%; lứa tuổi 51- 60 chiếm tỷ lệ thấp nhất  
với 6,1%. Về giới tính, tỷ lệ nhà báo nam  
chiếm 53,54%; tỷ lệ nhà báo nữ chiếm  
46,46%. Về tình trạng hôn nhân, tỷ lệ nhà  
báo đã lập gia đình là 71,85%, 117 người độc  
thân (23,03%) và 26 người ly thân, ly hôn  
(5,12%). Về quê quán, các nhà báo có quê  
quán ở miền Nam nhiều nhất (chiếm 38,38%),  
Nghiên cứu này sử dụng Thang đo Likert  
5, với: 1. Hoàn toàn không đồng ý; 2. Không  
đồng ý; 3. Bình thường; 4. Đồng ý; 5. Rất  
đồng ý. Thang đo chính thức bao gồm 39 biến  
quan sát.  
Tô Đình Tuân và Nguyễn Minh Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 3-22 9  
kế đến là miền Trung (35,27%), ít nhất là  
miền Bắc (26,38%). Về vị trí công việc, trong  
số 508 nhà báo được khảo sát, có 231 nhà báo  
đang thực hiện vai trò phóng viên (chiếm  
45,47%), 150 nhà báo là biên tập viên (chiếm  
29,53%), 94 nhà báo là cán bộ quản lý, lãnh  
đạo (18,5%) và 33 người đang giữ những vai  
trò, vị trí công việc khác (6,5%). Về trình độ  
học vấn, số lượng nhà báo được đào tạo đại  
học chiếm tỷ lệ cao nhất với 85,83%; trên đại  
học là 62 người (0,27%) và cao đẳng 10 người  
(1,97%). Về đào tạo chuyên ngành báo chí,  
trong tổng số 508 nhà báo được khảo sát, có  
325 nhà báo được đào tạo chuyên ngành báo  
chí (chiếm 63,97%); 183 nhà báo không được  
đào tạo chuyên ngành báo chí (chiếm  
36,02%). Về loại hình báo chí, số lượng nhà  
báo làm việc tại các cơ quan báo in là 227  
người (chiếm 44,68%); số nhà báo làm việc  
tại các đài truyền hình là 93 người (chiếm  
18,31%); số nhà báo làm việc tại đài phát  
thanh là 99 người (chiếm 19,49%); số nhà báo  
làm việc tại các báo điện tử/trang thông tin  
điện tử là 89 người (chiếm 17,52%). Về kinh  
nghiệm, số nhà báo có 6 -10 năm kinh  
nghiệm là 125 người (chiếm 24,61%); 10 -15  
năm kinh nghiệm là 101 người (chiếm  
19,88%); 16 - 20 năm kinh nghiệm là 122  
người (chiếm 24,02%); 21 - 30 năm là 80  
người (chiếm 0,19%).  
4.2. Phân tích thống kê các biến quan sát  
Về Thương hiệu cá nhân (THCN)  
Bảng 1  
Kết quả thống kê về Thương hiệu cá nhân  
Ký hiệu  
Các biến quan sát  
N
Min  
Max  
Mean Std.Dev  
THCN1 Bạn được nhiều bạn đọc, đồng nghiệp 508  
trong lĩnh vực báo chí biết đến.  
1.0  
5.0  
3.488  
3.447  
3.748  
.8870  
.9119  
.6990  
THCN2 Bạn có các tác phẩm báo chí thu hút sự 508  
quan tâm của bạn đọc.  
1.0  
1.0  
5.0  
5.0  
THCN3 Bạn thường được đồng nghiệp đánh giá 508  
tích cực về năng lực chuyên môn, nghiệp  
vụ báo chí.  
THCN4 Bạn được mọi người đánh giá là có đạo 508  
đức nghề nghiệp.  
1.0  
1.0  
1.0  
5.0  
5.0  
5.0  
4.138  
3.799  
3.992  
.7356  
.7504  
.6851  
THCN5 Bạn được cho rằng đã đóng góp tích cực 508  
cho cộng đồng.  
THCN6 Bạn được đánh giá là có khả năng hợp 508  
tác tốt với đồng nghiệp trong lĩnh vực  
báo chí.  
THCN7 Bạn thường được tham dự (đối với phóng 508  
viên) để đưa tin hoặc biên tập (đối với  
biên tập viên) hoặc duyệt (đối với quản  
lý, lãnh đạo) các sự kiện quan trọng.  
1.0  
1.0  
5.0  
5.0  
3.650  
3.537  
.9184  
.7998  
THCN8 Bạn được nhiều bạn bè, đồng nghiệp 508  
trong lĩnh vực báo chí nể phục.  
10 Tô Đình Tuân và Nguyễn Minh Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 3-22  
Biến “Bạn được mọi người đánh giá là có  
đạo đức nghề nghiệp” (THCN4) được đánh  
giá cao nhất, với giá trị trung bình là 4.138.  
Biến ’Bạn có các tác phẩm báo chí thu hút sự  
quan tâm của bạn đọc’ (THCN2) có giá trị  
trung bình thấp nhất là 3.447.  
Về Tên cơ quan (tổ chức) báo chí  
(TCQBC)  
Bảng 2  
Kết quả thống kê về Tên cơ quan báo chí  
Ký hiệu  
Các biến quan sát  
N
Min Max Mean Std.Dev  
TCQBC1 Tên cơ quan báo chí xuất bản các sản 508  
phẩm báo chí nổi tiếng/được nhiều người  
biết đến (well known).  
1.0  
5.0  
4.118  
.7881  
TCQBC2 Tên cơ quan báo chí được nhiều người 508  
1.0  
1.0  
1.0  
5.0  
5.0  
5.0  
4.096  
4.035  
3.872  
.8047  
.7343  
.8574  
quan tâm.  
TCQBC3 Sản phẩm báo chí luôn gắn liền với tên 508  
cơ quan báo chí làm ra sản phẩm báo chí.  
TCQBC4 Tên cơ quan báo chí thể hiện đối tượng 508  
bạn đọc chính cần quan tâm (tầng lớp,  
giới tính, độ tuổi…).  
TCQBC5 Sản phẩm báo chí vừa mang tên cơ quan 508  
báo chí, vừa thể hiện loại hình truyền  
thông (như: báo, radio, tivi; nhật báo, tạp  
chí, tuần báo,…).  
1.0  
5.0  
3.843  
.8254  
Tên cơ quan báo chí xuất bản các sản  
phẩm báo chí nổi tiếng/được nhiều người biết  
đến (TCQBC1), với giá trị trung bình là  
4.118; tuy nhiên biến ‘Sản phẩm báo chí vừa  
mang tên cơ quan báo chí, vừa thể hiện loại  
hình truyền thông (như: báo, radio, tivi; nhật  
báo, tạp chí, tuần báo,…)’ (TCQBC5) có giá  
trị thấp nhất là 3.843. Nhìn chung, các biến  
quan sát trong yếu tố này được đánh giá tương  
đối cao.  
Về Hình ảnh cơ quan (tổ chức) báo chí  
(HACQBC)  
Bảng 3  
Kết quả thống kê về Hình ảnh cơ quan báo chí  
Ký hiệu  
Các biến quan sát  
N
Min Max Mean Std.Dev  
HACQBC1 Hình ảnh cơ quan báo chí thể hiện là đơn vị 508 1.0  
có sự sáng tạo trong lĩnh vực báo chí.  
5.0 3.831 .8719  
5.0 3.823 .8520  
5.0 3.783 .8795  
5.0 3.874 .8402  
HACQBC2 Hình ảnh cơ quan báo chí thể hiện là đơn vị 508 1.0  
có tính tiên phong trong lĩnh vực báo chí.  
HACQBC3 Hình ảnh cơ quan báo chí thể hiện là đơn vị 508 1.0  
có sự thành công trong lĩnh vực báo chí.  
HACQBC4 Hình ảnh cơ quan báo chí thể hiện là đơn vị 508 1.0  
có sự tự tin trong lĩnh vực báo chí.  
Tô Đình Tuân và Nguyễn Minh Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 3-22 11  
Ký hiệu  
Các biến quan sát  
N
Min Max Mean Std.Dev  
HACQBC5 Hình ảnh cơ quan báo chí thể hiện là đơn vị 508 1.0  
có sự trung thực, nhân văn trong lĩnh vực  
báo chí.  
5.0 3.707 .9476  
HACQBC6 Hình ảnh cơ quan báo chí thể hiện là đơn vị 508 1.0  
có sự cởi mở với bạn đọc.  
5.0 3.679 .8733  
5.0 3.624 .9028  
5.0 3.764 .9033  
HACQBC7 Hình ảnh cơ quan báo chí thể hiện là đơn vị 508 1.0  
luôn sẵn sàng phản hồi với bạn đọc.  
HACQBC8 Hình ảnh cơ quan báo chí thể hiện đó có 508 1.0  
phải là đơn vị có trách nhiệm với xã hội hay  
không.  
HACQBC9 Hình ảnh cơ quan báo chí thể hiện là đơn vị 508 1.0  
tin cậy để người dân phản ánh những điều  
tốt và chưa tốt của cuộc sống.  
5.0 3.917 .7596  
“Hình ảnh cơ quan báo chí thể hiện là  
đơn vị tin cậy để người dân phản ánh những  
điều tốt và chưa tốt của cuộc sống”  
(HACQBC9) được đánh giá cao nhất, với giá  
trị trung bình là 3.917. Biến ‘Hình ảnh cơ  
quan báo chí thể hiện là đơn vị luôn sẵn sàng  
phản hồi với bạn đọc.’ (HACQBC7) có giá trị  
trung bình thấp nhất là 3.624. Nhìn chung, các  
biến quan sát trong nhân tố này không được  
đánh giá cao, không có biến quan sát nào có  
giá trị trung bình trên 4.  
Về Danh tiếng cơ quan (tổ chức) báo chí  
(DTCQBC)  
Bảng 4  
Kết quả thống kê về Danh tiếng cơ quan báo chí  
Ký hiệu  
Các biến quan sát  
N
Min Max Mean Std.Dev  
DTCQBC1 Cơ quan báo chí tạo ra các sản phẩm báo 508 1.0  
chí có sức hấp dẫn đối với bạn đọc.  
5.0 3.996 .8116  
5.0 4.116 .7694  
5.0 3.982 .8366  
DTCQBC2 Cơ quan báo chí tạo ra các sản phẩm báo 508 1.0  
chí có trách nhiệm với xã hội.  
DTCQBC3 Cơ quan báo chí tạo ra các sản phẩm báo 508 1.0  
chí có chất lượng tốt (hay, đúng, nhanh,  
nhân văn) được bạn đọc đánh giá cao.  
DTCQBC4 Cơ quan báo chí tạo ra sản phẩm báo chí có 508 1.0  
tính đi đầu, đột phá trong lĩnh vực báo chí,  
được xã hội ghi nhận.  
5.0 4.069 .7802  
5.0 4.030 .7902  
DTCQBC5 Cơ quan báo chí tạo ra sản phẩm báo chí có 508 1.0  
tính chiến đấu cao, đấu tranh chống tiêu  
cực có hiệu quả.  
12 Tô Đình Tuân và Nguyễn Minh Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 3-22  
Ký hiệu  
Các biến quan sát  
N
Min Max Mean Std.Dev  
DTCQBC6 Cơ quan báo chí tham gia tích cực các hoạt 508 1.0  
động từ thiện-xã hội; cứu trợ nạn nhân  
thiên tai, giúp đỡ người nghèo.  
5.0 4.018 .8054  
DTCQBC7 Môi trường làm việc trong cơ quan báo chí 508 2.0  
tốt.  
5.0 4.026 .7170  
5.0 3.537 .8930  
5.0 4.134 .7283  
5.0 3.795 .7546  
DTCQBC8 Tình hình tài chính trong cơ quan báo chí 508 1.0  
tốt.  
DTCQBC9 Cơ quan báo chí thực hiện đúng tôn chỉ, 508 1.0  
mục đích, chức năng, nhiệm vụ được giao.  
DTCQBC10 Cơ quan báo chí đáp ứng nhu cầu thông tin 508 1.0  
của bạn đọc.  
Biến “Cơ quan báo chí thực hiện đúng  
tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ được  
giao” (DTCQBC9) có giá trị trung bình cao  
nhất là 4.134. Biến ‘Tình hình tài chính trong  
cơ quan báo chí tốt’ (DTCQBC8) có giá trị  
trung bình thấp nhất là 3.537.  
Về Sự cam kết/lòng trung thành của cơ  
quan báo chí (CK)  
Bảng 5  
Kết quả thống kê về Sự cam kết/lòng trung thành của cơ quan báo chí  
Ký hiệu Các biến quan sát Min Max Mean Std.Dev  
N
CK1  
Cơ quan báo chí luôn có trách nhiệm với 508 1.0  
các sản phẩm báo chí và những người tạo ra  
sản phẩm báo chí đó.  
5.0 4.181  
.6985  
CK2  
Cơ quan báo chí của tôi làm ra những sản 508 2.0  
phẩm báo chí có chất lượng vượt trội so với  
các cơ quan báo chí khác.  
5.0 3.630  
.8594  
CK3  
CK4  
CK5  
Tôi có tình cảm với cơ quan báo chí mà tôi 508 1.0  
đang làm việc.  
5.0 4.209  
5.0 3.919  
5.0 4.122  
.6936  
.7891  
.7330  
Tôi đánh giá cao những sản phẩm báo chí 508 1.0  
của cơ quan báo chí mà tôi đang làm việc.  
Tôi luôn đọc (hoặc nghe, xem) các sản 508 1.0  
phẩm báo chí do cơ quan báo chí-nơi tôi  
đang làm việc tạo ra.  
CK6  
CK7  
Cơ quan báo chí tôi đang làm việc làm tốt 508 1.0  
việc giúp đỡ, hỗ trợ các nhà báo gặp tai nạn  
trong quá trình tác nghiệp hoặc về hưu.  
5.0 3.925  
5.0 4.065  
.7909  
.7678  
Cơ quan báo chí tôi đang làm việc thường 508 1.0  
xuyên quan tâm, chăm lo đời sống cán bộ,  
nhân viên.  
Tô Đình Tuân và Nguyễn Minh Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 3-22 13  
Biến “Tôi có tình cảm với cơ quan báo  
chí mà tôi đang làm việc” (CK3) được đánh  
giá cao nhất với giá trị trung bình là 4.209;  
Biến ‘Cơ quan báo chí của tôi làm ra những  
sản phẩm báo chí có chất lượng vượt trội so  
với các cơ quan báo chí khác.’ (CK2) có giá  
trị trung bình thấp nhất là 3.630.  
4.3. Phân tích Cronbach’s Alpha và  
EFA  
4.3.1. Phân tích Cronbach’s Alpha  
Kết quả tóm tắt phân tích độ tin cậy của  
từng nhân tố được thể hiện trong bảng sau:  
Bảng 6  
Tóm tắt kết quả phân tích Cronbach’s Alpha  
Hệ số Cronbach’  
Nhân tố  
Biến loại bỏ  
Biến giữ lại  
Alpha  
THCN  
0.822  
THCN1, THCN2, THCN3, THCN4, THCN5,  
THCN6, THCN7, THCN8  
TCQBC  
0.821  
0.936  
TCQBC1, TCQBC2, TCQBC3, TCQBC4,  
TCQBC5  
HACQBC  
HACQBC1,  
HACQBC2,  
HACQBC3,  
HACQBC4, HACQBC5, HACQBC6,  
HACQBC7, HACQBC8, HACQBC9  
DTCQBC  
0.892  
DTCQBC8 DTCQBC1, DTCQBC2, DTCQBC3,  
DTCQBC4, DTCQBC5, DTCQBC6,  
DTCQBC7, DTCQBC9, DTCQBC10  
CK  
0.865  
CK1, CK2, CK3, CK4, CK5, CK6, CK7  
Hệ số Cronbach’s Alpha của các nhân tố: THCN, TCQBC, HACQBC, DTCQBC, CK đều  
>0.7. Biến DTCQBC8 bị loại.  
4.3.2. Phân tích nhân tố khám phá (EFA)  
Bảng 7  
Tóm tắt một số thông số thống kê trong phân tích EFA  
Tham số thống kê  
Giá trị thống kê  
0.933  
Kaiser-Meyer-Olkin  
Kiểm định Bartlett’s  
0.000  
Giá trị riêng của nhân tố thứ 5  
Tổng phương sai trích của 5 nhân tố  
1.017  
64.860%  
14 Tô Đình Tuân và Nguyễn Minh Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 3-22  
Bảng 8  
Kết quả phân tích EFA lần cuối cho các biến độc lập  
Nhân tố  
1
2
3
4
HACQBC6  
HACQBC5  
HACQBC7  
HACQBC3  
HACQBC4  
HACQBC2  
DTCQBC3  
DTCQBC4  
DTCQBC2  
DTCQBC5  
DTCQBC1  
CK7  
.835  
.821  
.785  
.756  
.709  
.698  
.815  
.801  
.797  
.737  
.703  
.820  
.769  
.749  
.587  
CK6  
CK3  
DTCQBC7  
TCQBC3  
TCQBC1  
TCQBC2  
TCQBC4  
.755  
.755  
.678  
.614  
KMO=0.912; Kiểm định Bartlett’s có Sig.=0.000;  
Eigenvalues= 1.215; Tổng phương sai trích=67.938%.  
Tô Đình Tuân và Nguyễn Minh Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 3-22 15  
4.4. Phân tích Mô hình cấu trúc (SEM)  
Kết quả từ Mô hình cấu trúc như sau:  
Bảng 9  
Trọng số hồi quy  
Hệ số  
Chưa  
chuẩn hóa  
Chuẩn Sai số  
hóa chuẩn  
C.R. P-value  
hinh anh CQBC <--- ten co quan bao chi 0.715***  
0.59  
0.043 16.446  
0.038 10.323  
0.000  
0.000  
0.000  
<0.01  
danh tieng CQBC <--- hinh anh CQBC  
0.39***  
0.43  
danh tieng CQBC <--- ten co quan bao chi 0.327***  
su cam ket cua  
0.298  
0.046  
0.045  
7.145  
4.489  
<--- hinh anh CQBC  
<--- danh tieng CQBC  
<--- ten co quan bao chi  
0.203***  
0.226***  
0.009  
0.243  
0.246  
0.009  
0.254  
0.07  
0.000  
0.000  
0.858  
0.000  
0.190  
0.065  
0.224  
CQBC  
su cam ket cua  
CQBC  
0.048  
0.052  
0.042  
0.05  
4.686  
0.179  
5.553  
1.309  
1.846  
1.216  
su cam ket cua  
CQBC  
>0.1  
thuong hieu ca  
nhan  
su cam ket cua  
CQBC  
<---  
0.234***  
0.065  
thuong hieu ca  
nhan  
<--- ten co quan bao chi  
<--- danh tieng CQBC  
<--- hinh anh CQBC  
>0.1  
<0.1  
>0.1  
thuong hieu ca  
nhan  
0.086*  
0.053  
0.102  
0.069  
0.047  
0.044  
thuong hieu ca  
nhan  
Bảng 10  
Trọng số hồi quy chuẩn  
Standardized Regression Weights:  
hinh anh CQBC  
<---  
<---  
<---  
<---  
<---  
<---  
<---  
<---  
<---  
<---  
ten co quan bao chi  
hinh anh CQBC  
0.59  
0.43  
danh tieng CQBC  
danh tieng CQBC  
ten co quan bao chi  
hinh anh CQBC  
0.298  
0.243  
0.246  
0.009  
0.254  
0.07  
su cam ket cua CQBC  
su cam ket cua CQBC  
su cam ket cua CQBC  
thuong hieu ca nhan  
thuong hieu ca nhan  
thuong hieu ca nhan  
thuong hieu ca nhan  
danh tieng CQBC  
ten co quan bao chi  
su cam ket cua CQBC  
ten co quan bao chi  
danh tieng CQBC  
hinh anh CQBC  
0.102  
0.069  
16 Tô Đình Tuân và Nguyễn Minh Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 3-22  
Bảng 11  
Các chỉ số FIT của mô hình SEM  
Chi-square/df (cmin/df)  
2.763  
.986  
.967  
.970  
.047  
.058  
CFI  
GFI  
TLI  
RMSEA  
PCLOSE  
4.5. Thảo luận kết quả từ Mô hình cấu trúc  
Kiểm định mô hình nghiên cứu (Path Analysis):  
Hình 2. Mô hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa THTC và THCN (Path Analysis)  
Kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu  
được thực hiện bởi kỹ thuật Path Analysis vì  
mô hình có biến trung gian (có nhiều biến phụ  
thuộc, các biến phụ thuộc này ảnh hưởng đến  
biến phụ thuộc khác).  
Tên cơ quan báo chí ảnh hưởng đến  
Thương hiệu cá nhân trong lĩnh vực báo chí  
(H1)  
Kết quả nghiên cứu cho thấy: hệ số  
chưa chuẩn hóa là 0.065, hệ số chuẩn hóa  
=0.07, hệ số C.R=1.309. Biến này có  
P-value=0.190, không có ý nghĩa thống kê  
nên không chấp nhận giả thuyết H1. Tức là,  
tên cơ quan báo chí không ảnh hưởng đến  
thương hiệu cá nhân trong lĩnh vực báo chí.  
So với kết quả nghiên cứu trước của  
Tô Đình Tuân và Nguyễn Minh Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 3-22 17  
Schawbel (2010), kết quả của nghiên cứu này  
có điểm khác do đặc trưng của lĩnh vực báo  
chí ở Việt Nam. Schawbel (2010) cho rằng,  
Tên của cơ quan, đơn vị nào đó có ảnh hưởng,  
tác động đến Thương hiệu cá nhân của những  
người đang làm việc tại đó, chẳng hạn những  
người đang làm việc cho Google, Facebook,  
Intel có giá trị thương hiệu cá nhân thường  
cao hơn những đồng nghiệp đang làm việc  
cùng cấp tại các công ty X,Y,Z nào đó. Tuy  
nhiên, trong lĩnh vực báo chí Việt Nam, do  
đặc thù riêng, mức độ nhận thức về thương  
hiệu tổ chức và thương hiệu cá nhân của nhiều  
nhà báo có sự phân tán nên kết quả nghiên  
cứu xác định tên cơ quan báo chí không ảnh  
hưởng đến thương hiệu cá nhân trong lĩnh vực  
báo chí.  
chí trong tâm trí mọi người không tích cực,  
nhưng qua hoạt động thực tế mang lại hiệu  
quả cao, được xã hội ghi nhận, mặc dù Tên cơ  
quan báo chí không thay đổi nhưng Hình ảnh  
cơ quan báo chí đó trong tâm trí của nhiều  
người thay đổi theo hướng tích cực.  
Nếu Tên cơ quan báo chí được duy trì,  
phát triển tích cực sẽ góp phần làm tăng giá  
trị, sức lan tỏa của Hình ảnh cơ quan báo chí.  
Kết quả nghiên cứu này phù hợp với kết  
quả nghiên cứu của Saraniemi và cộng sự  
(2010) về tầm quan trọng và sự tác động của  
Tên tổ chức đối với Hình ảnh và thương hiệu  
tổ chức. Nghiên cứu này xác định Tên cơ  
quan báo chí tác động dương đến Hình ảnh cơ  
quan báo chí, về bản chất là đúng với kết quả  
nghiên cứu của Saraniemi và cộng sự (2010).  
Tên cơ quan báo chí là yếu tố đầu tiên,  
tác động nhanh nhất vào tâm trí mọi người,  
sau đó chuyển thành Hình ảnh cơ quan báo  
chí. Do đó, Tên cơ quan báo chí thường ngay  
lập tức tạo ra Hình ảnh cơ quan báo chí trong  
tâm trí bạn đọc. Hình ảnh cơ quan báo chí có  
thể là tích cực, năng động, sáng tạo hay tiêu  
cực, thụ động, thiếu sáng tạo,… tùy thuộc một  
phần vào Tên cơ quan báo chí và những gì mà  
những con người đang làm việc trong cơ quan  
đó tạo ra.  
Tên cơ quan báo chí có ảnh hưởng đến  
Hình ảnh cơ quan báo chí (H2)  
Mối quan hệ giữa “tên cơ quan báo chí”  
và “hình ảnh cơ quan báo chí” có ý nghĩa  
thống kê ở mức ý nghĩa 1% (P-value = 0.000,  
<0,01); quan hệ này là thuận chiều (hệ số hồi  
quy=0.715), nghĩa là nhiều người biết đến tên  
cơ quan báo chí nhiều thì hình ảnh của cơ  
quan báo chí được nhiều người biết đến. Như  
vậy, giả thuyết H2 được chấp nhận.  
Mặc dù Tên của cơ quan báo chí tác động  
dương (+) lên Hình ảnh cơ quan báo chí,  
nhưng đó là bước đầu khi một người  
nghe/nhìn thấy Tên cơ quan báo chí và hình  
dung trong tâm trí về Hình ảnh cơ quan báo  
chí đó. Nhưng Hình ảnh cơ quan báo chí đó  
không phải là bất biến mà có thể thay đổi theo  
thời gian hoặc qua những sự kiện/vấn đề mà  
cơ quan báo chí đó phản ánh, thông tin, đánh  
giá. Có trường hợp, ban đầu Tên cơ quan báo  
chí tạo ra Hình ảnh cơ quan báo chí trong tâm  
trí mọi người rất tích cực nhưng qua một thời  
gian, với các hoạt động thực tế không mang  
lại hiệu quả tốt cho xã hội, mặc dù Tên cơ  
quan báo chí vẫn không thay đổi, nhưng Hình  
ảnh cơ quan báo chí đó trong tâm trí nhiều  
người bị giảm sút, có thể trở nên tiêu cực.  
Ngược lại, cũng có trường hợp, ban đầu Tên  
cơ quan báo chí tạo ra Hình ảnh cơ quan báo  
Tên cơ quan báo chí ảnh hưởng đến  
Danh tiếng của cơ quan báo chí (H3)  
Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ  
giữa “tên cơ quan báo chí” và “danh tiếng cơ  
quan báo chí” có ý nghĩa thống kê ở mức ý  
nghĩa 1% (P-value= 0.000, <0,01); quan hệ  
này là thuận chiều (hệ số hồi quy=0.327),  
nghĩa là Tên cơ quan được biết nhiều thì Danh  
tiếng của cơ quan đó được nâng lên. Như vậy,  
giả thuyết H3 được chấp nhận.  
Nghiên cứu này phù hợp với kết quả  
nghiên cứu của Ngô Bích Ngọc (2012) về  
thương hiệu báo chí vì xác định Tên cơ quan  
báo chí có tác động dương lên Danh tiếng cơ  
quan báo chí. Tên cơ quan báo chí được xem  
như một sự đảm bảo về danh tiếng. Khi Tên  
cơ quan báo chí xuất hiện trong tâm trí bạn  
đọc, hình ảnh và danh tiếng của cơ quan báo  
18 Tô Đình Tuân và Nguyễn Minh Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 3-22  
chí đó cũng sẽ xuất hiện trong tâm trí của họ,  
giúp họ xác định mức độ nổi tiếng để có sự  
tiếp cận, đánh giá phù hợp. Danh tiếng cơ  
quan báo chí càng lớn thì độ tin cậy của bạn  
đọc càng cao, nhờ đó, sức thu hút đối với bạn  
đọc cũng tăng lên.  
Kết quả của nghiên cứu này có điểm  
khác với nghiên cứu của Schawbel (2010).  
Schawbel nghiên cứu về sự tác động của Hình  
ảnh tổ chức nói chung (như công ty, tập đoàn,  
tổ chức truyền thông,…) đối với Thương hiệu  
cá nhân (gồm: lãnh đạo doanh nghiệp, tập  
đoàn, lãnh đạo tổ chức truyền thông,…). Kết  
quả nghiên cứu của Schawbel là Hình ảnh tổ  
chức tác động lên Thương hiệu cá nhân.  
Trong khi đó, nghiên cứu này tập trung  
nghiên cứu về sự tác động của Hình ảnh cơ  
quan báo chí lên Thương hiệu cá nhân nhà  
báo. Kết quả của nghiên cứu này xác định  
Hình ảnh cơ quan báo chí không có tác động  
lên Thương hiệu cá nhân là phù hợp với đặc  
thù của nền báo chí cách mạng Việt Nam.  
Hình ảnh cơ quan báo chí ảnh hưởng  
đến Danh tiếng cơ quan báo chí (H6)  
Mối quan hệ giữa “hình ảnh CQBC” và  
“danh tiếng cơ quan báo chí” có ý nghĩa thống  
kê ở mức ý nghĩa 1% (P-value= 0.000, <0,01);  
quan hệ này là thuận chiều (hệ số hồi  
quy=0.39), nghĩa là hình ảnh cơ quan báo chí  
càng lớn thì danh tiếng của cơ quan đó càng  
nhiều. Như vậy, giả thuyết H6 được chấp nhận.  
Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên  
cứu của Soudien và cộng sự (2006), Pina và  
Martinez (2006) vì đều có xác định mối quan  
hệ giữa Hình ảnh tổ chức và Danh tiếng tổ  
chức trong thương hiệu. Các nghiên cứu của  
Soudien và cộng sự (2006), Pina và Martinez  
(2006) đều cho rằng, Hình ảnh tổ chức và  
Danh tiếng tổ chức có mối quan hệ chặt chẽ  
với nhau, trong đó Hình ảnh tổ chức tác động  
lên Danh tiếng tổ chức, làm tăng giá trị của  
thương hiệu tổ chức. Kết quả nghiên cứu định  
lượng của nghiên cứu này có đầy đủ các yếu tố  
để kết luận: Hình ảnh cơ quan báo chí tác động  
dương (+) lên Danh tiếng cơ quan báo chí.  
Hình ảnh cơ quan báo chí ảnh hưởng  
đến Sự cam kết của cơ quan báo chí (H7)  
Mối quan hệ giữa “hình ảnh cơ quan báo  
chí” và “sự cam kết của cơ quan báo chí” có  
ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1% (P-value=  
0.000, <0,01); quan hệ này là thuận chiều (hệ  
số hồi quy=0.203), nghĩa là hình ảnh của cơ  
Tên cơ quan báo chí ảnh hưởng đến Sự  
cam kết của cơ quan báo chí (H4)  
Mối quan hệ giữa “tên cơ quan báo chí”  
và “sự cam kết của CQBC” có P-value=  
0.858 với hệ số hồi quy= 0.009, giả thuyết này  
không có ý nghĩa thống kê. Như vậy, giả  
thuyết H4 bị bác bỏ, tức là Tên cơ quan báo  
chí không tác động đến Sự cam kết của cơ  
quan báo chí.  
Kết quả nghiên cứu này có điểm khác với  
nghiên cứu trước của Soudien và cộng sự  
(2006), Cretu và Brodie (2005) do đặc thù của  
lĩnh vực báo chí tại Việt Nam. Các nghiên cứu  
của Soudien và cộng sự (2006), Cretu và  
Brodie (2005) chủ yếu tập trung vào mối quan  
hệ giữa Tên các doanh nghiệp, tập đoàn và Sự  
cam kết/lòng trung thành của nhân viên,  
khách hàng đối với các doanh nghiệp, tập  
đoàn đó. Trong đó, Soudien và cộng sự  
(2006), Cretu và Brodie (2005) cho rằng Tên  
công ty, tập đoàn có tác động dương (+) lên  
Sự cam kết/lòng trung thành của nhân viên,  
khách hàng đối với các doanh nghiệp, tập  
đoàn đó. Còn nghiên cứu này nghiên cứu về  
mối quan hệ giữa Tên của cơ quan báo chí và  
Sự cam kết của cơ quan báo chí đối với quyền  
lợi của nhân viên (là một trong những điểm  
mới của nghiên cứu này) trong lĩnh vực báo  
chí tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy  
Tên cơ quan báo chí không tác động đến Sự  
cam kết của cơ quan báo chí đối với quyền lợi  
của nhân viên.  
Hình ảnh cơ quan báo chí ảnh hưởng  
đến Thương hiệu cá nhân của các nhà báo  
(H5) Mối quan hệ giữa “hình ảnh cơ quan  
báo chí” và “thương hiệu cá nhân” có P-  
value=0.224 nên không có ý nghĩa thống kê.  
Giả thuyết H5 không được chấp nhận, tức là  
Hình ảnh cơ quan báo chí không ảnh hưởng  
đến Thương hiệu cá nhân của các nhà báo.  
Tô Đình Tuân và Nguyễn Minh Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 3-22 19  
quan báo chí được nhiều người biết đến thì sự  
cam kết/lòng trung thành của cơ quan báo chí  
đó càng cao. Như vậy, giả thuyết H7 được  
chấp nhận.  
tiếng toàn cầu. Do đó, giá trị thương hiệu cá  
nhân của những người làm việc trong các tổ  
chức này được nâng cao hơn so với những  
người làm việc trong các tổ chức ít danh tiếng  
hơn. Nghiên cứu này tập trung vào Danh tiếng  
cơ quan báo chí và Thương hiệu cá nhân nhà  
báo, nhưng kết quả cũng tương tự. Ví dụ:  
Những nhà báo làm việc trong các tập đoàn,  
tổ chức truyền thông lớn như: CNN, BBC,  
VTV, VOV,… thường có giá trị thương hiệu  
cá nhân cao hơn những nhà báo làm việc  
trong các tổ chức, cơ quan báo chí quy mô  
nhỏ, ít danh tiếng.  
Kết quả nghiên cứu này phù hợp với kết  
quả nghiên cứu trước của Cretu và Brodie  
(2005), Pina và Matinez (2006) vì xác định  
được Hình ảnh cơ quan/tổ chức tác động  
dương (+) lên Sự cam kết của cơ quan/tổ chức  
đối với quyền lợi của nhân viên. Các nghiên  
cứu trước của Cretu và Brodie (2005), Pina và  
Matinez (2006) chỉ nghiên cứu chung về Hình  
ảnh cơ quan/tổ chức và Sự cam kết của cơ  
quan/tổ chức đối với nhân viên. Còn nghiên  
cứu này nghiên cứu về mối quan hệ giữa Hình  
ảnh cơ quan báo chí và Sự cam kết của cơ  
quan báo chí đối với quyền lợi của nhân viên.  
Tuy nhiên, nghiên cứu này và các nghiên cứu  
trước đều xác định được mối quan hệ giữa  
Hình ảnh tổ chức và Sự cam kết của tổ chức,  
trong đó Hình ảnh tổ chức (cơ quan báo chí)  
tác động lên Sự cam kết của tổ chức (cơ quan  
báo chí).  
Danh tiếng của cơ quan báo chí ảnh  
hưởng đến Sự cam kết của cơ quan báo chí  
đối với quyền lợi của nhân viên (H9)  
Mối quan hệ giữa “danh tiếng cơ quan  
báo chí” và “sự cam kết của cơ quan báo  
chí” có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1%  
(P-value= 0.000, <0,01); quan hệ này là thuận  
chiều (hệ số hồi quy=0.226). Biến “danh  
tiếng cơ quan báo chí” tác động dương (+)  
lên“sự cam kết của cơ quan báo chí”, nghĩa  
là danh tiếng của cơ quan báo chí càng lớn thì  
sự cam kết của cơ quan đó càng cao. Như vậy,  
giả thuyết H9 được chấp nhận.  
Danh tiếng của cơ quan báo chí ảnh  
hưởng đến Thương hiệu cá nhân trong lĩnh  
vực báo chí (H8)  
Mối quan hệ giữa“danh tiếng CQBC”  
và “thương hiệu cá nhân” có P-value=0.065<0.1,  
hệ số hồi quy=0.086 cho thấy đây là quan hệ  
thuận chiều, nghĩa là danh tiếng của cơ quan  
báo chí càng lớn thì những người làm trong cơ  
quan báo chí đó càng có thương hiệu (uy tín).  
Như vậy, giả thuyết H8 được chấp nhận.  
So với các kết quả nghiên cứu trước của  
Schawbel (2010), Soudien và cộng sự (2006),  
kết quả nghiên cứu này là phù hợp vì xác định  
được Danh tiếng cơ quan báo chí tác động  
dương (+) lên Thương hiệu cá nhân các nhà  
báo đang làm việc tại cơ quan báo chí đó. Các  
nghiên cứu của Schawbel (2010), Soudien và  
cộng sự (2006) đều cho rằng, Danh tiếng của  
tổ chức tác động lên Thương hiệu cá nhân của  
những người làm việc trong tổ chức đó. Ví dụ:  
Những tổ chức như: Ngân hàng Thế giới  
(WB), Tổ chức Tài chính Thế giới (IFC), Liên  
Hiệp quốc (UN),… đều là các tổ chức có danh  
So với các nghiên cứu trước của Pina và  
Matinez (2006), Souiden (2006), kết quả  
nghiên cứu này là phù hợp vì xác định được  
Danh tiếng cơ quan báo chí tác động lên Sự  
cam kết của cơ quan báo chí. Các nghiên cứu  
trước của Pina và Matinez (2006), Souiden  
(2006) nghiên cứu về mối quan hệ giữa Danh  
tiếng tổ chức và Sự cam kết của tổ chức, trong  
đó xác định Danh tiếng tổ chức có tác động  
dương lên Sự cam kết của tổ chức. Nghiên  
cứu này nghiên cứu về mối quan hệ giữa  
Danh tiếng cơ quan báo chí và Sự cam kết của  
cơ quan báo chí, trong đó xác định Danh tiếng  
cơ quan báo chí có tác động dương (+) lên Sự  
cam kết của cơ quan báo chí, đều đó có nghĩa  
là những cơ quan báo chí nào càng có danh  
tiếng thì càng đảm bảo sự cam kết đối với  
quyền lợi của nhân viên. Mặc dù trong những  
giai đoạn khó khăn, sự thực hiện các cam kết  
này có thể bị ảnh hưởng nhưng nhìn chung  
20 Tô Đình Tuân và Nguyễn Minh Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 3-22  
các cơ quan báo chí có danh tiếng đều đảm  
bảo sự cam kết với nhân viên.  
Sự cam kết của cơ quan báo chí đối với  
quyền lợi của nhân viên ảnh hưởng đến  
Thương hiệu cá nhân nhà báo (H10)  
hợp lý vì đã xác định được Sự cam kết của cơ  
quan báo chí tác động lên Thương hiệu cá  
nhân trong lĩnh vực báo chí. Bất cứ cá nhân  
nhà báo nào khi được làm việc trong các cơ  
quan báo chí có sự cam kết với nhân viên  
cũng đều hãnh diện và yên tâm công tác.  
Nghề báo vốn là nghề nhiều rủi ro, nguy  
hiểm, do đó những người làm báo cần có một  
chỗ dựa vững chắc về vật chất lẫn tinh thần  
cho bản thân và gia đình của họ. Các đồng  
nghiệp báo chí khi đánh giá lẫn nhau cũng  
nhìn nhận đồng nghiệp của mình đang làm  
việc tại một cơ quan đảm bảo hay không đảm  
bảo sự cam kết với nhân viên về quyền lợi.  
Tóm lại, các giả thuyết trong mối quan hệ  
giữa thương hiệu tổ chức và thương hiệu cá  
nhân trong lĩnh vực báo chí được kiểm định  
như sau:  
Mối quan hệ giữa “sự cam kết của cơ  
quan báo chí” và “thương hiệu cá nhân” có ý  
nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1% (P-  
value=0.000, <0.01); quan hệ này là thuận  
chiều (hệ số hồi quy=0.234). Biến “sự cam kết  
của cơ quan báo chí” tác động dương (+) lên  
“thương hiệu cá nhân”, nghĩa là Sự cam kết  
của cơ quan báo chí đối với quyền lợi của  
nhân viên càng chắc chắn thì Thương hiệu cá  
nhân của nhân viên trong cơ quan báo chí càng  
lớn. Như vậy, giả thuyết H10 được chấp nhận.  
So với các nghiên cứu trước của  
Schawbel (2010), kết quả nghiên cứu này là  
Bảng 12  
Kết quả tổng hợp các giả thuyết được kiểm định  
Giả thuyết  
Kết quả  
H1 Tên cơ quan báo chí có ảnh hưởng dương (+) đến thương hiệu cá nhân của  
những nhà báo đang làm việc tại cơ quan đó  
Bác bỏ  
H2 Tên cơ quan báo chí có ảnh hưởng dương (+) đến Hình ảnh cơ quan báo  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Bác bỏ  
chí đó  
H3 Tên cơ quan báo chí ảnh hưởng dương (+) đến Danh tiếng của cơ quan báo  
chí đó  
H4 Tên cơ quan báo chí có ảnh hưởng dương (+) đến Sự cam kết của cơ quan  
báo chí đó đối với quyền lợi nhân viên  
H5 Hình ảnh cơ quan báo chí có ảnh hưởng dương (+) đối với Thương hiệu cá  
nhân của các nhà báo đang làm việc tại cơ quan báo chí đó  
Bác bỏ  
H6 Hình ảnh cơ quan báo chí có ảnh hưởng dương (+) đến Danh tiếng cơ quan  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
báo chí đó  
H7 Hình ảnh cơ quan báo chí có ảnh hưởng dương (+) đến Sự cam kết của cơ  
quan báo chí đó đối với quyền lợi của nhân viên  
H8 Danh tiếng của cơ quan báo chí có ảnh hưởng dương (+) đến Thương hiệu cá  
nhân của những nhà báo đang làm việc tại cơ quan báo chí đó  
H9 Danh tiếng của cơ quan báo chí có ảnh hưởng dương (+) đối với Sự cam kết  
của cơ quan báo chí đó đối với quyền lợi của nhân viên  
H10 Sự cam kết của cơ quan báo chí đối với quyền lợi của nhân viên ảnh hưởng  
dương (+) đến Thương hiệu cá nhân của những nhà báo đang làm việc tại cơ  
quan báo chí đó  
Tô Đình Tuân và Nguyễn Minh Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 3-22 21  
quan báo chí; iii) Danh tiếng của cơ quan báo  
chí có ảnh hưởng dương (+) đến Thương hiệu  
cá nhân của những nhà báo và Sự cam  
kết/lòng trung thành với nhân viên của cơ  
quan báo chí; iv) Sự cam kết/lòng trung thành  
của cơ quan báo chí ảnh hưởng dương (+) đến  
Thương hiệu cá nhân của nhà báo. Tuy nhiên,  
nghiên cứu cho thấy, Tên cơ quan báo chí  
không ảnh hưởng đến thương hiệu cá nhân  
của những nhà báo và Sự cam kết/lòng trung  
thành của cơ quan báo chí; Hình ảnh cơ quan  
báo chí không ảnh hưởng đến Thương hiệu cá  
nhân của các nhà báo.  
5. Kết luận và Gợi ý chính sách  
5.1. Kết luận  
Kết quả nghiên cứu đã xác định 4 thành  
phần chính của thương hiệu tổ chức là: Tên cơ  
quan (tổ chức) báo chí, Danh tiếng cơ quan  
(tổ chức) báo chí, Hình ảnh cơ quan (tổ chức)  
báo chí, Sự cam kết/lòng trung thành của cơ  
quan (tổ chức) báo chí đối với nhân viên.  
Mô hình nghiên cứu đề xuất ban đầu gồm  
4 thành phần của thương hiệu tổ chức tác  
động đến thương hiệu cá nhân, bao gồm: Tên  
cơ quan (tổ chức) báo chí, Danh tiếng cơ quan  
(tổ chức) báo chí, Hình ảnh cơ quan (tổ chức)  
báo chí, Sự cam kết/lòng trung thành của cơ  
quan (tổ chức) báo chí đối với nhân viên. Các  
thành phần trong mô hình được đo lường bởi  
39 biến quan sát.  
Sau khi tiến hành đánh giá độ tin cậy của  
thang đo và thực hiện phân tích nhân tố khám  
phá (EFA) đối với từng biến quan sát đo  
lường các thành phần của thương hiệu tổ chức  
tác động đến thương hiệu cá nhân, mặc dù đã  
loại bỏ một số biến quan sát không đạt các  
tiêu chí kiểm định nhưng vẫn không làm thay  
đổi bản chất của từng thành phần, các biến  
quan sát vẫn được gom lại thành 05 nhóm yếu  
tố. Vì vậy, mô hình nghiên cứu ban đầu vẫn  
được giữ nguyên.  
Đối với mô hình đo lường, các biến  
quan sát được tách thành 5 nhân tố, kết quả  
phân tích nhân tố đảm bảo hệ số tải nhân tố  
>0.5 về trị tuyệt đối; với mỗi biến quan sát  
chênh lệch giữa hệ số tải nhân tố lớn nhất và  
hệ số tải nhân tố bất kỳ >0.3. Do vậy, thang  
đo đo lường các khái niệm nghiên cứu là đạt  
được giá trị phân biệt và giá trị hội tụ. Ngoài  
ra, kết quả phân tích nhân tố là sử dụng  
được [tổng phương trích = 56.798% (>50%);  
KMO=0.92(>0.5);kiểmđịnh Bartlett=0.000(<0.05)].  
Kết quả nghiên cứu cho thấy: i) Tên cơ  
quan báo chí có ảnh hưởng dương (+) đến  
Hình ảnh cơ quan báo chí, Danh tiếng của cơ  
quan báo chí; ii) Hình ảnh cơ quan báo chí có  
ảnh hưởng dương (+) đến Danh tiếng cơ quan  
báo chí và Sự cam kết/lòng trung thành của cơ  
5.2. Gợi ý chính sách  
Thứ nhất: Các cơ quan báo chí cần hợp  
tác với các nhà nghiên cứu, nhà khoa học  
trong lĩnh vực thương hiệu, tổ chức khảo sát,  
nghiên cứu để có sự đánh giá toàn diện, chính  
xác về các thành phần của thương hiệu tổ  
chức trong cơ quan. Đồng thời đánh giá về sự  
tác động của các thành phần đó đối với  
thương hiệu cá nhân như thế nào. Từ đó xây  
dựng một kế hoạch phát triển thương hiệu cá  
nhân cho các nhà báo đang làm việc tại cơ  
quan của mình.  
Thứ hai: Theo kết quả nghiên cứu,  
thương hiệu tổ chức và thương hiệu cá nhân  
có mối quan hệ chặt chẽ, có sự tác động, hỗ  
trợ lẫn nhau. Do đó, các cơ quan báo chí cần  
có kế hoạch phát triển song song hai dạng  
thương hiệu này, không nên tách rời nhau.  
Thứ ba: Theo kết quả khảo sát, nhiều nhà  
báo chưa được đào tạo chuyên ngành báo chí.  
Do đó, các cơ quan báo chí cần tăng cường  
công tác đào tạo chuyên ngành báo chí cho  
đội ngũ nhà báo.  
Thứ tư: Trước thực tế mạng xã hội ngày  
càng phát triển, tình trạng các thông tin xấu,  
độc hại đang ngày càng lan tràn trên mạng và  
gây tác hại xấu đến cộng đồng, xã hội, Nhà  
nước cần có chính sách, chiến lược phát triển  
thương hiệu báo chí cho các cơ quan báo  
chính thống để tạo ra một môi trường thông  
tin an toàn, tin cậy, hiệu quả.  
Thứ năm: Kết quả nghiên cứu cho thấy  
22 Tô Đình Tuân và Nguyễn Minh Hà. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 3-22  
nhận thức về thương hiệu báo chí của nhiều  
nhà báo còn hạn chế. Do đó, các cơ quan báo  
chí cần nâng cao nhận thức cho các nhà báo về  
tầm quan trọng của thương hiệu báo chí trong  
bối cảnh sự cạnh tranh thông tin ngày càng gay  
gắt. Từ nhận thức sâu sắc đó, cùng với việc tổ  
chức khảo sát, nghiên cứu một cách bài bản,  
khoa học sẽ phát triển thương hiệu tốt hơn  
Tài liệu tham khảo  
Abratt, R. & Mofokeng (2001). Development and management of corporate image in South Africa. European  
Journal of Marketing, 35(3), 368-86.  
Bhattacharya, C. B. & S. Sen (2003). Consumer-Company Identification: A Framework for Understanding  
Consumers' Relationships with Companies. Journal of Marketing, 67(2), 76-88.  
Cretu, A. & Brodie, R. (2007). The influence of brand image and company reputation where manufacturers market  
to small firms: A customer value perspective. Industrial Marketing Management, 36(2).  
Druckenmiller, P. A. (2004). Reputation and the Corporate Brand. Corporate Reputation Review, 6(4), 368–374.  
Đỗ Thị Thu Hằng (2013). Xây dựng thương hiệu sản phẩm báo chí: khái niệm, vai trò và các bước thực hiện.  
buoc-thuc-hien/  
Fournier, S. (1998). Consumers and Their Brands: Developing Relationship Theory in Consumer Research. Journal  
of Consumer Research, 24(4), 343–373.  
Gotsi, M. & Wilson M. A. (2001). Corporate reputation: seeking a definition. Corporate Communications: An  
International Journal, 6(1), 24-30.  
Hankinson, G. & Cowking, P. (1993). Branding in action: Cases and strategies for profitable brand management.  
McGraw-Hill Book.  
Hatch, M. J. & Schultz, M. (2003). Bringing the corporation into corporate branding. European Journal of  
Marketing, 37.  
Holton, E. A. & Molyneux, L. (2015). Identity lost? The personal impact of brand journalism. Journalism, 1-16.  
Hsieh, M. (2002). Identifying Brand Image Dimensionality and Measuring the Degree of Brand Globalisation: A  
cross-national study. International Marketing Review, 10(2), 46-67.  
Kennedy, S. H. (1977). Nurturing corporate images. European Journal of Marketing, 11(3), 119-64.  
Pina, J, M. & Martinez, E. (2006). The effect of service brand extensions on corporate image: An empirical model.  
European Journal of Marketing, 40(1/2), 174-197.  
Saraniemi, S., Juntunen, M., Niemelä, T. & Tähtinen, J. (2010). Influencing the Corporate Brand Equity of Small  
Firms. 6th Thought Leaders of Brand Management Conference, 18.-20.4.2010, Lugano, Switzerland.  
Shapiro, C. (1983). Premiums for High Quality Products as Returns to Reputations. The Quarterly Journal of  
Economics, 98(4/1), 659–679.  
Souiden, N., Kassim, M. N. & Heung-Ja Hong (2006). The effect of corporate branding dimensions on consumers’  
product evaluation: A cross-cultural analysis. European Journal of Marketing, 40(7/8), 825-845.  
Schawbel, D. (2009). Me 2.0: Build a powerful brand to achieve career success, New York, Kaplan Books.  
Schawbel, D. (2012). Thương hiệu cá nhân-TÔI 2.0 (Nguyễn Ngân Hà dịch). Nhà xuất bản Trẻ, TPHCM, Việt Nam,  
291 trang.  
pdf 20 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 18680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mối quan hệ giữa thương hiệu tổ chức và thương hiệu cá nhân trong lĩnh vực báo chí: Trường hợp tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmoi_quan_he_giua_thuong_hieu_to_chuc_va_thuong_hieu_ca_nhan.pdf