Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng và hệ quả của cảm nhận bị làm phiền trong quảng cáo trực tuyến

116 Đỗ Thị Lệ Huyền. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 56(5), 116-130  
NGHIÊN CỨU YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ HỆ QUẢ CỦA CẢM  
NHẬN BỊ LÀM PHIỀN TRONG QUẢNG CÁO TRỰC TUYẾN  
ĐỖ THỊ LỆ HUYỀN  
Công ty TNHH Castrol Bp Petco – lehuyen007@gmail.com  
(Ngày nhận: 03/01/2017; Ngày nhận lại: 05/03/2017; Ngày duyệt đăng: 04/08/2017)  
TÓM TẮT  
Mục đích nghiên cứu nhằm đo lường các yếu tố ảnh hưởng và hệ quả của cảm nhận bị làm phiền đối với quảng  
cáo trực tuyến tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, dữ liệu thu  
thập trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 10 năm 2015 thông qua phỏng vấn chuyên gia, thảo luận nhóm và  
160 phiếu khảo sát được phát đến đáp viên. Kết quả cho thấy tác động cùng chiều khá rõ ràng của sự che khuất nội  
dung và việc mất kiểm soát từ phía người dùng web đến cảm nhận bị làm phiền khi mẫu quảng cáo xuất hiện.  
Nghiên cứu cũng chỉ ra cảm nhận bị làm phiền tác động rõ rệt đến sự khó chịu và kéo theo là cách nhìn tiêu cực đối  
với trang web. Nghiên cứu xây dựng mô hình lý thuyết về cảm nhận bị làm phiền trong môi trường quảng cáo trực  
tuyến cùng các nhân tố tác động và biến hệ quả phát sinh. Kết quả mang đến những hàm ý quản trị trong kế hoạch  
tăng doanh thu đối với doanh nghiệp sở hữu trang web và chiến lược quảng cáo trực tuyến dành cho các nhà tiếp thị.  
Từ khóa: cảm nhận bị làm phiền; né tránh quảng cáo; quảng cáo trực tuyến; sự cuốn hút; sự khó chịu.  
Antecedants and consequences of intrusiveness in digital advertising  
ABSTRACT  
The purpose of this paper is to define and measure the determinants and effects of consumers’ intrusive  
perception towards internet advertising in Ho Chi Minh City. The study utilizes qualitative and quantitative methods  
with 160 questions delivered to internet-using respondents. Results suggest that site content obscuring and the loss  
of ads control explain highly for intrusiveness. The research also shows an obvious influence of perceived  
intrusiveness on customers’ irritation. This results in negative attitude towards websites. The study provides a  
theoretical framework of intrusiveness in online advertising environment as well as indicates affecting factors and  
consequences. Not only do the outcomes contribute managerial implications in increasing the turnover to site  
owners but these findings also provide support for professional marketers in digital advertising strategy.  
Keywords: ads avoidance; ads intrusiveness; ads involvement; ads irritation; internet advertising.  
hướng càng xuất hiện dồn dập và khó kiểm  
soát dẫn đến cái nhìn thiếu thiện cảm từ phía  
người dùng web. Hơn nữa, chi phí cho các  
chiến dịch trực tuyến là các con số vô cùng  
đắt đỏ, điều này đang đặt ra khá nhiều thách  
thức cho các nhà quản lý và chuyên gia tiếp  
thị. Như vậy bên cạnh những hiệu ứng vượt  
trội so với phương pháp truyền thống, hệ quả  
tiêu cực mà các hình thức quảng cáo trực  
tuyến gây phiền hà để lại cũng rất đáng được  
quan tâm và đánh giá một cách có hệ thống.  
Nhiều nghiên cứu cho thấy cảm nhận bị làm  
phiền (intrusive perception) được xem là một  
1. Giới thiệu  
Cùng với sự phổ biến của internet, thị  
trường quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam  
đang có sự phát triển mạnh mẽ, vượt qua  
ngành quảng cáo báo in truyền thống vào năm  
2011 và sau đó trở thành kênh tiếp thị phổ  
biến thứ hai sau truyền hình (Matthaes, 2011).  
Quảng cáo trực tuyến được chú trọng nhiều  
hơn nhờ tính hiệu quả và kinh tế trong phương  
thức tiếp cận với khách hàng mục tiêu cũng  
như quản lý cơ sở dữ liệu và đo lường hiệu  
quả quảng cáo. Tuy nhiên, trong thời gian gần  
đây các hình thức quảng cáo trực tuyến có xu  
Đỗ Thị Lệ Huyền. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 56(5), 116-130  
117  
trong những yếu tố trung gian dẫn đến thái độ  
tiêu cực từ phía người tiêu dùng đối với nhãn  
hàng quảng cáo và các trang web xuất hiện  
quảng cáo. Nghiên cứu xác định và đánh giá  
các yếu tố tác động đến cảm nhận bị làm  
phiền cùng những hệ quả nhằm giúp các nhà  
quản trị có những cân nhắc hợp lý trước các  
dự án tiếp thị trực tuyến của doanh nghiệp.  
Cảm nhận bị làm phiền trong môi trường tiếp  
thị nói chung và quảng cáo trực tuyến nói  
riêng đã được rất nhiều nhà nghiên cứu trên  
thế giới quan tâm, tuy nhiên đề tài xem xét  
thêm tác động của nhân tố “sự cuốn hút đối  
với quảng cáo” lên cảm nhận bị làm phiền và  
cũng là điểm khác biệt mà các nghiên cứu  
trước chưa đánh giá.  
ức chế khi quảng cáo quá lâu và quá lớn  
(Aaker, D. A. & Bruzzone, D. E., 1985), họ  
lại nhàm chán khi xem mẫu quảng cáo quá  
ngắn, đơn lẻ và lặp lại nhiều lần (Bauer, R. A.  
& Greyser, S. A., 1968). Kết quả của những  
trạng thái này là sự khó chịu và xu hướng tìm  
cách thoát khỏi ngữ cảnh quảng cáo đang diễn  
ra. Cảm nhận bị làm phiền được xem là yếu tố  
trung gian giải thích xu hướng khó chịu và né  
tránh này. Theo Ha (1996), cảm nhận bị làm  
phiền là mức độ mà các mẫu quảng cáo làm  
gián đoạn nội dung chính của thông tin. Li và  
cộng sự (2002) đã mở rộng khái niệm này  
thành phản ứng tâm lý đối với quảng cáo khi  
nó gây gián đoạn quá trình nhận thức đang  
diễn ra của người dùng web. Thuyết sự chú ý  
xác nhận con người xử lý thông tin hời hợt  
hơn khi họ bị làm phiền, điều này xảy ra do  
những hao hụt tiềm ẩn trong thời gian xử lý  
thông tin hay nói cách khác là sự ngắt quãng  
làm suy yếu toàn bộ quá trình tư duy, hệ  
thống công việc (Naveh-Benjamin, 2003), do  
đó người dùng web càng khó chịu với quảng  
cáo khi họ đang tập trung xử lý công việc.  
Thêm vào đó, thuyết tâm lý phản kháng lý  
giải phản ứng của cảm nhận mất tự do trong  
một môi trường cụ thể, cụ thể hơn là khi con  
người đánh mất tự do hành động hoặc tự do  
lựa chọn thì họ sẽ có xu hướng cố gắng để  
giành lại tự do đó. Tương tự, khách hàng có  
khuynh hướng chủ động phản ứng lại đối với  
quảng cáo khi nhận thấy nó đang tác động vào  
mục tiêu họ đang nhắm đến hay công việc  
đang thực hiện. Vì vậy khi tiếp xúc những  
quảng cáo mang tính ép buộc, người xem sẽ  
có khuynh hướng tìm mọi cách để có thể  
không nhìn thấy nó.  
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp  
nghiên cứu  
2.1. Cơ sở lý thuyết và khung phân tích  
2.1.1. Mô hình lý thuyết và khái niệm cảm  
nhận bị làm phiền  
Theo (Harker, 2008), quảng cáo trực  
tuyến là các hình thức quảng cáo xuất hiện  
trên các kênh khác nhau từ internet nhằm mục  
đích quảng bá thông tin về sản phẩm hay dịch  
vụ. Tuy đã có một vài nghiên cứu nhận thấy  
rằng quảng cáo trực tuyến ít gây phiền hà hơn  
so với quảng cáo truyền hình và sự ồn ào của  
nó mang lại hiệu quả tốt hơn quảng cáo qua  
báo in trong xây dựng thương hiệu và tăng dự  
định mua hàng nhưng các nghiên cứu gần đây  
cho thấy nhiều hình thức quảng cáo trực tuyến  
làm gián đoạn công việc của người dùng  
internet dẫn đến xu hướng né tránh và nảy  
sinh khó chịu từ phần lớn người dùng web  
(Li, H., Edwards, S. M. & Lee, J. H., 2002),  
điều này dẫn đến sự phản cảm của người tiêu  
dùng đối với thương hiệu cũng như giảm hiệu  
quả của chiến dịch tiếp thị (Chatterjee, 2008).  
Nhiều nghiên cứu đã xác định một số đặc  
điểm nổi bật của quảng cáo làm nảy sinh thái  
độ tiêu cực từ phía khách hàng như nội dung  
quá sự thật hay mức độ xuất hiện thường  
xuyên (Bauer, R. A. & Greyser, S. A., 1968).  
Thêm vào đó, người tiêu dùng cũng cảm thấy  
2.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến cảm  
nhận bị làm phiền của người tiêu dùng đối với  
quảng cáo trực tuyến  
Quảng cáo trực tuyến che khuất nội dung  
trang web  
Theo Ha (1996), mục tiêu của quảng cáo  
trực tuyến là làm gián đoạn nội dung trang  
web và thu hút sự chú ý của người đang lướt  
118 Đỗ Thị Lệ Huyền. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 56(5), 116-130  
web. Để làm được điều này các mẫu quảng  
cáo trực tuyến có xu hướng che khuất một  
phần hoặc toàn bộ nội dung chính của trang  
web. Những quảng cáo xuất hiện với hình ảnh  
kích thước lớn có khuynh hướng tạo cảm giác  
phiền hà đến người xem nhiều hơn, riêng  
những trang đệm (interstitials) xuất hiện và  
che lấp toàn bộ trang web người dùng đang  
xem gây ra cảm giác bị làm phiền cao nhất  
(Ying, 2009). Từ đó, giả thuyết H1 được  
xây dựng:  
H1: Nếu những quảng cáo trực tuyến  
xuất hiện càng làm che khuất nội dung và  
càng chiếm diện tích hiển thị của nội dung cần  
xem sẽ tạo cảm nhận bị làm phiền nhiều hơn  
các quảng cáo khác.  
sự cuốn hút đã được xem xét nhiều hơn trong  
truyền thông tiếp thị, quảng cáo và nghiên cứu  
hành vi khách hàng. Giả thuyết đề xuất:  
H3: Sự cuốn hút với quảng cáo trực  
tuyến càng cao thì cảm nhận bị làm phiền  
càng giảm.  
2.1.3. Hệ quả của cảm nhận bị làm phiền  
đối với quảng cáo trực tuyến  
Sự khó chịu  
Trong quảng cáo truyền thống, nhiều  
nghiên cứu trước đã chỉ ra hệ quả kéo theo từ  
cảm nhận bị làm phiền đối với quảng cáo là  
sự khó chịu (Kennedy, 1971). Xét riêng trong  
ngữ cảnh trực tuyến, Li và cộng sự (2002) đã  
cho thấy có mối liên hệ giữa cảm nhận bị làm  
phiền và sự khó chịu. Theo Aaker và  
Bruzzone (1985), những quảng cáo gây khó  
chịu thường tạo ra bất mãn và cảm giác bực  
bội tức thời. Do đó đề xuất giả thuyết H4  
như sau:  
Có chức năng đóng tắt trên mẫu quảng  
cáo trực tuyến  
Con người có khuynh hướng né tránh  
những rào cản gây xao lãng, chệch hướng ý  
định chính mà họ đang nhắm đến. Nếu những  
mẫu quảng cáo có chức năng “ĐÓNG TẮT”  
sẽ cho phép người lướt web khả năng bỏ qua  
nó và do đó làm giảm thiểu thời gian gián  
đoạn. Vì vậy, khi tương tác với quảng cáo  
trực tuyến làm che khuất nội dung chính của  
trang web nhưng người lướt web có thể chủ  
động từ chối xem thì cảm nhận bị làm phiền  
hình thành có xu hướng ở mức độ thấp hơn  
đối với những loại hình trình chiếu mà người  
lướt web không thể loại bỏ. Giả thuyết H2 nêu  
ra như sau:  
H4: Có mối quan hệ trực tiếp giữa cảm  
nhận bị làm phiền và sự khó chịu, quan hệ  
cùng chiều.  
Sự né tránh quảng cáo  
Sự né tránh của khách hàng đối với quảng  
cáo truyền thống đã được chú ý trong nhiều  
nghiên cứu trước (Abernethy, A. M., 1991;  
Bellamy Jr, R. V., & Walker, J. R. , 1996).  
Đối với quảng cáo trực tuyến, Cronin và cộng  
sự (1992) chỉ ra rằng người xem có xu hướng  
tránh quảng cáo dựa trên cách thức hiển thị  
của nó mà không phải căn cứ vào nội dung cụ  
thể nào cả. Tuy có khác biệt trong động cơ và  
phương thức phản ứng của khách hàng đối với  
các quảng cáo gây phiền hà nhưng nhìn chung  
các nghiên cứu này đều đánh giá ảnh hưởng  
của khả năng kiểm soát mà người xem có  
được đối với quảng cáo và thậm chí nếu có  
một hình thức nào đó để né được quảng cáo  
thì họ sẽ thực hiện ngay lập tức. Giả thuyết  
H5 đề xuất:  
H2: Nếu quảng cáo trực tuyến xuất hiện  
và càng khó khăn để người dùng web chủ  
động kết thúc nó thì cảm nhận bị làm phiền  
hình thành lớn hơn quảng cáo cho phép người  
dùng kiểm soát.  
Sự cuốn hút đối với quảng cáo  
Sự cuốn hút, xét trong phạm vi quảng  
cáo, được định nghĩa là các thúc đẩy tiềm  
năng của một quảng cáo, thể hiện bằng thông  
tin chứa đựng bên trong mẫu quảng cáo và cả  
hình ảnh bên ngoài khi nó được truyền thông  
đến công chúng (Chaudhuri, A. & Buck, R.,  
1997). Trong những năm gần đây, khái niệm  
H5: Có mối quan hệ trực tiếp giữa cảm  
nhận bị làm phiền và né tránh, quan hệ cùng  
chiều.  
Thái độ đối với trang web  
Đỗ Thị Lệ Huyền. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 56(5), 116-130  
119  
Người sở hữu trang web nên cân nhắc  
giữa lợi nhuận họ có được từ việc cho thuê đặt  
quảng cáo và cái giá họ phải trả đối với những  
phản ứng tiêu cực tiềm ẩn từ khách hàng khi  
quảng cáo xuất hiện trên trang web của mình.  
Do đó, đôi khi lợi nhuận ngắn hạn từ doanh  
thu cho thuê quảng cáo có thể phải trả giá  
bằng thái độ tiêu cực trong dài hạn từ phía  
người tiêu dùng đối với trang web ấy. Giả  
thuyết được đưa ra:  
trước, sự cuốn hút đối với quảng cáo bao gồm  
các đặc điểm như tính thông tin, tính giải trí,  
tính tương đồng nội dung quảng cáo, và đây  
cũng là các yếu tố có tác động đến cảm nhận  
bị làm phiền đã được đánh giá trong các  
nghiên cứu liên quan (Li, H., Edwards, S. M.  
& Lee, J. H., 2002; Ying, 2009); (4) Hai hệ  
quả trực tiếp của cảm nhận bị làm phiền đối  
với quảng cáo, sự khó chịu và hành vi né tránh,  
đã được Li và cộng sự (2002) xem xét trong  
nghiên cứu phát triển thang đo của cảm nhận bị  
làm phiền đối với quảng cáo. Ngoài ra, tác  
động trực tiếp của cảm nhận bị làm phiền đối  
với hành vi né tránh đã được đánh giá trong  
nghiên cứu về hình thức quảng cáo bật lên  
(pop-up) (Edwards, S. M., Li, H. & Lee, J. H.,  
2002) và hình thức quảng cáo qua di động  
(Wang, 2009); (5) Hệ quả thứ ba là thái độ đối  
với trang web được xem xét nhằm đánh giá tác  
động của cảm nhận bị làm phiền đến trang web  
đặt quảng cáo. Tuy nhiên, tác giả đưa ra giả  
thuyết cảm nhận bị làm phiền tác động trực  
tiếp đến thái độ của người dùng đối với trang  
web, không thông qua biến trung gian (sự khó  
chịu) như mô hình của McCoy; (6) Hệ quả  
gián tiếp trong mô hình của McCoy là dự định  
hành vi được loại bỏ trong mô hình đề xuất,  
nghiên cứu tập trung đánh giá các tác động trực  
tiếp từ cảm nhận bị làm phiền.  
H6: Có mối quan hệ trực tiếp giữa cảm  
nhận bị làm phiền và thái độ tiêu cực đối với  
trang web, quan hệ cùng chiều.  
Mô hình đề xuất được kế thừa từ nghiên  
cứu của McCoy và cộng sự (2008) cùng một  
số điều chỉnh với lý do như sau: (1) Che khuất  
nội dung bổ sung thêm các biến quan sát theo  
tham khảo từ các nghiên cứu có liên quan; (2)  
Thay đổi biến độc lập che khuất nội dung  
cùng với có chức năng đóng tắt thành khái  
niệm cách thức kết thúc quảng cáo; (3) Yếu  
tố cuốn hút được đề xuất thêm trong mô hình  
này với hai lý do sau: Thứ nhất, kế thừa từ đề  
xuất định hướng nghiên cứu của Ying và cộng  
sự (2009), các tác giả cho rằng nghiên cứu  
trong tương lai nên xem xét liệu sự cuốn hút  
đối với quảng cáo có làm giảm nhẹ cảm nhận  
bị làm phiền từ phía người xem hay không.  
Thứ hai, qua tổng quan lý thuyết nghiên cứu  
Che khuất nội dung  
Sự khó chịu  
+(H4)  
+(H1)  
+(H5)  
+ (H2)  
Cảm nhận  
bị làm phiền  
Cách thức kết thúc quảng cáo  
Sự né tránh  
-(H3)  
+(H6)  
Thái độ đối với  
Sự cuốn hút đối với quảng  
trang web  
cáo  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
120 Đỗ Thị Lệ Huyền. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 56(5), 116-130  
vực tiếp thị, trên cở sở đó điều chỉnh mô hình  
và giả thuyết cho phù hợp nhằm phát triển  
biến quan sát cho các thang đo. Sau phỏng  
vấn chuyên gia mô hình nghiên cứu đề xuất  
không thay đổi. Tiếp theo, thảo luận nhóm (10  
người) được tiến hành nhằm điều chỉnh các  
biến quan sát cho phù hợp (xem Bảng 1).  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu kế thừa và bổ sung các thang  
đo đã được sử dụng trên thế giới, kết hợp  
phương pháp nghiên cứu định tính và định  
lượng. Nghiên cứu định tính bằng phỏng vấn  
chuyên gia và thảo luận nhóm. (1) Tiến hành  
phỏng vấn 5 chuyên gia làm việc trong lĩnh  
Bảng 1  
Các thang đo và biến quan sát sau thảo luận nhóm  
Thang đo  
Biến quan sát  
Giải thích  
Q/c trực tuyến xuất hiện và che khuất hầu hết nội dung cần  
xem trên trang web  
CK1  
Q/c trực tuyến xuất hiện và lặp lại nhiều lần trong một thời  
gian ngắn  
CK2  
CK3  
Che khuất nội dung  
Q/c trực tuyến xuất hiện có kích thước chiếm hơn một nửa  
màn hình hiển thị  
DT1  
DT2  
DT3  
CH1  
CH2  
CH3  
XP1  
XP2  
XP3  
XP4  
XP5  
XP6  
XP7  
KC1  
KC2  
KC3  
KC4  
KC5  
NT1  
NT2  
NT3  
Không có nút đóng (x) để người xem chủ động tắt quảng cáo  
Q/c xuất hiện và kết thúc khi người xem chuyển trang  
Q/c xuất hiện và tự kết thúc sau ít nhất 6 giây  
Q/c có liên quan đến nhu cầu tôi đang tìm kiếm  
Q/c sống động và lôi cuốn  
Cách thức kết thúc  
quảng cáo  
Sự cuốn hút đối với  
quảng cáo  
Q/c khá cần thiết vì cung cấp thông tin hữu ích  
Gây gián đoạn công việc  
Xâm chiếm màn hình làm việc  
Ép buộc xem  
Làm nhiễu loạn sự tập trung  
Cảm thấy nó phiền hà  
Cảm nhận bị làm phiền  
Làm tốn nhiều thời gian hơn cho việc chính  
Gây khó chịu  
Tồi tệ  
Nó thật giả tạo  
Thông tin vô lý  
Sự khó chịu  
Sự né tránh  
Ngớ ngẩn  
Phát cáu  
Hầu như không xem gì  
Đóng quảng cáo trước khi kết thúc  
Kéo nó sang một bên và không để ý đến nó  
Đỗ Thị Lệ Huyền. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 56(5), 116-130  
121  
Thang đo  
Biến quan sát  
NT4  
Giải thích  
Sử dụng phần mềm chặn quảng cáo  
Không có thiện cảm  
TD1  
TD2  
Thất vọng  
Thái độ đối với trang  
web  
TD3  
Chán ngắt  
TD4  
Khó khăn để tiếp tục xem  
Nghiên cứu định lượng chính thức với  
phương pháp lấy mẫu thuận tiện qua 160  
bảng câu hỏi được phát đến người dùng web  
tại Thành phố Hồ Chí Minh có độ tuổi từ 18  
đến 34, nhóm tuổi tiếp cận internet chiếm tỉ  
trọng lớn nhất tại Việt Nam (Nielsen, 2014).  
Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS  
18.0 và Amos 20, sau khi được mã hóa và  
làm sạch, số liệu sẽ qua các phân tích sau:  
(1) Thống kê mô tả đặc điểm của đối tượng  
phỏng vấn; (2) Đánh giá độ tin cậy của các  
thang đo (Cronbach’s Alpha) nhằm loại bỏ  
các biến có hệ số tương quan biến tổng nhỏ  
hơn 0,3; (3) Phân tích nhân tố khám phá  
(EFA); (4) Phân tích nhân tố khẳng định  
(CFA); (5) Phân tích mô hình cấu trúc tuyến  
tính (SEM) để kiểm định các mô hình  
nghiên cứu. Phương pháp Bootstrap được sử  
dụng để ước lượng lại các tham số mô hình  
nhằm kiểm định độ tin cậy của các ước  
lượng.  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1. Kết quả nghiên cứu  
3.1.1. Mô tả mẫu  
Kết quả thống kê cho thấy, hầu hết số  
người tham gia khảo sát thuộc độ tuổi từ 18 -  
22 (67%) và 33% thuộc nhóm tuổi từ 22- 34,  
trong đó 66% đối tượng phỏng vấn là nữ.  
3.1.2. Đánh giá thang đo bằng hệ số tin  
cậy Cronbach’s Alpha  
Thang đo che khuất nội dung loại bỏ biến  
quan sát CK3; yếu tố cách thức kết thúc  
quảng cáo loại bỏ biến DT3; cảm nhận bị làm  
phiền loại XP1 và XP2 còn lại 5 biến quan sát  
đạt độ tin cậy; hệ quả né tránh quảng cáo loại  
bỏ NT3; hệ quả sự khó chịu và thái độ đối với  
trang web giữ nguyên các biến quan sát vì đều  
đạt độ tin cậy (Bảng 2).  
Bảng 2  
Cronbach’s Alpha của các khái niệm nghiên cứu đạt độ tin cậy  
Phương sai thang đo  
Trung bình thang đo  
nếu loại biến (Scale  
Mean if Item Deleted)  
Tương quan biến-tổng Hệ số Alpha nếu loại  
(Corrected Item-Total biến (Cronbach's Alpha  
nếu loại biến (Scale  
Variance if Item  
Deleted)  
Correlation)  
if Item Deleted)  
Thang đo Che khuất nội dung (CK), Cronbach’s Alpha = 0,695  
3,79  
3,93  
1,001  
0,964  
0,533  
0,533  
,a  
,a  
CK1  
CK2  
Thang đo Cách thức kết thúc quảng cáo (DT), Cronbach’s Alpha = 0,65  
4,09  
3,74  
1,010  
1,484  
0,490  
0,490  
,a  
,a  
DT1  
DT2  
122 Đỗ Thị Lệ Huyền. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 56(5), 116-130  
Phương sai thang đo  
Trung bình thang đo  
nếu loại biến (Scale  
Mean if Item Deleted)  
Tương quan biến-tổng Hệ số Alpha nếu loại  
(Corrected Item-Total biến (Cronbach's Alpha  
nếu loại biến (Scale  
Variance if Item  
Deleted)  
Correlation)  
if Item Deleted)  
Thang đo Sự cuốn hút đối với quảng cáo (CH), Cronbach’s Alpha = 0,834  
6,30  
6,36  
6,54  
3,503  
3,727  
3,921  
0,743  
0,704  
0,638  
0,720  
0,761  
0,823  
CH1  
CH2  
CH3  
Thang đo Cảm nhận bị làm phiền (XP), Cronbach’s Alpha = 0,86  
12,83  
12,53  
12,72  
12,42  
12,37  
14,104  
13,365  
13,685  
12,739  
13,323  
0,587  
0,752  
0,628  
0,729  
0,694  
0,853  
0,812  
0,843  
0,816  
0,826  
XP3  
XP4  
XP5  
XP6  
XP7  
Thang đo Sự khó chịu (KC), Cronbach’s Alpha = 0,892  
14,52  
14,89  
14,99  
14,97  
14,89  
13,897  
11,944  
11,582  
12,025  
12,316  
0,569  
0,783  
0,791  
0,816  
0,722  
0,902  
0,857  
0,855  
0,850  
0,871  
KC1  
KC2  
KC3  
KC4  
KC5  
Thang đo Sự né tránh quảng cáo (NT), Cronbach’s Alpha = 0,726  
8,50  
8,34  
8,10  
2,796  
2,643  
2,635  
0,489  
0,562  
0,594  
0,708  
0,621  
0,583  
NT1  
NT2  
NT4  
Thang đo Thái độ đối với trang web (TD), Cronbach’s Alpha = 0,824  
10,43  
10,43  
10,47  
10,08  
5,386  
5,500  
5,390  
6,265  
0,725  
0,700  
0,732  
0,456  
0,742  
0,753  
0,739  
0,864  
TD1  
TD2  
TD3  
TD4  
3.1.3. Đánh giá thang đo bằng EFA  
Lần 1: các biến quan sát NT4, TD4, KC1  
sự thay đổi lớn đó là (1) thang đo che khuất  
nội dung và cách thức kết thúc quảng cáo gộp  
vào nhân tố trích thứ 4, đổi tên thành đặc  
điểm hiển thị; (2) thang đo né tránh quảng cáo  
hoàn toàn bị loại khỏi mô hình. KMO = 0,848  
(0, 5≤ KMO≤ 1), đảm bảo phân tích nhân tố  
thích hợp với dữ liệu nghiên cứu; kiểm định  
và NT2 có trọng số bé hơn 0,5 đều bị loại,  
riêng trọng số NT1 có giá trị là 0,634 thỏa  
điều kiện lớn hơn 0,5 nhưng xuất hiện một  
mình ở nhân tố thứ 6, do đó cũng bị loại.  
Lần 2: kết quả còn 5 nhân tố trích với hai  
Đỗ Thị Lệ Huyền. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 56(5), 116-130  
123  
này có ý nghĩa thống kê khi sig. = 0,000 <  
0,05 nên bác bỏ giả thuyết H0, tức là các biến  
quan sát có tương quan với nhau, chứng tỏ dữ  
liệu thích hợp để phân tích nhân tố; kết quả  
EFA của các thang đo được trình bày trong  
Bảng 3 cho thấy có năm yếu tố được trích tại  
Eigenvalue là 1,172 > 1 chứng tỏ nhân tố rút  
ra có ý nghĩa tóm tắt thông tin tốt và tổng  
phương sai trích được là 62% > 50% nên  
thang đo được chấp nhận; các trọng số của các  
thang đo đều đạt yêu cầu (>0,5) nên các biến  
có liên hệ chặt chẽ với nhau. Như vậy từ bảy  
thang đo với 24 biến quan sát sau khi phân  
tích Cronbach’s Alpha được đưa vào phân  
tích EFA, kết quả cuối cùng còn lại 5 thang đo  
với 19 biến quan sát, chạy lại kiểm định  
Cronbach’s Alpha năm thang đo và kết quả  
đều đạt độ tin cậy (Bảng 3).  
Bảng 3  
Kết quả EFA  
Thang đo  
Biến quan sát  
Xâm phạm  
Khó chịu  
Thái độ  
Hiển thị  
Cuốn hút  
0,854  
0,783  
0,758  
0,674  
0,622  
XP4  
XP5  
XP6  
XP7  
XP3  
0,948  
0,843  
0,831  
0,662  
C4  
KC3  
KC2  
KC5  
0,923  
0,789  
0,721  
TD2  
TD3  
TD1  
0,787  
0,722  
0,648  
0,599  
CK1  
DT2  
DT1  
CK2  
0,933  
0,775  
0,666  
1,172  
4,676  
0,834  
CH1  
CH2  
CH3  
6,317  
31,341  
0,86  
2,577  
11,719  
0,902  
2,021  
8,771  
0,864  
1,491  
5,459  
0,799  
Eigenvalue  
Phương sai trích  
Cronbach's Alpha  
3.1.4. Kiểm định thang đo bằng CFA  
Dữ liệu được đưa vào phân tích CFA với  
124 Đỗ Thị Lệ Huyền. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 56(5), 116-130  
mô hình điều chỉnh (Hình 2). Giả thuyết H12  
thêm vào: Đặc điểm hiển thị của mẫu quảng cáo  
trực tuyến càng che khuất nội dung và càng mất  
kiểm soát thì cảm nhận bị làm phiền càng cao.  
Sự khó chịu  
Đặc điểm hiển thị  
+(H12)  
+(H4)  
Cảm nhận  
bị làm phiền  
+(H6)  
-H3  
Thái độ đối  
với trang web  
Sự cuốn hút đối với quảng  
cáo  
Hình 2. Mô hình nghiên cứu điều chỉnh sau phân tích EFA  
Kết quả phân tích CFA cho thấy mô hình  
giữa các khái niệm với sai lệch chuẩn kèm  
theo cho chúng ta thấy hệ số này bé hơn 1 (có  
ý nghĩa thống kê). Các khái niệm nghiên cứu  
trong mô hình đều đạt được giá trị phân biệt  
tới hạn có 142 bậc tự do với giá trị Chi – bình  
phương là 184,29; giá trị p = 0,01. Mô hình có  
p < 5% tuy nhiên các chỉ tiêu khác cho thấy  
mô hình này phù hợp với dữ liệu của thị  
trường (χ2 / df = 1,298; CFI = 0,972; TLI =  
0,966). Các thành phần đạt được tính đơn  
hướng, không có mối tương quan giữa các sai  
số của các biến quan sát. Hệ số tương quan  
(Bảng 4). Các trọng số chuẩn hóa ( i) đều  
lớn hơn 0,5 và đạt mức ý nghĩa thống kê (các  
giá trị p đều bé hơn 5%) nên các biến quan sát  
dùng để đo lường các khái niệm nghiên cứu  
đều đạt được hội tụ.  
Bảng 4  
Kết quả kiểm định giá trị phân biệt giữa các thành phần trong mô hình  
Mối quan hệ  
<-->  
r
S.E.  
C.R.  
3,906  
2,352  
4,132  
2,994  
5,607  
4,922  
2,955  
4,133  
1,107  
2,149  
P
KC  
TD  
HT  
CH  
TD  
HT  
CH  
HT  
CH  
CH  
0,29  
0,074  
0,065  
0,068  
0,077  
0,077  
0,074  
0,078  
0,064  
0,07  
***  
XP  
XP  
XP  
XP  
KC  
KC  
KC  
TD  
TD  
HT  
<-->  
0,152  
0,283  
0,229  
0,433  
0,363  
0,232  
0,266  
0,077  
0,146  
0,019  
***  
<-->  
<-->  
0,003  
***  
<-->  
<-->  
***  
<-->  
0,003  
***  
<-->  
<-->  
0,268  
0,032  
<-->  
0,068  
Đỗ Thị Lệ Huyền. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 56(5), 116-130  
125  
Hình 3. Kết quả phân tích CFA  
3.1.5. Kiểm định mô hình nghiên cứu  
Kiểm định mô hình lý thuyết chính thức  
đánh giá mức phù hợp khác đều đạt yêu cầu  
(Hình 4). RMSEA < 0,08 nên mô hình được  
chấp nhận, do đó mô hình này thích hợp với dữ  
liệu thu thập từ thị trường; các mối quan hệ đều  
có ý nghĩa thống kê (p<5%) và các thang đo  
lường của các khái niệm trong mô hình đều đạt  
giá trị liên hệ lý thuyết vì “mỗi một đo lường có  
mối liên hệ với các đo lường khác như đã kỳ  
vọng về mặt lý thuyết” (Churchill, 2010).  
Kết quả phân tích cấu trúc tuyến tính mô  
hình lý thuyết cho thấy có 147 bậc tự do với giá  
trị thống kê Chi – bình phương là 258,162 (p =  
0,000). Khi điều chỉnh với bậc tự do CMIN/df  
= 1,756 thỏa điều kiện bé hơn 3 với quy mô  
mẫu < 200, điều này cho thấy mô hình thích  
hợp với dữ liệu thị trường. Hơn nữa các chỉ tiêu  
126 Đỗ Thị Lệ Huyền. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 56(5), 116-130  
Hình 4. Kết quả SEM mô hình lý thuyết (chuẩn hóa)  
Bảng 5  
Kết quả kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa các khái niệm trong mô hình lý thuyết  
Mối quan hệ  
Ước lượng ML  
0,515  
S.E.  
C.R.  
4,559  
2,426  
4,936  
3,03  
P
<---  
<---  
<---  
<---  
HT  
CH  
XP  
XP  
0,113  
0,078  
0,095  
0,089  
***  
XP  
XP  
KC  
TD  
0,189  
0,015  
***  
0,468  
0,27  
0,002  
Kiểm định mô hình cạnh tranh  
trang web qua giả thuyết H7: Có mối quan hệ  
giữa sự khó chịu và thái độ tiêu cực đối với  
trang web, quan hệ cùng chiều (Hình 5). Mối  
quan hệ này cũng đã được đánh giá trong  
nghiên cứu của McCoy và cộng sự (2008).  
Chỉ số điều chỉnh (MI) từ kết quả SEM của  
mô hình lý thuyết có giá trị là 36,911 cho mối  
tương quan giữa e21 và e22, do đó đề xuất mối  
quan hệ giữa yếu tố khó chịu và thái độ đối với  
Đỗ Thị Lệ Huyền. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 56(5), 116-130  
Sự khó chịu  
127  
Đặc điểm hiển thị  
+(H12)  
+(H4)  
+(H7)  
Cảm nhận bị  
làm phiền  
+(H6)  
-(H3)  
Thái độ đối với  
trang web  
Sự cuốn hút đối với quảng  
cáo  
Hình 5. Mô hình cạnh tranh  
Kết quả phân tích mô hình cạnh tranh  
cho thấy mô hình thích hợp với dữ liệu thị  
trường (Hình 6). So với mô hình lý thuyết  
chính thức, ∆ χ 2 = 42,408> 3.84 khi giảm  
một bậc tự do từ 147 thành 146, như vậy mối  
quan hệ đề nghị trong mô hình cạnh tranh  
làm tăng độ tương thích của mô hình với dữ  
liệu thị trường (Hair, J. F., 2009). Như vậy,  
sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê. Giả  
thuyết xây dựng trong mô hình cạnh tranh có  
ý nghĩa thống kê (r= 0,54; se = 0,083; p  
<5%) được chấp nhận.  
Hình 6. Kết quả SEM mô hình cạnh tranh  
128 Đỗ Thị Lệ Huyền. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 56(5), 116-130  
Kiểm định ước lượng mô hình cạnh tranh bằng Bootstrap  
Bảng 6  
Kết quả ước lượng bằng Bootstrap với N = 1000  
Ước lượng ML  
Ước lượng Bootstrap  
Mối quan hệ  
ML  
0,504  
0,19  
S.E.  
SE  
SE-SE  
0,003  
0,002  
0,003  
0,002  
0,002  
Mean  
0,509  
0,191  
0,439  
-0,012  
0,545  
Bias  
0,005  
0,001  
-0,001  
-0,011  
0,004  
SE-Bias  
0,004  
0,003  
0,004  
0,004  
0,003  
CR  
1,25  
0,114  
0,079  
0,093  
0,083  
0,083  
0,129  
0,095  
0,121  
0,112  
0,104  
XP-HT  
XP-CH  
KC-XP  
TD-XP  
TD-KC  
0,3333  
-0,25  
-2,75  
1,3333  
0,439  
-0,001  
0,541  
Giả thuyết H0: Bias = 0/ Ha: Bias ≠ 0. Từ  
Bảng 6 cho thấy các giá trị CR tính được đều  
bé hơn 1,96 suy ra p-value >5% nên bác bỏ  
Ha và chấp nhận H0 tức độ lệch (Bias) khác 0  
không có ý nghĩa thống kê ở mức tin cậy  
95%, do đó kết luận được các ước lượng trong  
mô hình cạnh tranh có thể tin cậy được.  
cảm nhận bị làm phiền, kết quả là 0,19 với sai  
lệch chuẩn se=0,079 và có mức ý nghĩa thống  
kê p=0,016<5% nên giả thuyết H3 không  
được chấp nhận, mối quan hệ này trái với kỳ  
vọng ban đầu, đó là tác động cùng chiều và  
mức độ giải thích không cao. Theo khảo sát,  
sự cuốn hút đối với quảng cáo trực tuyến  
không làm giảm cảm nhận bị làm phiền, trái  
lại cuốn hút càng cao càng có xu hướng làm  
chệch đi mục đích chính mà người xem đang  
nhắm đến, cảm nhận bị làm phiền vì thế cũng  
tăng lên.  
+) Riêng mối quan hệ giữa cảm nhận bị  
làm phiền và thái độ có hệ số tương quan (-  
0,001) với sai lệch chuẩn se = 0,083 không có  
ý nghĩa thống kê (p=0,993>5%), do đó bác bỏ  
giả thuyết H6. Như vậy mối quan hệ giữa cảm  
nhận bị làm phiền và thái độ tiêu cực đối với  
trang web còn mơ hồ, không thể hiện rõ trong  
nghiên cứu này. Kết quả mối quan hệ này  
cũng khá mờ nhạt và không rõ ràng trong  
nghiên cứu của McCoys và cộng sự (2008),  
mức độ giải thích 5,4%.  
Kiểm định giả thuyết và thảo luận kết quả  
nghiên cứu  
+) Kết quả ước lượng cho thấy mối quan  
hệ giữa hiển thị và cảm nhận bị làm phiền là  
0,504 với sai lệch chuẩn se = 0,114, ước  
lượng này có mức ý nghĩa thống kê p<5%,  
như vậy giả thuyết H12 được chấp nhận. Kết  
quả gần như tương đồng so với các nghiên  
cứu trước, việc che khuất nội dung người  
dùng internet đang xem gây tác động khá  
mạnh đến cảm nhận bị làm phiền hình thành  
trong họ. Tương tự, chấp nhận giả thuyết H4,  
cảm nhận bị làm phiền tác động trực tiếp cùng  
chiều đến sự khó chịu (0,439). Các nghiên  
cứu trước cũng cho thấy điều tương tự, hệ số  
tương quan giữa hai mối quan hệ này đạt  
0,687 trong quảng cáo trực tuyến (McCoy,  
2008); lớn hơn 0,7 trong nghiên cứu phát triển  
thang đo cho cảm nhận bị làm phiền (Li, H.,  
Edwards, S. M. & Lee, J. H., 2002); hay mức  
độ tương quan mạnh hơn (0,83) đối với hình  
thức quảng cáo qua di động (Wang, 2009).  
+) Xét mối quan hệ giữa sự cuốn hút và  
+) Cuối cùng, kết quả ước lượng mối  
quan hệ trong giả thuyết H7 là 0,541 với sai  
lệch chuẩn se =0,083 và có ý nghĩa thống kê  
(p=0,03< 5%) cho thấy rằng giả thuyết này  
được chấp nhận. Sự khó chịu tác động rõ rệt  
đến thái độ tiêu cực của người tiêu dùng đối  
với trang web và kết quả nghiên cứu này cũng  
Đỗ Thị Lệ Huyền. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 56(5), 116-130  
129  
khá tương đồng trong nghiên cứu của McCoy  
và cộng sự (2008), qua đó nhóm tác giả đã  
nhấn mạnh nếu sự khó chịu làm yếu tố trung  
gian giữa cảm nhận bị làm phiền và thái độ  
tiêu cực đối với trang web thì mức độ giải  
thích tăng lên đáng kể.  
4. Kết luận và hàm ý chính sách  
4.1. Kết luận và đề xuất ứng dụng kết  
quả nghiên cứu  
nhà tiếp thị cũng nên thận trọng hơn trong  
việc tận dụng các đặc trưng nhằm làm tăng sự  
cuốn hút đối với mẫu quảng cáo.  
Zaichkowsky (1994) cho thấy tính cuốn hút  
mang đến những hiệu ứng tích cực như tăng  
nhận diện thương hiệu hay mức độ nhận diện  
quảng cáo, tuy kết quả nghiên cứu cho thấy  
cuốn hút làm tăng tính phiền hà nhưng ở mức  
độ không cao, do đó cũng không nên quá khắt  
khe với tính cuốn hút mà cần dung hòa giữa  
nội dung quảng cáo tương đồng, nhiều ý nghĩa  
với khách hàng mục tiêu và việc lựa chọn loại  
hình quảng cáo trực tuyến phù hợp cùng  
khung thời gian hợp lý để mẫu quảng cáo tiếp  
cận khách hàng. Đối với các chủ sở hữu trang  
web, việc cân nhắc giữa lợi nhuận thu được và  
cái giá phải trả khi cung cấp dịch vụ quảng  
cáo là cần thiết vì khi cảm nhận bị làm phiền  
xuất hiện sẽ kéo theo sự khó chịu và dẫn đến  
những thái độ tiêu cực đối với trang web trong  
dài hạn.  
Đề tài xây dựng mô hình lý thuyết bao  
gồm các yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận bị  
làm phiền và các hệ quả trong môi trường  
quảng cáo trực tuyến. Vấn đề đã được quan  
tâm và nghiên cứu nhiều trên thế giới, tuy  
nhiên tại Việt Nam, cảm nhận bị làm phiền là  
một khái niệm hoàn toàn mới và chưa nhận  
được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên  
cứu. Thêm vào đó, đề tài còn đánh giá thêm  
tác động của “sự cuốn hút đối với quảng cáo”  
đến cảm nhận bị làm phiền. Kết quả phân tích  
cho thấy việc che phủ nội dung và quảng cáo  
xuất hiện với sự mất kiểm soát từ người dùng  
web tác động lớn đến cảm nhận bị làm phiền  
(0,504) và khi cảm nhận bị làm phiền hình  
thành thì sẽ kéo theo sự khó chịu (0,439),  
đồng thời thái độ tiêu cực từ phía người tiêu  
dùng với trang web đặt quảng cáo cũng tăng  
lên (0,541). Không như dự đoán ban đầu, sự  
cuốn hút đối với quảng cáo không làm giảm  
nhẹ cảm nhận bị làm phiền mà ngược lại,  
càng cuốn hút, tính phiền hà càng tăng, tuy  
nhiên mức độ tác động không lớn. Hệ quả né  
tránh bị loại bỏ trong quá trình nghiên cứu, do  
đó mối quan hệ giữa cảm nhận bị làm phiền  
và hành vi né tránh quảng cáo không thể hiện  
rõ trong nghiên cứu này.  
4.2. Các hạn chế và hướng nghiên cứu  
tiếp theo  
Nghiên cứu vẫn còn tồn tại vài hạn chế  
nhất định như: thái độ đối với trang web còn  
được giải thích bởi nhiều yếu tố khác, không  
chỉ đơn thuần là hình thức quảng cáo mà nó  
cung cấp, chẳng hạn như giao diện, tính năng  
dễ sử dụng hay lợi ích thông tin. Ngoài ra, sự  
cuốn hút đối với quảng cáo là yếu tố chịu  
nhiều ảnh hưởng từ chuẩn chủ quan  
(Krugman, 1966), do đó kết quả có thể rõ ràng  
hơn khi xem xét các biến quan sát của thang  
đo cuốn hút trong nghiên cứu này dựa trên  
một nghiên cứu khám phá về đặc trưng sự  
cuốn hút của người Việt Nam đối với riêng  
loại hình quảng cáo trực tuyến. Ngoài ra, mẫu  
khảo sát được thực hiện theo phương pháp lấy  
mẫu thuận tiện nên tính đại diện chưa cao.  
Mặc dù còn tồn tại một số hạn chế nhưng  
nghiên cứu đã đóng góp về mặt lý thuyết  
trong việc xây dựng mô hình của cảm nhận bị  
làm phiền đối với quảng cáo trực tuyến và đề  
xuất một số hàm ý quản trị thông qua kết quả  
nghiên cứu  
Kết quả nghiên cứu đóng góp ứng dụng  
thực tiễn trong chiến lược tiếp thị trực tuyến,  
kế hoạch nên được tiến hành với cân nhắc kỹ  
càng về cách thức hiển thị hay cơ chế tiếp cận  
khách hàng mục tiêu. Quảng cáo xuất hiện với  
kích thước vừa phải, vị trí phù hợp, tránh sự ồ  
ạt mang tính tấn công dồn dập là điều quan  
trọng mà các nhà quản trị nên cân nhắc khi  
hoạch định chiến lược tiếp thị. Ngoài ra, các  
130 Đỗ Thị Lệ Huyền. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 56(5), 116-130  
Tài liệu tham khảo  
Aaker, D. A. & Bruzzone, D. E. (1985). Causes of irritation in advertising. Journal of Marketing, 49(2), 47-57.  
Abernethy, A. M. (1991). Physical and mechanical avoidance of television commercials: An exploratory study of  
Zipping Zapping and Leaving. In Proceedings of the American Academy of Advertising (pp. 223-231). New  
York: The American Academy of Advertising.  
Bauer, R. A. & Greyser, S. A. (1968). Advertising in America, the consumer view. Boston: Harvard University Press.  
Bellamy Jr, R. V., & Walker, J. R. (1996). Television and the remote control: grazing on a vast wasteland. Guilford  
Press.  
Brehm & Jack, W. (1966). A theory of psychological reactance. New York: Academic Press.  
Chatterjee, P. (2008). Are unclicked ads wasted? Enduring effects of banner and pop-up ad exposures on brand  
memory and attitudes. Journal of Electronic Commerce Research, 9(1), 51-61.  
Chaudhuri, A. & Buck, R. (1997). Communication, cognition and involvement: A theoretical framework for  
advertising. Journal of Marketing Communications, 3(2), 111-125.  
Churchill, G. A. (1999). Marketing Research: Methodological Foundations. Orlando: Dryden Press, 7th ed, 32-44  
Cronin, J. J., & Menelly, N. E. (1992). Discrimination vs Avoidance: 'Zipping' of Television Commercials. Journal  
of Advertising, 21(2), 1-7.  
Edwards, S. M., Li, H. & Lee, J. H. (2002). Forced exposure and psychological reactance: Antecedents and  
consequences of the perceived intrusiveness of Pop-up ads. Journal of Advertising, 31(3), 83-95.  
Ha, L. (1996). Advertising clutter in consumer magazines: Dimensions and effects. Journal of Advertising Research,  
36(4), 76-85.  
Hair, J. F. (2009). Multivariate data analysis. Upper Saddle River, NJ: Prentice hall, 5(3), 207-219.  
Harker, D. (2008). Regulating online advertising: The benefit of qualitative insights. Qualitative Market Research:  
An International Journal, 11(3), 295-315.  
Kennedy, J. (1971). How program environment affects TV commercials. Journal of Advertising Research, 11(1),  
33-38.  
Krugman, H. (1966). The measurement of advertising involvement. Public Opinion Quarterly, 30(4), 583-596.  
Li, H., Edwards, S. M. & Lee, J. H. (2002). Measuring the intrusiveness of advertisements: Scale development and  
validation. Journal of Advertising, 31(2), 37-47.  
Matthaes, R. (2011). Vietnamese people are much more open to online advertising than internet users elsewhere.  
Vietnam Economic Times.  
McCoy, S. E. (2008). An experimental study of antecedents and consequences of online ad intrusiveness. Journal of  
Human-Computer Interaction, 24(7), 672-699.  
Naveh-Benjamin, M. G. (2003). The effects of divided attention at encoding on item and associative memory.  
Memory & Cognition, 31(7), 1021–1035.  
Nielsen. (2014). Báo cáo người dùng Internet Vietnam 2014. Truy cập ngày 10/07/2015, từ  
Wang, T. O. (2009). Antecedents and consequences of mobile advertising intrusiveness. In The 9th International  
Conference on Electronic Business. Macau.  
Ying, L. K. (2009). The effect of ad value, ad placement and ad execution on the perceived intrusiveness of web  
advertisements. International Journal of Advertising, 28(4), 623-638.  
Zaichkowsky, J. (1994). The personal involvement inventory: Reduction, revision, and application to advertising.  
Journal of advertising, 23(4), 59-70.  
pdf 15 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 10660 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng và hệ quả của cảm nhận bị làm phiền trong quảng cáo trực tuyến", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_yeu_to_anh_huong_va_he_qua_cua_cam_nhan_bi_lam_ph.pdf