Ước lượng định vị sự cố ngắn mạch hai vị trí không đồng bộ
ƯỚC LƯỢNG ĐỊNH VỊ SỰ CỐ NGẮN MẠCH HAI
VỊ TRꢀ KHÔNG ĐỒNG BỘ
UNSYNCHRONIZED TWO-TERMINAL FAULT
LOCATION ESTIMATION
Trương Đình Nhơn1, Châu Vũ2
1Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
1Học viên cao học, Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
TÓM TẮT
Một kỹ thuật để ước lượng vị trí sự cố sử dụng dữ liệu từ cả hai đầu của đường dây truyền tải và
không đòi hỏi dữ liệu được đồng bộ hóa được đề xuất. Kỹ thuật này tận dụng đầy đủ các ưu điểm
của công nghệ số và rờ le số hiện nay và có thể dễ dàng áp dụng cho phân tích offline. Kỹ thuật
này cho phép ước lượng chính xác vị trí ngắn mạch cho các loại ngắn mạch, điện trở ngắn mạch,
dòng điện tải và tổng trở nguồn. Sử dụng dữ liệu hai đầu cuối cho phép các thuật toán để loại bỏ
các giả định trước đó trong dự toán vị trí lỗi, do đó tăng độ chính xác của ước tính. Nguyên lý
hoạt động không yêu cầu thông tin liên lạc thời gian thực, chỉ cần phân tích dữ liệu sau khi có sự
cố ngắn mạch xuất hiện. hiệu quả của giải thuật được chứng minh dựa trên mô phỏng trong phần
mềm Matlab/Simulink.
Từ khóa: Định vị sự cố ngắn mạch, lưới điện truyền tải, phương pháp tổng trở, MatLab/Simulink.
ABSTRACT
A technique for fault location estimation which uses data from both ends of the transmission line and which
does not require the data to be synchronized is described. The technique fully utilizes the advantages of
digital technology and numerical relaying which are available today and can easily be applied for offline
analysis. This technique allows for accurate estimation of the fault location irrespective of the fault type,
fault resistance, load currents, and source impedances. Use of two-terminal data allows the algorithm to
eliminate previous assumptions in fault location estimation, thus increasing the accuracy of the estimate.
The described scheme does not require real time communications, only off-line post-fault analysis. The
paper also presents fault analysis techniques utilizing the additional communicated information. The
performance of the proposed algorithm was demonstrated based on simulation in Matlab software /
Simulink.
Keywords: Fault location, transmission line, impedance-base approach, MatLab/Simulink.
tích hợp vào các rơle số. một số các thuật toán
này được đề xuất như trong các nghiên cứu
[1][2][3][4][5]. Các thuật toán định vị sự cố
ngắn mạch dùng dữ liệu chỉ từ một đầu đường
dây sẽ cho kết quả tốt nếu biết được các thông
số tổng trở đường dây và thỏa mãn các giả
thuyết điều kiện ban đầu đối với các thuật toán
định vị dựa trên dữ liệu trên một đầu dây như
điển hình trong [2]. Để tránh ảnh hưởng của
các giá trị tổng trở nguồn, một số giả định nhất
định cần được sử dụng, dẫn đến các giải pháp
này chỉ có tính gần đúng. Nghiên cứu trong
[4] giả định rằng tỉ số phân bố dòng điện thứ
tự nghịch là một số thực. một số nghiên cứu
khác trong [1], [5] giả định rằng tỉ số phân bố
dòng điện tại các đầu dây sự cố có cùng biên
độ. Trừ khi những giả định này là đúng đối với
1. GIỚI THIỆU
Sau khi xảy ra sự cố, các công ty cấp điện
sẽ cố gắng khôi phục nguồn điện càng nhanh
càng tốt. Phục hồi nhanh chóng dịch vụ cấp
điện làm giảm khiếu nại của khách hàng, thời
gian ngừng hoạt động, mất doanh thu và chi
phí sửa chữa. Tất cả những yếu tố này ngày
càng quan trọng đối với các công ty điện lực
khi đang đối mặt với những thách thức trong
thị trường điện cạnh tranh ngày nay. Để hỗ trợ
khôi phục dịch vụ nhanh chóng và hiệu quả,
các thuật toán đã được phát triển để cung cấp
ước lượng chính xác vị sự cố. Các thuật toán
này đã được phát triển trên nhiều nguyên tắc
sử dụng thông tin có sẵn trong trạm biến áp.
Các thuật toán sử dụng dữ liệu cục bộ đã được
thực hiện trong các thiết bị độc lập và được
một hệ thống cụ thể, các thuật toán có thể có
một lỗi đáng kể trong tính toán vị trí sự cố
ngắn mạch.
trở kháng thứ tự dương đã được đề xuất trong
[9]. Sử dụng các phép đo đồng bộ để giải
quyết bài toán định vị ngắn mạch bằng kỹ
thuật miền thời gian cũng được gợi ý trong
[10].
Một cách tiếp cận mới là xem xét việc sử
dụng dữ liệu từ cả hai đầu của đường truyền
tải, và một số kỹ thuật vị trí lỗi hai đầu đã được
đề xuất. Một bài báo sử dụng ước lượng góc
pha trước sự cố cho định vị sự cố dựa trên
thông số hai đầu đường truyền tải như trong
[5]. Các pha trước sự cố được so sánh để xác
định sai số đồng bộ hóa giữa hai đầu. Sử dụng
sai số đồng bộ hóa, vị trí sự cố được tính theo
cách đơn giản. Cách tiếp cận này yêu cầu
người sử dụng tự xác định dữ liệu trước sự cố,
tính toán sai số đồng bộ, và sau đó tính vị trí
sự cố. ngoài ra, phương pháp này không thể
áp dụng cho trường hợp không có phụ tải
trước sự cố, vị dụ trường hợp đóng lặp lại của
recloser. Một cách tiếp cận khác sử dụng các
giá trị phasngay thời điểm sự cố để xác định
vị trí sự cố [6]. Các phương trình điện áp rơi
được giải quyết bằng cách sử dụng tọa độ
Cartesian, kết quả là một phương trình bậc hai
cho các sai số góc đồng bộ được tìm được. Sau
khi sử dụng phương trình bậc hai để giải quyết
cho đồng bộ hóa sai số, vị trí sự cố có thể được
tính toán. Tuy nhiên thuật toán cũng yêu cầu
xác định chính xác loại sự cố ngắn mạch. Điều
này làm giảm hiệu quả do sai sót trong phân
loại các sự cố ngắn mạch do nhiều loại sự cố
ngắn mạch mới đang được bổ sung thêm. Một
kỹ thuật khác cho thấy việc sử dụng các bộ
đồng bộ cho vị trí lỗi hai đầu cuối [7]. Các tác
giả sử dụng các tham số ABCD để xác định
thông số đường truyền và xây dựng các
phương trình cho vị trí sự cố. Các phương
trình khác nhau được dựa trên kiểu ngắn mạch
và kỹ thuật lặp Newton đối với các phương
trình phi tuyến tính được sử dụng để phát hiện
khoảng cách tới sự cố ngắn mạch. Việc sử
dụng cả hai phương pháp đồng bộ và không
đồng bộ được đề xuất trong tài liệu tham khảo
[8]. Thuật toán mô hình hóa đường sử dụng
ma trận trở kháng ba pha và sai số đồng bộ
hóa. Vị trí sự cố ngắn mạch không xác định và
lỗi đồng bộ hóa đã được tìm ra trong một định
dạng ma trận và các phương trình đã được giải
quyết bằng cách sử dụng kỹ thuật bình
phương nhỏ nhất nếu không có sai số đồng bộ
hóa. Một kỹ thuật sử dụng đồng bộ góc pha và
Thuật toán này không phụ thuộc vào loại
lỗi, nhưng tác giả cho biết phương pháp này
bị ảnh hưởng bởi khoảng lấy mẫu và phương
pháp số đã chọn. Cần lưu ý rằng đối với tất cả
các kỹ thuật này, và một trong những chi tiết
trong bài báo này, giao tiếp thời gian thực
không bắt buộc. Trong khi một số yêu cầu dữ
liệu thời gian chính xác lấy mẫu dữ liệu, tất cả
các phân tích có thể được thực hiện off-line.
Các nghiên cứu hiện nay đang hướng tới các
phương pháp xác định góc đồng bộ khi chúng
có tính khả thi cao [9], [10]. Hiện tại có một
số các giải pháp nhằm nâng cao độ chính xác
khi đồng bộ như sử dụng các vệ tinh địa tĩnh
(Global Positioning Satellite-GPS) hay sử
dụng cáp quang [11]. Tuy nhiên các phương
pháp này khá tốn kém cho các phần cứng đi
kèm. Điều đó hương tới phương pháp sử dụng
dữ liệu không đồng bộ giữa hai đầu đường dây
và đồng bộ chúng dựa trên các phương pháp
số hóa. Các thuật toán đồng bộ hóa dữ liệu dựa
trên các phương pháp số cho phép cải thiện độ
chính xác khi có sự bất đồng bộ giữa dữ liệu
các đầu dây do tỉ lệ laấy mẫu hoặc do sự dịch
pha của các thiết bị đo lường.
2. MÔ TẢ GIẢI THUẬT MỚI
2.1 Thời gian nhận bài viết cho từng số
Bài báo trình bày phương pháp định vị sự
cố ngắn mạch lưới truyền tải đo từ hai đầu
đường dây. Phương pháp đo từ 2 đầu đường
dây được mô tả như trong Hình 1.
Hình 1
Giả sử xuất hiện sự cố ngắn mạch tại một
điểm nào đó cách đầu A một khoảng m. Gọi
Vf
là điện áp sự cố tại điểm ngắn mạch, giá trị
Vf
được tính như sau:
Với
Vf VA m.Z.IA
Vf VA m.Z.IA
V V 1m .Z.I
(1)
(2)
(3)
C R.Re I X.Im I
A
A
A
B
B
1
(12)
(13)
(14)
(15)
C R.Im I X.Re I
A
2
f
B
B
C R.Re I X.Im I
B
3
Với:
VA,V
C R.Im I X.Re I
B
4
B là điện áp sự cố ngắn mạch tại các
Để loại bỏ tham số m, chia vế theo vế của
(10) với (11) sẽ thu được (16)
đầu dây A và B.
IA, I
B là dòng điện sự cố ngắn mạch chạy
vào dây dẫn lần lượt từ A và B.
Re V .sin
Im V cos
Im V C
A
A
B
4
Re V .cos
A
Im V sin
Re V C
B
A
3
Z
là tổng trở đơn vị trên đường dây.
Z R jX
C1 sin
C2 cos
C4
C1 cos
C2 sin
C3
(16)
Bằng cách trừ (2) cho (3) vế theo vế ta
nhận được
Quy đồng mẫu số (16) và biến đổi đẳng
thức thu được sẽ thu được phương trình lượng
giác có dạng như (17).
V V Z.I m.Z I I
B
A
B
B
A
(4)
Do dữ liệu tại hai đầu A và B chưa được
đồng bộ với nhau. Do đó, để đồng bộ hai đầu
a* sin bcos c 0
(17)
Với:
với nhau, một góc đồng bộ
được thêm vào
a
b
c
C Re V C Im V C Re V
A A B
phương trình (3.18) và làm cho chúng đồng
bộ thời gian với nhau. Lúc này, điện áp và
dòng điện tại các đầu dây A và B được viết lại
như sau:
3
4
1
C Im V C C C C
B
2
1
3
2
4
(18)
(19)
(20)
C Re V C Im V C Re V
A A B
4
3
2
C Im V C C C C
B
1
2
3
1
4
V V
i
A
A
(5)
(6)
(7)
(8)
C Re V C Im V
A
A
2
1
VB VBi
I I
C Re V C Im V
B B
4
3
i
A
A
Như vậy giải phương trình lượng giác
(17) theo phương pháp giải lặp Newton –
Raphson. Phương trình lặp có dạng (21):
IB IBi
,,,
Với
là các góc đo được.
F
k
Phương trình (4) được viết lại như sau:
k1
k
F
k
(21)
V .ej V Z.I m.Z I .ej I
B
A
B
B
A
(9)
F
F
Với các hàm số
và
được
k
k
Góc đồng bộ pha có thể được biểu diễn
thể hiện lần lượt trong (22) và (23)
cos jsin
thành
. Phương trình (9) có
F
asink bcosk c
k
(22)
(23)
thể viết dưới dạng tách riêng thành phần thực
và ảo các số phức lần lượt như trong (10) và
(11)
F acos bsin
k
k
k
Bài toán này yêu cầu phải cho trước một
Re V .sin Im V cos Im V C
A
A
B
4
giá trị cho
để có thể bắt đầu việc tính toán.
(10)
(11)
m C sin C cos C
4
Vòng lặp sẽ kết thúc khi nhận được sai số nhỏ
hơn một giá trị tối thiểu được chỉ định cụ thể
1
2
Re V .cos Im V sin Re V C
A A B
3
nào đó. Khi đã xác định được góc đồng bộ
vị trí sự cố ngắn mạch sẽ được tính toán dựa
,
m C cos C sin C
3
1
2
trên phương trình (3.24 hoặc 3.25).
Nếu dùng phương trình (24), vị trí sự cố
là:
Re V .sin
A
Im V cos
Im V C
B
A
4
m
(24)
C1 sin
C2 cos C4
Hình 3 Sơ đồ mạch mô phỏng lưới điện gặp
sự cố ngắn mạch
Khi có sự cố ngắn mạch xuất hiện trên
một đường dây truyền tải, các giá trị dòng điện
và điện áp được đo tại đầu các nhánh dây. Kết
hợp với các thông số đường dây đã biết, hoàn
toàn có thể tính toán được vị trí sự cố ngắn
mạch khi sử dụng phương pháp bù góc lệch
3.2 Ngắn mạch pha A chạm đất.
Tác động của sự thay đổi vị trí ngắn mạch
lên kết quả tính toán vị trí sự cố ngắn mạch
trong trường hợp không có sự thay đổi độ lệch
đo lường giữa hai đầu nguồn trong trường hợp
ngắn mạch pha A chạm đất được thể hiện
trong Bảng 2. Qua hình nhận thấy sự sai khác
giữa giá trị thực tế vị trí ngắn mạch và giá trị
ước lượng được của phương pháp được đề
xuất là bằng 0. Điều này cho thấy ưu điểm của
phương pháp đo trên hai đầu nguồn so với các
phương pháp khác.
như được đề xuất trong các phương trình
trên.
3. KẾT QUẢ MÔ PHỎNG.
3.1 Mô hình hóa mô phỏng.
Nhằm đánh giá cho giải thuật định vị sự
cố ngắn mạch được đề xuất, một mô hình
đường dây truyền tải được xây dựng trên mô
hình MatLab/Simulink được xây dựng dựa
trên thông số từ đường dây 110KV An Biên -
Vĩnh Thuận tỉnh Kiên Giang. Các thông số cơ
bản của đường dây này được trình bày trong
Bảng 1. Dựa trên các thông số thu được
Bảng 2 Kết quả định vị sự cố trong ngắn
mạch pha A chạm đất
Bảng 1 Thông số đường dây 110KV An Biên
- Vĩnh Thuận tỉnh Kiên Giang
Thông số
Giá trị
Đơn
vị
Chiề u dài đường dây 38.641
Km
Kết quả nhận dạng sự lệch đồng bộ trong
đo lường tại hai đầu dây nguồn trong trường
hợp ngắn mạch pha Achạm đất không quá 9%
như thể hiện trong Bảng 3. Qua đó cho thấy
phương pháp nhận dạng độ lệch này cho ra kết
quả cao và chính nó giúp cho việc định vị sự
cố ngắn mạch chính xác hơn.
Loạ i dây
ACSR240/32
Tiế t diệ n (nhôm/thép) 244/31.7
mm2
mm2
A
Ω/km
Ω/km
Đường kính
21.6/7.2
615
0.1182
0.378
Dòng đị nh mức
Điệ n trở đơn vị
Điệ n kháng đơn vị
38.641 Km
Vf
Bảng 3 Kết quả xác định độ lệch trong ngắn
mạch pha A chạm đất
Va
Vb
Ib
Ia
Hình 2 Sơ đồ đơn tuyến lưới điện truyền tải
cơ bản
giá trị ước lượng được của phương pháp được
đề xuất là bằng 0. Điều này cho thấy ưu điểm
của phương pháp đo trên hai đầu nguồn so với
các phương pháp khác.
3.3 Ngắn mạch hai pha AB chạm nhau.
Tác động của sự thay đổi vị trí ngắn mạch
lên kết quả tính toán vị trí sự cố ngắn mạch
trong trường hợp không có sự thay đổi độ lệch
đo lường giữa hai đầu nguồn trong trường hợp
ngắn mạch hai pha AB chạm nhau được thể
hiện trong Bảng 4. Qua hình nhận thấy sự sai
khác giữa giá trị thực tế vị trí ngắn mạch và
giá trị ước lượng được của phương pháp được
đề xuất nhỏ hơn 0.02%. Điều này cho thấy ưu
điểm của phương pháp đo trên hai đầu nguồn
so với các phương pháp khác.
Bảng 6 Kết quả định vị sự cố trong ngắn
mạch ba pha chạm đất.
Bảng 4 Kết quả định vị sự cố trong ngắn
mạch hai pha AB chạm nhau
Kết quả nhận dạng sự lệch đồng bộ trong
đo lường tại hai đầu dây nguồn trong trường
hợp ngắn mạch ba pha ABC chạm đất không
quá 9% như thể hiện trong Bảng 7. Qua đó cho
thấy phương pháp nhận dạng độ lệch này cho
ra kết quả cao và chính nó giúp cho việc định
vị sự cố ngắn mạch chính xác hơn.
Bảng 7 Kết quả xác định độ lệch trong ngắn
mạch ba pha chạm đất
Kết quả nhận dạng sự lệch đồng bộ trong
đo lường tại hai đầu dây nguồn trong trường
hợp ngắn mạch hai pha AB chạm nhau không
quá 8% như thể hiện trong Bảng 5. Qua đó cho
thấy phương pháp nhận dạng độ lệch này cho
ra kết quả cao và chính nó giúp cho việc định
vị sự cố ngắn mạch chính xác hơn.
Bảng 5 Kết quả xác định độ lệch trong ngắn
mạch hai pha AB chạm nhau
4. KẾT LUẬN
Bài báo đã đề xuất được phương pháp
mới trong định vị sự cố ngắn mạch đường dây
truyền tải đo từ hai đầu. Phương pháp được đề
xuất có khả năng đồng bộ thời gian của các tín
hiệu dòng áp trên hai đầu các bộ đo hoàn toàn
độc lập với quá trình đo lường thông quá việc
tính toán đại số các tín hiệu thu được. Điều
này nâng cao hiệu quả quá trình tính toán và
giảm đi sự phức tạp trong quá trình đo lường.
Kết quả thu được sau quá trình mô hình hóa
và mô phỏng cho thấy phương pháp được đề
xuất có tính khả thi cao.
3.4 Ngắn mạch ba pha chạm đất
Tác động của sự thay đổi vị trí ngắn mạch
lên kết quả tính toán vị trí sự cố ngắn mạch
trong trường hợp không có sự thay đổi độ lệch
đo lường giữa hai đầu nguồn trong trường hợp
ngắn mạch ba pha ABC chạm đất được thể
hiện trong Bảng 6. Qua hình nhận thấy sự sai
khác giữa giá trị thực tế vị trí ngắn mạch và
5. TÀI LIỆU TRÍCH DẪN:
[1] T. Takagi, “Development of a New Type Fault
Ldcator Using the One-Terminal Voltage and
Current Data,” IEEE Trans. Power Appar. Syst.,
vol. PAS-101, no. 8, pp. 2892–2898, 1982.
[7] D. J. Lawrence, L. Z. Cabeza, and L. T. Hochberg,
“Development of an Advanced Transmission
Line Fault Location System. II. Algorithm
Development and Simulation,” IEEE Trans.
Power Deliv., vol. 7, no. 4, pp. 1972–1983, 1992.
[2] G. D. R. L. Eriksson, M. Saha, “An Accurate
Fault Locator with Compensation for Apparent
Reactance in the Fault Resistance Resulting from
Remote-End Infeed,” IEEE Trans. PAS, vol. PAS-
104, no. February, pp. 424–436, 1985.
[8] A. A. Girgis, D. G. Hart, and W. L. Peterson, “A
New Fault Location Technique for Two- and
Three-Terminal Lines,” IEEE Trans. Power Deliv.,
vol. 7, no. 1, pp. 98–107, 1992.
[3] M. T. Sant and Y. G. Paithankar, “Online Digital
Fault Locator for Overhead Transmission Line,”
Proc. Inst. Electr. Eng., vol. 126, no. 11, pp. 1181–
1185, 1979.
[9] and E. U. D. G. Hart, D. Novosel, “Application
of Synchronized Phasors to Fault Location
Analysis,” Appl. Synchronized Phasors Conf.
Washington, DC, 1993., p. 1993, 1993.
[4] D. Novosel, D. G. Hart, E. Udren, and M. M. Saha,
“Fault location using digital relay data,” IEEE
Comput. Appl. Power, vol. 8, no. 3, pp. 45–50,
1995.
[10] M. Kezunovic and B. Perunicic, “An Accurate
Fault Location Using Synchronized Sampling at
Two Ends of
Applications
Conference, Washington, DC, 1993, pp. 1057–
1062.
a
of
Transmission Line,” in
Synchronized Phasors
[5] E. O. Schweitzer, “Evaluation and development
of transmission line fault-locating techniques
which use sinusoidal steady-state information,”
Comput. Electr. Eng., vol. 10, no. 4, pp. 269–278,
1983.
[11] and K. S. K. Urasawa, K. Kanemaru, S. Toyota,
“New Fault Location System For Power
Transmission Lines Using Composite Fiber-Optic
Overhead Ground Wire (OPGW),” IEEE Power
Eng. Rev., no. October, p. 43, 1989.
[6] M. S. Sachdev and R. Agarwal, “A technique for
estimating transmission line fault locations from
digital impedance relay measurements,” IEEE
Trans. Power Deliv., vol. 3, no. 1, pp. 121–129,
1988.
Tác giả chịu trách nhiệm bài viết:
Họ tên: Châu Vũ
Đơn vị: Công ty điện cao thế Miền Nam
Điện thoại: 0963917927
Email: [email protected]
XꢁC NHẬN CꢂA CꢁN BỘ HƯỚNG DẪN
PGS. TS. TRƯƠNG ĐꢃNH NHƠN
BÀI BÁO KHOA HỌC
THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ
Bài báo khoa học của học viên
có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn
Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.
Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý
của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.
ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN!
Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2018-2019 của Thư viện Trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.
Bạn đang xem tài liệu "Ước lượng định vị sự cố ngắn mạch hai vị trí không đồng bộ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
uoc_luong_dinh_vi_su_co_ngan_mach_hai_vi_tri_khong_dong_bo.pdf

