Ứng dụng mô hình tích hợp Ales - Gis đánh giá thích nghi đất đai phục vụ phát triển cây chè khu vực di linh - Bảo Lộc

35(3), 272-279  
Tạp chí CÁC KHOA HỌC VỀ TRÁI ĐẤT  
9-2013  
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH TÍCH HỢP ALES - GIS  
ĐÁNH GIÁ THÍCH NGHI ĐẤT ĐAI  
PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN CÂY CHÈ KHU VỰC  
DI LINH - BẢO LỘC  
HOÀNG THỊ HUYỀN NGỌC, NGUYỄN ĐÌNH KỲ, LƯU THẾ ANH  
Viện Địa lý, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam  
Ngày nhận bài: 11 - 4 - 2013  
1. Mở đầu  
Khung đánh giá đất đai do FAO đề xuất (1976)  
Linh - Bảo Lộc). Với lịch sử phát triển gần 100  
năm, cây chè trở thành thương hiệu cho vùng đất  
này như chè B’Lao. Hàng năm, Lâm Đồng có sản  
lượng chè cao, năm 2010 đã thu hoạch được  
204.031 tấn chè búp tươi, thu nhập từ chè cao nhất  
cả nước (> 280 triệu đồng/ha/năm) [5]. Mặc dù sản  
lượng và thu nhập từ cây chè ở đây trong những  
năm qua không ngừng tăng, song cây chè vẫn chưa  
thực sự phát triển tương xứng với tiềm năng của  
vùng. Nguyên nhân do tình hình canh tác còn tự  
phát, hiệu quả sản xuất bấp bênh, chất lượng chè  
chưa ổn định,… Đồng thời, vấn đề thoái hóa đất  
trồng chè ngày càng trở nên nghiêm trọng. Do vậy,  
việc nghiên cứu xác định những vùng đủ điều kiện  
sản xuất chè tập trung và ổn định, đưa ra các  
phương án quy hoạch vùng chuyên canh chè chất  
lượng cao, phục vụ phát triển bền vững vùng  
nguyên liệu chè là hết sức cần thiết [6]. Nghiên cứu  
được thực hiện với mục tiêu đánh giá thích nghi  
đất đai nhằm đề xuất diện tích thích hợp cho phát  
triển chè tại khu vực Di Linh - Bảo Lộc của tỉnh  
Lâm Đồng bằng mô hình tích hợp ALES - GIS.  
là phương pháp đánh giá định lượng, đã được áp  
dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia phục vụ cho quy  
hoạch sử dụng đất và phát triển nông nghiệp bền  
vững [8]. Tuy nhiên, bước tính toán dựa trên bảng  
thích nghi và đánh giá tổng hợp lại mang tính thủ  
công lặp đi lặp lại, đòi hỏi nhiều thời gian và dễ  
xảy ra sai sót. Phần mềm đánh giá đất đai tự động  
(Automated Land Evaluation System - ALES) được  
Rossiter D.G (2000) phát triển với mục đích cung  
cấp khả năng tự động hóa trong đánh giá đất đai,  
được phát triển dựa trên phương pháp đánh giá đất  
đai của FAO [4]. Cây quyết định (Decision tree)  
trong ALES cung cấp khả năng đánh giá linh hoạt  
hơn so với việc xây dựng các bảng thích nghi của  
FAO trước đây. Hạn chế chính của ALES là chỉ xử  
lý các dữ liệu thuộc tính (Attribute) và không thể  
biểu diễn dữ liệu không gian trên bản đồ [1]. Trong  
khi đó, hệ thống thông tin địa lý (GIS) có khả năng  
quản lý và phân tích dữ liệu đầu vào (tính chất đất  
đai) và thể hiện dữ liệu đầu ra của ALES dưới dạng  
bản đồ thích nghi đất đai và bản đồ đề xuất sử dụng 2. Cơ sở dữ liệu và phương pháp nghiên cứu  
đất [1]. Do đó, mô hình tích hợp ALES - GIS cho  
phép tích hợp các bản đồ chuyên đề, thực hiện  
2.1. Cơ sở dữ liệu  
đánh giá thích nghi đất đai và biểu thị trực quan kết  
quả đánh giá trên bản đồ.  
Các bản đồ đất theo hệ thống phân loại của  
FAO-UNESCO, bản đồ sinh khí hậu và bản đồ  
hiện trạng sử dụng đất khu vực Di Linh - Bảo Lộc  
cùng tỷ lệ 1:50.000; mô hình số độ cao SRTM độ  
phân giải không gian 30m đã được sử dụng cho  
Tỉnh Lâm Đồng có diện tích canh tác chè lớn  
nhất cả nước, khoảng 23.557 ha. Trong đó, 94%  
diện tích chè của tỉnh tập trung ở Tp. Bảo Lộc,  
huyện Di Linh và Bảo Lâm (gọi tắt là khu vực Di mục tiêu nghiên cứu.  
272  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
các chỉ tiêu trong đánh giá như một số phương  
pháp khác. Các bước thực hiện trong ALES gồm:  
(i) Liệt kê tham khảo (Reference List), (ii) Lựa  
chọn loại hình sử dụng đất (Land Utilization  
Types), (iii) Kết quả (Result), (iv) Báo cáo kết quả  
(Report), (v) Tra cứu (Consult), (iv) Kết nối với  
IDRISI để tạo bản đồ. Các bước nghiên cứu được  
tiến hành như sau (hình 1).  
Công tác phân hạng thích nghi đất đai tuân theo  
“Quy trình đánh giá đất đai phục vụ cho sản xuất  
nông nghiệp” được Bộ NN & PTNT ban hành năm  
1999 [7]. Chương trình đánh giá của ALES sử  
dụng 2 phương pháp là (1) điều kiện giới hạn và  
(2) sự kết hợp các yếu tố dựa vào cây quyết định  
(Decision Tree) mà không sử dụng trọng số của  
Mục tiêu đánh giá  
Cơ sở dữ liệu đất đai  
(loại đất, độ dốc, khí hậu…)  
Loại hình sử dụng đất (LUT) lựa chọn  
đánh giá  
Yêu cầu sinh thái của LUT  
GIS (overlay)  
Bước 1  
Tiêu chí đánh giá, phân cấp thích  
nghi (S1, S2, S3, N)  
Bản đồ đơn vị đất đai (LUM)  
Kiểm tra,  
ALES  
điều chỉnh  
Bước 2  
Kết quả đánh giá thích nghi  
Bước 3  
GIS xuất bản đồ thích nghi  
Bảng, biểu số liệu  
Hình 1. Quy trình tích hợp ALES - GIS trong đánh giá thích nghi đất đai  
- Bước 1: Xác định mục tiêu đánh giá, thu thập Bảo Lộc;  
dữ liệu và xác định yêu cầu sinh thái của cây chè,  
lựa chọn và phân cấp các chỉ tiêu cho đánh giá và  
xây dựng bản đồ đơn vị đất đai khu vực Di Linh -  
- Bước 2: Kết xuất bảng dữ liệu thuộc tính của  
các đơn vị đất đai sang ALES, xây dựng cây quyết  
273  
mềm GIS sử dụng trong nghiên cứu là MapInfo 10.5.  
3. Kết quả nghiên cứu  
định và tiến hành đánh giá thích nghi các đơn vị  
đất đai đối với cây chè;  
- Bước 3: Xuất kết quả đánh giá từ ALES sang  
GIS và xây dựng bản đồ phân hạng thích nghi đất  
đai cho cây chè. Mức độ thích nghi đất đai được  
phân chia thành 4 cấp: Rất thích nghi (S1), thích  
nghi trung bình (S2), ít thích nghi (S3) và không  
thích nghi (N) [8].  
3.1. Các chỉ tiêu và phân cấp cho đánh giá thích  
nghi đất đai đối với cây chè  
Trên cơ sở nhu cầu sinh lý, sinh thái của cây  
chè và điều kiện thực tế (như chất lượng và đặc  
điểm đất đai, địa hình, sinh khí hậu,...) của khu vực  
Di Linh - Bảo Lộc, lựa chọn được 06 chỉ tiêu để  
xây dựng bản đồ đơn vị đất đai gồm: loại đất, độ  
cao, độ dốc, độ dày tầng đất, thành phần cơ giới và  
sinh khí hậu (lượng mưa trung bình năm và độ dài  
Chồng xếp (overlay) bản đồ phân hạng thích  
nghi đất đai cho cây chè với bản đồ hiện trạng sử  
dụng đất để xác định những diện trồng tích chè trên  
các đơn vị đất có cấp thích nghi khác nhau. Phần mùa khô) thể hiện trong bảng 1.  
Bảng 1. Các chỉ tiêu phân cấp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai  
Chỉ tiêu  
Ký hiệu  
G1 Loại đất phù sa và dốc tụ (Py, D)  
G2 Loại đất đen (Ru)  
Phân cấp chỉ tiêu  
G3 Loại đất nâu đỏ và nâu vàng trên đá basalt (Fu, Fk)  
1. Loại đất  
G
G4 Loại đất đỏ vàng (Fđ)  
G5 Loại đất vàng đỏ (Fa)  
G6 Loại đất mùn vàng đỏ (Ha)  
D1 > 100cm  
2. Độ dày tầng đất  
3. Độ dốc  
D
D2 70 - 100cm  
D3 < 70cm  
SL1 < 3o  
SL2 3o - 8o  
SL3 8o - 15o  
SL  
C
SL4 > 15o  
C1 Cát pha  
4. Thành phần  
cơ giới  
C2 Thịt nhẹ  
C3 Thịt trung bình - nặng  
H1 < 600m  
H2 600 - 1.000m  
5. Độ cao  
H
H3 1.000 - 1.600m  
H4 > 1.600m  
CL1 Mưa rất nhiều (R ≥ 2500 mm) và mùa khô ngắn (n ≤ 2 tháng)  
CL2 Mưa rất nhiều (R ≥ 2500 mm) và mùa khô trung bình (3 ≤ n ≤ 4 tháng)  
CL3 Mưa trung bình năm nhiều (2000 mm ≤ R ≤ 2500 mm) và mùa khô ngắn (n ≤ 2 tháng)  
CL4 Mưa trung bình năm nhiều (2000mm ≤ R ≤ 2500mm) và mùa khô trung bình (3 tháng ≤ n ≤ 4 tháng)  
CL5 Mưa trung bình năm vừa (1500mm ≤ R ≤ 2000 mm) và mùa khô trung bình (3 tháng ≤ n ≤ 4 tháng)  
CL6 Mưa trung bình năm thấp (R ≤ 1500 mm) và mùa khô trung bình đến dài (n ≥ 3 tháng)  
6. Sinh khí hậu  
CL  
Nguồn: Hoàng Thị Huyền Ngọc, 2012 [3]  
3.2. Bản đồ đơn vị đất đai  
từng loại đất. Loại đất phù sa và dốc tụ (G1) gồm 9  
LMU với diện tích là 14.731,9 ha; loại đất đen  
Bản đồ đơn vị đất đai khu vực Di Linh - Bảo (G2) có 5 LMU với diện tích 2.893,4 ha; loại đất  
Lộc được xây dựng bằng phương pháp tích hợp các nâu đỏ và nâu vàng trên đá basalt (G3) chiếm ưu  
bản đồ chuyên đề của 6 chỉ tiêu trên. Kết quả tổng thế với 49 LMU có diện tích là 118.853,8 ha; loại  
hợp đã xác định được 127 đơn vị đất đai (LMU), đất đỏ vàng (G4) gồm 33 LMU với 77.851,5 ha;  
trong đó LMU 107 có diện tích lớn nhất (20.275,2 loại đất vàng đỏ (G5) có 25 LMU với 108.762,00  
ha); LMU 66 có diện tích nhỏ nhất 8,1 ha. Đặc ha; loại đất mùn vàng đỏ (G6) có 3 LMU với  
điểm và tính chất của từng LMU được mô tả theo 1.132,25 ha (hình 2).  
274  
Hình 2. Bản đồ đơn vị đất đai khu vực Di Linh - Bảo Lộc  
3.3. Yêu cầu sử dụng đất của cây chè  
3.4. Kết quả đánh giá mức độ thích nghi đất đối  
với cây chè  
Phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa yêu cầu sinh  
thái của cây chè với đặc trưng chất lượng đất đai để  
xác định các yếu tố liên quan đến yêu cầu sử dụng  
đất trồng chè (bảng 2). Đất thích nghi nhất đối với  
cây chè là các loại đất phát triển trên sản phẩm  
phong hóa của đá basalt, tiếp đến là đất đỏ vàng  
phát triển trên sản phẩm phong hóa của đá phiến  
sét, với độ dốc phổ biến 3°-15°, độ dày tầng canh  
tác > 100cm, thành phần cơ giới thịt trung bình đến  
nặng. Độ cao phù hợp trồng chè 600-1.600m, trong  
điều kiện lượng mưa trung bình năm lớn (R ≥  
2.000mm) và mùa khô ngắn dưới 2 tháng [6].  
Kết quả đánh giá cho thấy (bảng 3, hình 3), diện  
tích cấp rất thích nghi (S1) có 81.888,8 ha; (chiếm  
24,7% diện tích tự nhiên), chủ yếu trên các loại đất  
nâu vàng và nâu đỏ phát triển trên sản phẩm phong  
hóa của đá basalt, phân bố nhiều nhất ở huyện Bảo  
Lâm (48.587,9 ha), tiếp đến là huyện Di Linh  
(19.110,4 ha) và Tp. Bảo Lộc (14.190,5 ha).  
Cấp thích nghi trung bình (S2) có 48.874,3 ha  
(chiếm 14,8%), trên các loại đất vàng đỏ và mùn  
vàng đỏ, tập trung nhiều nhất ở huyện Di Linh  
(23.628,3 ha), tiếp đến là huyện Bảo Lâm (22.073,7  
ha) và Tp. Bảo Lộc (3.172,3 ha).  
Bảng 2. Yêu cầu sử dụng đất của cây chè  
Mức độ thích nghi  
STT  
Chỉ tiêu  
S1  
S2  
S3  
G2  
N
Cấp ít thích nghi (S3) có 95.045,3 ha (chiếm  
28,7%), trong đó, huyện Bảo Lâm có 51.290,5 ha;  
huyện Di Linh có 43.735,2 ha và Tp. Bảo Lộc  
chiếm diện tích rất nhỏ (19,6 ha).  
1
2
Loại đất (G)  
Độ dốc (SL)  
Tầng dày (D)  
Thành phần  
cơ giới (C)  
Độ cao (H)  
G3, G4 G5, G6  
G1  
SL2,  
SL1  
SL3  
SL4  
-
-
D3  
-
3
4
D1  
D2  
C2  
H4  
C3  
C1  
H1  
CL5  
Khu vực không thích nghi (N) cho trồng chè  
chủ yếu là vùng phía đông và đông nam huyện Di  
Linh, với diện tích 98.477,64 ha (chiếm 29,75%).  
5
6
H2, H3  
-
Sinh khí hậu  
(CL)  
CL1,  
CL3  
CL2,  
CL4  
CL6  
275  
Các yếu tố tới hạn nghiêm ngặt ở đây là các loại (lượng mưa trung bình năm thấp dưới 1.500 mm và  
đất phù sa và đất dốc tụ; điều kiện sinh khí hậu mùa khô kéo dài trên 3 tháng).  
Bảng 3. Kết quả đánh giá thích nghi đất đai cho cây chè  
Mức độ thích nghi  
Rất thích nghi (S1)  
Bảo Lâm (ha)  
Bảo Lộc (ha)  
Di Linh (ha)  
Tổng (ha)  
81.888,8  
Tỷ lệ (%)  
24,7  
48.587,9  
22.073,7  
51.290,5  
22.619,9  
1.771,0  
14.190,5  
19.110,4  
Thích nghi trung bình (S2)  
Ít thích nghi (S3)  
Không thích nghi (N)  
Sông suối  
3.172,3  
19,6  
23.628,3  
43.735,2  
70.739,1  
4.251,0  
48.874,3  
95.045,3  
98.477,6  
6.777,0  
14,8  
28,7  
29,8  
2,0  
5.118,7  
755,0  
Tổng cộng:  
146.343,0  
23.256,0  
161.464,0  
331.063,0  
100,0  
Hình 3. Bản đồ phân hạng thích nghi đất đai cho cây chè  
3.5. Một số vấn đề thoái hóa đất trồng chè  
thành phần cơ giới phổ biến là thịt trung bình, hàm  
lượng sét tăng dần theo chiều sâu phẫu diện. Kết  
quả nghiên cứu chỉ rõ, quá trình rửa trôi các cấp  
hạt sét ở tầng đất mặt đã biểu hiện rõ rệt của các  
dấu hiệu thoái hóa đất về mặt vật lý.  
Đặc trưng địa hình của vùng Di Linh - Bảo Lộc  
là những đồi dốc thoải, chè được trồng thành hàng  
theo các đường đồng mức với khoảng cách giữa  
các hàng 0,5-1m để đảm bảo không gian phát triển,  
đồng thời tạo lối đi để bón phân và thu hái búp chè.  
Số liệu phân tích các mẫu đất trồng chè đại diện  
Quá trình dẫm đạp của con người khi chăm sóc, ở khu vực Di Linh - Bảo Lộc cho thấy, đất có phản  
thu hoạch chè trong thời gian dài khiến bề mặt đất ứng chua đến rất chua (pH = 3,72-5,10). Mặc dù  
trở nên chặt cứng, khả năng thấm nước kém đi. Tỷ cây chè ưa chua, nhưng độ chua của đất thấp như  
lệ sét lớp đất mặt trung bình của các mẫu đất trồng trên đã thể hiện phần nào đó mức độ thoái hóa đất.  
chè trong khu vực nghiên cứu là 26,3-39,2% và Hàm lượng mùn tầng mặt khá do được bón phân  
276  
thường xuyên nhưng giảm mạnh ở những tầng nghi S1 cho cây chè của toàn vùng là 48.735,3 ha.  
dưới; hàm lượng đạm, lân và kali tổng số tầng mặt Trong đó, diện tích chè đã trồng trên các đơn vị  
khá đến giàu; kali dễ tiêu rất nghèo đến nghèo.  
thích nghi S1 tính đến năm 2010 là 16.541,9 ha.  
Như vậy, tiềm năng phát triển vùng chuyên canh  
chè ở đây là rất lớn, có thể mở rộng thêm 32.193,4  
ha (trong đó có 17.212,22 ha ở Bảo Lâm; 2.623,06  
ha ở Bảo Lộc; 12.358,10 ha ở Di Linh) (hình 4).  
Đây là các diện tích được đánh giá có hầu hết điều  
kiện thuận lợi, đáp ứng tốt yêu cầu sinh trưởng của  
cây chè, với loại đất chủ yếu là đất phát triển trên  
đá basalt, có tính chất lý hóa học phù hợp.  
Hầu hết nông dân vùng trồng chè khu vực Di  
Linh - Bảo Lộc đều chọn thời điểm mùa mưa đến  
để bón phân, bằng cách rắc trên mặt đất hai bên  
hàng chè. Biện pháp bón phân này vừa làm gia  
tăng rửa trôi phân bón, vừa làm tăng nguy cơ ô  
nhiễm môi trường các thủy vực tiếp nhận do dư  
lượng phân hóa học. Bón phân không hợp lý và  
thiếu cân đối đã làm cho chất hữu cơ trong đất  
nghèo đi, phá vỡ cấu trúc đất.  
Do vậy, trong thời gian tới có thể tập trung phát  
triển khu vực Di Linh - Bảo Lộc thành vùng trọng  
điểm chuyên canh chè sạch theo hướng VietGAP  
của tỉnh Lâm Đồng với diện tích có thể đạt tới  
48.735,3 ha; tập trung phát triển các giống chè chất  
3.6. Đề xuất phát triển vùng chuyên canh chè Di  
Linh - Bảo Lộc dựa trên kết quả đánh giá thích  
nghi đất đai  
Theo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 cho lượng cao. Trong kỹ thuật canh tác, ưu tiên các  
cây lâu năm khu vực Di Linh - Bảo Lộc đã được biện pháp duy trì và nâng cao độ phì cho đất, ngăn  
phê duyệt, diện tích các đơn vị đất có mức thích ngừa thoái hóa đất.  
Hình 4. Bản đồ đề xuất phát triển vùng chuyên canh chè  
Kết quả đánh giá cho thấy, khu vực nghiên cứu đất có mức thích nghi S2 và S3; trong đó, tập trung  
hiện có 6.198,1 ha chè được trồng trên các đơn vị lớn nhất ở huyện Bảo Lâm (5.062,8 ha), tiếp đến là  
277  
Tp. Bảo Lộc (700,3 ha) và huyện Di Linh (435,0 khô kéo dài. Vì vậy, cần chuyển đổi diện tích chè  
ha) (bảng 4). Kiểm tra trên thực địa cho thấy, hầu này sang các loại cây ngắn ngày. Các loài khuyến  
hết vùng này có độ dốc phổ biến 15-25°, dễ xảy ra khích thay thế cây chè gồm các loài họ đậu, có khả  
quá trình thoái hóa đất do xói mòn - rửa trôi bề năng mang lại thu nhập nhanh và cải tạo độ phì  
mặt, đất dễ bị khô cằn do lượng mưa thấp và mùa của đất.  
Bảng 4. Diện tích đề xuất mở rộng vùng chè (ha)  
Huyện  
Bảo Lâm  
Kết quả đánh giá thích nghi S1 Hiện trạng chè cần giữ lại  
Tiềm năng mở rộng  
Diện tích chè cần chuyển đổi  
25.795,4  
10.130,8  
12.809,1  
48.735,3  
8.583,2  
7.507,7  
451,0  
17.212,2  
5.062,8  
Bảo Lộc  
Di Linh  
Tổng  
2.623,1  
12.358,1  
32.193,4  
700,3  
435,0  
16.541,9  
6.198,1  
4. Kết luận  
kali dễ tiêu rất nghèo đến nghèo. Đây là một trong  
những vấn đề môi trường cần lưu ý giải quyết  
trong chiến lược phát triển bền vững vùng chuyên  
canh chè của tỉnh Lâm Đồng.  
Kết quả đánh giá thích nghi đất đai đối với cây  
chè khu vực Di Linh - Bảo Lộc bằng mô hình tích  
hợp ALES - GIS cho thấy, diện tích rất thích nghi  
có 81.888,8 ha (chiếm 24,7% diện tích tự nhiên);  
mức thích nghi trung bình có 48.874,3 ha (chiếm  
14,8%); mức ít thích nghi có 95.045,3 ha (chiếm  
28,7%) và mức không thích nghi có 98.477,6 ha  
(chiếm 29,8%).  
Lời cảm ơn: Công trình nghiên cứu đã sử dụng  
một phần kết quả nghiên cứu của đề tài cấp Nhà  
nước mã số TN3/T01 thuộc Chương trình Tây  
Nguyên 3 giao cho Viện Địa lý chủ trì thực hiện từ  
năm 2011.  
Kết quả đánh giá mức rất thích nghi góp phần  
cung cấp cơ sở khoa học cho việc phát triển vùng  
chuyên canh chè của tỉnh Lâm Đồng đến năm  
2020, theo đó diện tích chè trồng trên mức thích  
nghi S1 cần giữ lại là 16.541,9 ha; diện tích chè  
trên mức thích nghi S2 và S3 cần xem xét chuyển  
đổi sang cây trồng khác là 6.198,1 ha. Tiềm năng  
tự nhiên của quỹ đất cho mở rộng diện tích chuyên  
canh chè còn rất lớn (32.193,4 ha).  
TÀI LIỆU DẪN  
[1] Lưu Thế Anh, Nguyễn Mạnh Hà, 2003:  
Phương pháp đánh giá thích nghi đất đai nhằm xây  
dựng cơ sở khoa học cho việc chuyển đổi cơ cấu  
cây trồng huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Lắk. Báo cáo  
Hội nghị khoa học thanh niên Trung tâm  
KHTN&CNQG lần III, Hà Nội, 44tr.  
[2] Nguyễn Đình Kỳ, Lưu Thế Anh, Nguyễn  
Cao Huần, Nguyễn An Thịnh, Nguyễn Xuân Độ,  
2005: Mô hình tích hợp ALES-GIS trong đánh giá  
thích nghi sinh thái cảnh quan đối với cây trồng (ví  
dụ vùng chuyên canh cà phê, cao su tỉnh Đăk Lăk,  
Đăk Nông). Tạp chí Khoa học Đất, số 23/2005. Hà  
Nội, tr.97 - 102.  
Mô hình tích hợp ALES - GIS đã khắc phục  
được các nhược điểm của phần mềm đánh giá đất  
đai tự động ALES trong đánh giá thích nghi đất đai  
đối với cây trồng. Khi ứng dụng để đánh giá cho  
cây chè ở khu vực Di Linh - Bảo Lộc đã cho kết  
quả phù hợp với điều kiện thực tế. Phương pháp  
này hoàn toàn có thể áp dụng để đánh giá thích  
nghi cho các vùng chè khác ở Tây Nguyên (như  
chè Bàu Cạn, Biển Hồ,…) và trong cả nước với dữ  
liệu đầu vào có thể thay đổi cho phù hợp với điều  
kiện cụ thể của từng khu vực nghiên cứu.  
[3] Hoàng Thị Huyền Ngọc, 2012: Nghiên cứu  
địa lý phát sinh và thoái hóa đất phục vụ phát triển  
cây chè khu vực Bảo Lộc - Di Linh, tỉnh Lâm  
Đồng. Luận văn Thạc sĩ. Trường Đại học Khoa học  
Tự nhiên - ĐHQGHN, Hà Nội, 110tr.  
Kết quả nghiên cứu các phẫu diện đất trồng chè  
thấy rõ, các dấu hiệu thoái hóa đất về mặt vật lý  
biểu hiện rõ rệt do quá trình rửa trôi các cấp hạt sét  
ở tầng đất mặt. Tỷ lệ cấp hạt sét trong tầng đất mặt  
trung bình, dao động 26,3 - 39,2% và thành phần  
cơ giới phổ biến là thịt trung bình; đất có phản ứng  
chua đến rất chua (pH = 3,72 - 5,10); hàm lượng  
[4] D.G. Rossiter, A.R. Van Wambeke, 2000:  
Automated land evaluation system, Version 4.65  
User’s Manual. Cornell University, USA, 280 tr.  
[5] Cục thống kê tỉnh Lâm Đồng, 2010: Niên  
giám thống kê tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2005 -  
2010, 350tr.  
278  
[6] Viện Quy hoạch và thiết kế Nông nghiệp, Quy trình đánh giá đất đai phục vụ cho sản xuất  
2005: Báo cáo thuyết minh bản đồ đất tỉnh Lâm nông nghiệp. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội, 343tr.  
Đồng, 42tr.  
[8] Fao, 1976:  
A
framework for land  
[7] Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 1999: evaluation, Rome, 87tr.  
SUMMARY  
Application of an integrated ALES-GIS model in land suitability evaluation  
for tea cultivation in Di Linh - Bao Loc area  
Bao Loc - Di Linh area is located in the center of the South of Lam Dong province, which has a large and long-term  
tea cultivation area. However, the tea is grown spontaneously and the quality is unstable. The research was carried out  
to find out which is the suitable area that satisfy all the conditions for tea production planning, contributing to cultivation  
of high quality tea based on maximum exploitation of the advantages of the natural and human conditions in the study  
areas. The result of integrated ALES-GIS model application in land evaluation for cultivated tea show that, Bao Lam has  
25.795,42 ha suitable for tea; Bao Loc has 10.130,78 ha and Di Linh has 12.809,08 ha. The study results have been  
also presented on the map at scale of 1:50.000. This research result is necessary for adjustment of land use planning for  
tea growth in Bao Lam, Bao Loc and Di Linh districts.  
279  
pdf 8 trang Mãnh Khiết 12/01/2024 18140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng mô hình tích hợp Ales - Gis đánh giá thích nghi đất đai phục vụ phát triển cây chè khu vực di linh - Bảo Lộc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfung_dung_mo_hinh_tich_hop_ales_gis_danh_gia_thich_nghi_dat_d.pdf