Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thành phố Hồ Chí Minh
THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ATTRACTING FOREIGN DIRECT INVESTMENT IN HO CHI MINH CITY
Huynh Ngoc Lan Vy1, Tran Dang Thinh 2
1Học viên trường đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
2Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
TÓM TẮT
Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) luôn là một trong những địa phương đi đầu cả nước trong thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Đến nay, khu vực FDI ngày càng khẳng định vai trò quan
trọng đối với việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế của Thành phố. Thông qua các phương
pháp nghiên cứu thu thập số liệu, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê mô tả, phương
pháp phân tích hệ thống, bài báo đánh giá toàn diện về thực trạng thu hút đầu tư FDI tại TPHCM
từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút FDI vào TPHCM trong thời gian tới.
Từ khóa: Thành phố Hồ Chí Minh; đầu tư trực tiếp nước ngoài; phát triển kinh tế; thu hút FDI tại
TP.HCM; giải pháp nhằm thu hút FDI.
ABSTRACT
Ho Chi Minh City (HCMC) has always been one of the leading localities in the country in
attracting foreign direct investment (FDI). Up to now, the FDI sector has increasingly affirmed
its important role to the realization of the city's economic development objectives. Through
research methods of data collection, comparison method, descriptive statistical method, system
analysis method, comprehensive evaluation article on the status of FDI attraction in HCMC from
that point. export some solutions to attract FDI into HCMC in the coming time.
Keywords: Foreign Direct Investment; economic development; attract FDI in Ho Chi Minh City;
solutions to attract FDI.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) luôn
là một trong những địa phương đi đầu cả nước
trong thu hút FDI. Đến nay, khu vực FDI ngày
càng khẳng định vai trò quan trọng đối với
việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế
của Thành phố. Theo TCTK, tính lũy kế đến
20/08/2018, vốn FDI của TPHCM đạt 45,3 tỷ
USD, chiếm 13,6% tổng vốn đầu tư. Trong 8
tháng đầu năm 2018, Thành phố Hồ Chí Minh
đứng thứ 2 cả nước với tổng vốn đăng ký là
4,42 tỷ USD, chiếm 18,2% tổng vốn đầu tư.
không cao, lợi nhuận thu về ít, việc tiếp thu
học hỏi công nghệ cũng như kinh nghiệm
quản lý của cán bộ trong quá trình hợp tác với
nước ngoài chưa đạt được kết quả đáng kể.
TPHCM đã thu hút dự án một cách ít có chọn
lọc, nhất là giai đoạn đầu, đã chấp nhận những
DN (DN) FDI khai thác tài nguyên giá rẻ, với
công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng. Điều quan trọng không chỉ là
thu hút được bao nhiêu vốn FDI mà phải làm
sao phát huy hiệu quả của dòng vốn này, thân
thiện với môi trường và tiêu thụ ít năng lượng;
phát triển FDI một cách bền vững với trọng
tâm là chất lượng và tác động lan toả đối với
kinh tế - xã hội (KTXH), tăng cường kết nối
với DN trong nước. Vì vậy, trong thời gian tới
TPHCM cần có các biện pháp thích hợp để
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt
được, TPHCM cũng gặp phải những hạn chế
nhất định, chẳng hạn như việc chuyển giao
công nghệ qua các dự án FDI vẫn chưa đạt
hiệu quả như kỳ vọng, chưa đáp ứng yêu cầu
của quá trình phát triển kinh tế, giá trị gia tăng
110
hoạt động thu hút FDI thực sự hiệu quả, đồng
thời hạn chế những mặt tiêu cực của nó để
phát triển KTXH của Thành phố.
Tính đến hết tháng 12/2018, Thành phố
Hồ Chí Minh có 8.112 dự án đầu tư nước
ngoài còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký đạt
gần 45 tỷ USD, chiếm 30% tổng số dự án và
13% tổng số vốn so với cả nước. Thành phố
cũng đạt cao hơn 3.013 dự án và 12 tỷ USD so
với địa phương đứng thứ hai cả nước về thu
hút FDI là Thành phố Hà Nội. Nguồn vốn FDI
đã góp phần khắc phục tình trạng thiếu vốn
đầu tư, nâng cao năng lực hệ thống kết cấu hạ
tầng, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế của TPHCM.
2. THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU
TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Thực trạng về kết quả thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại Thành phố Hồ
Chí Minh
Số lượng dự án đầu tư
Bảng 1: Số dự án được cấp phép và vốn FDI đăng ký giai đoạn 2010 - 2018
(tính đến ngày 31/12/2018)
Tổng vốn đăng ký (Triệu
Năm
Số dự án được cấp phép
USD)
1.883
2.804
593
2010
2011
2012
2013
2014
2015
2016
2017
2018
375
439
436
477
457
595
852
845
1.060
1.048
2.879
3.042
1.315
2.370
812
chỉ có khoảng 5,6 triệu USD. Thậm chí còn
thu hút đến 5.712 dự án dưới 1 triệu USD.
Quy mô dự án đầu tư
Tính đến thời điểm cuối năm 2018, dự
án có quy mô nhỏ chiếm tỷ lệ cao, có đến
5.712 dự án dưới 1 triệu USD, chiếm 70,41%,
quy mô từ 1 đến dưới 10 triệu USD chiếm
23,34% với 1.893 dự án đăng ký, quy mô từ
10 đến dưới 100 triệu USD chỉ chiếm 5,34%
với 433 dự án và từ 100 triệu USD trở lên chỉ
chiếm 1% với 74 dự án.
Theo hình thức và lĩnh vực đầu tư
Tính đến thời điểm 31/12/2018, hoạt
động kinh doanh bất động sản đứng đầu về
vốn đăng ký với 15,56 tỷ USD chiếm 34,62 %
tổng vốn đăng ký, mặc dù số dự án không
nhiều chỉ đạt 321 dự án. Các nguồn vốn FDI
vào thị trường bất động sản chủ yếu đến từ
Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Hongkong
(Trung Quốc), Đài Loan (Trung Quốc), Hoa
Kỳ… Tiếp theo là ngành công nghiệp chế
Quy mô trung bình mỗi dự án FDI quá
nhỏ, đến hết năm 2018, trung bình mỗi dự án
111
biến, chế tạo với tổng vốn đăng ký 14,74 tỷ
USD, chiếm 32,79% tổng vốn đăng ký và
1.570 dự án, đây là ngành vẫn có nhiều tiềm
năng về thu hút FDI ở Thành phố trong thời
gian tới. Đứng thứ ba là giáo dục và đào tạo
với vốn đăng ký là 3,76 tỷ USD, chiếm 8,38%
tổng vốn đăng ký. Hoạt động thương mại bán
buôn và bán lẻ; sữa chữa ô tô, mô tô, xe máy
và xe có động cơ khác là ngành có tổng vốn
đăng ký đứng thứ tư với 3,44 tỷ USD, chiếm
7,65% với 1.957 dự án. Đứng cuối trong năm
ngành dẫn đầu về vốn đăng ký là hoạt động
chuyên môn, khoa học và công nghệ với 1,58
tỷ USD, chiếm 3,52% và 1.596 dự án. Ngoài
ngành xây dựng có số vốn đăng ký chiếm
3,41%, và ngành thông tin và truyền thông
chiếm 3,07% thì các ngành còn lại tỷ trọng
vốn đăng ký thấp dưới 3%. Hoạt động vận tải,
kho bãi và hoạt động lưu trú, ăn uống cũng
được Thành phố khuyến khích phát triển, tuy
nhiên tổng vốn đăng ký đầu tư vào lĩnh vực
này còn hạn chế.
Tính theo số dự án còn hiệu lực đến thời
điểm 31/12/2018, đầu tư FDI chủ yếu là hình
thức đầu tư 100% vốn nước ngoài chiếm tỷ
trọng 67,6% vốn đăng ký, cao hơn rất nhiều
so với hình thức liên doanh là 30,8%.
Biểu đồ 1: Cơ cấu vốn đăng ký của dự án FDI được cấp phép theo hình thức đầu tư
(lũy kế các dự án còn hiệu lực đến hết ngày 31/12/2018)
tỷ USD, Quần đảo Caymen 4 tỷ USD và Hồng
Kông 2,5 tỷ USD, đây là những nước và vùng
lãnh thổ nằm trong top đối tác đầu tư lớn nhất
của Thành phố. Thành phố Hồ Chí Minh đã
thu hút được một số dự án lớn từ các tập đoàn
hàng đầu thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực điện
tử, điện lạnh như tập đoàn Samsung, Intel, LG,
Mitsubishi, Panasonic hay tập đoàn Sanofi là
một trong năm công ty dược phẩm hàng đầu
thế giới.
Theo đối tác đầu tư
Thực hiện phương châm đa dạng hóa, đa
phương hóa quan hệ hợp tác quốc tế, Việt
Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong
khu vực và thế giới, đến nay, đã có 94 nước và
vùng lãnh thổ có dự án FDI tại Việt Nam.
Riêng TPHCM, tính đến hết năm 2018, Thành
phố có 87 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư,
trong đó Singapore là quốc gia đầu tư nhiều
nhất với 10,7 tỷ USD. Tiếp theo là Quần đảo
Virgin thuộc Anh 6 tỷ USD, Hàn Quốc gần 5
tỷ USD, Malaysia 4,6 tỷ USD, Nhật Bản 4,3
Theo địa bàn đầu tư
112
Nếu phân loại theo địa điểm đầu tư thì
các dự án đầu tư nước ngoài vào Thành phố
Hồ Chí Minh sẽ chia thành đầu tư trong khu
công nghiệp, khu chế xuất (KCX) và ngoài
khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất. Tính
đến 31/12/2018, tại Thành phố Hồ Chí Minh,
tổng vốn đầu tư còn hiệu lực ở khu công
nghiệp là 3,67 tỷ USD, chiếm 8,29%, ở khu
chế xuất là 2,01 tỷ USD, chiếm 4,54%. Mặc
dù thu hút đầu tư khởi sắc, nhưng môi trường
đầu tư tại các khu công nghiệp, khu chế xuất
của Thành phố còn nhiều hạn chế so với các
tỉnh lân cận. Cụ thể, do chi phí đầu tư hạ tầng,
giá trị đền bù giải tỏa đất tại Thành phố cao
nên hiện giá cho thuê đất tại các khu công
nghiệp, khu chế xuất trên địa bàn luôn cao hơn
các địa phương trong khu vực. Ngoài ra, nhiều
khu công nghiệp, khu chế xuất vẫn chưa giải
phóng mặt bằng dẫn đến tình trạng nhiều DN
không thuê được đủ diện tích cần thiết để xây
dựng nhà máy.
Bảng 2: FDI được cấp phép theo địa bàn đầu tư
(Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/12/2018)
Địa điểm đầu tư
Khu công nghiệp
Khu chế xuất
Tổng vốn đăng ký (Tỷ USD)
Cơ cấu (%)
3,67
2,01
8,29
4,54
Ngoài khu công nghiệp, khu
chế xuất
38,60
87,17
Tổng
44,28
100
2.2. Thực trạng về các chính sách thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thành
phố Hồ Chí Minh
Thực trạng xây dựng và hoàn thiện môi
trường kinh tế nhằm thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài
- Xây dựng kết cấu hạ tầng cho thu hút
đầu tư nước ngoài
Thực trạng xây dựng và hoàn thiện môi
trường pháp lý nhằm thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài
Thời gian qua, Thành phố Hồ Chí Minh
luôn coi trọng công tác quy hoạch và tập trung
đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng để phục vụ
thu hút đầu tư, cụ thể:
Nhằm tạo điều kiện để các DN có vốn
đầu tư nước ngoài, DN thuộc các thành phần
kinh tế trong nước hoạt động ổn định, đóng
góp phát triển kinh tế - xã hội, hệ thống pháp
luật về đầu tư nước ngoài ở Việt Nam nói
riêng và chính sách pháp luật ở Việt Nam nói
chung đã từng bước hoàn thiện, tạo hành lang
pháp lý thuận lợi và minh bạch hơn cho DN,
trong đó có DN đầu tư nước ngoài. Hệ thống
chính sách, pháp luật đồng bộ, vận hành có
hiệu lực, phù hợp với điều kiện nước nhận đầu
tư và thông lệ quốc tế là nhân tố quan trọng
tạo nên môi trường đầu tư hấp dẫn cho các nhà
đầu tư nước ngoài.
+ Một là, xây dựng hệ thống giao thông
vận tải
+ Hai là, xây dựng hệ thống cung cấp
điện, nước ổn định
+ Ba là, xây dựng hệ thống viễn thông
+ Bốn là, xây dựng hệ thống xử lý rác
thải
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
113
- Tạo môi trường kinh doanh, nâng cao
trình độ của nền kinh tế
hết sức quan tâm. Những cán bộ này chính là
cầu nối giữa nhà đầu tư và chính quyền Thành
phố, năng lực và trình độ của họ góp phần
quan trọng đến hiệu quả của công tác xúc tiến
đầu tư.
Quá trình thực hiện các biện pháp xúc
tiến đầu tư
Để thu hút nguồn vốn FDI có hiệu quả,
bên cạnh khai thác hiệu quả những lợi thế sẵn
có như vị trí địa lý, chất lượng nguồn nhân lực,
các chính sách ưu đãi thì các cơ chức năng,
lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh luôn tích
cực, chủ động, sáng tạo trong cách thu hút,
tiếp cận các nhà đầu tư. Công tác xúc tiến đầu
tư được thực hiện có hiệu quả, UBND Thành
phố đã chỉ đạo các cơ quan, các sở, ban ngành
phối hợp thực hiện tổ chức hiệu quả các hoạt
động xúc tiến đầu tư. Sở Kế hoạch và Đầu tư
Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ Danh mục dự
án quốc gia hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài đã
được phê duyệt, xây dựng kế hoạch vận động,
xúc tiến đầu tư nước ngoài trong từng thời kỳ;
hỗ trợ Ủy ban nhân dân và ban quản lý các khu
công nghiệp, khu chế xuất xác minh tư cách
pháp nhân và năng lực tài chính của đối tác
nước ngoài; thường xuyên cung cấp thông tin
cập nhật về tình hình FDI của Thành phố; tổ
chức các đoàn tham gia hội thảo, đoàn đi vận
động đầu tư ở trong và ngoài nước vào thành
phố. Sở Tài chính căn cứ kế hoạch vận động,
xúc tiến Đầu tư trên địa bàn Thành phố, cân
đối ngân sách nhà đảm bảo nhu cầu kinh phí
từ chi thường xuyên của các sở, ngành cho
hoạt động xúc tiến đầu tư, tổ chức hội nghị sơ
kết, tổng kết về FDI.
- Phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật để
thu hút vốn FDI
Nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động sản
xuất, kinh doanh của các DN nói chung và DN
FDI nói riêng, Thành phố cần chú trọng công
tác xây dựng cơ sở hạ tầng. Tranh thủ tối đa
các nguồn lực ở trong và ngoài nước để đầu tư
phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt là nguồn
vốn ngoài ngân sách nhà nước, ưu tiên các lĩnh
vực cấp thoát nước, vệ sinh môi trường, hệ
thống giao thông,… Điều này ngoài việc tạo
môi trường đầu tư hấp dẫn, còn giúp cho môi
trường Thành phố xanh và sạch, đồng thời
tăng khả năng hấp thụ vốn FDI trên địa bàn
Thành phố.
- Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư
Nhằm đáp ứng nhu cầu cho các DN nói
chung và DN FDI nói riêng, Thành phố cần có
kế hoạch tổng thể về đào tạo để nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực. Việc đào tạo, nâng cao
trình độ cho người lao động cần phải gắn với
việc trang bị cho họ sự hiểu biết về luật pháp
nói chung và Bộ Luật Lao động nói riêng để
từng bước xây dựng mối quan hệ lành mạnh
giữa chủ và thợ đảm bảo lợi ích của các bên
phù hợp với luật pháp. Đồng thời, các cơ quan
chức năng của Thành phố cần tăng cường
công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành
pháp luật về lao động đối với người lao động
và người sử dụng lao động trong các DN FDI
nhằm đảm bảo điều kiện và đời sống cho
người lao động, ngăn ngừa những hành vi xâm
hại lợi ích của người lao động, dẫn đến những
cuộc đình công của công nhân làm ảnh hưởng
đến sản xuất, kinh doanh gây bất ổn về kinh
tế, xã hội trên địa bàn Thành phố.
3. GIẢI PHÁP THU HÚT HIỆU QUẢ
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách và cải tiến thủ
tục hành chính liên quan đến thu hút vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Thành phố
- Đẩy mạnh xúc tiến đầu tư để thu hút vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài
Để giới thiệu các chương trình xúc tiến
đầu tư của Thành phố cho các đối tác tiềm
năng, lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh cần
tận dụng các chuyến công tác nước ngoài,
đồng thời tăng cường hoạt động xúc tiến đầu
tư thông qua các cơ quan ngoại giao của Việt
Nam ở nước ngoài vì đây là kênh xúc tiến đầu
tư có hiệu quả cao nhưng tốn chi phí thấp.
Ngoài ra, việc đào tạo bồi dưỡng cho các cán
bộ làm công tác xúc tiến đầu tư cũng cần phải
4. KẾT LUẬN
Xu thế toàn cầu hoá, tự do hoá thương mại,
xoá bỏ các hàng rào bảo hộ giữa các quốc gia
và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với
các công nghệ thế hệ mới là hai nhân tố mới
sẽ tác động mạnh mẽ tới Việt Nam nói chung
và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, mở ra
114
cơ hội và thách thức rất lớn đối với các DN và
cơ quan quản lý, hoạch định chính sách. Thời
gian qua với những tiềm năng và cơ hội về đầu
tư trực tiếp nước ngoài, Thành phố Hồ Chí
Minh luôn là một trong những địa phương đi
đầu cả nước trong thu hút FDI. Đến nay, khu
vực FDI ngày càng khẳng định vai trò quan
trọng đối với viêc thực hiện các mục tiêu phát
triển kinh tế của Thành phố.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
A. Tài liệu tiếng Việt
Anh. P. T. (2018). Phân tích tác động lan tỏa của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (Luận
án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh).
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. (2010). Niên giám thống kê năm 2010.
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. (2011). Niên giám thống kê năm 2011.
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. (2012). Niên giám thống kê năm 2012.
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. (2013). Niên giám thống kê năm 2013.
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. (2014). Niên giám thống kê năm 2014.
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. (2015). Niên giám thống kê năm 2015.
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. (2016). Niên giám thống kê năm 2016.
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. (2017). Niên giám thống kê năm 2017.
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. (2018). Niên giám thống kê năm 2018.
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. (2018). Thực trạng hoạt động đầu tư của doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 - 2016.
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. (2018). Kết quả tổng điều tra kinh tế năm 2017.
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. (2020). Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam.
Cương. Đ. T. (2012). Tăng cường thu hút FDI vào tỉnh Nghệ An (Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường
Đại học Kinh tế quốc dân).
Danh. L. Đ. (2018). Chính sách tài chính thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài phục vụ chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của tỉnh Thanh Hóa (Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Tài chính).
Giang. Đ. T. (2014). Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
đến năm 2020 (Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh).
Hòa. T. N. (2016). Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam (Luận án
tiến sỹ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh).
Huy. C. T. (2019). Các yếu tố tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài: Nghiên cứu vùng
kinh tế Đông Nam Bộ (Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh).
Lê. Đ. K. (2018). Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài theo định hướng phát triển bền vững tại
Việt Nam (Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Khoa học xã hội).
Oanh. N. T. (2019). Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở khu công
nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh (Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh).
Quốc hội (1987), Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Hà Nội.
115
Quốc hội (1996), Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Hà Nội.
Quốc hội (2005), Luật Đầu tư năm 2005, Hà Nội.
Quốc hội (2010), Luật Đầu tư năm 2010, Hà Nội.
Quốc hội (2014), Luật Đầu tư 2014, Hà Nội.
Thành, N. C. (2005). Định hướng phát triển các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
Nam (Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân).
Thơ. N. Q. (2017). Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
(Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Ngân hàng).
Tổng cục Thống kê. (2018). Kết quả hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai
đoạn 2011 – 2016.
Vinh. Đ. (2018). Đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thành phố Đà Nẵng (Luận
án tiến sỹ kinh tế, Đại học Đà Nẵng).
Vinh. N. T. (2011). Đầu tư trực tiếp nước ngoài với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thành
phố Hồ Chí Minh (Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí
Minh).
Xuất. N. T. (2018). Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Khoa học xã hội).
B. Tài liệu tiếng Anh
IMF. (1993). IMF’s fifth edition of the Balance of Payments Manual (BPM5)
1993, pp. 86.
OECD.
(2008).
The
forth
edition
of
the
OECD
Detailed
Benchmark
Definition of Foreign Direct Investment 2008, pp. 48-49
UNCTAD. (2003). World Investment Report 2003.
World Trade Organization (WTO, 1996), trade and Foreign Direct Investment,
Tác giả chịu trách nhiệm bài viết:
Họ tên: HUỲNH NGỌC LAN VY
Đơn vị: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)
Điện thoại: (+84) 339 690 209
Email: [email protected]
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 06 năm 2020
Xác nhận của Giảng viên hướng dẫn
116
BÀI BÁO KHOA HỌC
THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ
Bài báo khoa học của học viên
có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn
Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.
Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý
của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.
ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN!
Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2019-2020 của Thư viện Trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.
Bạn đang xem tài liệu "Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thu_hut_dau_tu_truc_tiep_nuoc_ngoai_tai_thanh_pho_ho_chi_min.pdf

