Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thành phố Hồ Chí Minh

THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI  
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
ATTRACTING FOREIGN DIRECT INVESTMENT IN HO CHI MINH CITY  
Huynh Ngoc Lan Vy1, Tran Dang Thinh 2  
1Học viên trường đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh  
2Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh  
TÓM TẮT  
Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) luôn là một trong những địa phương đi đầu cả nước trong thu  
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Đến nay, khu vực FDI ngày càng khẳng định vai trò quan  
trọng đối với việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế của Thành phố. Thông qua các phương  
pháp nghiên cứu thu thập số liệu, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê mô tả, phương  
pháp phân tích hệ thống, bài báo đánh giá toàn diện về thực trạng thu hút đầu tư FDI tại TPHCM  
từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút FDI vào TPHCM trong thời gian tới.  
Từ khóa: Thành phố Hồ Chí Minh; đầu tư trực tiếp nước ngoài; phát triển kinh tế; thu hút FDI tại  
TP.HCM; giải pháp nhằm thu hút FDI.  
ABSTRACT  
Ho Chi Minh City (HCMC) has always been one of the leading localities in the country in  
attracting foreign direct investment (FDI). Up to now, the FDI sector has increasingly affirmed  
its important role to the realization of the city's economic development objectives. Through  
research methods of data collection, comparison method, descriptive statistical method, system  
analysis method, comprehensive evaluation article on the status of FDI attraction in HCMC from  
that point. export some solutions to attract FDI into HCMC in the coming time.  
Keywords: Foreign Direct Investment; economic development; attract FDI in Ho Chi Minh City;  
solutions to attract FDI.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) luôn  
là một trong những địa phương đi đầu cả nước  
trong thu hút FDI. Đến nay, khu vực FDI ngày  
càng khẳng định vai trò quan trọng đối với  
việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế  
của Thành phố. Theo TCTK, tính lũy kế đến  
20/08/2018, vốn FDI của TPHCM đạt 45,3 tỷ  
USD, chiếm 13,6% tổng vốn đầu tư. Trong 8  
tháng đầu năm 2018, Thành phố Hồ Chí Minh  
đứng thứ 2 cả nước với tổng vốn đăng ký là  
4,42 tỷ USD, chiếm 18,2% tổng vốn đầu tư.  
không cao, lợi nhuận thu về ít, việc tiếp thu  
học hỏi công nghệ cũng như kinh nghiệm  
quản lý của cán bộ trong quá trình hợp tác với  
nước ngoài chưa đạt được kết quả đáng kể.  
TPHCM đã thu hút dự án một cách ít có chọn  
lọc, nhất là giai đoạn đầu, đã chấp nhận những  
DN (DN) FDI khai thác tài nguyên giá rẻ, với  
công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường  
nghiêm trọng. Điều quan trọng không chỉ là  
thu hút được bao nhiêu vốn FDI mà phải làm  
sao phát huy hiệu quả của dòng vốn này, thân  
thiện với môi trường và tiêu thụ ít năng lượng;  
phát triển FDI một cách bền vững với trọng  
tâm là chất lượng và tác động lan toả đối với  
kinh tế - xã hội (KTXH), tăng cường kết nối  
với DN trong nước. Vì vậy, trong thời gian tới  
TPHCM cần có các biện pháp thích hợp để  
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt  
được, TPHCM cũng gặp phải những hạn chế  
nhất định, chẳng hạn như việc chuyển giao  
công nghệ qua các dự án FDI vẫn chưa đạt  
hiệu quả như kỳ vọng, chưa đáp ứng yêu cầu  
của quá trình phát triển kinh tế, giá trị gia tăng  
110  
hoạt động thu hút FDI thực sự hiệu quả, đồng  
thời hạn chế những mặt tiêu cực của nó để  
phát triển KTXH của Thành phố.  
Tính đến hết tháng 12/2018, Thành phố  
Hồ Chí Minh có 8.112 dự án đầu tư nước  
ngoài còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký đạt  
gần 45 tỷ USD, chiếm 30% tổng số dự án và  
13% tổng số vốn so với cả nước. Thành phố  
cũng đạt cao hơn 3.013 dự án và 12 tỷ USD so  
với địa phương đứng thứ hai cả nước về thu  
hút FDI là Thành phố Hà Nội. Nguồn vốn FDI  
đã góp phần khắc phục tình trạng thiếu vốn  
đầu tư, nâng cao năng lực hệ thống kết cấu hạ  
tầng, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh  
tế của TPHCM.  
2. THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU  
TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
2.1 Thực trạng về kết quả thu hút đầu tư  
trực tiếp nước ngoài tại Thành phố Hồ  
Chí Minh  
Số lượng dự án đầu tư  
Bảng 1: Số dự án được cấp phép và vốn FDI đăng ký giai đoạn 2010 - 2018  
(tính đến ngày 31/12/2018)  
Tổng vốn đăng ký (Triệu  
Năm  
Số dự án được cấp phép  
USD)  
1.883  
2.804  
593  
2010  
2011  
2012  
2013  
2014  
2015  
2016  
2017  
2018  
375  
439  
436  
477  
457  
595  
852  
845  
1.060  
1.048  
2.879  
3.042  
1.315  
2.370  
812  
chỉ có khoảng 5,6 triệu USD. Thậm chí còn  
thu hút đến 5.712 dự án dưới 1 triệu USD.  
Quy mô dự án đầu tư  
Tính đến thời điểm cuối năm 2018, dự  
án có quy mô nhỏ chiếm tỷ lệ cao, có đến  
5.712 dự án dưới 1 triệu USD, chiếm 70,41%,  
quy mô từ 1 đến dưới 10 triệu USD chiếm  
23,34% với 1.893 dự án đăng ký, quy mô từ  
10 đến dưới 100 triệu USD chỉ chiếm 5,34%  
với 433 dự án và từ 100 triệu USD trở lên chỉ  
chiếm 1% với 74 dự án.  
Theo hình thức và lĩnh vực đầu tư  
Tính đến thời điểm 31/12/2018, hoạt  
động kinh doanh bất động sản đứng đầu về  
vốn đăng ký với 15,56 tỷ USD chiếm 34,62 %  
tổng vốn đăng ký, mặc dù số dự án không  
nhiều chỉ đạt 321 dự án. Các nguồn vốn FDI  
vào thị trường bất động sản chủ yếu đến từ  
Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Hongkong  
(Trung Quốc), Đài Loan (Trung Quốc), Hoa  
Kỳ… Tiếp theo là ngành công nghiệp chế  
Quy mô trung bình mỗi dự án FDI quá  
nhỏ, đến hết năm 2018, trung bình mỗi dự án  
111  
biến, chế tạo với tổng vốn đăng ký 14,74 tỷ  
USD, chiếm 32,79% tổng vốn đăng ký và  
1.570 dự án, đây là ngành vẫn có nhiều tiềm  
năng về thu hút FDI ở Thành phố trong thời  
gian tới. Đứng thứ ba là giáo dục và đào tạo  
với vốn đăng ký là 3,76 tỷ USD, chiếm 8,38%  
tổng vốn đăng ký. Hoạt động thương mại bán  
buôn và bán lẻ; sữa chữa ô tô, mô tô, xe máy  
và xe có động cơ khác là ngành có tổng vốn  
đăng ký đứng thứ tư với 3,44 tỷ USD, chiếm  
7,65% với 1.957 dự án. Đứng cuối trong năm  
ngành dẫn đầu về vốn đăng ký là hoạt động  
chuyên môn, khoa học và công nghệ với 1,58  
tỷ USD, chiếm 3,52% và 1.596 dự án. Ngoài  
ngành xây dựng có số vốn đăng ký chiếm  
3,41%, và ngành thông tin và truyền thông  
chiếm 3,07% thì các ngành còn lại tỷ trọng  
vốn đăng ký thấp dưới 3%. Hoạt động vận tải,  
kho bãi và hoạt động lưu trú, ăn uống cũng  
được Thành phố khuyến khích phát triển, tuy  
nhiên tổng vốn đăng ký đầu tư vào lĩnh vực  
này còn hạn chế.  
Tính theo số dự án còn hiệu lực đến thời  
điểm 31/12/2018, đầu tư FDI chủ yếu là hình  
thức đầu tư 100% vốn nước ngoài chiếm tỷ  
trọng 67,6% vốn đăng ký, cao hơn rất nhiều  
so với hình thức liên doanh là 30,8%.  
Biểu đồ 1: Cơ cấu vốn đăng ký của dự án FDI được cấp phép theo hình thức đầu tư  
(lũy kế các dự án còn hiệu lực đến hết ngày 31/12/2018)  
tỷ USD, Quần đảo Caymen 4 tỷ USD và Hồng  
Kông 2,5 tỷ USD, đây là những nước và vùng  
lãnh thổ nằm trong top đối tác đầu tư lớn nhất  
của Thành phố. Thành phố Hồ Chí Minh đã  
thu hút được một số dự án lớn từ các tập đoàn  
hàng đầu thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực điện  
tử, điện lạnh như tập đoàn Samsung, Intel, LG,  
Mitsubishi, Panasonic hay tập đoàn Sanofi là  
một trong năm công ty dược phẩm hàng đầu  
thế giới.  
Theo đối tác đầu tư  
Thực hiện phương châm đa dạng hóa, đa  
phương hóa quan hệ hợp tác quốc tế, Việt  
Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong  
khu vực và thế giới, đến nay, đã có 94 nước và  
vùng lãnh thổ có dự án FDI tại Việt Nam.  
Riêng TPHCM, tính đến hết năm 2018, Thành  
phố có 87 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư,  
trong đó Singapore là quốc gia đầu tư nhiều  
nhất với 10,7 tỷ USD. Tiếp theo là Quần đảo  
Virgin thuộc Anh 6 tỷ USD, Hàn Quốc gần 5  
tỷ USD, Malaysia 4,6 tỷ USD, Nhật Bản 4,3  
Theo địa bàn đầu tư  
112  
Nếu phân loại theo địa điểm đầu tư thì  
các dự án đầu tư nước ngoài vào Thành phố  
Hồ Chí Minh sẽ chia thành đầu tư trong khu  
công nghiệp, khu chế xuất (KCX) và ngoài  
khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất. Tính  
đến 31/12/2018, tại Thành phố Hồ Chí Minh,  
tổng vốn đầu tư còn hiệu lực ở khu công  
nghiệp là 3,67 tỷ USD, chiếm 8,29%, ở khu  
chế xuất là 2,01 tỷ USD, chiếm 4,54%. Mặc  
dù thu hút đầu tư khởi sắc, nhưng môi trường  
đầu tư tại các khu công nghiệp, khu chế xuất  
của Thành phố còn nhiều hạn chế so với các  
tỉnh lân cận. Cụ thể, do chi phí đầu tư hạ tầng,  
giá trị đền bù giải tỏa đất tại Thành phố cao  
nên hiện giá cho thuê đất tại các khu công  
nghiệp, khu chế xuất trên địa bàn luôn cao hơn  
các địa phương trong khu vực. Ngoài ra, nhiều  
khu công nghiệp, khu chế xuất vẫn chưa giải  
phóng mặt bằng dẫn đến tình trạng nhiều DN  
không thuê được đủ diện tích cần thiết để xây  
dựng nhà máy.  
Bảng 2: FDI được cấp phép theo địa bàn đầu tư  
(Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/12/2018)  
Địa điểm đầu tư  
Khu công nghiệp  
Khu chế xuất  
Tổng vốn đăng ký (Tỷ USD)  
Cơ cấu (%)  
3,67  
2,01  
8,29  
4,54  
Ngoài khu công nghiệp, khu  
chế xuất  
38,60  
87,17  
Tổng  
44,28  
100  
2.2. Thực trạng về các chính sách thu  
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thành  
phố Hồ Chí Minh  
Thực trạng xây dựng và hoàn thiện môi  
trường kinh tế nhằm thu hút đầu tư trực  
tiếp nước ngoài  
- Xây dựng kết cấu hạ tầng cho thu hút  
đầu tư nước ngoài  
Thực trạng xây dựng và hoàn thiện môi  
trường pháp lý nhằm thu hút đầu tư trực  
tiếp nước ngoài  
Thời gian qua, Thành phố Hồ Chí Minh  
luôn coi trọng công tác quy hoạch và tập trung  
đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng để phục vụ  
thu hút đầu tư, cụ thể:  
Nhằm tạo điều kiện để các DN có vốn  
đầu tư nước ngoài, DN thuộc các thành phần  
kinh tế trong nước hoạt động ổn định, đóng  
góp phát triển kinh tế - xã hội, hệ thống pháp  
luật về đầu tư nước ngoài ở Việt Nam nói  
riêng và chính sách pháp luật ở Việt Nam nói  
chung đã từng bước hoàn thiện, tạo hành lang  
pháp lý thuận lợi và minh bạch hơn cho DN,  
trong đó có DN đầu tư nước ngoài. Hệ thống  
chính sách, pháp luật đồng bộ, vận hành có  
hiệu lực, phù hợp với điều kiện nước nhận đầu  
tư và thông lệ quốc tế là nhân tố quan trọng  
tạo nên môi trường đầu tư hấp dẫn cho các nhà  
đầu tư nước ngoài.  
+ Một là, xây dựng hệ thống giao thông  
vận tải  
+ Hai là, xây dựng hệ thống cung cấp  
điện, nước ổn định  
+ Ba là, xây dựng hệ thống viễn thông  
+ Bốn là, xây dựng hệ thống xử lý rác  
thải  
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực  
113  
- Tạo môi trường kinh doanh, nâng cao  
trình độ của nền kinh tế  
hết sức quan tâm. Những cán bộ này chính là  
cầu nối giữa nhà đầu tư và chính quyền Thành  
phố, năng lực và trình độ của họ góp phần  
quan trọng đến hiệu quả của công tác xúc tiến  
đầu tư.  
Quá trình thực hiện các biện pháp xúc  
tiến đầu tư  
Để thu hút nguồn vốn FDI có hiệu quả,  
bên cạnh khai thác hiệu quả những lợi thế sẵn  
có như vị trí địa lý, chất lượng nguồn nhân lực,  
các chính sách ưu đãi thì các cơ chức năng,  
lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh luôn tích  
cực, chủ động, sáng tạo trong cách thu hút,  
tiếp cận các nhà đầu tư. Công tác xúc tiến đầu  
tư được thực hiện có hiệu quả, UBND Thành  
phố đã chỉ đạo các cơ quan, các sở, ban ngành  
phối hợp thực hiện tổ chức hiệu quả các hoạt  
động xúc tiến đầu tư. Sở Kế hoạch và Đầu tư  
Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ Danh mục dự  
án quốc gia hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài đã  
được phê duyệt, xây dựng kế hoạch vận động,  
xúc tiến đầu tư nước ngoài trong từng thời kỳ;  
hỗ trợ Ủy ban nhân dân và ban quản lý các khu  
công nghiệp, khu chế xuất xác minh tư cách  
pháp nhân và năng lực tài chính của đối tác  
nước ngoài; thường xuyên cung cấp thông tin  
cập nhật về tình hình FDI của Thành phố; tổ  
chức các đoàn tham gia hội thảo, đoàn đi vận  
động đầu tư ở trong và ngoài nước vào thành  
phố. Sở Tài chính căn cứ kế hoạch vận động,  
xúc tiến Đầu tư trên địa bàn Thành phố, cân  
đối ngân sách nhà đảm bảo nhu cầu kinh phí  
từ chi thường xuyên của các sở, ngành cho  
hoạt động xúc tiến đầu tư, tổ chức hội nghị sơ  
kết, tổng kết về FDI.  
- Phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật để  
thu hút vốn FDI  
Nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động sản  
xuất, kinh doanh của các DN nói chung và DN  
FDI nói riêng, Thành phố cần chú trọng công  
tác xây dựng cơ sở hạ tầng. Tranh thủ tối đa  
các nguồn lực ở trong và ngoài nước để đầu tư  
phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt là nguồn  
vốn ngoài ngân sách nhà nước, ưu tiên các lĩnh  
vực cấp thoát nước, vệ sinh môi trường, hệ  
thống giao thông,… Điều này ngoài việc tạo  
môi trường đầu tư hấp dẫn, còn giúp cho môi  
trường Thành phố xanh và sạch, đồng thời  
tăng khả năng hấp thụ vốn FDI trên địa bàn  
Thành phố.  
- Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân  
lực đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư  
Nhằm đáp ứng nhu cầu cho các DN nói  
chung và DN FDI nói riêng, Thành phố cần có  
kế hoạch tổng thể về đào tạo để nâng cao chất  
lượng nguồn nhân lực. Việc đào tạo, nâng cao  
trình độ cho người lao động cần phải gắn với  
việc trang bị cho họ sự hiểu biết về luật pháp  
nói chung và Bộ Luật Lao động nói riêng để  
từng bước xây dựng mối quan hệ lành mạnh  
giữa chủ và thợ đảm bảo lợi ích của các bên  
phù hợp với luật pháp. Đồng thời, các cơ quan  
chức năng của Thành phố cần tăng cường  
công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành  
pháp luật về lao động đối với người lao động  
và người sử dụng lao động trong các DN FDI  
nhằm đảm bảo điều kiện và đời sống cho  
người lao động, ngăn ngừa những hành vi xâm  
hại lợi ích của người lao động, dẫn đến những  
cuộc đình công của công nhân làm ảnh hưởng  
đến sản xuất, kinh doanh gây bất ổn về kinh  
tế, xã hội trên địa bàn Thành phố.  
3. GIẢI PHÁP THU HÚT HIỆU QUẢ  
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI  
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách và cải tiến thủ  
tục hành chính liên quan đến thu hút vốn đầu  
tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Thành phố  
- Đẩy mạnh xúc tiến đầu tư để thu hút vốn đầu  
tư trực tiếp nước ngoài  
Để giới thiệu các chương trình xúc tiến  
đầu tư của Thành phố cho các đối tác tiềm  
năng, lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh cần  
tận dụng các chuyến công tác nước ngoài,  
đồng thời tăng cường hoạt động xúc tiến đầu  
tư thông qua các cơ quan ngoại giao của Việt  
Nam ở nước ngoài vì đây là kênh xúc tiến đầu  
tư có hiệu quả cao nhưng tốn chi phí thấp.  
Ngoài ra, việc đào tạo bồi dưỡng cho các cán  
bộ làm công tác xúc tiến đầu tư cũng cần phải  
4. KẾT LUẬN  
Xu thế toàn cầu hoá, tự do hoá thương mại,  
xoá bỏ các hàng rào bảo hộ giữa các quốc gia  
và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với  
các công nghệ thế hệ mới là hai nhân tố mới  
sẽ tác động mạnh mẽ tới Việt Nam nói chung  
và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, mở ra  
114  
cơ hội và thách thức rất lớn đối với các DN và  
cơ quan quản lý, hoạch định chính sách. Thời  
gian qua với những tiềm năng và cơ hội về đầu  
tư trực tiếp nước ngoài, Thành phố Hồ Chí  
Minh luôn là một trong những địa phương đi  
đầu cả nước trong thu hút FDI. Đến nay, khu  
vực FDI ngày càng khẳng định vai trò quan  
trọng đối với viêc thực hiện các mục tiêu phát  
triển kinh tế của Thành phố.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
A. Tài liệu tiếng Việt  
Anh. P. T. (2018). Phân tích tác động lan tỏa của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (Luận  
án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh).  
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. (2010). Niên giám thống kê năm 2010.  
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. (2011). Niên giám thống kê năm 2011.  
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. (2012). Niên giám thống kê năm 2012.  
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. (2013). Niên giám thống kê năm 2013.  
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. (2014). Niên giám thống kê năm 2014.  
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. (2015). Niên giám thống kê năm 2015.  
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. (2016). Niên giám thống kê năm 2016.  
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. (2017). Niên giám thống kê năm 2017.  
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. (2018). Niên giám thống kê năm 2018.  
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. (2018). Thực trạng hoạt động đầu tư của doanh nghiệp  
có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 - 2016.  
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. (2018). Kết quả tổng điều tra kinh tế năm 2017.  
Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. (2020). Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế  
trọng điểm phía Nam.  
Cương. Đ. T. (2012). Tăng cường thu hút FDI vào tỉnh Nghệ An (Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường  
Đại học Kinh tế quốc dân).  
Danh. L. Đ. (2018). Chính sách tài chính thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài phục vụ chuyển dịch  
cơ cấu kinh tế của tỉnh Thanh Hóa (Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Tài chính).  
Giang. Đ. T. (2014). Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh  
đến năm 2020 (Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh).  
Hòa. T. N. (2016). Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam (Luận án  
tiến sỹ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh).  
Huy. C. T. (2019). Các yếu tố tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài: Nghiên cứu vùng  
kinh tế Đông Nam Bộ (Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh).  
Lê. Đ. K. (2018). Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài theo định hướng phát triển bền vững tại  
Việt Nam (Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Khoa học xã hội).  
Oanh. N. T. (2019). Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở khu công  
nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh (Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ  
Chí Minh).  
Quốc hội (1987), Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Hà Nội.  
115  
Quốc hội (1996), Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Hà Nội.  
Quốc hội (2005), Luật Đầu tư năm 2005, Hà Nội.  
Quốc hội (2010), Luật Đầu tư năm 2010, Hà Nội.  
Quốc hội (2014), Luật Đầu tư 2014, Hà Nội.  
Thành, N. C. (2005). Định hướng phát triển các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt  
Nam (Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân).  
Thơ. N. Q. (2017). Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay  
(Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Ngân hàng).  
Tổng cục Thống kê. (2018). Kết quả hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai  
đoạn 2011 – 2016.  
Vinh. Đ. (2018). Đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thành phố Đà Nẵng (Luận  
án tiến sỹ kinh tế, Đại học Đà Nẵng).  
Vinh. N. T. (2011). Đầu tư trực tiếp nước ngoài với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thành  
phố Hồ Chí Minh (Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí  
Minh).  
Xuất. N. T. (2018). Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm miền Trung  
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Khoa học xã hội).  
B. Tài liệu tiếng Anh  
IMF. (1993). IMF’s fifth edition of the Balance of Payments Manual (BPM5)  
1993, pp. 86.  
OECD.  
(2008).  
The  
forth  
edition  
of  
the  
OECD  
Detailed  
Benchmark  
Definition of Foreign Direct Investment 2008, pp. 48-49  
UNCTAD. (2003). World Investment Report 2003.  
World Trade Organization (WTO, 1996), trade and Foreign Direct Investment,  
Tác giả chịu trách nhiệm bài viết:  
Họ tên: HUỲNH NGỌC LAN VY  
Đơn vị: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)  
Điện thoại: (+84) 339 690 209  
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 06 năm 2020  
Xác nhận của Giảng viên hướng dẫn  
116  
BÀI BÁO KHOA HỌC  
THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ  
Bài báo khoa học của học viên  
có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn  
Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ  
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.  
Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý  
của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.  
ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN!  
Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2019-2020 của Thư viện Trường Đại học  
Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.  
pdf 8 trang Mãnh Khiết 10/01/2024 19280 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthu_hut_dau_tu_truc_tiep_nuoc_ngoai_tai_thanh_pho_ho_chi_min.pdf