Tài liệu hướng dẫn tình huống học phần Tư pháp quốc tế
PHẦN I
NHỮNG ĐẶC THÙ VÀ YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆC
HỌC TẬP HỌC PHẦN TƯ PHÁP QUỐC TẾ
I. NHỮNG ĐẶC THÙ CỦA HỌC PHẦN TƯ PHÁP QUỐC TẾ
Theo quan điểm đa số hiện nay, tư pháp quốc tế là một ngành
luật độc lập nằm trong hệ thống pháp luật trong nước của mỗi quốc
gia. Thuộc hệ thống pháp luật quốc gia nên Tư pháp quốc tế có mối
quan hệ mật thiết với các ngành luật khác. Đồng thời, so với các ngành
luật khác, Tư pháp quốc tế cũng có một số điểm rất đặc thù. Cụ thể:
Thứ nhất, nội dung học phần Tư pháp quốc tế liên quan đến
nhiều học phần khác: Luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Hôn nhân
và gia đình, Luật Lao động, Luật Tố tụng dân sự... Tư pháp quốc tế
cũng điều chỉnh các quan hệ do các ngành luật đó điều chỉnh, nhưng
có điểm khác là trong các quan hệ của Tư pháp quốc tế luôn có yếu tố
nước ngoài tham gia và trong Tư pháp quốc tế chủ yếu nghiên cứu vấn
đề chọn luật (chọn luật của Việt Nam hay chọn luật của nước ngoài
hữu quan) để điều chỉnh quan hệ đó. Vì vậy, có quan điểm cho rằng,
Tư pháp quốc tế là tổng hợp của các ngành luật. Nên để có thể học và
nghiên cứu được học phần Tư pháp quốc tế, người học phải đã có kiến
thức về các học phần nêu trên.
Thứ hai, trong học phần Tư pháp quốc tế, người học lần đầu tiên
biết tới những khái niệm, những vấn đề mới như: Xung đột pháp luật,
chọn luật, dẫn chiếu, áp dụng pháp luật nước ngoài... Đây là những vấn
đề hết sức đặc thù của Tư pháp quốc tế mà các ngành luật khác không có.
Thứ ba, Tư pháp quốc tế điều chỉnh quan hệ dân sự (theo nghĩa
rộng) có yếu tố nước ngoài nên luôn gắn với chính sách đối ngoại, vấn đề
đổi mới và hội nhập quốc tế.
Chính sách đối ngoại của một nhà nước trước hết là thái độ, lập
trường mang tính nguyên tắc và những phương hướng của nhà nước
trong quan hệ quốc tế. Các chính sách đối ngoại của Nhà nước cũng phụ
1
thuộc vào tình hình trong nước và quốc tế. Vì vậy, trong từng giai đoạn
khác nhau, Nhà nước phải xác định chính sách đối ngoại phù hợp với
thực tế. Trước thực tế đó, học phần Tư pháp quốc tế phải luôn gắn với
chính sách đối ngoại, vấn đề đổi mới và hội nhập quốc tế.
Như vậy, việc xác định các điểm đặc thù của học phần Tư pháp
quốc tế, đã đưa ra được yêu cầu đối với việc xây dựng các câu hỏi và các
bài tập tình huống phục vụ cho học phần là hết sức cần thiết.
II. YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆC GIẢNG DẠY, HỌC TẬP VÀ NGHIÊN
CỨU HỌC PHẦN TƯ PHÁP QUỐC TẾ
Các bài tập tình huống được xây dựng phải đảm bảo được các tiêu
chí: Phải dựa trên đặc thù của học phần và bám sát nội dung, chương
trình giảng dạy Tư pháp quốc tế; tình huống pháp luật được xây dựng phải
sinh động, bám sát thực tiễn; bao quát được những vấn đề cơ bản nhất của
chương, bài cần học và các tình huống đó là điển hình cho mỗi loại quan
hệ được Tư pháp quốc tế điều chỉnh. Cụ thể:
Thứ nhất, xây dựng tình huống pháp luật phải dựa trên đặc thù của
môn học và bám sát nội dung, chương trình giảng dạy Tư pháp quốc tế.
Nội dung môn học Tư pháp quốc tế được chia thành 3 phần:
- Phần chung (nếu như theo đào tạo niên chế được thiết kế là học
phần 1);
- Phần quan hệ cụ thể (nếu như theo đào tạo niên chế được thiết kế
là học phần 2);
- Phần tố tụng (nếu như theo đào tạo niên chế được thiết kế là học
phần 3).
Còn nếu theo đào tạo tín chỉ thì 3 nội dung trên được thiết kế thành
1 modul và được giảng dạy từ 11 đến 12 tuần (một học kỳ).
Do vậy, việc xây dựng các tình huống phải phù hợp với các hình
thức đào tạo. Dù đào tạo theo niên chế hay tín chỉ, thì các tình huống
được xây dựng sử dụng thống nhất trong các loại hình đào tạo đó.
Trên cơ sở đó, các tình huống được xây dựng trong học phần Tư
pháp quốc tế chia thành 3 phần:
2
Phần chung: Phần này bao gồm các kiến thức cơ bản về Tư pháp
quốc tế như: Đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh, nguồn luật,
chủ thể của Tư pháp quốc tế và đặc biệt là đề cập đến vấn đề xung đột
pháp luật - hiện tượng đặc thù của Tư pháp quốc tế. Vì thế, yêu cầu đối
với việc xây dựng các tình huống trong phần này phải khái quát được
những vấn đề chung nhất của Tư pháp quốc tế. Nhưng do đây là vấn đề
hoàn toàn mới nên các tình huống phải đơn giản để người đọc dần làm
quen với Tư pháp quốc tế.
Phần quy định cụ thể: Trong chương trình Tư pháp quốc tế, chủ
yếu đề cập đến các quan hệ sau:
Các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài: Bao gồm quan hệ sở
hữu, quan hệ thừa kế, quan hệ hợp đồng và ngoài hợp đồng, quan hệ sở
hữu trí tuệ, quan hệ hôn nhân và gia đình... Trong Tư pháp quốc tế, các
quan hệ dân sự này, có quan hệ phát sinh xung đột pháp luật (quan hệ sở
hữu, quan hệ thừa kế, quan hệ hợp đồng và ngoài hợp đồng), có quan hệ
không phát sinh xung đột pháp luật (quan hệ sở hữu trí tuệ: Quyền tác
giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng). Trong
phần này, tình huống xây dựng có một điểm chung là yêu cầu người học
bằng các vụ việc cụ thể xác định được pháp luật áp dụng để giải quyết
quan hệ đó, đặc biệt phần này chú trọng tới kỹ năng chọn luật áp dụng để
điều chỉnh một quan hệ cụ thể.
- Phần tố tụng (tố tụng tòa án và tố tụng trọng tài): Các tình huống
được xây dựng trong phần này yêu cầu người học nắm được những vấn
đề cơ bản và bằng các vụ việc cụ thể xác định các vấn đề liên quan đến tố
tụng và đưa ra cách giải quyết đối với từng vấn đề đó. Chẳng hạn như
vấn đề xác định thẩm quyền xét xử quốc tế, địa vị pháp lý của người
nước ngoài trong tố tụng, ủy thác Tư pháp quốc tế, công nhận và thi hành
bản án, quyết định dân sự của tòa án, phán quyết của trọng tài nước ngoài
và các vấn đề liên quan đến việc lựa chọn pháp luật áp dụng trong tố
tụng trọng tài.
3
Thứ hai, các tình huống pháp luật được xây dựng phải sinh động,
bám sát thực tiễn, thể hiện được đường lối đổi mới và hội nhập quốc tế
của Đảng và Nhà nước.
Học phần Tư pháp quốc tế là một học phần khó nhưng người học
thực sự yêu thích vì những quan hệ mà Tư pháp quốc tế điều chỉnh rất
thực tế, rất đời thường nhất là trong xu thế hội nhập quốc tế và khu vực
của Việt Nam. Hiện nay, trong xu thế hội nhập, Nhà nước ta đã tham gia
nhiều điều ước quốc tế đa phương và song phương điều chỉnh các vấn đề
của Tư pháp quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí
tuệ và hôn nhân gia đình. Đồng thời, pháp luật trong nước của Việt Nam
cũng có nhiều chính sách rộng mở đối với người nước ngoài, người Việt
Nam định cư ở nước ngoài như: Trong lĩnh vực sở hữu tài sản, nhất là
vấn đề sở hữu nhà của người nước ngoài ở Việt Nam, người Việt Nam
định cư ở nước ngoài, khi một số văn bản mới ra đời và có hiệu lực như
Luật Nhà ở và Luật Đất đai. Do vậy, yêu cầu của việc xây dựng các tình
huống pháp luật là phải đảm bảo được tính mới, tính thời sự, bám sát
thực tiễn và phải thể hiện được đường lối chính sách đổi mới của nhà
nước ta đối với các vấn đề nảy sinh trên thực tế. Ngoài ra, khi xây dựng
các tình huống còn yêu cầu người học đối chiếu, so sánh giữa quy định
hiện hành với quy định trước đó.
Thứ ba, các tình huống pháp luật được xây dựng phải bao quát
được những vấn đề cơ bản nhất của chương, bài cần giảng dạy, tình
huống đó là điển hình cho mỗi loại quan hệ được Tư pháp quốc tế
điều chỉnh.
Như phần trên đã phân tích, Tư pháp quốc tế điều chỉnh nhiều loại
quan hệ: Dân sự; hôn nhân - gia đình; lao động; tố tụng dân sự; kinh
doanh thương mại,... trong mỗi loại quan hệ này lại có rất nhiều vấn đề
khác nhau. Cho nên, khi xây dựng các tình huống pháp luật cho từng loại
quan hệ cần xác định cụ thể vấn đề nào là vấn đề cơ bản nhất để từ đó
xây dựng tình huống cho phù hợp.
Ngoài ra, các tình huống pháp luật được xây dựng phải là tình huống
điển hình. Trong thực tế hiện nay, các vụ việc phát sinh ngày càng nhiều.
Vì vậy, khi xây dựng tình huống phải tìm được những tình huống điển hình
4
cho từng loại quan hệ được Tư pháp quốc tế điều chỉnh. Khi giảng dạy học
phần Tư pháp quốc tế, những tình huống được sử dụng trong các giờ thảo
luận và giờ lý thuyết và các tình huống đã được xây dựng là những tình
huống điển hình cho một loại quan hệ được Tư pháp quốc tế điều chỉnh.
Tình huống này được xây dựng trên cơ sở những vụ việc có thực trong
cuộc sống đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có
thẩm quyền của nước ngoài xét xử. Các tình huống đó đa dạng về pháp
luật áp dụng: Có thể là pháp luật trong nước, điều ước quốc tế, tập quán
quốc tế. Việc giảng dạy theo phương pháp tình huống đã giúp người học
dễ hiểu, nâng cao kỹ năng vận dụng trong cuộc sống.
III. CÁCH THỨC SỬ DỤNG, PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT TÌNH
HUỐNG VÀ MỤC TIÊU CỦA HỌC PHẦN TƯ PHÁP QUỐC TẾ
1. Cách thức sử dụng các bài tập tình huống môn họcTư pháp quốc tế
Sử dụng tình huống trong giảng dạy là một trong những phương
pháp nâng cao sự chủ động của người học. Sự chủ động của người học
chính là đặc điểm quan trọng nhất cho thấy người học mới là trung tâm
của quá trình dạy - học chứ không phải là người thầy. Thực tế cho thấy,
người học chỉ có thể học tốt khi họ đào sâu suy nghĩ cũng như có cơ hội
trao đổi những suy nghĩ của mình với người khác bao gồm cả người thầy
thông qua những cuộc thảo luận, trao đổi. Sự trao đổi, phản hồi này có
thể là giữa người dạy và người học hoặc cũng có thể là giữa những người
học với nhau khi giải các tình huống pháp luật.
Thực tế các năm qua, khi sử dụng các tình huống pháp luật trong
giảng dạy học phần Tư pháp quốc tế cho thấy, các tình huống pháp luật
được sử dụng trong hai trường hợp:
- Trường hợp thứ nhất: Sử dụng các tình huống pháp luật trong
giảng dạy lý thuyết. Đây chính là phương pháp giảng dạy ở các lớp
đông người học (trên 80 người). Việc giảng dạy ở lớp này gây trở ngại
lớn và là công việc khó khăn hơn nhiều so với giảng dạy ở lớp nhỏ.
Thông thường, trên thực tế hiện nay, người dạy chủ yếu độc thoại tại các
lớp đông người. Cách giảng này gây nên sự thụ động của người học,
"người dạy chỉ nói và người học chỉ nghe". Do vậy, để tăng sự chủ
động của người học có thể sử dụng tình huống pháp luật để giảng dạy
ở những lớp này.
5
Do Tư pháp quốc tế là môn học khó, cho nên khi áp dụng tình
huống pháp luật trong các lớp đông người thì người dạy cần giảng lý
thuyết trước để người học nắm được kiến thức cơ bản của bài học, sau đó
mới đưa tình huống pháp luật đơn giản và có tính thời sự để cuốn hút tất
cả những người học vào bài giảng. Ở đây cần chú ý, yêu cầu cơ bản của
tình huống pháp luật trong trường hợp này là đơn giản và phải có tính
thời sự mà mọi người đang quan tâm, tránh đưa tình huống pháp luật có
tính giả định và chung chung. Như vậy, bằng các tình huống pháp luật cụ
thể, có tính thời sự sẽ cuốn hút được tất cả người học ở lớp học đông
người.
Đây là lớp học đông người nên vai trò của người dạy trong trường
hợp này rất quan trọng. Để tránh việc người học chỉ bàn luận về sự kiện
đã xảy ra, người dạy phải có cách để hướng người học vào mục tiêu mà
tình huống pháp luật đặt ra. Việc sử dụng tình huống pháp luật ở các lớp
đông người này sẽ giúp người học nắm được bài ngay tại lớp và làm cho
bài học sinh động hơn, bởi có sự tương tác giữa người dạy và người học.
- Trường hợp thứ hai: Sử dụng các tình huống pháp luật trong giờ
thảo luận trên lớp. Hiện nay, trong chương trình giảng dạy chính quy môn
Tư pháp quốc tế, số giờ thảo luận chiếm 40% tổng số giờ giảng. Bám sát
vào đề cương chi tiết học phần đã công bố, tất cả các giảng viên giảng dạy
học phần Tư pháp phải đan xe giảng dạy lý thuyết và tình huống để làm
mới cách học và giúp học viên vận dụng lý thuyết vào giải quyết tình
huống. Đây là một thuận lợi khi sử dụng tình huống pháp luật. Để có thể
sử dụng tình huống pháp luật một cách tốt nhất đòi hỏi phải có sự chuẩn bị
từ hai phía: người dạy và người học.
+ Đối với người học: Người học sẽ được giao các tình huống
pháp luật trong giờ lý thuyết trên lớp; đọc, nghiên cứu trước các tài liệu
liên quan đến tình huống pháp luật và người học có thể tự học nhóm ở
nhà theo các chủ đề đã được giao.
+ Đối với người dạy: Phải chuẩn bị được hệ thống tình huống
pháp luật phong phú với đầy đủ các chủ đề. Trong giờ thảo luận trên lớp,
người dạy chủ động phân nhóm hoặc có thể theo sự phân nhóm theo quy
định của nhà trường; chỉ định các tình huống pháp luật cho từng nhóm.
Có thể cho 1 tình huống pháp luật yêu cầu các nhóm cùng giải quyết
hoặc có thể giao cho mỗi nhóm 1 tình huống. Sau đó, cho các nhóm 1
6
thời gian để thống nhất quan điểm và cách trả lời. Đây là những tình
huống đã được giao và người học đã chuẩn bị ở nhà nên không cần nhiều
thời gian để suy nghĩ.
Trong giờ thảo luận, các nhóm lần lượt đưa ra cách giải tình huống
của nhóm mình bằng cách đại diện của nhóm sẽ trình bày và các thành
viên khác của nhóm bổ sung. Để tăng sự năng động của người học, người
dạy yêu cầu các nhóm đưa ra câu hỏi phản biện cho nhau hoặc người dạy
có thể đưa ra câu hỏi để phản biện lại cách mà các nhóm đã giải hoặc có
thể đưa ra những câu hỏi để người học hiểu sâu hơn về nội dung vấn đề.
Trong giờ thảo luận trên lớp, người dạy cần phải quan sát, quán
xuyến toàn bộ lớp học; tập trung lắng nghe và định hướng những cuộc
thảo luận; đảm bảo tất cả người học đều tham gia vào quá trình thảo
luận, tránh trường hợp chỉ có một số ít người học tham gia quá trình thảo
luận còn những người khác không tham gia gì vào quá trình đó. Trong
suốt quá trình thảo luận, người dạy chủ động tham gia vào từng nhóm,
đặt câu hỏi hoặc trả lời câu hỏi với các nhóm để tạo nên môi trường trao
đổi giữa người dạy và người học. Khi các nhóm đã trình bày quan điểm
của nhóm mình, người dạy không nên đưa ra kết luận ngay mà phải đưa
ra các vấn đề liên quan đến tình huống để mổ xẻ vấn đề giúp người học
hiểu sâu bài học hơn. Trước khi kết thúc buổi thảo luận, người dạy cần
tổng kết lại cách giải các tình huống pháp luật đã thảo luận và đánh giá
quá trình hoạt động của từng nhóm.
2. Phương pháp giải quyết một tình huống môn học Tư pháp quốc tế
2.1. Phương pháp (IRAC)1
Phương pháp IRAC là phương pháp phổ biến và quen thuộc với
sinh viên luật. IRAC là từ viết tắt của Issue (vấn đề) - Rule (quy định) -
Application (áp dụng) - Conclusion (kết luận). Một số người giải thích
hơi khác, theo đó, IRAC sẽ là Issue - Rule - Argumentation - Conclusion.
Đây là một phương pháp sắp xếp lập luận, suy nghĩ pháp lý cơ bản, giúp
bạn hình thành lập luận rõ ràng, logic. IRAC cũng là một phương pháp
viết và nói pháp lý dễ hiểu cho người viết và người đọc.
1 https://iuscogen.wordpress.com/2017/09/30/37/. Truy cập ngày 10/2/2018.
7
Issue (vấn đề)
Bước đầu tiên của suy nghĩ và lập luận pháp lý là phát hiện ra vấn
đề pháp lý (legal issues/questions of law) từ các bằng chứng, dữ kiện của
vụ việc (facts). Một vụ việc có thể có một hay nhiều vấn đề pháp lý. Để
có thể phát hiện ra vấn đề pháp lý nhất thiết phải có kiến thức luật rộng
để có thể “nhận ra” những dấu vết pháp lý trong các bằng chứng, dữ
kiện. Ít nhất chúng ta phải hình dung được ngành luật nào, chế định điều
chỉnh vụ việc chúng ta đang xử lý. Nói cách khác là quan hệ pháp lý
nào tồn tại trong vụ việc.
Ví dụ: Nếu A (quốc tịch Việt Nam) đăng ký kết hôn với B (quốc
tịch Lào), cả hai chung sống và làm việc ở Lào. Sau một thời gian chung
sống phát sinh mâu thuẫn, A gửi đơn xin ly hôn với B ra Tòa án Việt
Nam. Tòa án Việt Nam đã thụ lý giải quyết và đã áp dụng pháp luật Việt
Nam xử cho ly hôn. Trong vụ việc này, theo nhận định sơ bộ, vấn đề
pháp lý ở đây là Tòa án Việt Nam có thẩm quyền không và Tòa án áp
dụng luật Việt Nam là đúng hay sai?
Rule (quy định)
Khi đã tìm ra được vấn đề pháp lý (quan hệ pháp lý) của vụ việc,
chúng ta cần rà soát, nghiên cứu quy định của ngành luật liên quan để tìm
ra chính xác quy định cụ thể áp dụng, điều chỉnh vụ việc. Cần rà soát tất
cả các nguồn luật của ngành luật Tư pháp quốc tế: Điều ước quốc tế, tập
quán quốc tế, pháp luật quốc gia và cả án lệ liên quan. Trong trường hợp
nêu trên cần rà soát xem Việt Nam và Lào có Điều ước quốc tế quy định
về vấn đề này hay không? Nếu có thì quy định thế nào?
Xác định quan hệ trên được điều chỉnh bởi Hiệp định Tương trợ Tư
pháp Việt Nam - Lào thì khi đó ta sẽ khoanh vùng được văn bản áp dụng
để xác định được thẩm quyền thuộc về cơ quan nào và luật được dẫn
chiếu để áp dụng giải quyết vấn đề.
Application (áp dụng)
Khi đã biết quy định áp dụng rồi thì cần áp dụng quy định đó vào
vụ việc thực tế. Phần Application sẽ yêu cầu giải thích quy định liên quan
đã được phát hiện ở trên, kết hợp với các bằng chứng, dữ kiện của vụ
việc để đi đến kết luận. Kết luận này không phải là kết luận trong
Conclusion phía dưới mà kết luận cho các câu hỏi kiểu như: Liệu có bằng
8
chứng, dữ kiện cho thấy tất cả các điều kiện ở quy định đó đã được
thỏa mãn?
Giải thích quy định trong phần Application này có thể bao gồm:
(1) Giải thích theo Hiệp định Tương trợ Tư pháp, theo pháp luật trong
nước hay các tập quán, án lệ; (2) Viện dẫn các quy phạm xung đột, các
quy phạm thực chất hiện có, đánh giá liệu kết luận và lập luận của tòa án
trong vụ việc đó.
Cũng trong tình huống trên xác định được quy phạm tại Điều 27
Hiệp định Tương trợ Tư pháp Việt Nam - Lào được áp dụng. Từ đó, căn
cứ vào quy phạm này để giải thích các vấn đề pháp lý đã nêu.
Conclusion (kết luận)
Phần kết luận thường đưa ra câu trả lời tổng kết cho các phần trên,
đặc biệt là phần Application. Do đó, không đưa thêm thông tin hay lập
luận mới.
Với tình huống trên ta đưa ra kết luận: Tòa án Việt Nam không có
thẩm quyền giải quyết mà là Tòa án Lào và luật áp dụng là luật của Lào.
2.2. Phương pháp tiếp cận
Các bài tập được xây dựng chủ yếu liên quan đến việc vận dụng
pháp luật trong nước của Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam
là thành viên để giải quyết. Do vậy, khi giải các bài tập tình huống của
môn học Tư pháp quốc tế cần tiếp cận như sau:
- Nếu quan hệ cần được giải quyết là quan hệ giữa Việt Nam và
nước hữu quan có điều ước quốc tế thì phải vận dụng quy định trong điều
ước quốc tế để giải quyết. Đây là một nguyên tắc mà bất kỳ người học
nào cũng phải nắm vững.
- Nếu quan hệ cần giải quyết là quan hệ giữa Việt Nam và nước
hữu quan không có điều ước quốc tế thì mới được vận dụng quy định
pháp luật trong nước để giải quyết.
Để người học vận dụng pháp luật chính xác (pháp luật trong nước
hay điều ước quốc tế) cần xem xét: Vụ việc đó xảy ra năm nào, quan hệ
cần giải quyết là quan hệ giữa Việt Nam với nước nào, nước đã có điều
ước quốc tế hay là nước chưa có điều ước quốc tế với Việt Nam trong
lĩnh vực này. Do vậy, người học phải nắm được các điều ước quốc tế chủ
9
yếu điều chỉnh quan hệ Tư pháp quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Cụ
thể, người học phải nắm được các điều ước quốc tế cơ bản mà Việt Nam
là thành viên.
3. Mục tiêu của học phần
Mục tiêu đào tạo chung của học phần:
a. Về kiến thức
Sau khi học học phần Tư pháp quốc tế, sinh viên nắm được những
kiến thức cơ bản về quan hệ dân sự mở rộng có yếu tố nước ngoài, giải
quyết được những tình huống cụ thể của tư pháp quốc tế từ đơn giản đến
phức tạp.
b. Về kỹ năng
- Hình thành và phát triển kỹ năng thu nhập, tổng hợp thông tin, kỹ
năng hệ thống hóa các vấn đề trong mối quan hệ tổng thể; kỹ năng so
sánh, phân tích, bình luận, đánh giá các vấn đề của Tư pháp quốc tế.
- Xây dựng được hệ thống các căn cứ pháp lý, các lập luận tìm và
lựa chọn luận cứ giải quyết các vấn đề pháp lý cụ thể.
- Lựa chọn, vận dụng một cách phù hợp các nguồn luật áp dụng,
lựa chọn cơ quan tài phán trong việc giải quyết các vụ việc dân sự
quốc tế.
- Thành thạo một số kỹ năng tìm các quy định của pháp luật, phán
quyết của Tòa án, trọng tài.
- Biết cách phân tích, bình luận được một số bản án điển hình về
Tư pháp quốc tế.
- Cung cấp và rèn luyện các kỹ năng vận dụng kiến thức đã học để
giải quyết được các tình huống thực tế và các tình huống giả định của Tư
pháp quốc tế.
c. Về thái độ
- Tích cực nâng cao trình độ nhận thức về các vấn đề của Tư pháp
quốc tế trong bối cảnh hội nhập.
- Chủ động vận dụng các kiến thức đã học trong phân tích và giải
quyết các vấn đề của Tư pháp quốc tế Việt Nam.
- Hình thành tính chủ động, tự tin cho học viên.
10
DANH MỤC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ
DÂN SỰ QUỐC TẾ MÀ VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN
A. ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ SONG PHƯƠNG
1. Các Hiệp định Tương trợ Tư pháp:
Tính đến tháng 07/2017, Việt Nam đã ký kết Hiệp định sau2:
DANH MỤC HIỆP ĐỊNH TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP
Ngày có
STT
Tên nước
Tên điều ước
Ngày ký
hiệu lực
Hiệp định Tương trợ Tư
An-giê-ri
1
pháp trong lĩnh vực dân 14/04/2010 24/06/2012
sự và thương mại
(VN -FR -AR)
Hiệp định Tương trợ Tư
2
3
4
Ba Lan
pháp về các vấn đề dân 22/03/1993 18/01/1995
sự, gia đình và hình sự
Hiệp định Tương trợ Tư
Bê-la-rút
pháp và pháp lý về các
14/9/2000 18/10/2001
vấn đề dân sự, gia đình,
(RU - VN)
lao động và hình sự
Hiệp định Tương trợ Tư
Đang có
Bun-ga-ri
pháp về các vấn đề dân 3/10/1986
hiệu lực
sự, gia đình và hình sự
Ca-dắc-xtan
(EN - VN)
Hiệp định Tương trợ Tư
pháp về các vấn đề dân sự
Chưa có
hiệu lực
5
6
31/10/2011
21/01/2013
Hiệp định Tương trợ Tư
pháp về các vấn đề dân sự
Chưa có
hiệu lực
Cam-pu-chia
Hiệp định Tương trợ Tư
pháp về các vấn đề dân
sự, gia đình, lao động và
hình sự
Đang có
hiệu lực
7
Cu Ba
30/11/1984
2Xemhttps://lanhsuvietnam.gov.vn/Lists/BaiViet/B%C3%A0i%20vi%E1%BA%BFt/Dis
pForm.aspx?List=dc7c7d75-6a32-4215-afeb-47d4bee70eee&ID=414.
11
Thỏa thuận tương trợ tư
pháp trong lĩnh vực dân 12/4/2010 02/12/2011
sự và thương mại
Đài Loan
Trung Quốc
8
9
Hiệp định Tương trợ Tư
Đang có
Hung-ga-ri
pháp về các vấn đề dân 18/01/1985
hiệu lực
sự, gia đình và hình sự
Hiệp định Tương trợ Tư
27/06/2013 22/01/2016
pháp về dân sự và hình sự
10 In-đô-nê-xi-a
11 Lào
Hiệp định Tương trợ Tư
06/07/1998 19/02/2000
pháp về dân sự và hình sự
Hiệp định Tương trợ Tư
pháp và pháp lý về các
10/12/1981 10/10/1982
vấn đề dân sự, gia đình và
Liên Xô (Nga
12 kế thừa)
(RU - VN)
hình sự
Hiệp định Tương trợ Tư
13 Mông Cổ
pháp về các vấn đề dân 17/04/2000 13/06/2002
sự, gia đình và hình sự
Hiệp định Tương trợ Tư
pháp và pháp lý về các 25/08/1998 27/08/2012
vấn đề dân sự và hình sự
Nga
14
(RU - VN)
Nghị định thư bổ sung
Hiệp định Tương trợ Tư
23/04/2003 27/07/2012
pháp và pháp lý về các
15 Nga
vấn đề dân sự và hình sự
Hiệp định Tương trợ Tư
24/02/1999 01/05/2001
pháp về các vấn đề dân sự
16 Pháp
Tiệp Khắc
Hiệp định Tương trợ Tư
17 (Séc và Xlô-va- pháp và pháp lý về dân sự 12/10/1982 16/04/1984
ki-a kế thừa)
và hình sự
Hiệp định về Tương trợ
18 Triều Tiên
Tư pháp trong các vấn đề 04/05/2002 24/02/2004
dân sự và hình sự
Hiệp định Tương trợ Tư
19 Trung Quốc
20 U-crai-na
pháp về các vấn đề dân sự 19/10/1998 25/12/1999
và hình sự
Hiệp định Tương trợ Tư
pháp và pháp lý về các 06/04/2000 19/08/2002
vấn đề dân sự và hình sự
12
2. Hiệp định hợp tác nuôi con nuôi
Công ước La Hay 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác nuôi con nuôi.
Hiệp định hợp tác nuôi con nuôi giữa Việt Nam và Cộng hòa Pháp
(01/2/2000), Vương quốc Đan Mạch (26/5/2003), Cộng hòa Italia (13/6/2003),
Cộng hòa Ailen (23/9/2003), Vương quốc Thụy Điển (04/02/2004),
ba Cộng đồng ngôn ngữ (Pháp, Hà Lan, Đức) thuộc Vương quốc Bỉ
(17/3/2005), Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (21/6/2005), Canada (27/6/2005),
Quebec Canada (15/9/2005), Liên bang Thụy Sĩ (20/12/2005) và Ontario
Canada (03/4/2006); British Columbia - Canada (27/3/2007); Vương
quốc Tây Ban Nha (05/12/2007) và Alberta - Canada (09/6/2008). Trong
số các Hiệp định này, Hiệp định giữa Việt Nam và 3 Cộng đồng ngôn
ngữ Bỉ chưa có hiệu lực do phía Bỉ chưa phê chuẩn. Hiệp định với Hoa
Kỳ, Thụy Điển, Ai Len đã hết hiệu lực.
3. Trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
- Hiệp định bản quyền giữa Việt Nam và Hoa Kỳ được ký ngày
27/6/1997 và có hiệu lực ngày 23/12/1998;
- Hiệp định Thương mại giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
và Hợp chúng quốc Hoa Kỳ đã được ký tại Washington ngày 13/7/2000
(Hiệp định có hiệu lực ngày 10/12/2001);
- Hiệp định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực
sở hữu trí tuệ với Chính phủ Liên bang Thụy Sĩ ngày 7/7/1999 (có hiệu lực
tháng 08/2000).
- Hiệp định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ giữa Việt Nam và Liên
bang Nga năm 2008 (có hiệu lực 2010).
B. ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ ĐA PHƯƠNG
- Công ước Berne năm 1886 về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ
thuật (có hiệu lực tại Việt Nam kể từ ngày 26/10/2004 và Việt Nam là
thành viên thứ 156 tham gia Công ước Berne). Tính đến nay, có 162
nước tham gia Công ước;
- Công ước Geneva bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao
chép trái phép (có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 6/7/2005);
- Công ước Brussels liên quan đến việc phân phối các tín hiệu
mang chương trình truyền qua vệ tinh (có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày
12/1/2006);
13
- Công ước Rome (1961) về bảo hộ người biểu diễn, người sản xuất
băng ghi âm và các tổ chức phát sóng (có hiệu lực tại Việt Nam ngày
01/3/2007);
- Thỏa ước Madrid năm 1891 về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng
hóa (có hiệu lực tại Việt Nam năm 1981). Các nước là thành viên của
Thỏa ước Madrid tính đến 15/7/2009 là 56 nước3;
- Nghị định thư năm 1989 liên quan đến thỏa ước Madrid 1891 (có
hiệu lực tại Việt Nam Nam từ ngày 10/7/2006). Tính đến năm 2007 có 71
nước tham gia Nghị định thư;
- Công ước Paris (1883) về bảo hộ sở hữu công nghiệp (có hiệu lực
tại Việt Nam năm 1981);
- Hiệp định hợp tác sáng chế năm 1970 (có hiệu lực tại Việt Nam
năm 1993);
- Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ
năm 1995 Hiệp định TRIPs (Có hiệu lực tại Việt Nam năm 2007). Hiện
nay, có 161 thành viên;
- Công ước về thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ quốc tế năm 1967
(có hiệu lực tại Việt Nam năm 1976). Hiện nay, có 184 thành viên;
- Công ước UPOV năm 1961 về bảo hộ giống cây trồng mới (có hiệu
lực tại Việt Nam ngày 24/12/2006 và Việt Nam là thành viên thứ 63 của
UPOV). Tính đến ngày 29/11/2008, UPOV có 66 quốc gia thành viên và
khoảng 20 quốc gia đang tiến hành các thủ tục cần thiết để trở thành thành
viên của UPOV;
- Công ước La Hay 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực
nuôi con nuôi quốc tế. Ngày 07/12/2010, được ủy quyền của Chính phủ
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đại sứ đặc mệnh toàn
quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Vương quốc Hà
Lan đã ký chính thức Công ước. Ngày 18/7/2011, Chủ tịch nước
Nguyễn Minh Triết ra Quyết định số 1103/2011/QĐ-CTN phê chuẩn
toàn văn Công ước và Bộ Ngoại giao thực hiện thủ tục nộp văn kiện
phê chuẩn của Việt Nam cho Bộ Ngoại giao Vương quốc Hà Lan - cơ
quan lưu chiểu Công ước. Công ước có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày
01/02/2012. Tính đến tháng 6/2015, đã có 95 quốc gia và vùng lãnh thổ
là thành viên của Công ước;
3 http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%87_th%E1%BB%91ng_Madrid.
14
- Công ước New York về công nhận và thi hành phán quyết của
trọng tài nước ngoài ngày 10/6/1958. Ngày 20/7/2009, có 144 quốc gia
và vùng lãnh thổ (trong tổng số 192 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế
giới) đã là thành viên Công ước thông qua việc ký kết, phê chuẩn, gia
nhập, kế thừa. Việt Nam gia nhập Công ước ngày 12/9/1995 thông qua
việc phê chuẩn Công ước. Công ước có hiệu lực tại Việt Nam ngày
11/11/1995.
- Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư
pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại (Việt Nam
gia nhập công ước từ ngày 16/3/2016. Công ước có hiệu lực tại Việt Nam
ngày 01/10/2016).
- Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hang hóa quốc tế (Việt
Nam gia nhập ngày 18/12/2015, Công ước chính thức có hiệu lực đối với
Việt Nam từ ngày 01/01/2017).
Ngoài các điều ước quốc tế trên, người học cần nắm được các nước
áp dụng nguyên tắc có đi có lại với Việt Nam.
DANH MỤC CÁC NƯỚC ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC
CÓ ĐI CÓ LẠI VỚI VIỆT NAM
Theo thông báo tại Công văn số 2630/LS-VP ngày 15/11/ 2002 của
Bộ Ngoại giao Việt Nam và các nước sau áp dụng nguyên tắc có đi có lại:
1. Cộng hòa Ả-rập Ai Cập;
2. Vương quốc Bỉ;
3. Canada;
4. Vương quốc Campuchia;
5. Cộng hòa Liên bang Đức;
6. Cộng hòa Hồi giáo I-ran;
7. Nam Phi;
8. Nhật Bản;
9. Cộng hòa Pháp;
10. Vương quốc Thụy Điển;
11. Liên bang Thụy Sĩ.
15
PHẦN II
LÝ THUYẾT VÀ CÁC TÌNH HUỐNG HƯỚNG DẪN
Chương 1
KHÁI NIỆM VÀ NGUỒN CỦA TƯ PHÁP QUỐC TẾ
1. Mục tiêu
Về kiến thức: Hiểu đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế (xác
định được một quan hệ dân sự mở rộng có yếu tố nước ngoài); phương
pháp điều chỉnh và phạm vi điều chỉnh của Tư pháp quốc tế; các loại
nguồn của tư pháp quốc tế, vị trí, vai trò của Tư pháp quốc tế; quan điểm
của các nước về Tư pháp quốc tế trong điều kiện hiện nay.
Về kỹ năng: Nhận diện được các quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài thuộc đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế.
2. Lý thuyết
2.1. Đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của Tư pháp quốc tế
2.1.1. Đối tượng điều chỉnh
Tư pháp quốc tế có đối tượng điều chỉnh là các quan hệ dân sự mở
rộng có yếu tố nước ngoài. Các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố
nước ngoài được hiểu là các quan hệ mang tính chất “tư” giữa các chủ
thể dân sự với nhau như: Các quan hệ pháp luật về sở hữu; thừa kế; hôn
nhân và gia đình; kinh doanh, thương mại; lao động, tố tụng dân sự;…
Các quan hệ dân sự mở rộng nêu trên còn phải đáp ứng tiêu chí là
có yếu tố nước ngoài. Yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp
luật Việt Nam, tại Điều 663 Bộ luật Dân sự 2015 quy định, nếu có 1 trong 3
yếu tố sau:
- Về chủ thể: Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân,
pháp nhân nước ngoài;
- Về sự kiện pháp lý: Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam,
pháp nhân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, thực hiện, chấm
dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài;
16
- Về khách thể: Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp
nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ đó ở nước ngoài.
Như vậy, một quan hệ dân sự mở rộng có một trong các yếu tố
nước ngoài nêu trên sẽ thuộc đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế.
2.1.2. Phương pháp điều chỉnh của Tư pháp quốc tế
Khác với các ngành luật khác, phương pháp điều chỉnh của Tư
pháp quốc tế là phương pháp thực chất và phương pháp xung đột.
- Phương pháp thực chất (phương pháp điều chỉnh trực tiếp): Là
phương pháp điều chỉnh bằng cách sử dụng các quy phạm pháp luật trực
tiếp tác động vào quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, giải quyết về mặt
nội dung các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài4.
Như vậy, có thể hiểu phương pháp này được xây dựng trên cơ sở hệ
thống các quy phạm thực chất trực tiếp giải quyết các quan hệ dân sự
quốc tế. Sử dụng quy phạm thực chất là phân định trực tiếp quyền và
nghĩa vụ của các bên tham gia vào quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
Quy phạm thực chất được chứa đựng trong pháp luật quốc gia gọi là quy
phạm thực chất thông thường, quy phạm thực chất được chứa đựng trong
các Điều ước quốc tế gọi là quy phạm xung đột thống nhất.
- Phương pháp xung đột (phương pháp điều chỉnh gián tiếp): Là
phương pháp điều chỉnh bằng cách sử dụng các quy phạm pháp luật để
lựa chọn một hệ thống pháp luật áp dụng vào quan hệ dân sự có yếu tố
nước ngoài. Quy phạm được lựa chọn sẽ giải quyết về mặt nội dung các
quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài5.
Quy phạm xung đột là quy phạm xác định luật áp dụng là luật pháp
của nước nào để giải quyết quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong
một tình huống cụ thể. Vì phương pháp xung đột là phương pháp gián
tiếp không trực tiếp điều chỉnh các vấn đề pháp lý như quy phạm xung
đột nên khi áp dụng phương pháp xung đột thường rất phức tạp và khó khăn.
4 TS. Bành Quốc Tuấn, Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, 2017.
5 TS. Bành Quốc Tuấn, Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, 2017.
17
2.2. Nguồn của tư pháp quốc tế
Nguồn của tư pháp quốc tế là các hình thức chứa đựng và thể hiện
các quy phạm pháp luật. Nguồn của Tư pháp quốc tế bao gồm: Điều ước
quốc tế, pháp luật quốc gia, tập quán quốc tế, thực tiễn tòa án và trọng
tài… Nguồn của Tư pháp quốc tế rất phong phú và đa dạng, do đó khi
giải quyết một tình huống cụ thể cần xác định loại nguồn nào được áp
dụng để điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Từ đó, dựa vào
loại nguồn đó để giải quyết tình huống.
- Điều ước quốc tế: Đóng vai trò rất quan trọng trong việc điều
chỉnh các quan hệ dân sự mở rộng của Tư pháp quốc tế. Việt Nam đã ký
kết rất nhiều các Điều ước quốc tế song phương và đa phương điều chỉnh
quan hệ dân sự mở rộng có yếu tố nước ngoài. Các Điều ước quốc tế đa
phương trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ như Công ước Paris 1883 về bảo hộ
sở hữu công nghiệp, Công ước La Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng
công nghiệp; về công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước
ngoài có Công ước New York 1958 về công nhận và cho thi hành quyết
định của trọng tài nước ngoài. Gần đây, Việt Nam vừa gia nhập Công ước
Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và Công ước La Hay
1965 về tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự
và thương mại…
Các Điều quốc tế song phương mà Việt Nam đã ký kết trong lĩnh
vực này bao gồm các Hiệp định Tương trợ Tư pháp về dân sự giữa Việt
Nam và các nước6; các Hiệp định thương mại song phương (87 Hiệp
định); các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (48 Hiệp định); …
Ngoài ra, các Điều ước quốc tế đa phương mà Việt Nam không
phải là thành viên cũng có thể được áp dụng để giải quyết các quan hệ
dân sự mở rộng có yếu tố nước ngoài khi các bên lựa chọn làm luật áp
dụng. Việc áp dụng các Điều ước quốc tế này sẽ phải đáp ứng các điều
kiện mà pháp luật quốc gia quy định đối với những trường hợp được
quyền chọn luật áp dụng. Về nguyên tắc áp dụng pháp luật quốc gia và
Điều ước quốc tế, tại Điều 665 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “1. Trường
hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên có quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dân
6 Các Hiệp định này đã được liệt kê ngay trong phần phụ lục của tập bài giảng này.
18
sự có yếu tố nước ngoài thì quy định của điều ước quốc tế đó được áp
dụng; 2. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Phần này và
luật khác về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài thì quy định của điều ước quốc tế đó được áp dụng”.
- Tập quán quốc tế: Là những thói quen được áp dụng trong một
thời gian dài trong thực tiễn quan hệ pháp lý, tập quán đó được áp dụng
lặp đi lặp lại nhiều lần, được thừa nhận rộng rãi bởi đông đảo các quốc
gia. Về nguyên tắc, các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài chịu sự điều
chỉnh bới các quy định được ghi nhận trong pháp luật trong nước hoặc
các quy định trong các Điều ước quốc tế có liên quan. Tuy nhiên, nếu các
quy phạm trong Điều ước quốc tế hoặc pháp luật quốc gia không có quy
định thì tập quán quốc tế có thể được áp dụng. Tập quán quốc tế có thể
được áp dụng khi các bên thỏa thuận áp dụng hoặc khi Điều ước quốc tế
hoặc pháp luật quốc gia quy định áp dụng hoặc được cơ quan có thẩm
quyền của quốc gia tiến hành áp dụng. Điều 666 Bộ luật Dân sự 2015
quy định: “Các bên được lựa chọn tập quán quốc tế trong trường hợp
quy định tại Khoản 2 Điều 664 của Bộ luật này. Nếu hậu quả của việc áp
dụng tập quán quốc tế đó trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật
Việt Nam thì pháp luật Việt Nam được áp dụng”.
- Thực tiễn tòa án và trọng tài (án lệ).
Thực tiễn tòa án được hiểu là các bản án, quyết định của tòa án mà
trong đó thể hiện quan điểm của các thẩm phán đối với các vấn đề pháp
lý có tính chất quyết định trong việc giải quyết các vụ việc nhất định và
mang ý nghĩa giải quyết đối với các quan hệ tương ứng trong tương lai.
Hiện nay, án lệ được thừa nhận rộng rãi bởi hầu hết các quốc gia
trên thế giới. Án lệ được coi như một loại nguồn chính thức của pháp luật
các quốc gia trong đó có Tư pháp quốc tế.
- Pháp luật quốc gia.
Luật pháp của mỗi quốc gia (luật quốc nội) là một trong những loại
nguồn phổ biến của Tư pháp quốc tế. Đây là một hệ thống các văn bản
pháp quy của một quốc gia như Hiến pháp, Luật, các văn bản dưới luật,
tập quán và án lệ.
19
Một số quốc gia trên thế giới đã ban hành Bộ luật Tư pháp quốc tế
riêng như Ba Lan (1965), Hung-ga-ri (1979), Đức (1986), Bỉ (2004),
Nhật Bản (2006), Trung Quốc (2010). Ở Việt Nam, chưa có Bộ luật Tư
pháp quốc tế riêng nên các quan hệ dân sự mở rộng có yếu tố nước ngoài
được quy định rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau. Hiến pháp
là một trong những văn bản pháp lý quan trọng nhất ghi nhận nhiều
nguyên tắc và quy phạm đặt nền tảng cho lĩnh vực Tư pháp quốc tế. Tiếp
đó, phải kể đến Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng Dân sự. Đây là hai văn
bản chứa đựng rất nhiều các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ
dân sự mở rộng có yếu tố nước ngoài. Ngoài ra, một số đạo luật khác
cũng chứa đựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự
mở rộng có yếu tố nước ngoài như: Bộ luật Hàng hải, Luật Hàng không
dân dụng, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Đầu tư, Luật Thương mại, Bộ
luật lao động, Luật Trọng tài thương mại… Ngoài ra, còn rất nhiều các
văn bản dưới luật là nguồn của ngành luật tư pháp quốc tế.
3. Tình huống
3.1. Tình huống 17
3.1.1. Nội dung tình huống
Ngày 7/7/2015, Công ty liên doanh ôtô Việt Nam Daewoo (thành
lập tại Việt Nam), đại diện là ông Chong Gi Lee (quốc tịch Hàn quốc) -
Tổng giám đốc đã ký hợp đồng mua bán xe ôtô theo phương thức trả
chậm cho Công ty TNHH Xây dựng giao thông thương mại Tân Á (thành
lập tại Việt Nam). Tuy nhiên, sau đó phát sinh tranh chấp về chậm trả tiền
và Công ty liên doanh Daewoo khởi kiện Công ty Tân Á ra tòa án.
Anh (chị) hãy cho biết tranh chấp trên có thuộc đối tượng điều
chỉnh của tư pháp quốc tế hay không? Vì sao?
3.1.2. Hướng dẫn giải quyết tình huống (Irac)
Issue (các sự kiện có ý nghĩa pháp lý).
Trong tình huống trên, sinh viên cần quan tâm tới các vấn đề sau:
Công ty liên doanh ôtô Việt Nam Daewoo (thành lập tại Việt Nam), đại
7
Theo Quyết định số 03/2003/HĐTP-KT ngày 24/2/2003: Tòa án nhân dân Tối cao
năm 2003 - 2004, Quyển 1, tr. 265.
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu hướng dẫn tình huống học phần Tư pháp quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tai_lieu_huong_dan_tinh_huong_hoc_phan_tu_phap_quoc_te.pdf

