Tài liệu hướng dẫn tình huống học phần Tư pháp quốc tế

PHẦN I  
NHỮNG ĐẶC THÙ VÀ YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆC  
HỌC TẬP HỌC PHẦN TƯ PHÁP QUỐC TẾ  
I. NHỮNG ĐẶC THÙ CỦA HỌC PHẦN TƯ PHÁP QUỐC TẾ  
Theo quan điểm đa số hiện nay, tư pháp quốc tế là một ngành  
luật độc lập nằm trong hệ thống pháp luật trong nước của mỗi quốc  
gia. Thuộc hệ thống pháp luật quốc gia nên Tư pháp quốc tế có mối  
quan hệ mật thiết với các ngành luật khác. Đồng thời, so với các ngành  
luật khác, Tư pháp quốc tế cũng có một số điểm rất đặc thù. Cụ thể:  
Thứ nhất, nội dung học phần Tư pháp quốc tế liên quan đến  
nhiều học phần khác: Luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Hôn nhân  
và gia đình, Luật Lao động, Luật Tố tụng dân sự... Tư pháp quốc tế  
cũng điều chỉnh các quan hệ do các ngành luật đó điều chỉnh, nhưng  
có điểm khác là trong các quan hệ của Tư pháp quốc tế luôn có yếu tố  
nước ngoài tham gia và trong Tư pháp quốc tế chủ yếu nghiên cứu vấn  
đề chọn luật (chọn luật của Việt Nam hay chọn luật của nước ngoài  
hữu quan) để điều chỉnh quan hệ đó. Vì vậy, có quan điểm cho rằng,  
Tư pháp quốc tế là tổng hợp của các ngành luật. Nên để có thể học và  
nghiên cứu được học phần Tư pháp quốc tế, người học phải đã có kiến  
thức về các học phần nêu trên.  
Thứ hai, trong học phần Tư pháp quốc tế, người học lần đầu tiên  
biết tới những khái niệm, những vấn đề mới như: Xung đột pháp luật,  
chọn luật, dẫn chiếu, áp dụng pháp luật nước ngoài... Đây là những vấn  
đề hết sức đặc thù của Tư pháp quốc tế mà các ngành luật khác không có.  
Thứ ba, Tư pháp quốc tế điều chỉnh quan hệ dân sự (theo nghĩa  
rộng) có yếu tố nước ngoài nên luôn gắn với chính sách đối ngoại, vấn đề  
đổi mới và hội nhập quốc tế.  
Chính sách đối ngoại của một nhà nước trước hết là thái độ, lập  
trường mang tính nguyên tắc và những phương hướng của nhà nước  
trong quan hệ quốc tế. Các chính sách đối ngoại của Nhà nước cũng phụ  
1
thuộc vào tình hình trong nước và quốc tế. Vì vậy, trong từng giai đoạn  
khác nhau, Nhà nước phải xác định chính sách đối ngoại phù hợp với  
thực tế. Trước thực tế đó, học phần Tư pháp quốc tế phải luôn gắn với  
chính sách đối ngoại, vấn đề đổi mới và hội nhập quốc tế.  
Như vậy, việc xác định các điểm đặc thù của học phần Tư pháp  
quốc tế, đã đưa ra được yêu cầu đối với việc xây dựng các câu hỏi và các  
bài tập tình huống phục vụ cho học phần là hết sức cần thiết.  
II. YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆC GIẢNG DẠY, HỌC TẬP VÀ NGHIÊN  
CỨU HỌC PHẦN TƯ PHÁP QUỐC TẾ  
Các bài tập tình huống được xây dựng phải đảm bảo được các tiêu  
chí: Phải dựa trên đặc thù của học phần và bám sát nội dung, chương  
trình giảng dạy Tư pháp quốc tế; tình huống pháp luật được xây dựng phải  
sinh động, bám sát thực tiễn; bao quát được những vấn đề cơ bản nhất của  
chương, bài cần học và các tình huống đó là điển hình cho mỗi loại quan  
hệ được Tư pháp quốc tế điều chỉnh. Cụ thể:  
Thứ nhất, xây dựng tình huống pháp luật phải dựa trên đặc thù của  
môn học và bám sát nội dung, chương trình giảng dạy Tư pháp quốc tế.  
Nội dung môn học Tư pháp quốc tế được chia thành 3 phần:  
- Phần chung (nếu như theo đào tạo niên chế được thiết kế là học  
phần 1);  
- Phần quan hệ cụ thể (nếu như theo đào tạo niên chế được thiết kế  
là học phần 2);  
- Phần tố tụng (nếu như theo đào tạo niên chế được thiết kế là học  
phần 3).  
Còn nếu theo đào tạo tín chỉ thì 3 nội dung trên được thiết kế thành  
1 modul và được giảng dạy từ 11 đến 12 tuần (một học kỳ).  
Do vậy, việc xây dựng các tình huống phải phù hợp với các hình  
thức đào tạo. Dù đào tạo theo niên chế hay tín chỉ, thì các tình huống  
được xây dựng sử dụng thống nhất trong các loại hình đào tạo đó.  
Trên cơ sở đó, các tình huống được xây dựng trong học phần Tư  
pháp quốc tế chia thành 3 phần:  
2
Phần chung: Phần này bao gồm các kiến thức cơ bản về Tư pháp  
quốc tế như: Đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh, nguồn luật,  
chủ thể của Tư pháp quốc tế và đặc biệt là đề cập đến vấn đề xung đột  
pháp luật - hiện tượng đặc thù của Tư pháp quốc tế. Vì thế, yêu cầu đối  
với việc xây dựng các tình huống trong phần này phải khái quát được  
những vấn đề chung nhất của Tư pháp quốc tế. Nhưng do đây là vấn đề  
hoàn toàn mới nên các tình huống phải đơn giản để người đọc dần làm  
quen với Tư pháp quốc tế.  
Phần quy định cụ thể: Trong chương trình Tư pháp quốc tế, chủ  
yếu đề cập đến các quan hệ sau:  
Các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài: Bao gồm quan hệ sở  
hữu, quan hệ thừa kế, quan hệ hợp đồng và ngoài hợp đồng, quan hệ sở  
hữu trí tuệ, quan hệ hôn nhân và gia đình... Trong Tư pháp quốc tế, các  
quan hệ dân sự này, có quan hệ phát sinh xung đột pháp luật (quan hệ sở  
hữu, quan hệ thừa kế, quan hệ hợp đồng và ngoài hợp đồng), có quan hệ  
không phát sinh xung đột pháp luật (quan hệ sở hữu trí tuệ: Quyền tác  
giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng). Trong  
phần này, tình huống xây dựng có một điểm chung là yêu cầu người học  
bằng các vụ việc cụ thể xác định được pháp luật áp dụng để giải quyết  
quan hệ đó, đặc biệt phần này chú trọng tới kỹ năng chọn luật áp dụng để  
điều chỉnh một quan hệ cụ thể.  
- Phần tố tụng (tố tụng tòa án và tố tụng trọng tài): Các tình huống  
được xây dựng trong phần này yêu cầu người học nắm được những vấn  
đề cơ bản và bằng các vụ việc cụ thể xác định các vấn đề liên quan đến tố  
tụng và đưa ra cách giải quyết đối với từng vấn đề đó. Chẳng hạn như  
vấn đề xác định thẩm quyền xét xử quốc tế, địa vị pháp lý của người  
nước ngoài trong tố tụng, ủy thác Tư pháp quốc tế, công nhận và thi hành  
bản án, quyết định dân sự của tòa án, phán quyết của trọng tài nước ngoài  
và các vấn đề liên quan đến việc lựa chọn pháp luật áp dụng trong tố  
tụng trọng tài.  
3
Thứ hai, các tình huống pháp luật được xây dựng phải sinh động,  
bám sát thực tiễn, thể hiện được đường lối đổi mới và hội nhập quốc tế  
của Đảng và Nhà nước.  
Học phần Tư pháp quốc tế là một học phần khó nhưng người học  
thực sự yêu thích vì những quan hệ mà Tư pháp quốc tế điều chỉnh rất  
thực tế, rất đời thường nhất là trong xu thế hội nhập quốc tế và khu vực  
của Việt Nam. Hiện nay, trong xu thế hội nhập, Nhà nước ta đã tham gia  
nhiều điều ước quốc tế đa phương và song phương điều chỉnh các vấn đề  
của Tư pháp quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí  
tuệ và hôn nhân gia đình. Đồng thời, pháp luật trong nước của Việt Nam  
cũng có nhiều chính sách rộng mở đối với người nước ngoài, người Việt  
Nam định cư ở nước ngoài như: Trong lĩnh vực sở hữu tài sản, nhất là  
vấn đề sở hữu nhà của người nước ngoài ở Việt Nam, người Việt Nam  
định cư ở nước ngoài, khi một số văn bản mới ra đời và có hiệu lực như  
Luật Nhà ở và Luật Đất đai. Do vậy, yêu cầu của việc xây dựng các tình  
huống pháp luật là phải đảm bảo được tính mới, tính thời sự, bám sát  
thực tiễn và phải thể hiện được đường lối chính sách đổi mới của nhà  
nước ta đối với các vấn đề nảy sinh trên thực tế. Ngoài ra, khi xây dựng  
các tình huống còn yêu cầu người học đối chiếu, so sánh giữa quy định  
hiện hành với quy định trước đó.  
Thứ ba, các tình huống pháp luật được xây dựng phải bao quát  
được những vấn đề cơ bản nhất của chương, bài cần giảng dạy, tình  
huống đó là điển hình cho mỗi loại quan hệ được Tư pháp quốc tế  
điều chỉnh.  
Như phần trên đã phân tích, Tư pháp quốc tế điều chỉnh nhiều loại  
quan hệ: Dân sự; hôn nhân - gia đình; lao động; tố tụng dân sự; kinh  
doanh thương mại,... trong mỗi loại quan hệ này lại có rất nhiều vấn đề  
khác nhau. Cho nên, khi xây dựng các tình huống pháp luật cho từng loại  
quan hệ cần xác định cụ thể vấn đề nào là vấn đề cơ bản nhất để từ đó  
xây dựng tình huống cho phù hợp.  
Ngoài ra, các tình huống pháp luật được xây dựng phải là tình huống  
điển hình. Trong thực tế hiện nay, các vụ việc phát sinh ngày càng nhiều.  
Vì vậy, khi xây dựng tình huống phải tìm được những tình huống điển hình  
4
cho từng loại quan hệ được Tư pháp quốc tế điều chỉnh. Khi giảng dạy học  
phần Tư pháp quốc tế, những tình huống được sử dụng trong các giờ thảo  
luận và giờ lý thuyết và các tình huống đã được xây dựng là những tình  
huống điển hình cho một loại quan hệ được Tư pháp quốc tế điều chỉnh.  
Tình huống này được xây dựng trên cơ sở những vụ việc có thực trong  
cuộc sống đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có  
thẩm quyền của nước ngoài xét xử. Các tình huống đó đa dạng về pháp  
luật áp dụng: Có thể là pháp luật trong nước, điều ước quốc tế, tập quán  
quốc tế. Việc giảng dạy theo phương pháp tình huống đã giúp người học  
dễ hiểu, nâng cao kỹ năng vận dụng trong cuộc sống.  
III. CÁCH THỨC SỬ DỤNG, PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT TÌNH  
HUỐNG VÀ MỤC TIÊU CỦA HỌC PHẦN TƯ PHÁP QUỐC TẾ  
1. Cách thức sử dụng các bài tập tình huống môn họcTư pháp quốc tế  
Sử dụng tình huống trong giảng dạy là một trong những phương  
pháp nâng cao sự chủ động của người học. Sự chủ động của người học  
chính là đặc điểm quan trọng nhất cho thấy người học mới là trung tâm  
của quá trình dạy - học chứ không phải là người thầy. Thực tế cho thấy,  
người học chỉ có thể học tốt khi họ đào sâu suy nghĩ cũng như có cơ hội  
trao đổi những suy nghĩ của mình với người khác bao gồm cả người thầy  
thông qua những cuộc thảo luận, trao đổi. Sự trao đổi, phản hồi này có  
thể là giữa người dạy và người học hoặc cũng có thể là giữa những người  
học với nhau khi giải các tình huống pháp luật.  
Thực tế các năm qua, khi sử dụng các tình huống pháp luật trong  
giảng dạy học phần Tư pháp quốc tế cho thấy, các tình huống pháp luật  
được sử dụng trong hai trường hợp:  
- Trường hợp thứ nhất: Sử dụng các tình huống pháp luật trong  
giảng dạy lý thuyết. Đây chính là phương pháp giảng dạy ở các lớp  
đông người học (trên 80 người). Việc giảng dạy ở lớp này gây trở ngại  
lớn và là công việc khó khăn hơn nhiều so với giảng dạy ở lớp nhỏ.  
Thông thường, trên thực tế hiện nay, người dạy chủ yếu độc thoại tại các  
lớp đông người. Cách giảng này gây nên sự thụ động của người học,  
"người dạy chỉ nói và người học chỉ nghe". Do vậy, để tăng sự chủ  
động của người học có thể sử dụng tình huống pháp luật để giảng dạy  
ở những lớp này.  
5
Do Tư pháp quốc tế là môn học khó, cho nên khi áp dụng tình  
huống pháp luật trong các lớp đông người thì người dạy cần giảng lý  
thuyết trước để người học nắm được kiến thức cơ bản của bài học, sau đó  
mới đưa tình huống pháp luật đơn giản và có tính thời sự để cuốn hút tất  
cả những người học vào bài giảng. Ở đây cần chú ý, yêu cầu cơ bản của  
tình huống pháp luật trong trường hợp này là đơn giản và phải có tính  
thời sự mà mọi người đang quan tâm, tránh đưa tình huống pháp luật có  
tính giả định và chung chung. Như vậy, bằng các tình huống pháp luật cụ  
thể, có tính thời sự sẽ cuốn hút được tất cả người học ở lớp học đông  
người.  
Đây là lớp học đông người nên vai trò của người dạy trong trường  
hợp này rất quan trọng. Để tránh việc người học chỉ bàn luận về sự kiện  
đã xảy ra, người dạy phải có cách để hướng người học vào mục tiêu mà  
tình huống pháp luật đặt ra. Việc sử dụng tình huống pháp luật ở các lớp  
đông người này sẽ giúp người học nắm được bài ngay tại lớp và làm cho  
bài học sinh động hơn, bởi có sự tương tác giữa người dạy và người học.  
- Trường hợp thứ hai: Sử dụng các tình huống pháp luật trong giờ  
thảo luận trên lớp. Hiện nay, trong chương trình giảng dạy chính quy môn  
Tư pháp quốc tế, số giờ thảo luận chiếm 40% tổng số giờ giảng. Bám sát  
vào đề cương chi tiết học phần đã công bố, tất cả các giảng viên giảng dạy  
học phần Tư pháp phải đan xe giảng dạy lý thuyết và tình huống để làm  
mới cách học và giúp học viên vận dụng lý thuyết vào giải quyết tình  
huống. Đây là một thuận lợi khi sử dụng tình huống pháp luật. Để có thể  
sử dụng tình huống pháp luật một cách tốt nhất đòi hỏi phải có sự chuẩn bị  
từ hai phía: người dạy và người học.  
+ Đối với người học: Người học sẽ được giao các tình huống  
pháp luật trong giờ lý thuyết trên lớp; đọc, nghiên cứu trước các tài liệu  
liên quan đến tình huống pháp luật và người học có thể tự học nhóm ở  
nhà theo các chủ đề đã được giao.  
+ Đối với người dạy: Phải chuẩn bị được hệ thống tình huống  
pháp luật phong phú với đầy đủ các chủ đề. Trong giờ thảo luận trên lớp,  
người dạy chủ động phân nhóm hoặc có thể theo sự phân nhóm theo quy  
định của nhà trường; chỉ định các tình huống pháp luật cho từng nhóm.  
Có thể cho 1 tình huống pháp luật yêu cầu các nhóm cùng giải quyết  
hoặc có thể giao cho mỗi nhóm 1 tình huống. Sau đó, cho các nhóm 1  
6
thời gian để thống nhất quan điểm và cách trả lời. Đây là những tình  
huống đã được giao và người học đã chuẩn bị ở nhà nên không cần nhiều  
thời gian để suy nghĩ.  
Trong giờ thảo luận, các nhóm lần lượt đưa ra cách giải tình huống  
của nhóm mình bằng cách đại diện của nhóm sẽ trình bày và các thành  
viên khác của nhóm bổ sung. Để tăng sự năng động của người học, người  
dạy yêu cầu các nhóm đưa ra câu hỏi phản biện cho nhau hoặc người dạy  
có thể đưa ra câu hỏi để phản biện lại cách mà các nhóm đã giải hoặc có  
thể đưa ra những câu hỏi để người học hiểu sâu hơn về nội dung vấn đề.  
Trong giờ thảo luận trên lớp, người dạy cần phải quan sát, quán  
xuyến toàn bộ lớp học; tập trung lắng nghe và định hướng những cuộc  
thảo luận; đảm bảo tất cả người học đều tham gia vào quá trình thảo  
luận, tránh trường hợp chỉ có một số ít người học tham gia quá trình thảo  
luận còn những người khác không tham gia gì vào quá trình đó. Trong  
suốt quá trình thảo luận, người dạy chủ động tham gia vào từng nhóm,  
đặt câu hỏi hoặc trả lời câu hỏi với các nhóm để tạo nên môi trường trao  
đổi giữa người dạy và người học. Khi các nhóm đã trình bày quan điểm  
của nhóm mình, người dạy không nên đưa ra kết luận ngay mà phải đưa  
ra các vấn đề liên quan đến tình huống để mổ xẻ vấn đề giúp người học  
hiểu sâu bài học hơn. Trước khi kết thúc buổi thảo luận, người dạy cần  
tổng kết lại cách giải các tình huống pháp luật đã thảo luận và đánh giá  
quá trình hoạt động của từng nhóm.  
2. Phương pháp giải quyết một tình huống môn học Tư pháp quốc tế  
2.1. Phương pháp (IRAC)1  
Phương pháp IRAC là phương pháp phổ biến và quen thuộc với  
sinh viên luật. IRAC là từ viết tắt của Issue (vấn đề) - Rule (quy định) -  
Application (áp dụng) - Conclusion (kết luận). Một số người giải thích  
hơi khác, theo đó, IRAC sẽ là Issue - Rule - Argumentation - Conclusion.  
Đây là một phương pháp sắp xếp lập luận, suy nghĩ pháp lý cơ bản, giúp  
bạn hình thành lập luận rõ ràng, logic. IRAC cũng là một phương pháp  
viết và nói pháp lý dễ hiểu cho người viết và người đọc.  
1 https://iuscogen.wordpress.com/2017/09/30/37/. Truy cập ngày 10/2/2018.  
7
Issue (vấn đề)  
Bước đầu tiên của suy nghĩ và lập luận pháp lý là phát hiện ra vấn  
đề pháp lý (legal issues/questions of law) từ các bằng chứng, dữ kiện của  
vụ việc (facts). Một vụ việc có thể có một hay nhiều vấn đề pháp lý. Để  
có thể phát hiện ra vấn đề pháp lý nhất thiết phải có kiến thức luật rộng  
để có thể “nhận ra” những dấu vết pháp lý trong các bằng chứng, dữ  
kiện. Ít nhất chúng ta phải hình dung được ngành luật nào, chế định điều  
chỉnh vụ việc chúng ta đang xử lý. Nói cách khác là quan hệ pháp lý  
nào tồn tại trong vụ việc.  
Ví dụ: Nếu A (quốc tịch Việt Nam) đăng ký kết hôn với B (quốc  
tịch Lào), cả hai chung sống và làm việc ở Lào. Sau một thời gian chung  
sống phát sinh mâu thuẫn, A gửi đơn xin ly hôn với B ra Tòa án Việt  
Nam. Tòa án Việt Nam đã thụ lý giải quyết và đã áp dụng pháp luật Việt  
Nam xử cho ly hôn. Trong vụ việc này, theo nhận định sơ bộ, vấn đề  
pháp lý ở đây là Tòa án Việt Nam có thẩm quyền không và Tòa án áp  
dụng luật Việt Nam là đúng hay sai?  
Rule (quy định)  
Khi đã tìm ra được vấn đề pháp lý (quan hệ pháp lý) của vụ việc,  
chúng ta cần rà soát, nghiên cứu quy định của ngành luật liên quan để tìm  
ra chính xác quy định cụ thể áp dụng, điều chỉnh vụ việc. Cần rà soát tất  
cả các nguồn luật của ngành luật Tư pháp quốc tế: Điều ước quốc tế, tập  
quán quốc tế, pháp luật quốc gia và cả án lệ liên quan. Trong trường hợp  
nêu trên cần rà soát xem Việt Nam và Lào có Điều ước quốc tế quy định  
về vấn đề này hay không? Nếu có thì quy định thế nào?  
Xác định quan hệ trên được điều chỉnh bởi Hiệp định Tương trợ Tư  
pháp Việt Nam - Lào thì khi đó ta sẽ khoanh vùng được văn bản áp dụng  
để xác định được thẩm quyền thuộc về cơ quan nào và luật được dẫn  
chiếu để áp dụng giải quyết vấn đề.  
Application (áp dụng)  
Khi đã biết quy định áp dụng rồi thì cần áp dụng quy định đó vào  
vụ việc thực tế. Phần Application sẽ yêu cầu giải thích quy định liên quan  
đã được phát hiện ở trên, kết hợp với các bằng chứng, dữ kiện của vụ  
việc để đi đến kết luận. Kết luận này không phải là kết luận trong  
Conclusion phía dưới mà kết luận cho các câu hỏi kiểu như: Liệu có bằng  
8
chứng, dữ kiện cho thấy tất cả các điều kiện ở quy định đó đã được  
thỏa mãn?  
Giải thích quy định trong phần Application này có thể bao gồm:  
(1) Giải thích theo Hiệp định Tương trợ Tư pháp, theo pháp luật trong  
nước hay các tập quán, án lệ; (2) Viện dẫn các quy phạm xung đột, các  
quy phạm thực chất hiện có, đánh giá liệu kết luận và lập luận của tòa án  
trong vụ việc đó.  
Cũng trong tình huống trên xác định được quy phạm tại Điều 27  
Hiệp định Tương trợ Tư pháp Việt Nam - Lào được áp dụng. Từ đó, căn  
cứ vào quy phạm này để giải thích các vấn đề pháp lý đã nêu.  
Conclusion (kết luận)  
Phần kết luận thường đưa ra câu trả lời tổng kết cho các phần trên,  
đặc biệt là phần Application. Do đó, không đưa thêm thông tin hay lập  
luận mới.  
Với tình huống trên ta đưa ra kết luận: Tòa án Việt Nam không có  
thẩm quyền giải quyết mà là Tòa án Lào và luật áp dụng là luật của Lào.  
2.2. Phương pháp tiếp cận  
Các bài tập được xây dựng chủ yếu liên quan đến việc vận dụng  
pháp luật trong nước của Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam  
là thành viên để giải quyết. Do vậy, khi giải các bài tập tình huống của  
môn học Tư pháp quốc tế cần tiếp cận như sau:  
- Nếu quan hệ cần được giải quyết là quan hệ giữa Việt Nam và  
nước hữu quan có điều ước quốc tế thì phải vận dụng quy định trong điều  
ước quốc tế để giải quyết. Đây là một nguyên tắc mà bất kỳ người học  
nào cũng phải nắm vững.  
- Nếu quan hệ cần giải quyết là quan hệ giữa Việt Nam và nước  
hữu quan không có điều ước quốc tế thì mới được vận dụng quy định  
pháp luật trong nước để giải quyết.  
Để người học vận dụng pháp luật chính xác (pháp luật trong nước  
hay điều ước quốc tế) cần xem xét: Vụ việc đó xảy ra năm nào, quan hệ  
cần giải quyết là quan hệ giữa Việt Nam với nước nào, nước đã có điều  
ước quốc tế hay là nước chưa có điều ước quốc tế với Việt Nam trong  
lĩnh vực này. Do vậy, người học phải nắm được các điều ước quốc tế chủ  
9
yếu điều chỉnh quan hệ Tư pháp quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Cụ  
thể, người học phải nắm được các điều ước quốc tế cơ bản mà Việt Nam  
là thành viên.  
3. Mục tiêu của học phần  
Mục tiêu đào tạo chung của học phần:  
a. Về kiến thức  
Sau khi học học phần Tư pháp quốc tế, sinh viên nắm được những  
kiến thức cơ bản về quan hệ dân sự mở rộng có yếu tố nước ngoài, giải  
quyết được những tình huống cụ thể của tư pháp quốc tế từ đơn giản đến  
phức tạp.  
b. Về kỹ năng  
- Hình thành và phát triển kỹ năng thu nhập, tổng hợp thông tin, kỹ  
năng hệ thống hóa các vấn đề trong mối quan hệ tổng thể; kỹ năng so  
sánh, phân tích, bình luận, đánh giá các vấn đề của Tư pháp quốc tế.  
- Xây dựng được hệ thống các căn cứ pháp lý, các lập luận tìm và  
lựa chọn luận cứ giải quyết các vấn đề pháp lý cụ thể.  
- Lựa chọn, vận dụng một cách phù hợp các nguồn luật áp dụng,  
lựa chọn cơ quan tài phán trong việc giải quyết các vụ việc dân sự  
quốc tế.  
- Thành thạo một số kỹ năng tìm các quy định của pháp luật, phán  
quyết của Tòa án, trọng tài.  
- Biết cách phân tích, bình luận được một số bản án điển hình về  
Tư pháp quốc tế.  
- Cung cấp và rèn luyện các kỹ năng vận dụng kiến thức đã học để  
giải quyết được các tình huống thực tế và các tình huống giả định của Tư  
pháp quốc tế.  
c. Về thái độ  
- Tích cực nâng cao trình độ nhận thức về các vấn đề của Tư pháp  
quốc tế trong bối cảnh hội nhập.  
- Chủ động vận dụng các kiến thức đã học trong phân tích và giải  
quyết các vấn đề của Tư pháp quốc tế Việt Nam.  
- Hình thành tính chủ động, tự tin cho học viên.  
10  
DANH MỤC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ  
DÂN SỰ QUỐC TẾ MÀ VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN  
A. ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ SONG PHƯƠNG  
1. Các Hiệp định Tương trợ Tư pháp:  
Tính đến tháng 07/2017, Việt Nam đã ký kết Hiệp định sau2:  
DANH MỤC HIỆP ĐỊNH TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP  
Ngày có  
STT  
Tên nước  
Tên điều ước  
Ngày ký  
hiệu lực  
Hiệp định Tương trợ Tư  
An-giê-ri  
1
pháp trong lĩnh vực dân 14/04/2010 24/06/2012  
sự và thương mại  
(VN -FR -AR)  
Hiệp định Tương trợ Tư  
2
3
4
Ba Lan  
pháp về các vấn đề dân 22/03/1993 18/01/1995  
sự, gia đình và hình sự  
Hiệp định Tương trợ Tư  
Bê-la-rút  
pháp và pháp lý về các  
14/9/2000 18/10/2001  
vấn đề dân sự, gia đình,  
(RU - VN)  
lao động và hình sự  
Hiệp định Tương trợ Tư  
Đang có  
Bun-ga-ri  
pháp về các vấn đề dân 3/10/1986  
hiệu lực  
sự, gia đình và hình sự  
Ca-dắc-xtan  
(EN - VN)  
Hiệp định Tương trợ Tư  
pháp về các vấn đề dân sự  
Chưa có  
hiệu lực  
5
6
31/10/2011  
21/01/2013  
Hiệp định Tương trợ Tư  
pháp về các vấn đề dân sự  
Chưa có  
hiệu lực  
Cam-pu-chia  
Hiệp định Tương trợ Tư  
pháp về các vấn đề dân  
sự, gia đình, lao động và  
hình sự  
Đang có  
hiệu lực  
7
Cu Ba  
30/11/1984  
2Xemhttps://lanhsuvietnam.gov.vn/Lists/BaiViet/B%C3%A0i%20vi%E1%BA%BFt/Dis  
pForm.aspx?List=dc7c7d75-6a32-4215-afeb-47d4bee70eee&ID=414.  
11  
Thỏa thuận tương trợ tư  
pháp trong lĩnh vực dân 12/4/2010 02/12/2011  
sự và thương mại  
Đài Loan  
Trung Quốc  
8
9
Hiệp định Tương trợ Tư  
Đang có  
Hung-ga-ri  
pháp về các vấn đề dân 18/01/1985  
hiệu lực  
sự, gia đình và hình sự  
Hiệp định Tương trợ Tư  
27/06/2013 22/01/2016  
pháp về dân sự và hình sự  
10 In-đô-nê-xi-a  
11 Lào  
Hiệp định Tương trợ Tư  
06/07/1998 19/02/2000  
pháp về dân sự và hình sự  
Hiệp định Tương trợ Tư  
pháp và pháp lý về các  
10/12/1981 10/10/1982  
vấn đề dân sự, gia đình và  
Liên Xô (Nga  
12 kế thừa)  
(RU - VN)  
hình sự  
Hiệp định Tương trợ Tư  
13 Mông Cổ  
pháp về các vấn đề dân 17/04/2000 13/06/2002  
sự, gia đình và hình sự  
Hiệp định Tương trợ Tư  
pháp và pháp lý về các 25/08/1998 27/08/2012  
vấn đề dân sự và hình sự  
Nga  
14  
(RU - VN)  
Nghị định thư bổ sung  
Hiệp định Tương trợ Tư  
23/04/2003 27/07/2012  
pháp và pháp lý về các  
15 Nga  
vấn đề dân sự và hình sự  
Hiệp định Tương trợ Tư  
24/02/1999 01/05/2001  
pháp về các vấn đề dân sự  
16 Pháp  
Tiệp Khắc  
Hiệp định Tương trợ Tư  
17 (Séc và Xlô-va- pháp và pháp lý về dân sự 12/10/1982 16/04/1984  
ki-a kế thừa)  
và hình sự  
Hiệp định về Tương trợ  
18 Triều Tiên  
Tư pháp trong các vấn đề 04/05/2002 24/02/2004  
dân sự và hình sự  
Hiệp định Tương trợ Tư  
19 Trung Quốc  
20 U-crai-na  
pháp về các vấn đề dân sự 19/10/1998 25/12/1999  
và hình sự  
Hiệp định Tương trợ Tư  
pháp và pháp lý về các 06/04/2000 19/08/2002  
vấn đề dân sự và hình sự  
12  
2. Hiệp định hợp tác nuôi con nuôi  
Công ước La Hay 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác nuôi con nuôi.  
Hiệp định hợp tác nuôi con nuôi giữa Việt Nam và Cộng hòa Pháp  
(01/2/2000), Vương quốc Đan Mạch (26/5/2003), Cộng hòa Italia (13/6/2003),  
Cộng hòa Ailen (23/9/2003), Vương quốc Thụy Điển (04/02/2004),  
ba Cộng đồng ngôn ngữ (Pháp, Hà Lan, Đức) thuộc Vương quốc Bỉ  
(17/3/2005), Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (21/6/2005), Canada (27/6/2005),  
Quebec Canada (15/9/2005), Liên bang Thụy Sĩ (20/12/2005) và Ontario  
Canada (03/4/2006); British Columbia - Canada (27/3/2007); Vương  
quốc Tây Ban Nha (05/12/2007) và Alberta - Canada (09/6/2008). Trong  
số các Hiệp định này, Hiệp định giữa Việt Nam và 3 Cộng đồng ngôn  
ngữ Bỉ chưa có hiệu lực do phía Bỉ chưa phê chuẩn. Hiệp định với Hoa  
Kỳ, Thụy Điển, Ai Len đã hết hiệu lực.  
3. Trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ  
- Hiệp định bản quyền giữa Việt Nam và Hoa Kỳ được ký ngày  
27/6/1997 và có hiệu lực ngày 23/12/1998;  
- Hiệp định Thương mại giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam  
và Hợp chúng quốc Hoa Kỳ đã được ký tại Washington ngày 13/7/2000  
(Hiệp định có hiệu lực ngày 10/12/2001);  
- Hiệp định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực  
sở hữu trí tuệ với Chính phủ Liên bang Thụy Sĩ ngày 7/7/1999 (có hiệu lực  
tháng 08/2000).  
- Hiệp định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ giữa Việt Nam và Liên  
bang Nga năm 2008 (có hiệu lực 2010).  
B. ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ ĐA PHƯƠNG  
- Công ước Berne năm 1886 về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ  
thuật (có hiệu lực tại Việt Nam kể từ ngày 26/10/2004 và Việt Nam là  
thành viên thứ 156 tham gia Công ước Berne). Tính đến nay, có 162  
nước tham gia Công ước;  
- Công ước Geneva bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao  
chép trái phép (có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 6/7/2005);  
- Công ước Brussels liên quan đến việc phân phối các tín hiệu  
mang chương trình truyền qua vệ tinh (có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày  
12/1/2006);  
13  
- Công ước Rome (1961) về bảo hộ người biểu diễn, người sản xuất  
băng ghi âm và các tổ chức phát sóng (có hiệu lực tại Việt Nam ngày  
01/3/2007);  
- Thỏa ước Madrid năm 1891 về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng  
hóa (có hiệu lực tại Việt Nam năm 1981). Các nước là thành viên của  
Thỏa ước Madrid tính đến 15/7/2009 là 56 nước3;  
- Nghị định thư năm 1989 liên quan đến thỏa ước Madrid 1891 (có  
hiệu lực tại Việt Nam Nam từ ngày 10/7/2006). Tính đến năm 2007 có 71  
nước tham gia Nghị định thư;  
- Công ước Paris (1883) về bảo hộ sở hữu công nghiệp (có hiệu lực  
tại Việt Nam năm 1981);  
- Hiệp định hợp tác sáng chế năm 1970 (có hiệu lực tại Việt Nam  
năm 1993);  
- Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ  
năm 1995 Hiệp định TRIPs (Có hiệu lực tại Việt Nam năm 2007). Hiện  
nay, có 161 thành viên;  
- Công ước về thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ quốc tế năm 1967  
(có hiệu lực tại Việt Nam năm 1976). Hiện nay, có 184 thành viên;  
- Công ước UPOV năm 1961 về bảo hộ giống cây trồng mới (có hiệu  
lực tại Việt Nam ngày 24/12/2006 và Việt Nam là thành viên thứ 63 của  
UPOV). Tính đến ngày 29/11/2008, UPOV có 66 quốc gia thành viên và  
khoảng 20 quốc gia đang tiến hành các thủ tục cần thiết để trở thành thành  
viên của UPOV;  
- Công ước La Hay 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực  
nuôi con nuôi quốc tế. Ngày 07/12/2010, được ủy quyền của Chính phủ  
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đại sứ đặc mệnh toàn  
quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Vương quốc Hà  
Lan đã ký chính thức Công ước. Ngày 18/7/2011, Chủ tịch nước  
Nguyễn Minh Triết ra Quyết định số 1103/2011/QĐ-CTN phê chuẩn  
toàn văn Công ước và Bộ Ngoại giao thực hiện thủ tục nộp văn kiện  
phê chuẩn của Việt Nam cho Bộ Ngoại giao Vương quốc Hà Lan - cơ  
quan lưu chiểu Công ước. Công ước có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày  
01/02/2012. Tính đến tháng 6/2015, đã có 95 quốc gia và vùng lãnh thổ  
là thành viên của Công ước;  
3 http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%87_th%E1%BB%91ng_Madrid.  
14  
- Công ước New York về công nhận và thi hành phán quyết của  
trọng tài nước ngoài ngày 10/6/1958. Ngày 20/7/2009, có 144 quốc gia  
và vùng lãnh thổ (trong tổng số 192 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế  
giới) đã là thành viên Công ước thông qua việc ký kết, phê chuẩn, gia  
nhập, kế thừa. Việt Nam gia nhập Công ước ngày 12/9/1995 thông qua  
việc phê chuẩn Công ước. Công ước có hiệu lực tại Việt Nam ngày  
11/11/1995.  
- Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư  
pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại (Việt Nam  
gia nhập công ước từ ngày 16/3/2016. Công ước có hiệu lực tại Việt Nam  
ngày 01/10/2016).  
- Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hang hóa quốc tế (Việt  
Nam gia nhập ngày 18/12/2015, Công ước chính thức có hiệu lực đối với  
Việt Nam từ ngày 01/01/2017).  
Ngoài các điều ước quốc tế trên, người học cần nắm được các nước  
áp dụng nguyên tắc có đi có lại với Việt Nam.  
DANH MỤC CÁC NƯỚC ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC  
CÓ ĐI CÓ LẠI VỚI VIỆT NAM  
Theo thông báo tại Công văn số 2630/LS-VP ngày 15/11/ 2002 của  
Bộ Ngoại giao Việt Nam và các nước sau áp dụng nguyên tắc có đi có lại:  
1. Cộng hòa Ả-rập Ai Cập;  
2. Vương quốc Bỉ;  
3. Canada;  
4. Vương quốc Campuchia;  
5. Cộng hòa Liên bang Đức;  
6. Cộng hòa Hồi giáo I-ran;  
7. Nam Phi;  
8. Nhật Bản;  
9. Cộng hòa Pháp;  
10. Vương quốc Thụy Điển;  
11. Liên bang Thụy Sĩ.  
15  
PHẦN II  
LÝ THUYẾT VÀ CÁC TÌNH HUỐNG HƯỚNG DẪN  
Chương 1  
KHÁI NIỆM VÀ NGUỒN CỦA TƯ PHÁP QUỐC TẾ  
1. Mục tiêu  
Về kiến thức: Hiểu đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế (xác  
định được một quan hệ dân sự mở rộng có yếu tố nước ngoài); phương  
pháp điều chỉnh và phạm vi điều chỉnh của Tư pháp quốc tế; các loại  
nguồn của tư pháp quốc tế, vị trí, vai trò của Tư pháp quốc tế; quan điểm  
của các nước về Tư pháp quốc tế trong điều kiện hiện nay.  
Về kỹ năng: Nhận diện được các quan hệ dân sự có yếu tố nước  
ngoài thuộc đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế.  
2. Lý thuyết  
2.1. Đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của Tư pháp quốc tế  
2.1.1. Đối tượng điều chỉnh  
Tư pháp quốc tế có đối tượng điều chỉnh là các quan hệ dân sự mở  
rộng có yếu tố nước ngoài. Các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố  
nước ngoài được hiểu là các quan hệ mang tính chất “tư” giữa các chủ  
thể dân sự với nhau như: Các quan hệ pháp luật về sở hữu; thừa kế; hôn  
nhân và gia đình; kinh doanh, thương mại; lao động, tố tụng dân sự;…  
Các quan hệ dân sự mở rộng nêu trên còn phải đáp ứng tiêu chí là  
có yếu tố nước ngoài. Yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp  
luật Việt Nam, tại Điều 663 Bộ luật Dân sự 2015 quy định, nếu có 1 trong 3  
yếu tố sau:  
- Về chủ thể: Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân,  
pháp nhân nước ngoài;  
- Về sự kiện pháp lý: Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam,  
pháp nhân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, thực hiện, chấm  
dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài;  
16  
- Về khách thể: Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp  
nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ đó ở nước ngoài.  
Như vậy, một quan hệ dân sự mở rộng có một trong các yếu tố  
nước ngoài nêu trên sẽ thuộc đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế.  
2.1.2. Phương pháp điều chỉnh của Tư pháp quốc tế  
Khác với các ngành luật khác, phương pháp điều chỉnh của Tư  
pháp quốc tế là phương pháp thực chất và phương pháp xung đột.  
- Phương pháp thực chất (phương pháp điều chỉnh trực tiếp): Là  
phương pháp điều chỉnh bằng cách sử dụng các quy phạm pháp luật trực  
tiếp tác động vào quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, giải quyết về mặt  
nội dung các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài4.  
Như vậy, có thể hiểu phương pháp này được xây dựng trên cơ sở hệ  
thống các quy phạm thực chất trực tiếp giải quyết các quan hệ dân sự  
quốc tế. Sử dụng quy phạm thực chất là phân định trực tiếp quyền và  
nghĩa vụ của các bên tham gia vào quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.  
Quy phạm thực chất được chứa đựng trong pháp luật quốc gia gọi là quy  
phạm thực chất thông thường, quy phạm thực chất được chứa đựng trong  
các Điều ước quốc tế gọi là quy phạm xung đột thống nhất.  
- Phương pháp xung đột (phương pháp điều chỉnh gián tiếp): Là  
phương pháp điều chỉnh bằng cách sử dụng các quy phạm pháp luật để  
lựa chọn một hệ thống pháp luật áp dụng vào quan hệ dân sự có yếu tố  
nước ngoài. Quy phạm được lựa chọn sẽ giải quyết về mặt nội dung các  
quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài5.  
Quy phạm xung đột là quy phạm xác định luật áp dụng là luật pháp  
của nước nào để giải quyết quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong  
một tình huống cụ thể. Vì phương pháp xung đột là phương pháp gián  
tiếp không trực tiếp điều chỉnh các vấn đề pháp lý như quy phạm xung  
đột nên khi áp dụng phương pháp xung đột thường rất phức tạp và khó khăn.  
4 TS. Bành Quốc Tuấn, Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, 2017.  
5 TS. Bành Quốc Tuấn, Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, 2017.  
17  
2.2. Nguồn của tư pháp quốc tế  
Nguồn của tư pháp quốc tế là các hình thức chứa đựng và thể hiện  
các quy phạm pháp luật. Nguồn của Tư pháp quốc tế bao gồm: Điều ước  
quốc tế, pháp luật quốc gia, tập quán quốc tế, thực tiễn tòa án và trọng  
tài… Nguồn của Tư pháp quốc tế rất phong phú và đa dạng, do đó khi  
giải quyết một tình huống cụ thể cần xác định loại nguồn nào được áp  
dụng để điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Từ đó, dựa vào  
loại nguồn đó để giải quyết tình huống.  
- Điều ước quốc tế: Đóng vai trò rất quan trọng trong việc điều  
chỉnh các quan hệ dân sự mở rộng của Tư pháp quốc tế. Việt Nam đã ký  
kết rất nhiều các Điều ước quốc tế song phương và đa phương điều chỉnh  
quan hệ dân sự mở rộng có yếu tố nước ngoài. Các Điều ước quốc tế đa  
phương trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ như Công ước Paris 1883 về bảo hộ  
sở hữu công nghiệp, Công ước La Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng  
công nghiệp; về công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước  
ngoài có Công ước New York 1958 về công nhận và cho thi hành quyết  
định của trọng tài nước ngoài. Gần đây, Việt Nam vừa gia nhập Công ước  
Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và Công ước La Hay  
1965 về tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự  
và thương mại…  
Các Điều quốc tế song phương mà Việt Nam đã ký kết trong lĩnh  
vực này bao gồm các Hiệp định Tương trợ Tư pháp về dân sự giữa Việt  
Nam và các nước6; các Hiệp định thương mại song phương (87 Hiệp  
định); các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (48 Hiệp định); …  
Ngoài ra, các Điều ước quốc tế đa phương mà Việt Nam không  
phải là thành viên cũng có thể được áp dụng để giải quyết các quan hệ  
dân sự mở rộng có yếu tố nước ngoài khi các bên lựa chọn làm luật áp  
dụng. Việc áp dụng các Điều ước quốc tế này sẽ phải đáp ứng các điều  
kiện mà pháp luật quốc gia quy định đối với những trường hợp được  
quyền chọn luật áp dụng. Về nguyên tắc áp dụng pháp luật quốc gia và  
Điều ước quốc tế, tại Điều 665 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “1. Trường  
hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành  
viên có quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dân  
6 Các Hiệp định này đã được liệt kê ngay trong phần phụ lục của tập bài giảng này.  
18  
sự có yếu tố nước ngoài thì quy định của điều ước quốc tế đó được áp  
dụng; 2. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa  
Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Phần này và  
luật khác về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước  
ngoài thì quy định của điều ước quốc tế đó được áp dụng”.  
- Tập quán quốc tế: Là những thói quen được áp dụng trong một  
thời gian dài trong thực tiễn quan hệ pháp lý, tập quán đó được áp dụng  
lặp đi lặp lại nhiều lần, được thừa nhận rộng rãi bởi đông đảo các quốc  
gia. Về nguyên tắc, các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài chịu sự điều  
chỉnh bới các quy định được ghi nhận trong pháp luật trong nước hoặc  
các quy định trong các Điều ước quốc tế có liên quan. Tuy nhiên, nếu các  
quy phạm trong Điều ước quốc tế hoặc pháp luật quốc gia không có quy  
định thì tập quán quốc tế có thể được áp dụng. Tập quán quốc tế có thể  
được áp dụng khi các bên thỏa thuận áp dụng hoặc khi Điều ước quốc tế  
hoặc pháp luật quốc gia quy định áp dụng hoặc được cơ quan có thẩm  
quyền của quốc gia tiến hành áp dụng. Điều 666 Bộ luật Dân sự 2015  
quy định: “Các bên được lựa chọn tập quán quốc tế trong trường hợp  
quy định tại Khoản 2 Điều 664 của Bộ luật này. Nếu hậu quả của việc áp  
dụng tập quán quốc tế đó trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật  
Việt Nam thì pháp luật Việt Nam được áp dụng”.  
- Thực tiễn tòa án và trọng tài (án lệ).  
Thực tiễn tòa án được hiểu là các bản án, quyết định của tòa án mà  
trong đó thể hiện quan điểm của các thẩm phán đối với các vấn đề pháp  
lý có tính chất quyết định trong việc giải quyết các vụ việc nhất định và  
mang ý nghĩa giải quyết đối với các quan hệ tương ứng trong tương lai.  
Hiện nay, án lệ được thừa nhận rộng rãi bởi hầu hết các quốc gia  
trên thế giới. Án lệ được coi như một loại nguồn chính thức của pháp luật  
các quốc gia trong đó có Tư pháp quốc tế.  
- Pháp luật quốc gia.  
Luật pháp của mỗi quốc gia (luật quốc nội) là một trong những loại  
nguồn phổ biến của Tư pháp quốc tế. Đây là một hệ thống các văn bản  
pháp quy của một quốc gia như Hiến pháp, Luật, các văn bản dưới luật,  
tập quán và án lệ.  
19  
Một số quốc gia trên thế giới đã ban hành Bộ luật Tư pháp quốc tế  
riêng như Ba Lan (1965), Hung-ga-ri (1979), Đức (1986), Bỉ (2004),  
Nhật Bản (2006), Trung Quốc (2010). Ở Việt Nam, chưa có Bộ luật Tư  
pháp quốc tế riêng nên các quan hệ dân sự mở rộng có yếu tố nước ngoài  
được quy định rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau. Hiến pháp  
là một trong những văn bản pháp lý quan trọng nhất ghi nhận nhiều  
nguyên tắc và quy phạm đặt nền tảng cho lĩnh vực Tư pháp quốc tế. Tiếp  
đó, phải kể đến Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng Dân sự. Đây là hai văn  
bản chứa đựng rất nhiều các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ  
dân sự mở rộng có yếu tố nước ngoài. Ngoài ra, một số đạo luật khác  
cũng chứa đựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự  
mở rộng có yếu tố nước ngoài như: Bộ luật Hàng hải, Luật Hàng không  
dân dụng, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Đầu tư, Luật Thương mại, Bộ  
luật lao động, Luật Trọng tài thương mại… Ngoài ra, còn rất nhiều các  
văn bản dưới luật là nguồn của ngành luật tư pháp quốc tế.  
3. Tình huống  
3.1. Tình huống 17  
3.1.1. Nội dung tình huống  
Ngày 7/7/2015, Công ty liên doanh ôtô Việt Nam Daewoo (thành  
lập tại Việt Nam), đại diện là ông Chong Gi Lee (quốc tịch Hàn quốc) -  
Tổng giám đốc đã ký hợp đồng mua bán xe ôtô theo phương thức trả  
chậm cho Công ty TNHH Xây dựng giao thông thương mại Tân Á (thành  
lập tại Việt Nam). Tuy nhiên, sau đó phát sinh tranh chấp về chậm trả tiền  
và Công ty liên doanh Daewoo khởi kiện Công ty Tân Á ra tòa án.  
Anh (chị) hãy cho biết tranh chấp trên có thuộc đối tượng điều  
chỉnh của tư pháp quốc tế hay không? Vì sao?  
3.1.2. Hướng dẫn giải quyết tình huống (Irac)  
Issue (các sự kiện có ý nghĩa pháp lý).  
Trong tình huống trên, sinh viên cần quan tâm tới các vấn đề sau:  
Công ty liên doanh ôtô Việt Nam Daewoo (thành lập tại Việt Nam), đại  
7
Theo Quyết định số 03/2003/HĐTP-KT ngày 24/2/2003: Tòa án nhân dân Tối cao  
năm 2003 - 2004, Quyển 1, tr. 265.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 128 trang myanh 1179016 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu hướng dẫn tình huống học phần Tư pháp quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_huong_dan_tinh_huong_hoc_phan_tu_phap_quoc_te.pdf