Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Số: 80/2015/QH13

Ký bởi: Cổng Thông tin điện tử Chính phủ  
Email: thongtinchinhphu@chinhphu.vn  
Cơ quan: Văn phòng Chính phủ  
Thời gian ký: 07.08.2015 12:02:34 +07:00  
CÔNG BÁO/Số 867 + 868/Ngày 28-7-2015  
3
QUỐC HỘI  
Luật số: 80/2015/QH13  
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM  
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc  
LUẬT  
BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT  
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;  
Quốc hội ban hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.  
Chương I  
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG  
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh  
Luật này quy định nguyên tắc, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây  
dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; trách nhiệm của các cơ quan nhà  
nước, tổ chức, cá nhân trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.  
Luật này không quy định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp.  
Điều 2. Văn bản quy phạm pháp luật  
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban  
hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này.  
Văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm  
quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này thì không phải là văn  
bản quy phạm pháp luật.  
Điều 3. Giải thích từ ngữ  
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:  
1. Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung,  
được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm  
vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm  
quyền quy định trong Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện.  
2. Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật là cơ  
quan, tổ chức, cá nhân có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm chịu ảnh hưởng trực tiếp từ  
việc áp dụng văn bản đó sau khi được ban hành.  
3. Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh là việc Ủy ban thường vụ Quốc hội  
làm rõ tinh thần, nội dung của điều, khoản, điểm trong Hiến pháp, luật, pháp lệnh  
để có nhận thức, thực hiện, áp dụng đúng, thống nhất pháp luật.  
4
CÔNG BÁO/Số 867 + 868/Ngày 28-7-2015  
Điều 4. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật  
1. Hiến pháp.  
2. Bộ luật, luật (sau đây gọi chung là luật), nghị quyết của Quốc hội.  
3. Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịch  
giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận  
Tổ quốc Việt Nam.  
4. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.  
5. Nghị định của Chính phủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ  
tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.  
6. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.  
7. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.  
8. Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng  
Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan  
ngang bộ; thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện  
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ  
trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện  
kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước.  
9. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương  
(sau đây gọi chung là cấp tỉnh).  
10. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.  
11. Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành  
chính - kinh tế đặc biệt.  
12. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc  
tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là  
cấp huyện).  
13. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện.  
14. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung  
là cấp xã).  
15. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã.  
Điều 5. Nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật  
1. Bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy  
phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật.  
2. Tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành  
văn bản quy phạm pháp luật.  
3. Bảo đảm tính minh bạch trong quy định của văn bản quy phạm pháp luật.  
CÔNG BÁO/Số 867 + 868/Ngày 28-7-2015  
5
4. Bảo đảm tính khả thi, tiết kiệm, hiệu quả, kịp thời, dễ tiếp cận, dễ thực hiện  
của văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong  
văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm yêu cầu cải cách thủ tục hành chính.  
5. Bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, không làm  
cản trở việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt  
Nam là thành viên.  
6. Bảo đảm công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị  
của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy  
phạm pháp luật.  
Điều 6. Tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật  
1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam,  
các tổ chức thành viên khác của Mặt trận và các cơ quan, tổ chức khác, cá nhân có  
quyền và được tạo điều kiện góp ý kiến về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm  
pháp luật và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.  
2. Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan, tổ chức chủ  
trì soạn thảo và cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm tạo điều kiện để các  
cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến về đề nghị xây dựng văn bản quy  
phạm pháp luật, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức lấy ý kiến của đối  
tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật.  
3. Ý kiến tham gia về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo  
văn bản quy phạm pháp luật phải được nghiên cứu, tiếp thu trong quá trình chỉnh  
lý dự thảo văn bản.  
Điều 7. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong xây  
dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật  
1. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trình dự án, dự thảo văn bản quy  
phạm pháp luật chịu trách nhiệm về tiến độ trình và chất lượng dự án, dự thảo văn  
bản do mình trình.  
2. Cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật chịu trách  
nhiệm trước cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trình hoặc cơ quan, tổ chức,  
người có thẩm quyền ban hành văn bản về tiến độ soạn thảo, chất lượng dự án, dự  
thảo văn bản được phân công soạn thảo.  
3. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền được đề nghị tham gia góp ý kiến về  
đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo văn bản quy phạm pháp  
luật chịu trách nhiệm về nội dung và thời hạn tham gia góp ý kiến.  
4. Cơ quan thẩm định chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức, người có thẩm  
quyền trình hoặc cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp  
luật về kết quả thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự án, dự  
thảo văn bản quy phạm pháp luật.  
6
CÔNG BÁO/Số 867 + 868/Ngày 28-7-2015  
Cơ quan thẩm tra chịu trách nhiệm trước cơ quan có thẩm quyền ban hành  
văn bản quy phạm pháp luật về kết quả thẩm tra dự án, dự thảo văn bản quy  
phạm pháp luật.  
5. Quốc hội, Hội đồng nhân dân và cơ quan khác, người có thẩm quyền ban  
hành văn bản quy phạm pháp luật chịu trách nhiệm về chất lượng văn bản do mình  
ban hành.  
6. Cơ quan, người có thẩm quyền chịu trách nhiệm về việc chậm ban hành văn  
bản quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết  
của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.  
7. Cơ quan, người có thẩm quyền chịu trách nhiệm về việc ban hành văn bản  
quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh,  
nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước,  
nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, văn bản quy phạm  
pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc ban hành văn bản quy định chi tiết  
có nội dung ngoài phạm vi được giao quy định chi tiết.  
8. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo, cơ quan thẩm định, cơ  
quan trình, cơ quan thẩm tra và cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật  
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải chịu trách nhiệm về việc không  
hoàn thành nhiệm vụ và tùy theo mức độ mà bị xử lý theo quy định của pháp luật  
về cán bộ, công chức và quy định khác của pháp luật có liên quan trong trường hợp  
dự thảo văn bản không bảo đảm về chất lượng, chậm tiến độ, không bảo đảm tính  
hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật được  
phân công thực hiện.  
Điều 8. Ngôn ngữ, kỹ thuật văn bản quy phạm pháp luật  
1. Ngôn ngữ trong văn bản quy phạm pháp luật là tiếng Việt.  
Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật phải chính xác, phổ  
thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu.  
2. Văn bản quy phạm pháp luật phải quy định cụ thể nội dung cần điều chỉnh,  
không quy định chung chung, không quy định lại các nội dung đã được quy định  
trong văn bản quy phạm pháp luật khác.  
3. Tùy theo nội dung, văn bản quy phạm pháp luật có thể được bố cục theo  
phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm; các phần, chương, mục, tiểu mục,  
điều trong văn bản quy phạm pháp luật phải có tiêu đề. Không quy định chương  
riêng về thanh tra, khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm trong văn bản quy  
phạm pháp luật nếu không có nội dung mới.  
4. Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về thể thức và kỹ thuật trình bày văn  
bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.  
Chính phủ quy định về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp  
luật của các cơ quan, người có thẩm quyền khác được quy định trong Luật này.  
CÔNG BÁO/Số 867 + 868/Ngày 28-7-2015  
7
Điều 9. Dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng dân tộc thiểu số, tiếng  
nước ngoài  
Văn bản quy phạm pháp luật có thể được dịch ra tiếng dân tộc thiểu số, tiếng  
nước ngoài; bản dịch có giá trị tham khảo.  
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.  
Điều 10. Số, ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật  
1. Số, ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật phải thể hiện rõ số thứ tự, năm  
ban hành, loại văn bản, cơ quan ban hành văn bản.  
2. Việc đánh số thứ tự của văn bản quy phạm pháp luật phải theo từng loại văn  
bản và năm ban hành. Luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của  
Ủy ban thường vụ Quốc hội được đánh số thứ tự theo từng loại văn bản và nhiệm  
kỳ của Quốc hội.  
3. Số, ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật được sắp xếp như sau:  
a) Số, ký hiệu của luật, nghị quyết của Quốc hội được sắp xếp theo thứ tự như  
sau: “loại văn bản: số thứ tự của văn bản/năm ban hành/tên viết tắt của cơ quan  
ban hành văn bản và số khóa Quốc hội”;  
b) Số, ký hiệu của pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội được  
sắp xếp theo thứ tự như sau: “loại văn bản: số thứ tự của văn bản/năm ban hành/tên  
viết tắt của cơ quan ban hành văn bản và số khóa Quốc hội”;  
c) Số, ký hiệu của các văn bản quy phạm pháp luật không thuộc trường hợp  
quy định tại điểm a và điểm b khoản này được sắp xếp theo thứ tự như sau: “số thứ  
tự của văn bản/năm ban hành/tên viết tắt của loại văn bản - tên viết tắt của cơ quan  
ban hành văn bản”.  
Điều 11. Văn bản quy định chi tiết  
1. Văn bản quy phạm pháp luật phải được quy định cụ thể để khi có hiệu lực  
thì thi hành được ngay. Trong trường hợp văn bản có điều, khoản, điểm mà nội  
dung liên quan đến quy trình, quy chuẩn kỹ thuật và những nội dung khác cần quy  
định chi tiết thì ngay tại điều, khoản, điểm đó có thể giao cho cơ quan nhà nước có  
thẩm quyền quy định chi tiết. Văn bản quy định chi tiết chỉ được quy định nội  
dung được giao và không được quy định lặp lại nội dung của văn bản được quy  
định chi tiết.  
2. Cơ quan được giao ban hành văn bản quy định chi tiết không được ủy quyền tiếp.  
Dự thảo văn bản quy định chi tiết phải được chuẩn bị và trình đồng thời với dự  
án luật, pháp lệnh và phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực  
của văn bản hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết.  
3. Trường hợp một cơ quan được giao quy định chi tiết nhiều nội dung của một  
văn bản quy phạm pháp luật thì ban hành một văn bản để quy định chi tiết các nội  
dung đó, trừ trường hợp cần phải quy định trong các văn bản khác nhau.  
8
CÔNG BÁO/Số 867 + 868/Ngày 28-7-2015  
Trường hợp một cơ quan được giao quy định chi tiết các nội dung của nhiều  
văn bản quy phạm pháp luật khác nhau thì có thể ban hành một văn bản để quy  
định chi tiết.  
Điều 12. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn  
bản quy phạm pháp luật  
1. Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ  
bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn  
bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà  
nước cấp trên có thẩm quyền. Văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình  
chỉ việc thi hành văn bản khác phải xác định rõ tên văn bản, phần, chương, mục,  
tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản bị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc  
đình chỉ việc thi hành.  
Văn bản bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng Công báo, niêm  
yết theo quy định.  
2. Khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan ban hành văn bản phải  
sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm  
của văn bản quy phạm pháp luật do mình đã ban hành trái với quy định của văn  
bản mới ngay trong văn bản mới đó; trường hợp chưa thể sửa đổi, bổ sung ngay thì  
phải xác định rõ trong văn bản mới danh mục văn bản, phần, chương, mục, tiểu  
mục, điều, khoản, điểm của văn bản quy phạm pháp luật mà mình đã ban hành trái  
với quy định của văn bản quy phạm pháp luật mới và có trách nhiệm sửa đổi, bổ  
sung trước khi văn bản quy phạm pháp luật mới có hiệu lực.  
3. Một văn bản quy phạm pháp luật có thể được ban hành để đồng thời sửa đổi,  
bổ sung, thay thế, bãi bỏ nội dung trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật do  
cùng cơ quan ban hành.  
Điều 13. Gửi văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ dự án, dự thảo văn bản  
quy phạm pháp luật  
1. Văn bản quy phạm pháp luật phải được gửi đến cơ quan có thẩm quyền để  
giám sát, kiểm tra.  
Chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày công bố luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp  
lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc ký chứng thực, ký ban hành  
đối với văn bản quy phạm pháp luật khác, cơ quan, người có thẩm quyền ban hành  
văn bản quy phạm pháp luật có trách nhiệm gửi văn bản đến cơ quan có thẩm  
quyền quy định tại khoản 1 Điều 164 của Luật này để giám sát, cơ quan có thẩm  
quyền quy định tại khoản 3 Điều 165, khoản 1 Điều 166 hoặc khoản 1 Điều 167  
của Luật này để kiểm tra.  
2. Hồ sơ dự án, dự thảo và bản gốc của văn bản quy phạm pháp luật phải được  
lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.  
CÔNG BÁO/Số 867 + 868/Ngày 28-7-2015  
9
Điều 14. Những hành vi bị nghiêm cấm  
1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, trái với văn bản  
quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.  
2. Ban hành văn bản không thuộc hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy  
định tại Điều 4 của Luật này nhưng có chứa quy phạm pháp luật.  
3. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật không đúng thẩm quyền, hình thức,  
trình tự, thủ tục quy định tại Luật này.  
4. Quy định thủ tục hành chính trong thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân  
tối cao, thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thông tư của Bộ  
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án  
nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thông tư liên tịch  
giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối  
cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, quyết định của Tổng Kiểm toán  
nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, quyết định của Ủy ban nhân  
dân cấp tỉnh, văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị  
hành chính - kinh tế đặc biệt; nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện, quyết  
định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã,  
quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ trường hợp được giao trong luật.  
Chương II  
THẨM QUYỀN BAN HÀNH, NỘI DUNG  
VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT  
Điều 15. Luật, nghị quyết của Quốc hội  
1. Quốc hội ban hành luật để quy định:  
a) Tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân  
dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước,  
chính quyền địa phương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và cơ quan khác do  
Quốc hội thành lập;  
b) Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà theo Hiến  
pháp phải do luật định; việc hạn chế quyền con người, quyền công dân; tội phạm  
và hình phạt;  
c) Chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia, ngân sách nhà nước; quy  
định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế;  
d) Chính sách cơ bản về văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường;  
đ) Quốc phòng, an ninh quốc gia;  
e) Chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;  
g) Hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân; hàm, cấp ngoại giao; hàm, cấp  
nhà nước khác; huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;  
10  
CÔNG BÁO/Số 867 + 868/Ngày 28-7-2015  
h) Chính sách cơ bản về đối ngoại;  
i) Trưng cầu ý dân;  
k) Cơ chế bảo vệ Hiến pháp;  
l) Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.  
2. Quốc hội ban hành nghị quyết để quy định:  
a) Tỷ lệ phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương  
và ngân sách địa phương;  
b) Thực hiện thí điểm một số chính sách mới thuộc thẩm quyền quyết định của  
Quốc hội nhưng chưa có luật điều chỉnh hoặc khác với quy định của luật hiện hành;  
c) Tạm ngưng hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần luật, nghị  
quyết của Quốc hội đáp ứng các yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế - xã hội,  
bảo đảm quyền con người, quyền công dân;  
d) Quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc  
phòng, an ninh quốc gia;  
đ) Đại xá;  
e) Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.  
Điều 16. Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội  
1. Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh để quy định những vấn đề  
được Quốc hội giao.  
2. Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành nghị quyết để quy định:  
a) Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh;  
b) Tạm ngưng hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần pháp  
lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội đáp ứng các yêu cầu cấp bách về  
phát triển kinh tế - xã hội;  
c) Bãi bỏ pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; trường hợp  
bãi bỏ pháp lệnh thì Ủy ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm báo cáo Quốc hội  
tại kỳ họp gần nhất;  
d) Tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp  
trong cả nước hoặc ở từng địa phương;  
đ) Hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân;  
e) Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội.  
Điều 17. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước  
Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định để quy định:  
1. Tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp  
căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; công bố, bãi bỏ tình trạng  
khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương trong trường hợp Ủy ban thường  
vụ Quốc hội không thể họp được.  
2. Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước.  
CÔNG BÁO/Số 867 + 868/Ngày 28-7-2015  
11  
Điều 18. Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc Chính  
phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam  
Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung  
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành nghị quyết liên tịch để quy định chi tiết  
những vấn đề được luật giao.  
Điều 19. Nghị định của Chính phủ  
Chính phủ ban hành nghị định để quy định:  
1. Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội,  
pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ  
tịch nước.  
2. Các biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của  
Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định  
của Chủ tịch nước; các biện pháp để thực hiện chính sách kinh tế - xã hội, quốc  
phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, giáo  
dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, chế độ công vụ, cán bộ,  
công chức, viên chức, quyền, nghĩa vụ của công dân và các vấn đề khác thuộc  
thẩm quyền quản lý, điều hành của Chính phủ; những vấn đề liên quan đến nhiệm  
vụ, quyền hạn của từ hai bộ, cơ quan ngang bộ trở lên; nhiệm vụ, quyền hạn, tổ  
chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ  
quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ.  
3. Vấn đề cần thiết thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc  
hội nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu  
cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Trước khi ban hành nghị  
định này phải được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội.  
Điều 20. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ  
Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định để quy định:  
1. Biện pháp lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành  
chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, chế độ làm việc với các thành viên  
Chính phủ, chính quyền địa phương và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Thủ  
tướng Chính phủ.  
2. Biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các thành viên Chính phủ; kiểm  
tra hoạt động của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền  
địa phương trong việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp  
luật của Nhà nước.  
Điều 21. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao  
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành nghị quyết để hướng  
dẫn việc áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử thông qua tổng kết việc áp  
dụng pháp luật, giám đốc việc xét xử.  
12  
CÔNG BÁO/Số 867 + 868/Ngày 28-7-2015  
Điều 22. Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao  
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành thông tư để thực hiện việc quản lý  
các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự về tổ chức và những vấn đề khác được  
Luật tổ chức Tòa án nhân dân và luật khác có liên quan giao.  
Điều 23. Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao  
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành thông tư để quy định những  
vấn đề được Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và luật khác có liên quan giao.  
Điều 24. Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ  
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành thông tư để quy định:  
1. Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội,  
pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ  
tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ.  
2. Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình.  
Điều 25. Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với  
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng,  
Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện  
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao  
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối  
cao; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Chánh án Tòa án nhân dân tối  
cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành thông tư liên tịch để  
quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan này trong việc thực hiện trình tự, thủ  
tục tố tụng.  
Điều 26. Quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước  
Tổng Kiểm toán nhà nước ban hành quyết định để quy định chuẩn mực kiểm  
toán nhà nước, quy trình kiểm toán, hồ sơ kiểm toán.  
Điều 27. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh  
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành nghị quyết để quy định:  
1. Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của  
cơ quan nhà nước cấp trên.  
2. Chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy  
phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.  
3. Biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh  
ở địa phương.  
4. Biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã  
hội của địa phương.  
CÔNG BÁO/Số 867 + 868/Ngày 28-7-2015  
13  
Điều 28. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh  
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định để quy định:  
1. Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của  
cơ quan nhà nước cấp trên.  
2. Biện pháp thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên,  
nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp về phát triển kinh tế - xã hội, ngân  
sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương.  
3. Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương.  
Điều 29. Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn  
vị hành chính - kinh tế đặc biệt  
Hội đồng nhân dân ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ban hành nghị quyết,  
Ủy ban nhân dân ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ban hành quyết định theo  
quy định của Luật này và các luật khác có liên quan.  
Điều 30. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của Ủy ban nhân  
dân cấp huyện, cấp xã  
Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã ban hành nghị quyết, Ủy ban nhân dân  
cấp huyện, cấp xã ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật giao.  
Chương III  
XÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT  
CỦA QUỐC HỘI, ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI  
Mục 1  
LẬP CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH  
Điều 31. Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh  
1. Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được xây dựng hằng năm trên cơ sở  
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, chiến lược phát triển  
kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời  
kỳ, bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.  
2. Quốc hội quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh tại kỳ họp thứ  
nhất của năm trước.  
Điều 32. Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan, tổ chức  
1. Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của  
Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao,  
Kiểm toán nhà nước, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan  
trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật trước  
Quốc hội, trình dự án pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc hội thì có quyền đề  
nghị xây dựng luật, pháp lệnh.  
14  
CÔNG BÁO/Số 867 + 868/Ngày 28-7-2015  
2. Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh phải dựa trên các căn cứ sau đây:  
a) Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;  
b) Kết quả tổng kết thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã hội  
liên quan đến chính sách của dự án luật, pháp lệnh;  
c) Yêu cầu quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm thực hiện quyền  
con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; bảo đảm quốc phòng, an ninh;  
d) Cam kết trong điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa  
Việt Nam là thành viên.  
Điều 33. Kiến nghị về luật, pháp lệnh, đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh  
của đại biểu Quốc hội  
1. Đại biểu Quốc hội có quyền kiến nghị về luật, pháp lệnh. Việc kiến nghị về  
luật, pháp lệnh phải căn cứ vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của  
Nhà nước; yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, thực  
hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; cam kết trong điều  
ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.  
2. Đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Đề nghị xây  
dựng luật, pháp lệnh được lập theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật này.  
3. Đại biểu Quốc hội có quyền tự mình hoặc đề nghị Văn phòng Quốc hội,  
Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Viện nghiên cứu lập pháp hỗ trợ trong việc  
lập văn bản kiến nghị về luật, pháp lệnh, hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh  
theo quy định tại Điều 37 của Luật này.  
4. Văn phòng Quốc hội có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện cần thiết để đại  
biểu Quốc hội thực hiện quyền kiến nghị về luật, pháp lệnh, quyền đề nghị xây  
dựng luật, pháp lệnh.  
Điều 34. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trong việc  
lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh  
1. Trước khi lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, cơ quan, tổ chức, đại biểu  
Quốc hội tiến hành hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiến hành các  
hoạt động sau đây:  
a) Tổng kết việc thi hành pháp luật có liên quan đến đề nghị xây dựng luật,  
pháp lệnh; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến đề nghị xây  
dựng luật, pháp lệnh;  
b) Tổ chức nghiên cứu khoa học về các vấn đề liên quan để hỗ trợ cho việc lập  
đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; nghiên cứu thông tin, tư liệu, điều ước quốc tế mà  
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có liên quan đến đề nghị xây  
dựng luật, pháp lệnh. Trong trường hợp cần thiết, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có  
liên quan cung cấp tài liệu, thông tin liên quan đến đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;  
c) Xây dựng nội dung của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;  
đánh giá tác động của chính sách;  
CÔNG BÁO/Số 867 + 868/Ngày 28-7-2015  
15  
d) Dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành luật, pháp lệnh sau  
khi được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua.  
2. Chuẩn bị hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo quy định tại Điều 37  
của Luật này.  
3. Tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về đề nghị xây  
dựng luật, pháp lệnh; tổng hợp, nghiên cứu, giải trình, tiếp thu các ý kiến góp ý.  
4. Đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình thì cơ  
quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh còn có trách  
nhiệm lấy ý kiến của Chính phủ và nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của Chính phủ.  
Điều 35. Đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng luật,  
pháp lệnh  
1. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiến hành đánh giá tác động của từng chính  
sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Đại biểu Quốc hội tự mình hoặc yêu  
cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành đánh giá tác động của từng chính sách trong  
đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.  
Trong quá trình soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, xem xét, cho ý kiến về dự án  
luật, pháp lệnh, nếu có chính sách mới được đề xuất thì cơ quan đề xuất chính sách  
đó có trách nhiệm đánh giá tác động của chính sách.  
2. Nội dung đánh giá tác động của từng chính sách trong đề nghị xây dựng  
luật, pháp lệnh phải nêu rõ: vấn đề cần giải quyết; mục tiêu của chính sách; giải  
pháp để thực hiện chính sách; tác động tích cực, tiêu cực của chính sách; chi phí,  
lợi ích của các giải pháp; so sánh chi phí, lợi ích của các giải pháp; lựa chọn giải  
pháp của cơ quan, tổ chức và lý do của việc lựa chọn; đánh giá tác động thủ tục  
hành chính, tác động về giới (nếu có).  
3. Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội khi đánh giá tác động của chính sách  
trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh có trách nhiệm nghiên cứu, soạn thảo dự  
thảo báo cáo đánh giá tác động; lấy ý kiến góp ý, phản biện dự thảo báo cáo; tiếp  
thu, chỉnh lý dự thảo báo cáo.  
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.  
Điều 36. Lấy ý kiến đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh  
1. Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh có  
trách nhiệm sau đây:  
a) Đăng tải báo cáo tổng kết, báo cáo đánh giá tác động của chính sách trong  
đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội đối với  
đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân  
tộc, Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Cổng thông tin điện tử của Chính  
phủ đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của Chính phủ, cổng thông tin điện tử  
của cơ quan, tổ chức có đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Thời gian đăng tải ít  
nhất là 30 ngày;  
16  
CÔNG BÁO/Số 867 + 868/Ngày 28-7-2015  
b) Lấy ý kiến Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và cơ  
quan, tổ chức có liên quan, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách và  
giải pháp thực hiện chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Trong  
trường hợp cần thiết, tổ chức họp để lấy ý kiến về những chính sách cơ bản trong  
đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;  
c) Tổng hợp, nghiên cứu, giải trình, tiếp thu các ý kiến góp ý; đăng tải báo cáo  
giải trình, tiếp thu trên cổng thông tin điện tử quy định tại khoản này.  
2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị góp ý, cơ quan, tổ  
chức được lấy ý kiến có trách nhiệm góp ý bằng văn bản về đề nghị xây dựng luật,  
pháp lệnh; Bộ Tài chính có trách nhiệm gửi báo cáo đánh giá về nguồn tài chính,  
Bộ Nội vụ có trách nhiệm gửi báo cáo đánh giá về nguồn nhân lực, Bộ Ngoại giao  
có trách nhiệm gửi báo cáo đánh giá về sự tương thích với điều ước quốc tế có liên  
quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Bộ Tư pháp có trách  
nhiệm gửi báo cáo đánh giá về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của đề  
nghị xây dựng luật, pháp lệnh với hệ thống pháp luật đến cơ quan, tổ chức, đại  
biểu Quốc hội lập đề nghị.  
Điều 37. Hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, văn bản kiến nghị về luật,  
pháp lệnh  
1. Hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh bao gồm:  
a) Tờ trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, trong đó phải nêu rõ: sự cần thiết  
ban hành luật, pháp lệnh; mục đích, quan điểm xây dựng luật, pháp lệnh; đối  
tượng, phạm vi điều chỉnh của luật, pháp lệnh; mục tiêu, nội dung của chính sách  
trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, các giải pháp để thực hiện chính sách đã  
được lựa chọn và lý do của việc lựa chọn; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm  
cho việc thi hành luật, pháp lệnh sau khi được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc  
hội thông qua; thời gian dự kiến trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội xem  
xét, thông qua dự án luật, pháp lệnh;  
b) Báo cáo đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng luật,  
pháp lệnh;  
c) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ  
xã hội liên quan đến đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;  
d) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến của Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ  
Ngoại giao, Bộ Tư pháp và ý kiến của các cơ quan, tổ chức khác; bản chụp ý kiến  
góp ý;  
đ) Đề cương dự thảo luật, pháp lệnh.  
2. Văn bản kiến nghị về luật, pháp lệnh phải nêu rõ sự cần thiết ban hành, đối  
tượng, phạm vi điều chỉnh, mục đích, yêu cầu ban hành, quan điểm, chính sách,  
nội dung chính của luật, pháp lệnh.  
CÔNG BÁO/Số 867 + 868/Ngày 28-7-2015  
17  
Điều 38. Trách nhiệm lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Chính phủ trình  
1. Đối với các dự án luật, pháp lệnh do Chính phủ trình thì bộ, cơ quan ngang  
bộ tự mình hoặc theo phân công của Thủ tướng Chính phủ có trách nhiệm lập đề  
nghị xây dựng luật, pháp lệnh.  
2. Bộ, cơ quan ngang bộ lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh tiến hành các  
hoạt động quy định tại Điều 34 của Luật này.  
Điều 39. Thẩm định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Chính phủ trình  
1. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao  
và các cơ quan, tổ chức có liên quan thẩm định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh  
trước khi trình Chính phủ trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị  
xây dựng luật, pháp lệnh.  
2. Các bộ, cơ quan ngang bộ lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh có trách  
nhiệm gửi hồ sơ đề nghị đến Bộ Tư pháp để thẩm định. Hồ sơ gồm các tài liệu quy  
định tại khoản 1 Điều 37 của Luật này.  
Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 37 của Luật này được gửi  
bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.  
3. Nội dung thẩm định tập trung vào các vấn đề sau đây:  
a) Sự cần thiết ban hành luật, pháp lệnh; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của  
luật, pháp lệnh;  
b) Sự phù hợp của nội dung chính sách với đường lối, chủ trương của Đảng,  
chính sách của Nhà nước;  
c) Tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của chính sách với hệ thống  
pháp luật và tính khả thi, tính dự báo của nội dung chính sách, các giải pháp và  
điều kiện bảo đảm thực hiện chính sách dự kiến trong đề nghị xây dựng luật,  
pháp lệnh;  
d) Tính tương thích của nội dung chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản  
với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là  
thành viên;  
đ) Sự cần thiết, tính hợp lý, chi phí tuân thủ thủ tục hành chính của chính sách  
trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nếu chính sách liên quan đến thủ tục hành  
chính; việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong đề nghị xây dựng luật, pháp  
lệnh, nếu chính sách liên quan đến vấn đề bình đẳng giới;  
e) Việc tuân thủ trình tự, thủ tục lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.  
4. Báo cáo thẩm định phải thể hiện rõ ý kiến của Bộ Tư pháp về nội dung thẩm  
định quy định tại khoản 3 Điều này và ý kiến của Bộ Tư pháp về việc đề nghị xây  
dựng luật, pháp lệnh đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Chính phủ.  
18  
CÔNG BÁO/Số 867 + 868/Ngày 28-7-2015  
5. Báo cáo thẩm định phải được gửi đến bộ, cơ quan ngang bộ đã lập đề nghị  
xây dựng luật, pháp lệnh chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày kết thúc thẩm định. Cơ  
quan lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh có trách nhiệm nghiên cứu, giải trình,  
tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý, hoàn thiện đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh  
và đồng thời gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh đã được chỉnh lý kèm theo báo  
cáo giải trình, tiếp thu cho Bộ Tư pháp khi trình Chính phủ.  
Điều 40. Trình Chính phủ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Chính phủ trình  
1. Bộ, cơ quan ngang bộ lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh có trách nhiệm  
trình Chính phủ hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh chậm nhất là 20 ngày trước  
ngày tổ chức phiên họp của Chính phủ.  
2. Hồ sơ trình Chính phủ bao gồm:  
a) Tài liệu quy định tại khoản 1 Điều 37 của Luật này;  
b) Báo cáo thẩm định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; Báo cáo giải trình, tiếp  
thu ý kiến thẩm định;  
c) Tài liệu khác (nếu có).  
Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 37 của Luật này và điểm b  
khoản này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.  
Điều 41. Chính phủ xem xét, thông qua đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh  
do Chính phủ trình  
Chính phủ tổ chức phiên họp để xem xét các đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh  
theo trình tự sau đây:  
1. Đại diện bộ, cơ quan ngang bộ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh trình bày  
Tờ trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.  
2. Đại diện Bộ Tư pháp trình bày Báo cáo thẩm định.  
3. Đại diện cơ quan, tổ chức tham dự phiên họp phát biểu ý kiến.  
4. Chính phủ thảo luận và biểu quyết thông qua chính sách trong từng đề nghị  
xây dựng luật, pháp lệnh. Chính sách được thông qua khi có quá nửa tổng số các  
thành viên Chính phủ biểu quyết tán thành.  
5. Chính phủ ra nghị quyết về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh với các chính  
sách đã được thông qua.  
Điều 42. Chỉnh lý và gửi hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Chính  
phủ trình  
Bộ, cơ quan ngang bộ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh chủ trì, phối hợp với  
các cơ quan có liên quan hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh trên cơ  
sở nghị quyết của Chính phủ và gửi Bộ Tư pháp để lập đề nghị của Chính phủ về  
chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.  
CÔNG BÁO/Số 867 + 868/Ngày 28-7-2015  
19  
Điều 43. Lập đề nghị của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh  
1. Chính phủ lập đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trình Ủy  
ban thường vụ Quốc hội.  
Bộ Tư pháp có trách nhiệm giúp Chính phủ lập đề nghị về chương trình xây  
dựng luật, pháp lệnh trên cơ sở các đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh đã được  
Chính phủ thông qua.  
2. Chính phủ xem xét, thảo luận đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp  
lệnh theo trình tự sau đây:  
a) Đại diện Bộ Tư pháp trình bày dự thảo đề nghị về chương trình xây dựng  
luật, pháp lệnh;  
b) Đại diện cơ quan, tổ chức được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;  
c) Chính phủ thảo luận;  
d) Chính phủ biểu quyết thông qua đề nghị về chương trình xây dựng luật,  
pháp lệnh. Đề nghị của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được  
thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên Chính phủ biểu quyết tán thành.  
Điều 44. Chính phủ cho ý kiến đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không  
do Chính phủ trình và kiến nghị về luật, pháp lệnh  
1. Đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình và kiến  
nghị về luật, pháp lệnh thì trước khi trình Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ  
chức, đại biểu Quốc hội gửi hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, văn bản kiến  
nghị về luật, pháp lệnh quy định tại Điều 37 của Luật này để Chính phủ cho ý kiến.  
Chính phủ có trách nhiệm xem xét, trả lời bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày  
kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị, văn bản kiến nghị.  
2. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan  
chuẩn bị ý kiến của Chính phủ đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do  
Chính phủ trình và kiến nghị về luật, pháp lệnh để Chính phủ thảo luận.  
3. Chính phủ xem xét, thảo luận về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do  
Chính phủ trình và kiến nghị về luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:  
a) Đại diện Bộ Tư pháp trình bày dự thảo ý kiến của Chính phủ;  
b) Đại diện cơ quan, tổ chức được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;  
c) Chính phủ thảo luận;  
d) Thủ tướng Chính phủ kết luận.  
4. Bộ Tư pháp có trách nhiệm chỉnh lý dự thảo ý kiến của Chính phủ trên cơ sở  
kết luận của Thủ tướng Chính phủ, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.  
20  
CÔNG BÁO/Số 867 + 868/Ngày 28-7-2015  
Điều 45. Trách nhiệm lập và xem xét, thông qua đề nghị xây dựng luật,  
pháp lệnh không do Chính phủ trình  
1. Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của  
Quốc hội, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân  
tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc  
Việt Nam và người đứng đầu cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt  
trận chỉ đạo việc lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; phân công cơ quan, đơn vị  
chủ trì lập đề nghị.  
2. Cơ quan, đơn vị được phân công lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh tiến  
hành các hoạt động quy định tại Điều 34 của Luật này.  
Đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của Tòa án nhân dân tối cao, Viện  
kiểm sát nhân dân tối cao, đơn vị được phân công lập đề nghị có trách nhiệm lấy ý  
kiến của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban kiểm sát Viện  
kiểm sát nhân dân tối cao trước khi báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao,  
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.  
3. Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Ủy  
ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức  
thành viên của Mặt trận tổ chức phiên họp để xem xét, thông qua đề nghị xây dựng  
luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:  
a) Đại diện cơ quan, đơn vị được phân công lập đề nghị xây dựng luật, pháp  
lệnh trình bày tờ trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;  
b) Đại diện Chính phủ phát biểu ý kiến về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;  
c) Đại diện cơ quan, tổ chức khác tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;  
d) Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban  
trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành  
viên của Mặt trận thảo luận và biểu quyết thông qua chính sách trong đề nghị xây  
dựng luật, pháp lệnh. Chính sách được thông qua khi có quá nửa tổng số thành  
viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban  
trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành  
viên của Mặt trận biểu quyết tán thành.  
4. Chủ tịch nước, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm  
sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước xem xét, thông qua đề nghị xây  
dựng luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:  
a) Cơ quan, đơn vị được phân công lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh báo  
cáo Chủ tịch nước, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát  
nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;  
b) Chủ tịch nước, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm  
sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước xem xét, quyết định việc trình đề  
nghị xây dựng luật, pháp lệnh.  
CÔNG BÁO/Số 867 + 868/Ngày 28-7-2015  
21  
5. Đại biểu Quốc hội tự mình hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hỗ trợ để  
lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; trường hợp đề nghị cơ quan có thẩm quyền  
hỗ trợ thì đại biểu Quốc hội xem xét, quyết định việc trình đề nghị xây dựng luật,  
pháp lệnh theo trình tự sau đây:  
a) Cơ quan hỗ trợ đại biểu Quốc hội lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh báo  
cáo đại biểu Quốc hội về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;  
b) Đại biểu Quốc hội xem xét, quyết định việc trình đề nghị xây dựng luật,  
pháp lệnh.  
Điều 46. Thời hạn và hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về  
luật, pháp lệnh  
1. Chậm nhất vào ngày 01 tháng 3 của năm trước, đề nghị xây dựng luật, pháp  
lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh phải được gửi đến Ủy ban thường vụ Quốc hội  
để lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, đồng thời được gửi đến Ủy  
ban pháp luật của Quốc hội để thẩm tra.  
2. Hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, văn bản kiến nghị về luật, pháp lệnh  
của đại biểu Quốc hội được gửi Ủy ban thường vụ Quốc hội theo quy định sau đây:  
a) Đối với đề nghị của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, hồ  
sơ gồm tờ trình của Chính phủ; dự kiến chương trình và bản điện tử các tài liệu  
quy định tại khoản 1 Điều 37 của Luật này;  
b) Đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan, tổ chức khác, đại  
biểu Quốc hội, hồ sơ gồm tài liệu quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37 của Luật  
này và ý kiến của Chính phủ về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kèm theo bản  
điện tử các tài liệu còn lại quy định tại Điều 37 của Luật này.  
Đối với kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội thì tài liệu gồm văn  
bản kiến nghị về luật, pháp lệnh và ý kiến của Chính phủ về kiến nghị về luật,  
pháp lệnh.  
Điều 47. Thẩm tra đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp  
lệnh  
1. Ủy ban pháp luật tập hợp và chủ trì thẩm tra đề nghị về chương trình xây  
dựng luật, pháp lệnh của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội và kiến nghị về luật,  
pháp lệnh của đại biểu Quốc hội.  
Nội dung thẩm tra tập trung vào sự cần thiết ban hành, phạm vi, đối tượng điều  
chỉnh, chính sách cơ bản của văn bản, tính thống nhất, tính khả thi, thứ tự ưu tiên,  
thời điểm trình, điều kiện bảo đảm để xây dựng và thi hành văn bản.  
2. Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban  
pháp luật trong việc thẩm tra đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật,  
pháp lệnh và phát biểu ý kiến về sự cần thiết ban hành, chính sách của văn bản, thứ  
tự ưu tiên trình dự án luật, pháp lệnh thuộc lĩnh vực do mình phụ trách.  
22  
CÔNG BÁO/Số 867 + 868/Ngày 28-7-2015  
Điều 48. Lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh  
1. Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến  
nghị về luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:  
a) Đại diện Chính phủ trình bày tờ trình đề nghị của Chính phủ về chương  
trình xây dựng luật, pháp lệnh; ý kiến về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không  
do Chính phủ trình, kiến nghị về luật, pháp lệnh.  
Đại diện cơ quan, tổ chức khác, đại biểu Quốc hội có thể được mời phát biểu ý  
kiến về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh của mình;  
b) Đại diện Ủy ban pháp luật trình bày báo cáo thẩm tra;  
c) Đại biểu tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;  
d) Ủy ban thường vụ Quốc hội thảo luận;  
đ) Đại diện Chính phủ, đại diện cơ quan, tổ chức khác, đại biểu Quốc hội có đề  
nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh trình bày bổ sung  
những vấn đề được nêu ra tại phiên họp;  
e) Chủ tọa phiên họp kết luận.  
2. Căn cứ vào đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan, tổ chức, đại biểu  
Quốc hội, kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội, ý kiến thẩm tra của  
Ủy ban pháp luật, Ủy ban thường vụ Quốc hội lập dự kiến chương trình xây dựng  
luật, pháp lệnh trình Quốc hội xem xét, quyết định.  
Hồ sơ dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh gồm tờ trình và dự thảo  
nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, kèm theo bản  
điện tử hồ sơ quy định tại khoản 2 Điều 46 của Luật này. Dự kiến chương trình xây  
dựng luật, pháp lệnh phải được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội.  
3. Ủy ban pháp luật chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan giúp Ủy ban  
thường vụ Quốc hội lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.  
Điều 49. Trình tự xem xét, thông qua dự kiến chương trình xây dựng luật,  
pháp lệnh  
1. Quốc hội xem xét, thông qua dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh  
theo trình tự sau đây:  
a) Đại diện Ủy ban thường vụ Quốc hội trình bày tờ trình về dự kiến chương  
trình xây dựng luật, pháp lệnh;  
b) Quốc hội thảo luận tại phiên họp toàn thể về dự kiến chương trình xây dựng  
luật, pháp lệnh. Trước khi thảo luận tại phiên họp toàn thể, dự kiến chương trình  
xây dựng luật, pháp lệnh có thể được thảo luận ở Tổ đại biểu Quốc hội;  
c) Sau khi dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được Quốc hội thảo  
luận, cho ý kiến, Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo Ủy ban pháp luật chủ trì,  
phối hợp với đại diện Chính phủ và cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu, giải  
trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng  
luật, pháp lệnh và xây dựng báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo nghị quyết;  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 82 trang myanh 26340 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Số: 80/2015/QH13", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluat_ban_hanh_van_ban_quy_pham_phap_luat_so_802015qh13.pdf