Tài liệu Hội thảo khoa học quốc gia - Hiệp định CPTPP: Cơ hội và thách thức đối với việc làm và quyền của người lao động ở Việt Nam

TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM  
LĐLĐ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ  
ĐẠI HỌC HUẾ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT  
HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
HIỆP ĐỊNH CPTPP: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC  
ĐỐI VỚI VIỆC LÀM VÀ QUYỀN CỦA  
NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM  
Thừa Thiên Huế, ngày 3 tháng 8 năm 2018  
ĐẠI HỌC HUẾ  
TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM  
LĐLĐ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT  
CHƯƠNG TRÌNH HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA  
"HIỆP ĐỊNH CPTPP: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆC LÀM  
VÀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM"  
Ngày 03/08/2018  
Thời gian: - Buổi sáng : 08:00 – 11:50  
- Buổi chiều: 14:00 – 16:30  
Địa điểm:  
Hội trường B - Trường Đại học Luật, Đại học Huế  
Đường Võ Văn Kiệt, phường An Tây, thành phố Huế  
Buổi sáng:  
Chủ trì:  
1. PGS.TS. Đoàn Đức Lương – Hiệu trưởng Trường ĐH Luật, ĐH Huế  
2. Ông Trần Thanh Hải – Phó Chủ tịch Thường trực Tổng Liên đoàn Lao động  
Việt Nam  
08:00 - 08:25 - Đăng ký đại biểu  
08:25 – 08:30  
08:30 – 08:40  
- Tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu: ThS. Trần Thị Nhật Anh  
- Báo cáo đề dẫn của Trường ĐH Luật, ĐH Huế: PGS.TS. Đoàn Đức  
Lương - Hiệu trưởng  
- Phát biểu khai mạc Hội thảo của đơn vị tổ chức: Bà Nguyễn Khoa Hoài  
Hương - Chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh Thừa Thiên Huế  
Tham luận 1. CAM KẾT VỀ LAO ĐỘNG, CÔNG ĐOÀN TRONG HIỆP ĐỊNH  
CPTPP VÀ EVFTA – THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM  
08:40 – 09:00  
Báo cáo viên: Lê Đình Quảng - Phó trưởng ban Quan hệ Lao động, Tổng  
Liên đoàn Lao động Việt Nam  
Tham luận 2. CƠ CHẾ PHÁP LÝ QUỐC TẾ BẢO VỆ QUYỀN CỦA  
LAO ĐỘNG VÀ YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN  
THỰC THI HIỆP ĐỊNH CPTPP  
09:00 – 09:20  
Báo cáo viên: TS. Lê Thị Nga – Trưởng khoa Luật Hành chính, Trường Đại  
học Luật, Đại học Huế  
09:20 – 10:10  
10:10 – 10:30  
Bình luận và thảo luận  
Nghỉ giải lao + Chụp ảnh lưu niệm  
Chủ trì:  
1. TS. Lê Thị Nga – Trưởng khoa Luật Hành chính Trường ĐH Luật, ĐH Huế  
2. Ông Trần Quang Vinh – Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh TT Huế  
10:30 – 10:50  
Tham luận 3. CÔNG ĐOÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ ĐỔI MỚI  
NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG TẬN DỤNG CƠ HỘI,  
VƯỢT QUA THÁCH THỨC KHI HIỆP ĐỊNH CPTPP CÓ HIỆU  
LỰC  
Báo cáo viên: Nguyễn Khoa Hoài Hương – Chủ tịch Liên đoàn Lao động  
tỉnh Thừa Thiên Huế  
10:50 – 11:10  
Tham luận 4. VAI TRÒ CÔNG ĐOÀN NGÀNH XÂY DỰNG TRONG  
XÂY DỰNG THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ VÀ PHỐI HỢP TỔ  
CHỨC HỘI NGHỊ NGƯỜI LAO ĐỘNG  
Báo cáo viên: Lê Thái Thanh Tài – Phó chủ tịch Công đoàn ngành xây  
dựng tỉnh Thừa Thiên Huế  
Bình luận và thảo luận  
Nghỉ trưa  
11:10 – 11:50  
11:50 – 14:00  
Buổi chiều:  
Chủ trì:  
1. PGS.TS. Nguyễn Duy Phương - Phó Hiệu trưởng trường ĐH Luật, ĐH Huế  
2. Bà Nguyễn Khoa Hoài Hương - Chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh TT Huế  
14:00 – 14:20  
Tham luận 5. CƠ CHẾ ĐẢM BẢO CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TIẾP  
CẬN VÀ THỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH CPTPP – CƠ HỘI VÀ THÁCH  
THỨC TRONG TƯƠNG LAI  
Báo cáo viên: Trần Thị Diệu Hà – Giảng viên Khoa Luật Hành chính,  
Trường Đại học Luật, Đại học Huế  
Bình luận và thảo luận  
Nghỉ giải lao  
14:20 – 15:00  
15:00 – 15:20  
Tham luận 6. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐOÀN VIÊN  
CỦA LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG TỈNH THỪA THIÊN HUẾ- GỢI MỞ  
MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHI VIỆT NAM GIA NHẬP HIỆP ĐỊNH CPTPP  
Báo cáo viên: Nguyễn Quốc Đạt – Trưởng Ban Tổ chức Liên đoàn Lao  
động tỉnh Thừa Thiên Huế  
15:20 – 15:40  
Bình luận và thảo luận  
15:40 – 16:20  
16:20 – 16:30  
Tổng kết Hội thảo : PGS.TS. Nguyễn Duy Phương + Ban Tổ chức  
BAN TỔ CHỨC  
MỤC LỤC  
BÁO CÁO ĐỀ DẪN  
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆT NAM KHI HIỆP ĐỊNH  
CPTPP CÓ HIỆU LỰC  
1.Tổng quan về Hiệp định CPTPP  
Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) tiền  
thân là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP1 (Trans-Pacific Partnership  
Agreement) với sự tham gia của 11 thành viên gồm: Australia, Brunei, Canada,  
Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam.  
CPTPP gồm: Lời mở đầu, 30 chương2 và 04 Phụ lục. Đây là kết quả của sự nỗ lực  
không ngừng từ các thành viên tham gia, khẳng định lập trường, sự đúng đắn và xu  
hướng tiếp tục của tự do hóa thương mại đầu tư quốc tế (sau khi Hoa Kỳ tuyên bố  
rút khỏi TPP). CPTPP được đánh giá là một hiệp định “toàn diện” và “tiến bộ” bởi  
nó không chỉ đề cập đến các lĩnh vực truyền thống như cắt giảm thuế quan đối với  
hàng hóa, mở cửa thị trường dịch vụ, sở hữu trí tuệ, hàng rào kỹ thuật liên quan đến  
thương mại, mà còn xử lý những vấn đề mới, phi truyền thống như lao động, môi  
trường, mua sắm Chính phủ, doanh nghiệp nhà nước, bảo hộ thương mại, ….  
CPTPP cũng giống như các FTA thế hệ mới đặt ra các yêu cầu và tiêu chuẩn cao  
về tính minh bạch cũng như đưa ra cơ chế giải quyết tranh chấp có tính ràng buộc  
và chặt chẽ. Mặc dù quy mô kinh tế của CPTPP không còn được như TPP do không  
có sự tham gia của Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ. Tuy nhiên, CPTPP được đánh giá sẽ  
mang lại nhiều lợi ích đáng kể cho các nước thành viên khi mở ra một sân chơi mới  
với quy mô thị trường chiếm khoảng 13,5% GDP toàn cầu và tiếp cận thị trường  
hơn 500 triệu dân.  
Đối với Việt Nam, việc tham gia CPTPP là minh chứng cụ thể và là bước tiến  
mới trong quá trình thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa,  
đa dạng hóa quan hệ của Việt Nam. Điều này sẽ củng cố thêm sức mạnh kinh tế cho  
Việt Nam thông qua việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thương mại cũng như thu hút  
1 TPP là Hiệp định Thương mại tự do được đàm phán từ tháng 3/2010 giữa 12 nước thành viên của Tổ chức  
hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC) với mục đích hội nhập nền kinh tế trong Khu vực.  
1
   
vốn đầu tư nước ngoài, tạo thêm xung lực mới cho phát triển kinh tế, xã hội của đất  
nước.  
2. Cơ hội cho Việt Nam khi Hiệp định CPTPP có hiệu lực  
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia và tổ chức kinh tế, Hiệp định mới sẽ mang lại  
lợi ích trực tiếp cho Việt Nam nhờ tự do hóa thương mại và tăng cường tiếp cận thị  
trường. Quan trọng nhất là nó sẽ thúc đẩy và tăng tốc quá trình cải cách trong nước  
trong nhiều lĩnh vực khác nhau”- Ông Sebastian Eckardt, Chuyên gia Kinh tế World  
Bank (WB) tại Việt Nam nói. Ngoài ra, WB cũng cho rằng, CPTPP dự kiến sẽ thúc  
đẩy cải cách trong các lĩnh vực như quản lý cạnh tranh, dịch vụ (dịch vụ tài chính,  
viễn thông, và gia nhập tạm thời của các nhà cung cấp dịch vụ), hải quan, thương  
mại điện tử, môi trường, mua sắm của chính phủ, sở hữu trí tuệ, đầu tư, tiêu chuẩn  
lao động, pháp lý, thâm nhập thị trường hàng hóa, quy tắc xuất xứ, các biện pháp  
phi thuế quan, khắc phục thương mại, v.v. Cụ thể những lợi ích thiết thực nhất mà  
Việt Nam có thể được hưởng, gồm:  
+ Lợi ích về phát triển kinh tế:  
Theo tính toán của các nhà nghiên cứu Úc và WB, Hiệp định CPTPP có hiệu  
lực sẽ góp phần tăng thêm 1,1 % GDP mỗi năm cho đến năm 2030, gia tăng thêm  
4,1% giá trị xuất khẩu, 5,3% giá trị nhập khẩu. Những con số ước lượng có cơ sở  
khoa học và độ tin cậy trên cho thấy: Cùng với EVFTA, CPTPP sẽ giúp Việt Nam  
không những gia tăng phát triển kinh tế mà còn giúp Việt Nam đa dạng hoá thị  
trường xuất khẩu và thuận lợi trong việc hạn chế lệ thuộc vào thị trường xuất khẩu  
của Trung Quốc.  
+ Lợi ích về lao động, việc làm và chính sách an sinh xã hội  
Thứ nhất, CPTPP với đặc điểm là nhấn mạnh nhiều đến quyền lao động cũng như  
bảo vệ tính bền vững của môi trường để đảm bảo rằng tự do thương mại sẽ đóng  
góp vào phát triển bền vững, xóa bỏ “Chủ nghĩa Bảo hộ thương mại” (Trade  
Protectionism)3 hứa hẹn sẽ tạo một sân chơi công bằng hơn với các doanh nghiệp ở  
các quốc gia thành viên khi thống nhất “Chính sách cạnh tranh”4. Điều này thúc đẩy  
3 “Việc chủ tâm sử dụng hoặc khuyến khích các biện pháp hạn chế hàng nhập khẩu để cho phép các nhà sản  
xuất tương đối kém hiệu quả trong nước có thể cạnh tranh thành công với các nhà sản xuất nước ngoài”, at  
4 CPTPP, Chương 16-Chính sách cạnh tranh.  
2
đầu tư, kinh doanh và tạo ra nhiều việc làm hơn cho các quốc gia thành viên.  
Thứ hai, quyền của người lao động được nâng lên và được bảo hộ theo tiêu  
chuẩn Quốc tế. Tại Chương 19 của CPTPP quy định về Lao động, các nước thành  
viên phải cam kết thực hiện nghĩa vụ được nêu trong tuyên bố của Tổ chức Lao  
động Quốc tế5 Theo Điều khoản hiệu lực của Hiệp định thì trong thời hạn 5 năm kể  
từ ngày có hiệu lực, các quốc gia thành viên phải tôn trọng và bảo đảm thực thi đầy  
đủ các quyền của người lao động đã được ghi nhận trong các công ước của ILO phù  
hợp với tinh thần của Tuyên bố năm 1998 của ILO. Điều này tất yếu tác động tích  
cực đến việc loại bỏ các hình thức lao động cưỡng bức hoặc ép buộc, phân biệt đối  
xử về việc làm và nghề nghiệp; Loại bỏ một cách hiệu quả lao động trẻ em, cấm các  
hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất và bảo hộ lao động khác đối với trẻ em và  
người vị thành niên; Đồng thời, thúc đẩy các quyền tự do liên kết, quyền thương  
lượng tập thể thực thi hiệu quả ở nơi làm việc.  
+ Cơ hội thúc đẩy cải cách pháp luật lĩnh vực kinh tế, lao động và công đoàn  
Chuyên gia kinh tế Trương Đình Tuyển cho rằng, tác động quan trọng nhất  
của CPTPP là tạo áp lực thúc đẩy quá trình cải cách thể chế, cải thiện thiện môi  
trường đầu tư kinh doanh, cắt giảm giấy phép con giúp doanh nghiệp phát triển.  
Qua đó tạo động lực vững chắc cho sự phát triển kinh tế.6  
Đồng quan điểm, ông Phan Chí Hiếu khẳng định: "Các điều khoản trong  
CPTPP đòi hỏi thực hiện nhiều cải cách, trong nhiều lĩnh vực, kể cả trong quan  
điểm, cũng như vấn đề pháp lý, hành chính. Chính những đòi hỏi này đã tạo thêm  
động lực phát triển, giúp nâng cao chất lượng quản lý nhà nước, khuôn khổ pháp  
luật, tính cạnh tranh, môi trường đầu tư, kinh doanh"7  
Ở phương diện pháp luật lao động và công đoàn, ông chủ tịch Văn phòng ILO  
Việt Nam (Chang – Hee Lee) cho rằng: Việt Nam cần phải tiếp tục cải cách mạnh  
mẽ pháp luật lao động và pháp luật công đoàn thì mới hy vọng bảo đảm được các  
quyền của người lao động theo yêu cầu của CPTPP. Bời vì, vẫn còn đó một số điểm  
5 Tuyên bố của ILO về Quyền và Nguyên tắc cơ bản tại nơi làm việc và những hành động tiếp theo (1998).  
6 Ông Trương Đình Tuyển: CPTPP sẽ tạo sức ép cho cải cách thể chế  
ngày 30/7/2018  
7 Ông Trương Đình Tuyển: CPTPP sẽ tạo sức ép cho cải cách thể chế  
ngày 30/7/2018  
3
yếu trong pháp luật lao động và các thể chế liên quan đến quan hệ lao động. Đã có  
hơn 6.000 cuộc đình công kể từ giữa những năm 1990 và tất cả đều là đình công tự  
phát, không do công đoàn khởi xướng. Đây là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy người  
lao động không cảm thấy quyền lợi và mối quan tâm của họ được giải quyết và quy  
trình xử lý vấn đề không hiệu quả.8  
3. Thách thức và vấn đề Hội thảo bàn luận  
CPTPP không phải là “món quà” mà là sân chơi được các quốc gia tạo ra để  
các chính phủ, doanh nghiệp và người lao động cạnh tranh bình đẳng, công bằng  
với nhau trên cơ sở những luật lệ chung nên cơ hội CPTPP mang lại luôn hàm chứa  
thách thức mà các quốc gia phải giải quyết, trong đó có Việt Nam. Bởi vì, cạnh  
tranh bình đẳng trên cơ sở luật chung đòi hỏi các chính phủ, doanh nghiệp và người  
lao động phải có những lợi thế cạnh tranh, so với 10 quốc gia còn lại Việt Nam có  
rất ít lợi thế cạnh tranh. Trong hầu hết các phương diện, Việt Nam đều có những bất  
lợi so với các đối tác, đặc biệt: Năng lực quản trị của doanh nghiệp hạn chế; Trình  
độ, tay nghề người lao động chưa cao; Thể chế kinh tế, lao động, thương mại, tài  
chính,... còn nhiều bất cập; Chính sách và quản lý của Chính phủ còn thiếu đồng bộ,  
thiếu thống nhất và hiệu quả còn hạn chế.  
Trên cơ sở nhận thức được cơ hội và thách thức mà Việt Nam phải đối diện  
khi Hiệp định CPTPP có hiệu lực, chúng tôi tổ chức Hội thảo với chủ đề: Hiệp định  
CPTPP: Cơ hội và thách thức đối với việc làm và quyền của người lao động ở Việt  
Nam với mục đích tạo kênh kết nối giữa các nhà khoa học, các nhà thực tiễn quan  
tâm đến những thách thức về thế chế, thực tiễn áp dụng pháp luật và những khó  
khăn của người lao động Việt Nam, các tổ chức đại diện bảo vệ quyền lợi cho người  
lao động khi Việt Nam thực thi Hiệp định CPTPP.  
Mặc dù, thời gian chưa nhiều kể từ khi công bố chủ đề, Hội thảo đã nhận được  
kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhà giáo và các cán bộ, công chức công  
tác trong lĩnh vực đại diện, bảo vệ quyền lợi của người lao động. Các vấn đề khoa  
học, pháp luật, thực tiễn gửi đến Hội thảo được phân tích, đối chiếu, luận giải ở  
8
Chang – Hee Lee, Điều khoản về lao động trong hiệp định thương mại tự do đảm bảo phát triển kinh tế  
công bằng, bền vững,  
analysis/WCMS_620717/lang--vi/index.htm, truy cập ngày 30/7/2018  
4
nhiều góc cạnh, phương diện khác nhau và rất đa dạng, phong phú. Chính vì thế,  
việc khái quát được đầy đủ các ý tưởng khoa học, các phân tích, luận giải và giải  
pháp của tất cả các chủ đề là bất khả thi. Dưới dây, chúng tôi chỉ tập hợp được  
những vấn đề khoa học được nhiều tác giả quan tâm, chia sẽ với Hội thảo, gồm:  
Thứ nhất, những bất cập, hạn chế của pháp luật Việt Nam hiện hành liên quan  
đến quan hệ lao động, những hạn chế và mâu thuẫn của pháp luật Việt Nam so với  
chuẩn mực của các công ước quốc tế về quyền lao động của ILO, đặc biệt là các  
quy định liên quan đến chống phân biệt đối xử về nghề nghiệp, việc làm; quy định  
liên quan đến tự do liên kết, tự do thương lượng và tự do thành lập, tham gia công  
đoàn. Ngoài ra, cơ chế ba bên trong quan hệ lao động cũng được làm rõ để chỉ ra  
những hạn chế của pháp luật Việt Nam hiện hành. Cùng với nội dung trên, việc lý  
giải cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn và cơ sở pháp lý của những hành vi vi phạm  
pháp luật lao động, pháp luật công đoàn và vi phạm quyền của người lao động để  
liên hệ và kết nối với nhu cầu cần cải cách pháp luật lao động, pháp luật công đoàn  
theo tiêu chuẩn của ILO (yêu cầu của CPTPP) về quyền của người lao động cũng  
được làm rõ trong nhiều bài nghiên cứu.  
Thứ hai, Công đoàn, với tư cách là người đại diện bảo vệ quyền lợi cho người  
lao động đã trở thành đối tượng của nhiều công trình nghiên cứu gửi đến Hội thảo.  
Đa số các công trình đều làm rõ vị trí, vai trò và mô tả cơ cấu tổ chức của công đoàn  
hiện hành; chức năng, nhiệm vụ của công đoàn các cấp mà đặc biệt là công đoàn  
cấp trung gian, công đoàn cơ sở. Trên cơ sở pháp luật hiện hành và thực tiễn hoạt  
động của công đoàn, các đề tài nghiên cứu đã chỉ ra những bất cập, hạn chế của cơ  
cấu tổ chức công đoàn hiện hành, đặc biệt là mối quan hệ giữa công đoàn cấp trên  
trực tiếp với công đoàn cơ sở và với người lao động ở nơi không có người đại diện.  
Từ những bất cập hạn chế đã được phân tích, lý giải và những hậu quả tạo ra, các đề  
tài đề xuất giải pháp cần phải cách cách toàn diện tổ chức hệ thống công đoàn hiện  
hành theo hướng phải “chấm dứt tình trạng hành chính hoá” các cấp công đoàn; Tổ  
chức bộ máy công đoàn phải linh hoạt và phải căn cứ trên cơ sở vị trí việc làm để  
xác định cấu trúc, năng lực con người trong bộ máy; Giảm bớt các cấp trung gian  
của công đoàn; Thay đổi quy định của Luật Công đoàn, pháp luật Lao động (mà  
5
trọng tâm là Bộ luật lao động 2012) và Điều lệ công đoàn về đại diện của Công  
đoàn cấp trên trực tiếp với người lao động không có đại diện.  
Thứ ba, cùng với vấn đề pháp luật bảo vệ quyền của người lao động, tổ chức  
hoạt động của công đoàn, việc nghiên cứu về cơ hội và thách thức đối với việc làm  
cũng được một số đề tài nghiên cứu lý giải những thuận lợi về việc làm cho người  
lao động Việt Nam khi CPTPP có hiệu lực, cũng như những khó khăn mà người lao  
động Việt Nam phải đối mặt.  
Thuận lợi lớn nhất về việc làm được chỉ ra là do doanh nghiệp Việt Nam được  
mở rộng thị trường xuất khẩu nên có thể tạo ra việc làm nhiều hơn, cơ hội có việc  
làm sẽ lớn hơn; Chính sách xoá bỏ thuế quan, xoá bỏ các biện pháp cản trở thương  
mại cho hoạt động xuất nhập khẩu của các nước trong khối CPTPP sẽ giúp Việt  
Nam có nhiều lợi thế trong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài (đầu tư FDI) vào  
Việt Nam. Đây cũng là một cơ hội khác được nhiều đề tài khai thác để cổ vũ niềm  
tin lạc quan cho người lao động.  
Những bất lợi cho thị trường lao động Việt Nam được mô tả tương đối toàn  
diện. Khó khăn lớn nhất cho người lao động Việt Nam là năng suất, hiệu quả lao  
động còn thấp hơn (quá xa) so với mặt bằng chung của các đối tác . Ngoài ra, những  
vấn đề về trình độ, kỹ năng và đào tạo nghề cũng được cho là bất lợi, thách thức mà  
người lao động Việt Nam, Chính phủ phải kịp thời cải cách.  
Những bất cập của chính sách việc làm cho lao động nữ cũng được nghiên cứu  
và phân tích. Trong đó, đã làm rõ những biểu hiện và nguyên nhân đe dọa đến tính  
bền vững của chính sách việc làm cho lao động nữ khi Việt Nam gia nhập CPTPP.  
Chất lượng lao động nữ còn thấp, việc làm thiếu ổn định, cơ hội tiếp cận việc làm  
vẫn khó khăn hơn nam giới. Ngoài ra, tình trạng phân biệt đối xử trên cơ sở giới vẫn  
tồn tại trong môi trường làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, tuyển dụng việc làm. Trên  
cơ sở các yếu tố pháp luật, thực tiễn và văn hoá, ưu tiên cao nhất được đưa ra để bảo  
đảm tính bền vững cho lao động nữ khi CPTPP có hiệu lực là phải thực thi đầy đủ 4  
trụ cột, gồm: (1) bảo đảm các quyền tại nơi làm việc; (2) tạo việc làm và xúc tiến  
việc làm cho lao động nữ; (3) cải cách bảo trợ xã hội; (4) đối thoại xã hội.  
Mặc dù các đề tài đã nghiên cứu tương đối toàn diện các phương diện pháp lý,  
cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật lao động, việc làm  
6
và công đoàn; Thực trạng và giải pháp cải cách pháp luật, cải cách tổ chức và hoạt  
động công đoàn và các giải pháp khác, Hội thảo cần tiếp tục thảo luận và làm sâu  
sắc thêm các vấn đề khoa học và thực tiễn sau:  
Thảo luận về nội hàm các chuẩn mực của ILO về quyền lao động và bổ sung  
thêm kinh nghiệm của các nước luật hoá về vấn đề này như thế nào?  
Thảo luận và làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn của pháp luật Việt Nam với  
các chuẩn mực quốc tế về quyền lao động, phương hướng hoàn thiện pháp luật;  
Thảo luận về mô hình cải cách tổ chức và hoạt động của công đoàn. Những  
thách thức và hệ quả xã hội có thể nảy sinh khi Việt nam thực thi quy định người  
lao động được thành lập công đoàn ngoài LĐLĐ Việt Nam;  
Những thách thức và thua thiệt của người lao động Việt Nam khi CPTPP có  
hiệu lực./.  
7
Phần 1: CÁC BÀI VIẾT THAM DỰ HỘI THẢO  
8
 
CẢI CÁCH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN ĐẠI DIỆN CỦA  
NGƯỜI LAO ĐỘNG THEO YÊU CẦU CỦA HIỆP ĐỊNH CPTPP  
Phan Hồng Anh  
Đặng Công Cường  
Tóm tắt:  
Hiệp định CPTTP cùng với EU-Việt Nam FTA, được gọi là những FTA thế hệ  
mới, với đặc điểm là nhấn mạnh nhiều đến quyền lao động, cũng như bảo vệ tính  
bền vững của môi trường, để đảm bảo rằng tự do thương mại sẽ đóng góp vào phát  
triển bền vững, đồng thời giúp người lao động và doanh nghiệp cùng được hưởng  
lợi ích kinh tế một cách công bằng. Theo các cam kết trong Chương 19 của Hiệp  
định thì tất cả các nước tham gia phải thông qua và duy trì các quyền được nêu  
trong Tuyên bố năm 1998 của ILO trong pháp luật, thể chế và thông lệ của họ. Các  
quyền này được quy định trong 8 công ước cơ bản của ILO, với nền tảng là: 1) tự  
do liên kết và công nhận hiệu quả quyền thương lượng tập thể (được quy định trong  
Công ước ILO số 87 và 98), 2) loại bỏ tất cả các hình thức lao động cưỡng bức  
hoặc bắt buộc (Công ước ILO số 29 và 105 ), 3) xoá bỏ lao động trẻ em (Công ước  
ILO số 138 và 182 ), và 4) xóa bỏ phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp  
(Công ước ILO số 100 và 111). Theo điều khoản nghĩa vụ thực thi Hiệp định, thì  
trong thời hạn 5 năm (kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực) các quốc gia thành viên  
phải hoàn thiện pháp luật để thực hiện quyền lao động đã cam kết đặc biệt là quyền  
tự do thành lập đại diện và liên kết của người lao động. Điều này, tạo ra sức ép pháp  
lý mạnh mẽ để Việt Nam cải cách pháp luật lao động nói chung, pháp luật vềCông  
đoàn, đại diện của người lao động nói riêng.  
Từ khoá: Quyền đại diện/ILO số 87, 98/Công đoàn/CPTPP/Quyền lao động.  
1. Tổng quan về quyền lao động theo yêu cầu của Hiệp định CPTPP  
Theo các Công ước và tuyên bố của ILO, các quyền cơ bản của người lao  
động tại nơi làm việc gồm: (i) Quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của  
người lao động và người sử dụng lao động (theo Công ước số 87 và số 89 của ILO);  
(ii) Xóa bỏ lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc (theo Công ước số 29 và số  
Ths, PCT Liên Đoàn lao động tỉnh Thừa Thiên Huế;  
 TS., Giảng viên Trường đại học Luật, Đại học Huế  
9
       
105 của ILO); (iii) Cấm sử dụng lao động trẻ em, xóa bỏ các hình thức lao động trẻ  
em tồi tệ nhất (theo Công ước số 138 và Công ước số 182 của ILO); (iiii) Xóa bỏ  
mọi hình thức phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp (theo Công ước số 100  
và số 111 của ILO). Theo Tuyên bố năm 1998 của ILO thì các nước thành viên ILO  
dù đã phê chuẩn hay chưa phê chuẩn các công ước cơ bản nêu trên đều có nghĩa vụ  
tôn trọng, thúc đẩy và thực hiện bốn tiêu chuẩn lao động được đề cập trong các  
công ước đó.  
Hiệp định CPTPP không đặt ra tiêu chuẩn lao động riêng mà yêu cầu các quốc  
gia thành viên phải thực thi đầy đủ các quyền của người lao động đã được ghi nhận  
trong các công ước của ILO phù hợp với tính thần của Tuyên bố năm 1998 của ILO.  
Điều này có nghĩa, các quốc gia thành viên của Hiệp định sẽ phải thực thu đầy đủ  
các quyền, gồm: (1) Người lao động và người sử dụng lao động, không phân biệt  
dưới bất kỳ hình thức nào, có quyền được thành lập và gia nhập các tổ chức theo sự  
lựa chọn của mình mà không phải xin phép trước, với một điều kiện duy nhất là  
phải tuân theo Điều lệ của chính tổ chức đó9; (2) Các tổ chức của người lao động và  
của người sử dụng lao động có quyền lập ra điều lệ và quy tắc, bầu đại diện, tổ chức  
việc điều hành, tổ chức các hoạt động và soạn thảo chương trình hoạt động của  
mình10; (3) Các tổ chức của người lao động và của người sử dụng lao động có  
quyền thành lập và gia nhập các liên đoàn, tổng liên đoàn, và mọi tổ chức, liên đoàn  
hoặc tổng liên đoàn đó đều có quyền gia nhập các tổ chức quốc tế của người lao  
động và người sử dụng lao động.11 (4) Khi thực hiện những quyền được quy định  
trong Công ước này, người lao động, người sử dụng lao động và các tổ chức tương  
ứng của họ, cũng như mọi người và mọi tập thể có tổ chức khác, đều phải tôn trọng  
pháp luật quốc gia.12 (5) Mọi Thành viên của Tổ chức Lao động Quốc tế mà tại đó  
Công ước này có hiệu lực, cam kết áp dụng mọi biện pháp cần thiết và thích hợp để  
bảo đảm rằng người lao động và người sử dụng lao động có thể tự do thực hiện  
quyền được tổ chức.13  
9 Điều 2, Công ước 87  
10 Điều 3, Công ước 87  
11 Điều 5, Công ước 87  
12 Điều 8, khoản 1, Công ước 87  
13 Điều 11, Công ước 87;  
10  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 284 trang myanh 24800 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Hội thảo khoa học quốc gia - Hiệp định CPTPP: Cơ hội và thách thức đối với việc làm và quyền của người lao động ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_hoi_thao_khoa_hoc_quoc_gia_hiep_dinh_cptpp_co_hoi_v.pdf