Giáo trình Pháp luật thực hành

Chương 1  
TỔNG QUAN VỀ GIÁO DỤC  
THỰC HÀNH LUẬT  
Mục tiêu:  
- Về kiến thức:  
+ Hiểu được chương trình Giáo dục pháp luật thực hành (CLE) là  
gì, sứ mệnh của nó cũng như các mô hình CLE hiện nay.  
+ Hiểu được tầm quan trọng của các Văn phòng thực hành luật  
(VPTHL) và phân biệt được các hình thức khác nhau của VPTHL CLE  
hiện có.  
- Về kỹ năng:  
+ Phát triển kỹ năng giao tiếp thông qua sự tương tác trong bài giảng.  
+ Rèn luyện một số kỹ năng như: lắng nghe chủ động, kỹ năng  
phỏng vấn, kỹ năng làm việc nhóm.  
- Về thái độ:  
+ Hiểu và đánh giá đúng vai trò quan trọng của lĩnh vực pháp lý  
cũng như lợi ích mà nó mang lại cho xã hội.  
+ Nhận biết được tầm quan trọng của chương trình CLE, cách  
thức mang đến lợi ích cho xã hội và khả năng cung cấp kinh nghiệm học  
tập của chương trình.  
1.1. KHÁI NIỆM, MỤC ĐÍCH CỦA GIÁO DỤC THỰC HÀNH  
LUẬT (CLE)  
1.1.1. Khái niệm giáo dục thực hành luật  
CLE (Clinical Legal Education) là mô hình tổ chức thực hành luật  
cho sinh viên, học viên và những người nghiên cứu luật, mô hình này tổ  
chức một cách học năng động thông qua việc rèn luyện các kỹ năng thực  
hành nghề nghiệp giúp người học chủ động giải quyết các vấn đề pháp lý  
cho cộng đồng, cách học này được mô tả là “học tập dựa trên kinh  
nghiệm” hay “học đi đôi với hành”.  
1
Thông qua các hoạt động thực hành luật người học có thể quan sát  
học hỏi kinh nghiệm thực tế thông qua việc xử lý các vấn đề pháp lý, các  
vụ việc cụ thể, phổ biến pháp luật cho cộng đồng qua đó rèn luyện các kỹ  
năng và kiến thức đã được học trên giảng đường.  
Mô hình giáo dục thực hành luật rất phổ biến trên thế giới, phát  
triển ở nhiều quốc gia như Anh, Đức, Mỹ, Na Uy, Nga… Tại Việt Nam,  
tuy mới được du nhập và phát triển từ năm 1998 nhưng nó cung cấp giải  
pháp để nâng cao chất lượng đào tạo nghề luật cho các cơ sở đào tạo,  
hiện nay đa số các cơ sở đào tạo luật tại Việt Nam đã đưa mô hình này  
vào giảng dạy và trở thành môn học bắt buộc đối với sinh viên, học viên  
và những người nghiên cứu luật.  
Các hoạt động được thực hiện trong mô hình giáo dục thực hành  
luật rất phong phú, đa dạng, ở mỗi quốc gia tùy theo mục tiêu, đối tượng  
được hưởng lợi mà chương trình hướng tới, sẽ có các hoạt động cụ thể  
cho các đối tượng khác nhau, nhìn chung nó tồn tại các hoạt động sau:  
- Một là, tuyên truyền, giảng dạy pháp luật cho cộng đồng, đây là  
một trong những hoạt động chủ đạo của mô hình giáo dục thực hành luật,  
đem lại hiệu quả thiết thực trong việc đào tạo các kỹ năng thực hành  
nghề nghiệp cho người học và hỗ trợ kiến thức pháp luật cho cộng đồng.  
Thông qua hoạt động này, người học sẽ được tập huấn các kỹ năng và  
phương pháp để tiếp cận và tuyên truyền, giảng dạy pháp luật cho cộng  
đồng như: phương pháp điều tra nhu cầu, phương pháp soạn bài giảng,  
kỹ năng thuyết giảng, quản lý trò chơi, đóng vai…  
Đối tượng chủ yếu mà hoạt động tuyên truyền và giảng dạy pháp  
luật hướng tới là các đối tượng yếu thế trong xã hội như: người nghèo, trẻ  
em, phụ nữ, người cao tuổi,… các đối tượng dễ bị xâm hại đến quyền  
như: phạm nhân, công nhân hoặc là các đối tượng có nhu cầu tìm hiểu  
kiến thức pháp luật nhằm phòng vệ cho bản thân khi quyền và lợi ích bị  
xâm hại như: học sinh, công đoàn, hội nông dân, ngư dân…  
Một ưu điểm nổi bật trong hoạt động này chính là việc các tuyên  
truyền viên và người giảng sử dụng đối đa phương pháp tương tác để  
truyền tải các đơn vị kiến thức pháp lý cho cộng đồng bằng việc tổ chức  
hoạt động nhóm rất năng động và lý thú, các hoạt động này sẽ lồng ghép  
2
kiến thức pháp luật theo chủ đề vào các hoạt cảnh đóng vai, trò chơi, clip  
hình ảnh, phim tài liệu về tấm gương sáng… Các hoạt động này đã chứng  
minh sự hiệu quả khi thu hút cộng đồng vào nội dung bài giảng, tích cực  
tham gia các hoạt động và hiểu vấn đề của tuyên truyền viên và người  
giảng cần tuyền tải, tránh sự khô cứng vốn có của các phương pháp giảng  
dạy truyền thống.  
Để thực hiện có hiệu quả hoạt động tuyên truyền và giảng dạy pháp  
luật cộng đồng cần phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, chu đáo, trong đó việc  
xác định đối tượng, nhu cầu và chủ đề phù hợp sẽ quyết định đến chất  
lượng của buổi tuyên truyền và giảng dạy. Đối tượng chủ yếu mà hoạt  
động tuyên truyền và giảng dạy pháp luật hướng tới là các đối tượng yếu  
thế trong xã hội như: người nghèo, trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi,… các  
đối tượng dễ bị xâm hại đến quyền như phạm nhân, công nhân…  
- Hai là, hoạt động tư vấn pháp lý miễn phí cho người dân, đây là  
hoạt động quan trọng được tiến hành thường xuyên tại hầu hết các trung  
tâm, văn phòng thực hành luật trong các cơ sở giáo dục Đại học tại  
Việt Nam. Đối tượng hướng tới của hoạt động này là các đối tượng yếu  
thế trong xã hội, do hạn chế về mặt thể chất, tâm sinh lý, khó khăn về  
kinh tế không thể tiếp cận các dịch vụ pháp lý có thu, kể cả các hoạt động  
trợ giúp pháp lý của Nhà nước như người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ  
em lang thang, người nghèo… Ngoài ra, hoạt động này còn hướng tới các  
đối tượng mong muốn được tái hòa nhập cộng đồng (phạm nhân, người  
mới đi cai nghiện, mại dâm, đối tượng chờ xóa án tích…) hoặc các đối  
tượng muốn tìm hiểu pháp luật, giải đáp các thắc mắc liên quan đến  
quyền và lợi ích của mình như: công nhân, phụ nữ, học sinh…  
Các đối tượng này sẽ được chăm sóc bằng các hình thức tư vấn trực  
tiếp tại văn phòng thực hành luật hoặc tư vấn gián tiếp qua hộp thư, mail,  
điện thoại. Với quy trình của hoạt động tư vấn này, các đối tượng này sẽ  
cung cấp thông tin, hồ sơ, các chứng cứ, giấy tờ liên quan cho đội ngũ  
cộng tác viên văn phòng, qua đó với sự giám sát, chia sẻ của đội ngũ  
giảng viên, các cộng tác viên sẽ giải đáp các thắc mắc, các vấn đề pháp lý  
mà cộng đồng gặp phải. Ngoài ra, hoạt động này còn cung cấp cho các  
đối tượng yêu thế các mẫu đơn, các tài liệu pháp lý liên quan đến vấn đề  
3
cần giải quyết, mục đích của hoạt động này là giúp các đối tượng trang bị  
kiến thức pháp lý cần thiết qua đó tự giải quyết các vấn đề của mình.  
Thông qua hoạt động này, người học có thể rèn luyện các kỹ năng  
chăm sóc khách hàng như: kỹ năng ghi chép thông tin, phỏng vấn, tư  
vấn, lắng nghe, phân tích tài liệu, làm việc nhóm… Tùy thuộc vào mỗi  
đối tượng, các cộng tác viên sẽ vận dụng các kỹ năng được trang bị để có  
cách tiếp cận hiệu quả nhất đối với từng đối tượng cụ thể. Ví dụ như các  
phạm nhân chuẩn bị mãn hạn tù, người hành nghề mại dâm sau khi kết  
thúc thời gian tại các Trung tâm phục hồi nhân phẩm, người sau cai  
nghiện, những đối tượng này họ thường mặc cảm, che giấu, ngại tiếp  
xúc, họ bị gia đình và xã hội kỳ thị. Vì vậy, khi tiếp cận cần có các kỹ  
năng xác lập mức độ tin cậy, gần gũi, giữ bí mật về thông tin bản thân.  
- Ba là, là hoạt động hội thảo, tập huấn kỹ năng giảng dạy, tuyên  
truyền và tư vấn pháp luật, đây là được coi là hoạt động bản lề, là “chìa  
khóa” để mở các hoạt động còn lại trong giáo dục thực hành luật, nó  
quyết định chất lượng của buổi giảng dạy hay tư vấn pháp luật cho cộng  
đồng. Đối với hoạt động tuyên truyền và giảng dạy pháp luật cộng đồng,  
thông qua các chương trình hội thảo, tập huấn sẽ giúp cho người học rèn  
luyện các kỹ năng tương tác cơ bản để giảng dạy và tuyên truyền pháp  
luật cho cộng đồng như kỹ năng thuyết trình, làm việc nhóm, đóng vai,  
chơi trò chơi… Còn đối với hoạt động tư vấn pháp luật, thông qua các  
chương trình hội thảo, tập huấn sẽ giúp cho người học rèn luyện các kỹ  
năng tiếp cận và giải quyết vấn đề như: kỹ năng phân tích tài liệu, ghi  
chép, giải quyết vấn đề, phỏng vấn,… Thực tiễn cho thấy, nếu không  
được trang bị tốt các kỹ năng giảng dạy và tư vấn thì kết quả hoạt động  
tuyên truyền, giảng dạy và tư vấn pháp luật cộng đồng sẽ rất thấp, bài  
giảng sẽ khô cứng, thiếu thuyết phục, nhàm chán, các hoạt động tư vấn sẽ  
chệch nội dung do không khai thách hết thông tin, không giải quyết triệt  
để các thắc mắc của cộng đồng.  
Đối tượng mà các cuộc hội thảo, tập huấn hướng tới là các giảng  
viên, sinh viên, và người nghiên cứu luật, đây là các đối tượng nắm “chìa  
khóa” để mở các thông tin pháp lý cho cộng đồng, mục tiêu của các cuộc  
hội thảo, tập huấn là hướng tới các kiến thức, kỹ năng, giá trị để sau đó  
4
người học có thể giảng dạy và tư vấn pháp luật một cách hiệu quả nhất  
cho cộng đồng.  
Ngoài ra, để cho các hoạt động hội thảo, tập huấn đạt hiệu quả cao  
nhất thì sự tham gia của các chuyên gia trong và ngoài nước đóng vai trò  
vô cùng quan trọng, với kinh nghiệm dày dạn trong việc đào tạo kỹ năng,  
đây là thành phần sẽ hướng dẫn, điều hành hội thảo, trực tiếp tập huấn  
các kỹ năng cho người học.  
- Bốn là, các hoạt động tập huấn kỹ năng điều hành văn phòng thực  
hành luật, đây là hoạt động quan trọng trong giáo dục thực hành luật,  
việc tập huấn kỹ năng điều hành văn phòng thực hành luật là rất cần  
thiết. Để có một văn phòng thực hành luật được tổ chức tốt, với cơ cấu tổ  
chức chặt chẽ, năng động, cùng các kế hoạch, ý tưởng thiết thực, bổ ích  
cho cộng đồng thì việc tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng các cán bộ quản lý,  
phụ trách văn phòng là công việc quan trọng, phải được tiến hành thường  
xuyên, các kỹ năng điều hành văn phòng ở đây có thể là kỹ năng sắp xếp,  
phân công công việc, kỹ năng quản lý tài chính, học cụ, kỹ năng quản lý  
xung đột… Và để có được những kỹ năng điều hành văn phòng thực  
hành luật có hiệu quả thì người quản lý phải học tập các mô hình tổ chức  
văn phòng thực hành của các nước có chương trình giáo dục thực hành  
luật phát triển như Anh, Mỹ, Đức, Na Uy, Úc… Ngoài ra, thông qua các  
chương trình, dự dán hợp tác, các văn phòng sẽ cử thành viên sang học  
hỏi mô hình tổ chức, tham gia các buổi hội thảo, tập huấn kỹ năng điều  
hành văn phòng, qua đó sẽ biết cách tổ chức một văn phòng thực hành  
luật hoạt động có hiệu quả.  
1.1.2. Mục đích của giáo dục thực hành luật  
Giáo dục thực hành luật được xem là mô hình phổ biến trong các  
cơ sở giáo dục pháp lý hiện nay, với những ưu điểm vượt trội so với các  
phương pháp giảng dạy truyền thống khác, đặc biệt là các phương pháp  
giảng dạy tương tác, phát huy tính chủ động của người học, rèn luyện các  
kỹ năng cần thiết để người học có thể thực hành nghề nghiệp một cách có  
hiệu quả như: kỹ năng phỏng vấn, tư vấn, lắng nghe chủ động, tiếp nhận  
và xử lý hồ sơ, kỹ năng chăm sóc khách hàng,… giáo dục thực hành luật  
đang mang lại tác động kép, mục đích chủ thể hướng tới mô hình này  
5
chính là cộng đồng yếu thế và người học, các mục đích cụ thể giáo dục  
thực hành luật hướng tới đó là:  
1.1.2.1. Đối với cộng đồng  
- Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho cộng đồng, đặc biệt là cộng  
đồng người yếu thế như: người nghèo, người khuyết tật, trẻ em lang  
thang… Trang bị kiến thức về pháp luật, thông tin pháp lý giúp cộng  
đồng chủ động hơn để bảo vệ quyền và lợi ích của mình; cung cấp tài  
liệu, dịch vụ pháp lý cho người yếu thế để họ có cơ sở tự bảo vệ mình khi  
quyền và lợi ích bị xâm phạm.  
- Trao đổi, giải đáp những thắc mắc liên quan đến vấn đề pháp luật  
mà cộng đồng đang gặp khó khăn, bế tắc; giải quyết nhu cầu tìm hiểu  
kiến thức pháp luật của cộng đồng, giảm tỷ lệ người yếu thế bị xâm phạm  
quyền và lợi ích.  
- Hướng dẫn cá nhân, tổ chức trong nước và ngoài nước thực hiện  
các thủ tục pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức,  
cá nhân theo pháp luật.  
- Xã hội hóa các hoạt động tư vấn pháp luật cộng đồng, nhân rộng  
mô hình tư vấn ở nhiều địa phương, giải quyết có hiệu quả nhu cầu kiến  
thức về pháp luật cho cộng đồng.  
1.1.2.2. Đối với người học  
- Tăng cường kiến thức thực tiễn về các vấn đề pháp luật cho người  
học trong từng vụ việc cụ thể, tạo môi trường thực tiễn cho người học  
hoạt động, rèn luyện kỹ năng thực hành nghề nghiệp: kỹ năng phỏng vấn,  
tư vấn, phân tích tài liệu, kỹ năng giao tiếp và giải quyết vấn đề.  
- Giúp người học giải quyết tốt mối quan hệ giữa kiến thức và thực  
nghiệm, làm sáng tỏ những vấn đề trong tài liệu, chủ động hơn trong học  
tập và nghiên cứu khoa học, phát huy tính chủ động sáng tạo trong học  
tập và hiểu được cách thức áp dụng luật trong các tình huống thực tế.  
- Nâng cao trách nhiệm xã hội của người học đối với cộng đồng,  
những người yếu thế trong xã hội, tích cực bảo vệ quyền con người,  
quyền công dân, hướng tới công bằng xã hội.  
6
1.2. CÁC MÔ HÌNH GIÁO DỤC THỰC HÀNH LUẬT TẠI  
VIỆT NAM  
Với những ưu điểm vượt trội của mình, Giáo dục thực hành luật  
(CLE) trên thế giới hiện nay đang rất phát triển tại nhiều quốc gia, nổi bật  
là các nước Mỹ, Nga, Na Uy, Úc… Tại Việt Nam, giáo dục thực hành  
pháp luật ở là vấn đề còn hết sức mới mẻ. Năm 1998, được sự hỗ trợ của  
tổ chức SIDA Canada, khoa Luật Đại học Quốc gia Hà nội đã thành lập  
Trung tâm Dịch vụ và Nghiên cứu Luật pháp (LERES)... Trung tâm  
LERES đã tổ chức một số hoạt động đào tạo thực hành pháp luật như:  
tuyên truyền giáo dục pháp luật cho cộng đồng, tư vấn pháp luật tại văn  
phòng,… bước đầu các cơ sở đào tạo Luật đã có những hợp tác với Viện  
Chính sách, Pháp luật và Phát triển (PLD), các tổ chức phi chính phủ  
ngoài nước như tổ chức BABSEA (Sáng kiến giáo dục pháp luật cộng  
đồng Nhịp cầu nối các quốc gia Đông Nam Á), Viện Pes, Trung tâm  
nhân quyền Na Uy, tổ chức JussBuss (Na Uy)…  
Ở Việt Nam, đã bắt đầu xuất hiện nhu cầu đào tạo kỹ năng thực  
hành tại các trường đào tạo luật… Khi tìm kiếm các phương pháp mới để  
giảng dạy kỹ năng, các cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam đã thành lập các  
trung tâm, văn phòng thực hành nghề luật tại các trường Đại học của mình.  
Nhu cầu này đã được bản thân các cơ sở đào tạo luật, sinh viên luật và các  
nhà quản lý giáo dục chú trọng và kết quả là một loạt các cơ sở đào luật đã  
thành lập và đưa vào hoạt động rất có hiệu quả các trung tâm thực hành  
Luật như Đại học Quốc gia Hà Nội (2007), Đại học Cần Thơ (2010), Khoa  
Luật - Đại học Huế (2010) nay là trường Đại học Luật – Đại học Huế, Đại  
học Kinh tế Luật thành phố Hồ Chí Minh (2011), Đại học Ngoại Thương  
(2011), Đại học Kinh tế Quốc Dân (2011), Đại học Vinh…  
Trong vài năm gần đây, Chương trình phát triển liên hợp quốc  
(UNDP) và các tổ chức phi chính phủ đã hỗ trợ về kinh phí và chuyên gia  
hỗ trợ kỹ năng cho các văn phòng thực hành luật tại các trường Đại học  
tại Việt Nam, với quy mô và sự hiệu quả của chương trình, nhận thấy sự  
hiệu quả, lợi ích “kép” đối với sinh viên và cộng đồng, hầu hết các trung  
tâm đào tạo luật tại Việt Nam đã đưa môn học giáo dục thực hành luật  
vào trong chương trình đào tạo của mình.  
7
Chương trình giáo dục thực hành luật tại trường Đại học tại  
Việt Nam có tuy sự khác nhau về cơ cấu tổ chức, nguồn lực, có những  
thuận lợi và khó khăn riêng nhưng nhìn chung đều có ba mô hình chủ  
yếu sau đây:  
1.2.1. Mô hình giảng dạy và tư vấn pháp lý trực tiếp cho cộng đồng  
Mô hình này người học có thể vừa giảng dạy vừa lồng ghép hoạt  
động tư vấn cho một nhóm cộng đồng: trường học, trung tâm bảo trợ, trại  
giam, doanh nghiệp... Với mô hình này thì một chương trình giảng dạy  
và tư vấn pháp luật sẽ dành đa phần thời lượng để tuyên truyền và giảng  
dạy kiến thức pháp luật cho cộng đồng, trong quá trình giảng dạy các  
cộng tác viên sẽ phát phiếu hỏi để ghi nhận các vấn đề pháp lý mà nhóm  
cộng đồng đang gặp phải và nhóm cộng đồng sẽ được giải đáp các thắc  
mắc vào cuối buổi giảng dạy. Để hoạt động có hiệu quả mô hình này cần  
có đội ngũ cộng tác viên có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp  
cùng đội ngũ giảng viên hướng dẫn có nhiều kinh nghiệm trong nhiều  
lĩnh vực pháp lý, ngoài ra việc lựa chọn chủ đề và đối tượng phù hợp sẽ  
quyết định sự đến thành công của mô hình này, thông thường các bước  
để tiến hành một buổi giảng dạy lồng ghép tư vấn pháp lý bao gồm:  
- Bước một, là khảo sát điều tra nhu cầu cộng đồng thông qua phiếu  
điều tra hoặc sử dụng các phương pháp điều tra xã hội học: thu thập  
thông tin, phân tích số liệu của địa phương. Ví dụ: Theo số liệu Công an  
xã Y có số lượng người nghiện ma túy khoảng 200 người trên tổng số  
2.000 khẩu, tỷ lệ đạt 10%, vì vậy chắc chắn chủ đề về ma túy, HIV/AIDS  
đang là vấn đề mà xã hội quan tâm.  
- Bước hai, là xác định đúng đối tượng và nhu cầu, thông qua việc  
phân tích phiếu điều tra và sử dụng các phương pháp điều tra xã hội học  
sẽ xác định đúng đối tượng và nhu cầu pháp lý mà nhóm cộng đồng đang  
quân tâm, từ đó sẽ có kế hoạch cụ thể cho bài giảng và nội dung sẽ tư  
vấn. Ví dụ: vấn đề bạo lực gia đình với nhóm phụ nữ, vấn đề hợp đồng  
với nhóm công nhân…  
- Bước ba, là chuẩn bị và phân công nhiệm vụ cho các thành viên,  
đây là bước quan trọng quyết định chất lượng buổi giảng dạy, cần lựa  
8
chọn thành viên với các kỹ năng cần thiết cho nhiệm vụ được giao, cần  
chuẩn bị các tình huống phát sinh để phân công nhiệm vụ xử lý như ánh  
sáng, âm thanh, điện… Ví dụ: MC, nhóm chuẩn bị cơ sơ vật chất, nhóm  
thuyết giảng, nhóm chơi trò chơi, đóng vai…  
- Bước bốn, là xác định bối cảnh về không gian và thời gian cho  
buổi giảng dạy, nên lựa chọn thời gian thích hợp cho từng đối tượng,  
tránh các ngày làm việc hoặc lựa chọn thời điểm về thời tiết, khí hậu  
không tốt, ngoài ra nếu chương trình giảng dạy và tư vấn pháp luật cần  
không gian rộng để diễn tả các hoạt cảnh, trò chơi, đóng vai thì nên lựa  
chọn không gian rộng để các hoạt động có hiệu quả cao nhất.  
- Bước năm, là xây dựng nội dung bài giảng và chuẩn bị tài liệu  
tham khảo khi tư vấn, đây là bước quyết định chất lượng buổi giảng dạy  
và tư vấn pháp luật, nội dung đúng với chủ đề và phù hợp với đối tượng  
sẽ thu hút sự quan tâm của nhóm cộng đồng, ngoài ra các phương pháp  
truyền tải tương tác được sử dụng hợp lý sẽ lôi kéo sự tham gia của đối  
tượng vào bài giảng, giúp đối tượng hiểu và nắm bắt vấn đề một cách dễ  
dàng hơn. Ngoài ra, trong các buổi giảng dạy lồng ghép tư vấn, các câu  
hỏi của đối tượng có phạm vi rộng vì vậy cần thiết phải chuẩn bị các tài  
liệu liên quan để có thể giải đáp các thắc mắc của cộng đồng một cách  
đầy đủ nhất.  
- Bước sáu, là duyệt bài giảng, bước này được coi là là quá trình  
khởi động cho buổi giảng dạy và lồng ghép tư vấn pháp luật, thông qua  
bước này, các cộng tác viên và giảng viên sẽ cùng nhau sửa chữa, bổ  
sung những chi tiết sai, những phần còn thiếu sót nhằm hoàn thiện bài  
giảng trước khi giảng dạy cho cộng đồng, ngoài ra nên lường trước các  
câu hỏi của cộng đồng liên quan đến các vấn đề nhạy cảm, không đúng  
chủ đề, nằm ngoài khả năng tư vấn của văn phòng.  
- Bước bảy, là tổng kết và đánh giá. Bước này nhằm tổng kết và  
đánh giá các mặt được và chưa được, cái cần phát huy và cái hạn chế  
nhắm rút kinh nghiệm cho các đợt giảng dạy và tư vấn tiếp theo.  
9
Hình 1. Một buổi giảng dạy về bạo lực học đường  
tại trường THPT Nguyễn Huệ của sinh viên Đại học Luật  
Nguồn: Văn phòng thực hành Luật – Trường Đại học Luật Huế  
1.2.2. Mô hình trợ giúp pháp lý thông qua tư vấn miễn phí trực tiếp  
hoặc gián tiếp tại văn phòng thực hành luật  
Mô hình này đang rất phổ biến tại nhiều cơ sở đào tạo luật tại  
Việt Nam, thông qua các văn phòng tư vấn được đặt trong và ngoài các  
cơ sở đào tạo, tại các văn phòng này, các cộng tác viên sẽ luân phiên đổi  
lịch trực để tiếp nhận các vấn đề pháp lý mà cộng đồng đang cần giải đáp  
các thắc mắc, cho lời khuyên, đối tượng mà các văn phòng tư vấn hướng  
tới đó là những người yếu thế trong xã hội, người bị khuyết tật, người  
khó khăn về kinh tế, người không thể tiếp cận các dịch vụ pháp lý có thu  
hoặc các chính sách của Nhà nước. Mô hình này mang yếu tố dịch vụ nên  
rất cần các kỹ năng chăm sóc khách hàng, vì vậy thông qua mô hình  
người học có thể rèn luyện các kỹ năng thực hành nghề nghiệp cho bản  
thân như: kỹ năng phỏng vấn, kỹ năng phân tích tài liệu, lắng nghe,…  
các bước của mô hình này được mô tả như sau:  
a. Đối với tư vấn trực tiếp  
- Bước một, là người học sẽ tiếp nhận vụ việc thông qua thu thập  
thông tin, ghi chép thông tin, nếu có hồ sơ hay chứng cứ phục vụ quá  
10  
trình giải đáp thắc mắc thì có thể sao chép, lưu chụp hình ảnh, tài  
liệu(nếu khách hàng cho phép) và cuối cùng là trao phiếu hẹn thời gian  
giải đáp cho khách hàng.  
- Bước hai, là người học cùng thảo luận với nhóm chuyên ngành dựa  
trên các thông tin, hồ sơ và chứng cứ thu thập được của khách hàng, dưới sự  
giám sát và cho lời khuyên của các cộng tác viên là giảng viên của văn  
phòng, sau đó thống nhất phương án trả lời cho khách hàng theo lịch hẹn.  
- Bước ba, là người học vận dụng các kỹ năng tư vấn để trực tiếp  
đưa ra lời khuyên cho khách hàng theo đúng lịch hẹn sau khi thống nhất  
với nhóm và có sự kiểm tra của cộng tác viên văn phòng.  
- Bước bốn, là người học sẽ thường xuyên liên lạc với khách hàng  
để kiểm tra và đánh giá hiệu quả của việc cho lời khuyên (đã giải quyết  
được vấn đề nào của khách hàng? Còn vấn đề nào khách hàng vướng  
mắc nữa không? Khách hàng có cần tư vấn thêm hay không?).  
Hình 2. Tư vấn trực tiếp tại huyện A Lưới - Thừa Thiên Huế  
Nguồn: CLE Huế  
b. Đối với tư vấn gián tiếp  
- Đối với tư vấn gián tiếp thì các bước tương tự như tư vấn trực  
tiếp, chỉ khác là người học sẽ tiếp nhận thông tin vụ việc thông qua điện  
thoại, e-mail, thư viết tay,… thường xuyên liên lạc với khách hàng để hỏi  
11  
thêm các thông tin bổ sung hồ sơ sau đó hẹn thời gian trả lời cho khách  
hàng, các hình thức trả lời cho khách hàng có thể qua e-mail, thý viết tay,  
điện thoại,… hoặc nếu cần thì có thể chủ động đến gặp khách hàng để trả  
lời trực tiếp.  
- Để thực hiện tốt hoạt động này người học phải vận dụng tốt các  
kỹ năng lắng nghe, kỹ năng nói, kỹ năng ghi chép,… nhằm phục vụ quá  
trình tiếp nhận và sàng lọc thông tin.  
1.2.3. Mô hình tổ chức thực tập, thực tế, giảng dạy cho người học  
Mô hình này tùy theo cách thức tổ chức của các cơ sở đào tạo luật  
sẽ có các hình thức tổ chức thực hành luật khác nhau, nhưng nhìn chung  
nó bao gồm các hình thức sau:  
- Một là, tổ chức cho người học thực tập cuối khóa theo chương  
trình đào tạo với chương trình bắt buộc, thời gian thực tập có thể kéo dài  
từ 6 - 8 tuần, trong thời gian thực tập người học phải tham gia các công  
việc mà đơn vị tiếp nhận thực tập phân công, các phiên hòa giải, phiên  
xét xử… và ghi chép nội dung, cảm nhận, đánh giá cụ thể từng vụ việc  
trong sổ thực hành nghề nghiệp, kết quả của đợt thực tập của người học  
sẽ được đánh giá qua các tiêu chí trong sổ thực hành nghề nghiệp.  
- Hai là, đối với người học đang là sinh viên năm nhất, năm hai,  
năm ba thì đánh giá kết quả thực hành nghề nghiệp thông qua các vụ  
việc mà người học tham gia trong các phiên tòa giả định, phiên tòa xét xử  
lưu động tại các cơ sở đào tạo luật, các hoạt động thực hành nghề nghiệp  
sẽ được ghi chép, đánh giá cụ thể trong các tiêu chí của sổ thực hành  
nghề nghiệp như nội dung vụ việc, đánh giá vụ việc, cảm nhận…  
- Ba là, tổ chức giảng dạy môn học thực hành nghề nghiệp cho  
người học với chương trình bắt buộc, môn học này nhằm rèn luyện cho  
người học các kỹ năng cần thiết để thực hành luật và được tính tín chỉ để  
tích lũy trong khóa học. Ví dụ: kỹ năng lắng nghe chủ động, kỹ năng  
phỏng vấn, kỹ năng soạn bài giảng cho cộng đồng…  
12  
Hình 3. Một buổi học thực hành nghề nghiệp tại  
Trường Đại học Luật - Đại học Huế  
Nguồn: Trung tâm Thực hành Luật và quan hệ doanh nghiệp –  
Trường Đại học Luật  
1.3. MỘT SỐ MÔ HÌNH THỰC HÀNH LUẬT TRÊN THẾ GIỚI  
1.3.1. Mô hình thực hành luật của tổ chức Jussbuss tại Đại học  
Oslo - Na Uy  
Được thành lập từ năm 1971 tại Đại học Oslo - Na Uy, mô hình  
thực hành luật của tổ chức Jussbuss hiện nay đang là mô hình hoạt động  
có hiệu quả trên thế giới, với mục đích là đào tạo kỹ năng thực hành luật  
cho sinh viên và hỗ trợ pháp lý cho cộng đồng, đặc biệt là các đối tượng  
phạm nhân, công nhân, người nhập cư… Các hình thức hỗ trợ pháp lý  
cho cộng đồng của tổ chức JussBuss là tư vấn trực tiếp hoặc gián tiếp cho  
cộng đồng.  
Đối với tư vấn trực tiếp, sinh viên sẽ trực tại văn phòng và thu nhận  
vụ việc trực tiếp từ khách hàng, hoặc sinh viên sẽ đến trại giam, trại tị  
nạn, khu lao động, nơi cư trú để trực tiếp gặp khách hàng, sau đó thu thập  
thông tin, hồ sơ về vụ việc và trao phiếu hẹn cho khách hàng. Hồ sơ và  
các thông tin thu nhận sẽ được các nhóm sinh viên chuyên ngành thảo  
luận, phân tích, đưa ra kết luận dưới sự giám sát của ban quản lý học tập,  
13  
đối với các vụ việc phức tạp, cần sự hỗ trợ thì nhóm sinh viên có thể xin  
lời khuyên trực tiếp từ hội đồng tư vấn.  
Đối với tư vấn gián tiếp, sinh viên sẽ nhận vụ việc của khách hàng  
thông qua điện thoại, e-mail, hộ thư lưu động,… và hẹn thời gian trả lời  
cho khách hàng, các nhóm sinh viên sẽ thảo luận dưới sự giám sát của  
ban quản lý học tập và xin lời khuyên của hội đồng tư vấn trước khi trả  
lời cho khách hàng.  
Sơ đồ 1. Logo và sơ đồ tổ chức của JussBuss  
Nguồn: chia sẻ kinh nghiệm Jussbuss 2013  
Với cơ cấu tổ chức chặt chẽ, thống nhất với khoảng 30 cán bộ quản  
lý, được phân bổ thành các ban, hội đồng với các chức năng quản lý và  
đào tạo cho các nhóm sinh viên thuộc 4 lĩnh vực: nhập cư, gia đình,  
phạm nhân, lao động.  
Hội đồng tư vấn bao gồm các giảng viên là giáo sư có trình độ cao,  
có khả năng nghiên cứu chuyên sâu và kinh nghiệm giải quyết vụ việc  
thực tế, hội đồng sẽ trực tiếp hướng dẫn và đưa ra lời khuyên cho các  
nhóm sinh viên khi tư vấn cho cộng đồng.  
14  
Ban quản lý hành chính bao gồm các cán bộ đảm nhiệm công tác  
hành chính như soạn thảo văn bản hợp tác với các tổ chức, cá nhân, thu  
hút các nguồn lực, quản lý tài chính, thiết lập các mối quan hệ cộng  
đồng, ra văn bản tiếp nhận hoặc kết thúc thời gian thực hành luật của  
sinh viên.  
Ban quản lý học tập có nhiệm vụ tổ chức đào tạo kỹ năng thực hành  
luật cho sinh viên theo chương trình đào tạo và giám sát các công việc của  
sinh viên trong quá trình thực hành luật, đánh giá và nhận xét sinh viên khi  
kết thúc khóa học.  
Giám đốc điều hành có nhiệm vụ triển khai các kế hoạch của tổ  
chức, phân công nhiệm vụ cho các thành viên, đại diện cho tổ chức tham  
gia ký kết hợp tác, điều động sinh viên tham gia thực tập, thực tế.  
Sinh viên tham gia thực tổ chức Jussbuss được tuyển chọn từ các  
sinh viên năm 2 trở lên, có thành tích học tập tốt, các sinh viên này khi  
được tuyển chọn sẽ viết cam kết về thái độ làm việc và sẽ được lựa chọn  
2 hình thức cộng tác: 12 tháng toàn thời gian hoặc 6 tháng bán thời gian,  
khi hết thời gian cộng tác, những sinh viên này sẽ được thay thế bằng thế  
hệ sinh viên khác và được cấp chứng chỉ thực hành luật.  
1.3.2. Mô hình thực hành luật tại Đại học Chiang Mai - Thái Lan  
Văn phòng thực hành luật tại khoa Luật - Đại học Chiang Mai là  
một trong số những cơ sở thực hành luật được thành lập sớm nhất tại các  
quốc gia Đông Nam Á, văn phòng được đặt dưới sự quản lý của khoa  
Luật - Đại học Chiang Mai, mục đích của văn phòng hướng tới trong quá  
trình hỗ trợ pháp lý là các đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã  
hội như: bà mẹ đơn thân dưới 18 tuổi, trẻ em lang thang, người có HIV  
phạm nhân… Các hoạt động chính của văn phòng thực hành luật khoa  
Luật - Đại học Chiang Mai bao gồm hai mảng là giáo dục tuyên truyền  
pháp luật và tư vấn pháp luật miễn phí.  
Đối với hoạt động giáo dục tuyên truyền pháp luật, các đối tượng  
chủ yếu mà văn phòng hướng tới là các đối tượng trẻ, dễ bị xâm hại đến  
quyền và lợi ích, ngoài ra văn phòng còn thường xuyên trang bị kiến thức  
pháp lý thông qua các buổi tuyên truyền cho các đối tượng là học sinh,  
15  
sinh viên. Tùy thuộc vào các lứa tuổi khác nhau, văn phòng sẽ lựa chọn  
các nội dung phù hợp cho các đối tượng và được tuyên truyền định kỳ  
một tháng một lần, ví dụ: Trẻ em dưới 13 tuổi sẽ tuyên truyền pháp luật  
về an toàn giao thông, trẻ từ 13 - 18 tuổi sẽ tuyên truyền pháp luật về  
ma túy.  
Đối với hoạt động tư vấn, văn phòng thực hành luật tại khoa Luật -  
Đại học Chiang Mai có hình thức chính là tư vấn tại chỗ, các hình thức tư  
vấn này được các sinh viên từ năm thứ hai trở lên thực hiện dưới sự giám  
sát của phụ trách văn phòng và các giám sát viên, quy trình cho một buổi  
tư vấn tại chỗ tại khoa Luật đại học Chiang Mai bao gồm tiếp nhận vụ  
việc - phân nhóm xử lý - xử lý - lưu trữ hồ sơ - trả vụ việc.  
GIÁM ĐỐC  
Cộng tác viên:  
- Ban tư vấn (giảng viên).  
- Giám sát viên.  
Nhóm  
Nhóm  
Tuyên  
truyền  
Tư vấn  
Sơ đồ 2. Sơ đồ tổ chức văn phòng thực hàng luật khoa Luật  
- Đại học Chiang Mai  
Nguồn: Chia sẻ mô hình tại Đại học Chiang Mai - Thái Lan 2011  
1.3.3. Mô hình thực hành luật tại Liên Bang Nga  
Được hình thành và phát triển từ năm 2002, hiện nay Liên Bang Nga  
có khoảng trên 60 văn phòng thực hành luật, với các quốc gia khác văn  
phòng thực hành luật chỉ được thành lập trên cơ sở các trường Đại học có  
Khoa Luật, tại Liên Bang Nga các văn phòng thực hành luật được thành lập  
16  
từ những cơ sở khác nhau: cơ sở các trường Đại học, cơ sở các tổ chức phi  
thương mại, cơ sở trực thuộc các cơ quan quyền lực nhà nước, cơ sở trực  
thuộc đoàn luật sư, tổ chức tư vấn pháp lý, công ty luật. Tuy vậy, đa số các  
văn phòng thực hành luật tại Liên Bang Nga được hình thành tại các cơ sở  
đào tạo luật trong các trường Đại học, mục tiêu hướng tới của các văn phòng  
này bao gồm mục tiêu đào tạo và mục điêu cộng đồng, trong đó mục đích  
hướng tới của các văn phòng là đào tạo kỹ năng thực hành luật cho sinh  
viên và tư vấn pháp lý miễn phí cho cộng đồng.  
HIỆU TRƯỞNG  
GIÁM ĐỐC  
VĂN PHÒNG  
HỘI ĐỒNG  
TƯ VẤN  
HỘI ĐỒNG  
GIÁM SÁT  
TRƯỞNG PHÒNG  
THỰC HÀNH  
Nhóm  
chuyên  
ngành  
Nhóm  
Chuyên  
ngành  
Nhóm  
Chuyên  
ngành  
Nhóm  
Chuyên  
ngành  
Sơ đồ 3. Sơ đồ tổ chức văn phòng thực hành luật tại  
Đại học Pháp luật Hàn lâm, viện Hàn lâm Khoa học Nga  
Nguồn: Kinh nghiệm hoạt động thực tiễn văn phòng thực hành luật tại  
nước Nga hiện đại, NXB Hồng Đức, Hội luật gia Việt Nam.  
Giám đốc văn phòng thực hành luật do hiệu trưởng bổ nhiệm và là  
người lên kế hoạch cho các hoạt động của văn phòng, phân công nhiệm  
vụ và giám sát công việc của hội đồng tư vấn, hội đồng giám sát và  
trưởng phòng thực hành, quyết định việc tiếp nhận hay kết thúc khóa  
17  
thực hành của sinh viên văn phòng thực hành, là người được Hiệu trưởng  
ủy quyền, đại diện cho văn phòng kí kết các hợp đồng đào tạo, hợp tác  
với các cá nhân, tổ chức nhằm phục vụ cho các hoạt động thực hành luật.  
Hội đồng tư vấn bao gồm các cộng tác viên là giảng viên, giáo sư,  
luật sư,… được văn phòng ký hợp đồng làm việc nhằm hướng dẫn các  
nhóm sinh viên thực hành luật, đào tạo kỹ năng thực hành luật và cho lời  
khuyên trong các vụ việc sinh viên cần tư vấn, ngoài ra hội đồng tư vấn  
còn có nhiệm vụ soạn thảo các tài liệu, giáo trình phục vụ cho hoạt động  
đào tạo kỹ năng thực hành luật cho sinh viên.  
Hội đồng giám sát do giám đốc văn phòng bổ nhiệm thực hiện chức  
năng giám sát đối với các hoạt động thực hành luật của các nhóm sinh  
viên, kiểm tra đáp án trong các vụ việc tư vấn, ghi chép và đánh giá kết  
quả các hoạt động thực hành luật của sinh viên, hội đồng giám sát bao  
gồm giảng viên hoặc sinh viên có nhiều kinh nghiệm đảm nhiệm.  
Trưởng phòng thực hành do giám đốc văn phòng thực hành luật bổ  
nhiệm, là giảng viên có nhiều kinh nghiệm trong thực hành luật, có  
nhiệm vụ đào tạo kỹ năng thực hành luật cho sinh viên, hướng dẫn cho  
các nhóm sinh viên đi thực tập, thực tế hàng năm, xác định nhiệm vụ  
thực hành cho sinh viên và hỗ trợ sinh viên trong thực hiện nhiệm vụ,  
kiểm tra các tài liệu báo cáo của sinh viên, đánh giá kết quả hoạt động  
thực hành luật của sinh viên.  
Sinh viên văn phòng thực hành luật tại Liên bang Nga được tuyển  
chọn từ những sinh viên năm thứ hai trở lên và phải trải qua một kỳ thi  
sát hạch với các hình thức thi trắc nghiệm, bài tập tình huống. Những  
sinh viên có số điểm đạt yêu cầu sẽ được phân thành các nhóm chuyên  
ngành, trực tiếp thu nhận vụ việc, họp nhóm và xử lý vụ việc dưới sự  
giám sát của các giám sát viên và trưởng phòng thực hành, các sinh viên  
có nhiều kinh nghiệm sẽ được phân công kèm cặp và hỗ trợ các sinh viên  
mới, ngoài ra các sinh viên văn phòng sẽ thường xuyên được đào tạo kỹ  
năng thực hành luật thông qua các buổi học về kỹ năng, các buổi hội  
thảo, tập huấn của văn phòng tổ chức.  
18  
1.4. VAI TRÒ, NHIỆM VỤ CỦA CÁC THÀNH VIÊN VĂN PHÒNG  
THỰC HÀNH LUẬT TRONG CÁC CƠ SỞ ÐÀO TẠO LUẬT TẠI  
VIỆT NAM  
1.4.1. Lãnh đạo văn phòng thực hành luật  
Tùy thuộc vào cơ cấu tổ chức của mỗi đơn vị mà lãnh đạo văn  
phòng thực luật có thể có các tên gọi khác nhau như Giám đốc, Tổ  
trưởng, Trưởng văn phòng,... đây là cơ quan đầu não của văn phòng thực  
hành luật, chịu trách nhiệm tổ chức và quản lý văn phòng, xây dựng kế  
hoạch hoạt động hàng năm cho giảng viên và sinh viên, chịu trách nhiệm  
trực tiếp với lãnh đạo đơn vị về các hoạt động của văn phòng. Trong văn  
phòng thực hành luật tại các trường Đại học hiện nay, lãnh đạo văn  
phòng được tuyển chọn từ những giảng viên có uy tín, có nhiều kinh  
nghiệm trong quản lý và tổ chức thực hành luật cho sinh viên, ngoài ra  
lãnh đạo văn phòng thực hành luật còn là người có các kỹ năng quản lý  
để điều hành văn phòng thực hành luật như: kỹ năng quản lý xung đột, kỹ  
năng quản lý nhóm, kỹ năng xây dựng kế hoạch, thiết lập quan hệ cộng  
đồng… Bên cạnh đó, với kiến thức và năng lực giải quyết các vụ việc  
thực tế, lãnh đạo văn phòng khi cần còn có thể đảm nhiệm nhiệm vụ  
giám sát viên đối với sinh viên và giảng viên trong các hoạt động thực  
hành luật, trực tiếp cho lời khuyên đối với các vụ việc hoặc xét duyệt các  
kết quả trả lời tư vấn cho cộng đồng.  
Tại các cơ sở thực hành luật tại Việt Nam, lãnh đạo văn phòng thực  
hành luật có các vai trò, nhiệm vụ cụ thể sau:  
- Một là, xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện các kế hoạch hoạt  
động của văn phòng thực hành luật, ban hành, sửa đổi quy chế, nội quy  
của văn phòng, triệu tập cuộc họp của giảng viên và sinh viên văn phòng.  
- Hai là, tổ chức tuyển chọn và ra quyết định về việc tiếp nhận sinh  
viên, phân công công việc và giám sát các công việc của giám sát viên,  
cộng tác viên của văn phòng.  
- Ba là, lên kế hoạch phát triển chiến lược cho văn phòng, phê  
duyệt các chương trình thực hành luật, đảm bảo kế hoạch, tổ chức và  
thống kê kết quả thực hành hàng năm, ghi nhận các thông tin phản hồi  
của cựu sinh viên.  
19  
- Bốn là, trực tiếp giảng dạy, huấn luyện kỹ năng cho sinh viên, phê  
duyệt bài giảng cộng đồng cho sinh viên, giám sát, xét duyệt hoạt động  
tư vấn cho cộng đồng.  
- Năm là, đại diện cho văn phòng thực hành luật thiết lập quan hệ  
cộng đồng, hợp tác với các cá nhân, tổ chức nhằm thực hiện các kế  
hoạch, thu hút nguồn lực và quản lý tài chính văn phòng, xây dựng các  
báo cáo hàng năm gửi đối tác và lãnh đạo đơn vị.  
1.4.2. Giám sát viên văn phòng thực hành luật  
Tại các cơ sở thực hành luật, để các kế hoạch được thực hiện đúng  
hướng, đúng mục tiêu thì cần có đội ngũ giám sát viên với các kỹ năng  
giám sát đặc trưng, giám sát viên được bổ nhiệm từ các cộng tác viên của  
văn phòng thực hành luật, có thể là giảng viên hoặc sinh viên có nhiều  
kinh nghiệm.  
Hoạt động giám sát là một trong những hoạt động xuyên suốt của  
văn phòng thực hành luật, nó được thực hiện ở nhiều cấp khác nhau trong  
nhiều khâu khác nhau của hoạt động thực hành luật. Ví dụ: Lãnh đạo văn  
phòng cũng có thể giám sát các hoạt động của giám sát viên, giám sát  
viên có thể giám sát các công việc của sinh viên… Thực tế cho thấy, khi  
thực hiện các hoạt động thực hành luật, mỗi nhóm, mỗi thành viên đều  
được phân công các nhiệm vụ khác nhau, các khâu này khi lắp ghép lại  
phải đảm bảo trở thành một chương trình hoàn chỉnh, vì vậy việc giám  
sát các công việc tại các khâu là vô cùng quan trọng nhằm đảm bảo bám  
sát các mục tiêu mà kế hoạch theo đuổi, hạn chế các sai sót, rủi do có thể  
gặp phải. Các công việc mà một giám sát viên phải thực hiện bao gồm:  
- Một là, giám sát tình hình thực hiện chương trình đào tạo thực  
hành pháp luật văn phòng thực hành luật, kiểm tra sự tham gia của sinh  
viên trong các giờ học lý thuyết và thực hành tại văn phòng, hướng dẫn  
sinh viên tham gia thực tập, thực tế, kiểm tra tài liệu báo cáo của sinh  
viên, nhận xét kết quả thực tập, thực tế của sinh viên.  
- Hai là, phân chia các vụ việc của cộng đồng cho các nhóm sinh  
viên, thực hiện giám sát công việc của sinh viên trong quá trình tư vấn,  
kiểm tra kết quả trả lời cho cộng đồng, tổ chức lấy phản hồi của khách  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 128 trang myanh 39141 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Pháp luật thực hành", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_phap_luat_thuc_hanh.pdf