Đề án mở ngành đào tạo trình độ Đại học - Ngành: Luật - Học viện Nông nghiệp Việt Nam
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐỀ ÁN
MỞ NGÀNH ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC
Ngành: Luật
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 7380101
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Trình độ: Đại học
HÀ NỘI- NĂM 2020
1
PHẦN I: SỰ CẦN THIẾT MỞ NGÀNH LUẬT KINH TẾ TẠI HỌC VIỆN
NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
1.1Giới thiệu sơ lƣợc về Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Học viện Nông nghiệp Việt Nam tiền thân là Trường Đại học Nông Lâm được thành
lập ngày 12/10/1956 theo Nghị định số 53/NĐ-NL của Bộ Nông Lâm, là 1 trong 3 trường
đại học đầu tiên của nước “Việt Nam Dân chủ Cộng hoà” được thành lập sau ngày hoà
bình lập lại ở miền Bắc.
Khi mới thành lập, Trường trực thuộc Bộ Nông Lâm, có 3 khoa với 4 chuyên ngành
đào tạo: Khoa Nông học gồm hai ngành: trồng trọt và cơ khí hóa nông nghiệp; Khoa
Chăn nuôi Thú y có ngành Chăn nuôi - Thú y; Khoa Lâm học có ngành Lâm học. Đội
ngũ CBGD của trường lúc đó có 27 người. Thầy Bùi Huy Đáp được bổ nhiệm làm Giám
đốc Trường cùng 2 thầy Phó Giám đốc là thầy Nguyễn Đăng và thầy Lương Định Của.
Sau 2 năm thành lập, tháng 12/1958, Chính phủ ra Quyết định sáp nhập Viện Khảo
cứu trồng trọt, Viện Khảo cứu chăn nuôi, Phòng Nghiên cứu gỗ, Phòng Nghiên cứu Lâm
sinh với Trường Đại học Nông Lâm thành Học viện Nông Lâm nhằm tập trung sức lực,
trí tuệ của cán bộ và khả năng sử dụng hiệu quả trang thiết bị, đồng thời gắn liền hoạt
động đào tạo với nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất.
Từ năm học 1959-1960, Học viện Nông Lâm được chuyển về cơ sở mới ở xã Trâu
Quỳ, huyện Gia Lâm (tỉnh Bắc Ninh). Ngày 24/12/1960 Học viện đã tổ chức lễ tốt nghiệp
cho sinh viên khóa I và vinh dự được Thủ tướng Phạm Văn Đồng về dự. Đến năm 1963,
trước đòi hỏi mới của đất nước, Học viện Nông Lâm được tách ra thành Trường Đại học
Nông nghiệp và Viện Khoa học Nông nghiệp. Đầu năm 1963, Trường Đại học Nông
nghiệp đã có 5 khoa với 10 chuyên ngành đào tạo. Số lượng sinh viên đã lên tới trên
3000.
Ngày 14/8/1967, Chính phủ ra quyết định đổi tên Trường Đại học Nông nghiệp
thành Trường Đại học Nông nghiệp I, đồng thời với việc san sẻ một phần lực lượng cán
bộ và cơ sở vật chất của Trường để thành lập Trường Đại học Nông nghiệp II (đóng tại
Hà Bắc). Năm 1969, Trường lại một lần nữa san sẻ lực lượng góp phần xây dựng Trường
Đại học Nông nghiệp III (đóng tại Bắc Thái).
Năm 1977, Trường được Chính phủ giao nhiệm vụ đào tạo Phó tiến sĩ, mở đầu cho
việc đào tạo sau đại học của Trường. Đầu năm 1982, Trường Đại học Nông nghiệp I
được mang tên người anh hùng dân tộc Cu Ba Hôxê Mácti như một sự ghi nhận của Nhà
nước ta đối với sự ủng hộ và giúp đỡ chí tình chí nghĩa của Chính phủ và nhân dân Cu Ba
đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam và xây dựng CNXH ở nước ta.
Năm 1984, Trường Đại học Nông nghiệp I chuyển từ Bộ Nông nghiệp và Công
nghiệp thực phẩm sang Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp quản lý.
Ngày 6/9/2004, Trường Đại học Nông nghiệp I được Chính phủ công nhận là một
trong 14 trường trọng điểm Quốc gia.
2
Ngày 24/03/2008 Thủ tướng CP ra QĐ (283/QĐ-TTg) đổi tên Trường Đại học Nông
nghiệp I thành Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
Ngày 28/3/2014, Học viện Nông nghiệp Việt Nam được thành lập trực thuộc Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên cơ sở tổ chức lại Trường Đại học Nông nghiệp
Hà Nội theo Quyết định 441/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Ngày 17/6/2015, Thủ
tướng Chính phủ ký ban hành Quyết định số 873/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án thí
điểm đổi mới cơ chế hoạt động của Học viện Nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2015 –
2017 với mục tiêu chung là Học viện chủ động khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả các
nguồn lực để đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo, phấn đấu trở thành Đại học nghiên
cứu đa ngành, đa lĩnh vực theo các chuẩn mực khu vực và quốc tế; đồng thời bảo đảm
các đối tượng chính sách, đối tượng thuộc hộ nghèo có cơ hội học tập tại Học viện.
Tên trường: HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Tên viết tắt: HVN
Tên tiếng Anh: VIETNAM NATIONAL UNIVERSITY OF AGRICULTURE
Tên viết tắt tiếng Anh: VNUA
Cơ quan Bộ chủ quản: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Địa chỉ: Thị trấn Trâu Quỳ, Huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội
Số điện thoại: 024.62617586
Fax: 024.62617586
Năm thành lập: 1956 (theo Nghị định số 53/NĐ-NL của Bộ Nông Lâm, ngày 12
tháng 10 năm 1956)
Loại hình trường đào tạo: Trường trọng điểm quốc gia
*Tầm nhìn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam trở thành Đại học tự chủ, đa ngành, đa phân hiệu
theo mô hình của đại học nghiên cứu tiên tiến trong khu vực; trung tâm xuất sắc của quốc
gia, khu vực về đổi mới sáng tạo trong đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học, ứng
dụng tri thức và phát triển công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn.
* Sứ mạng
Sứ mạng của Học viện Nông nghiệp Việt Nam là đào tạo và cung cấp nguồn nhân
lực chất lượng cao, nghiên cứu phát triển và chuyển giao khoa học và công nghệ, tri thức
mới trong lĩnh vực nông nghiệp & phát triển nông thôn; đóng góp vào sự phát triển nền
nông nghiệp và hội nhập quốc tế của đất nước.
* Nhiệm vụ
- Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ đại học, đại học, tiến sĩ và các trình độ khác;
- Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;
- Chuyển giao công nghệ và phục vụ xã hội.
3
* Giá trị cốt lõi
- Đoàn kết (Solidarity): “Đoàn kết chặt chẽ, cố gắng không ngừng để tiến bộ mãi”.
- Đạo đức (Morality): trên nền tảng đạo đức tiến bộ và đậm bản sắc văn hoá Việt Nam.
- Đi đầu (Advancement): phấn đấu đi đầu về đào tạo và khoa học công nghệ.
- Đáp ứng (Response): nhằm đáp ứng nhu cầu không ngừng thay đổi của xã hội.
- Đẳng cấp (Transcendence): bằng các sản phẩm có đẳng cấp vượt trội.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam là trường Đại học hàng đầu thuộc khối các trường
nông nghiệp của Việt Nam. Với phương châm lấy người học làm trung tâm của quá trình
đào tạo, luôn đưa ra mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo lên hàng đầu, Học viện là địa
chỉ uy tín đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đạt chuẩn quốc tế. Mỗi năm Học viện
cung cấp cho thị trường lao động, đặc biệt là các doanh nghiệp nông nghiệp, doanh
nghiệp liên doanh với nước ngoài hàng nghìn thạc sĩ, kỹ sư, cử nhân có kiến thức, kỹ
năng đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nông nghiệp –
nông thôn. Học viện đã tiến hành cải thiện chương trình đào tạo theo định hướng nghề
nghiệp, ký kết hợp đồng đào tạo và nghiên cứu khoa học với hàng trăm doanh nghiệp đào
tạo kỹ năng mềm cho sinh viên, nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học, tăng thời lượng
thực hành, thực tập để sinh viên học đi đôi với hành.
1.2. Sự cần thiết mở ngành Luật – chuyên ngành Luật kinh tế đào tạo trình độ đại
học
Học viện Nông nghiệp Việt Nam quyết tâm phát triển ngành Luật – chuyên ngành
Luật kinh tế, đào tạo trình độ đại học xuất phát từ những lý do sau:
Mở ngành Luật là phù hợp với chiến lược phát triển của Học viện Nông nghiệp
Việt Nam. Với bề dày 65 năm, có uy tín về chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao, bên cạnh các nhóm ngành về công nghệ, kỹ thuật nông nghiệp, nhóm ngành
khoa học xã hội như kinh tế, quản trì kinh doanh… cũng đã có bề dày đào tạo từ bậc học
đại học đến các bậc học thạc sĩ, tiến sĩ và đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần quan
trọng vào đào tạo nguồn nhân lực về khoa học xã hội cho đất nước. Sự bổ sung của ngành
Luật sẽ tiếp tục là định hướng quan trọng và cần thiết trong chiến lược phát triển đào tạo
toàn diện của Học viện. Bên cạnh việc đa dạng hóa ngành đào tạo, khi mở ngành Luật,
Học viện sẽ tiếp tục mở rộng quan hệ đào tạo với các tổ chức, cá nhân trong nước và
quốc tế, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao ngành Luật cho các công ty, doanh
nghiệp trong nước cũng như quốc tế, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Việt
Nam.
Trong chiến lược phát triển của Học viện xác định rõ đào tạo trên cơ sở nhu cầu xã
hội do đó ngành Luật ra đời sẽ góp phần quan trọng đáp ứng nhu cầu xã hội đối với đội
ngũ Luật sư và cán bộ pháp chế ngày càng lớn, nhất là đối với nền kinh tế phát triển trong
4
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Sự phát triển kinh tế đòi hỏi ngày
càng tăng cường nhân lực ngành Luật, do đó sự thiếu hụt đội ngũ Luật sư và tư vấn pháp
lý sẽ ảnh hưởng không nhỏ đối với sự phát triển kinh tế.
Ngành Luật được xây dựng và do Khoa Khoa học xã hội phụ trách nhằm khai thác
nguồn lực đội ngũ cán bộ giảng viên về ngành Luật của Học viện. Đây là đội ngũ giảng
viên giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực giảng dạy, đào tạo, trình độ chuyên môn cao, tốt
nghiệp từ các trường đại học danh tiếng trên thế giới và trong nước…Đội ngũ giảng viên
của Khoa phụ trách giảng dạy ngành học về Luật hoàn toàn có đầy đủ khả năng để đào
tạo những cư nhân luật chất lượng cao, đóng góp vào sự phát triển đào tạo của Học viện
nói riêng cũng như sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Là cơ sở đào tạo hàng đầu về lĩnh vực nông nghiệp, chương trình đào tạo ngành
Luật của Học viện được thiết kế theo hướng đào tạo cư nhân Luật một mặt đáp ứng nhu
cầu phát triển chung của xã hội đồng thời coi trọng phục vụ cho sự phát triển nông
nghiệp, nông thôn, lĩnh vực hiện đang được Đảng, Nhà nước và xã hội hết sức quan tâm.
Đây được xem như là một thế mạnh, n t đặc thù của Học viện trong vai trò cung cấp
nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển nông nghiệp, nông thôn, các
công ty, doanh nghiệp đầu tư, khai thác trong lĩnh vực nông nghiệp, địa bàn nông thôn.
Trong quá trình đào tạo, sinh viên học ngành Luật sẽ được đào tạo chuyên môn về ngành
Luật, đồng thời được trang bị những kiến thức cần thiết về nông nghiệp, nông dân, nông
thôn, từ đó có thể vận dụng tốt nhất vào thực tiễn, góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình
phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Với tầm nhìn trở thành trường đại học Việt Nam tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế và
khu vực, chiến lược phát triển của Học viện, lộ trình phát triển của ngành Luật từ chương
trình đào tạo đại học, tiếp đến sẽ phát triển trình độ đào tạo thạc sĩ chất lượng cao, và
hướng tới xây dựng chương trình đào tạo tiến sĩ trong những năm tới đây. Trong bối cảnh
hội nhập toàn cầu của nền kinh tế thế giới, việc xây dựng chương trình đào tạo đại học
ngành Luật là một tiền đề cần thiết để Học viện Nông nghiệp Việt Nam đóng góp cho xã
hội lực lượng cử nhân chất lượng cao, với kiến thức và kỹ năng đáp ứng yêu cầu nền kinh
tế hội nhập.
Nhu cầu của xã hội đối với ngành Luật
Luật là những tiêu chuẩn, quy phạm, quy tắc mà nhà nước ban hành, có tính bắt
buộc, mọi công dân phải chấp hành và tuân theo, nhằm đảm bảo các quyền của công dân,
bảo đảm trật tự xã hội và an ninh quốc gia. Ngành luật do đó có vai trò vô cùng quan
trọng và không thể thiếu đối với sự phát triển của mỗi quốc gia trên thế giới. Trước yêu
cầu phát triển của nền kinh tế thị trường, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội
nhập quốc tế, Việt Nam có thể phải đối mặt với một sự thiếu hụt lớn về số lượng cán bộ
pháp luật, cũng như chất lượng cán bộ. Để vượt qua thách thức không nhỏ này, tích cực
triển khai đào tạo đội ngũ cán bộ pháp luật với chất lượng cao là hết sức bức thiết.
5
Nhu cầu về cán bộ pháp luật của Việt Nam là rất lớn. Chỉ tính riêng các chức
danh tư pháp, đến năm 2020, cần phát triển hệ thống cơ sở đào tạo luật để có đủ sức đào
tạo ước tính 13.000 luật sư, 2.300 thẩm phán, 2.000 công chứng viên, 3.000 chấp hành
viên, 300 thẩm tra viên thi hành án dân sự và thừa phát lại... (hiện cả nước có khoảng
6.000 luật sư, 5.000 thẩm phán, 4.000 điều tra viên, 400 công chứng viên). Nhu cầu cán
bộ pháp luật ở các bộ, ngành cũng rất lớn... Trong khi đó, năng lực đào tạo pháp luật hiện
có còn nhiều hạn chế.
Pháp luật là một công cụ bảo hộ ưu việt, góp phần duy trì sự ổn định an toàn đồng
thời là cơ sở cần thiết đối với kỳ vọng về hiệu quả trong hoạt động kinh doanh. Trang bị
kiến thức về luật pháp có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi cơ sở
doanh nghiệp, cũng như mỗi cơ quan, tổ chức. Khi quan hệ dân sự giữa con người và con
người được mở rộng tối đa và ngày càng phức tạp, cũng như sự đan xen, chồng ch o
trong các mối quan hệ thì vai trò của Luật sư, cán bộ pháp chế là đặc biệt quan trọng đối
với giải quyết các mối quan hệ trên đây. Đối với các cơ quan Nhà nước, trên cơ sở nhận
thức đầy đủ quy định Hiến pháp và pháp luật, đội ngũ cán bộ, viên chức có kỹ năng thực
thi nhiệm vụ, giải quyết các tình huống trong nội bộ, cũng như giữa các cơ quan, đơn vị
với đối tác chuẩn mực, hiệu quả.
Theo khảo sát của Trường Đại học Luật - Đại học Huế, các ngành Tư pháp như
Viện kiểm sát, Tòa án…, tuyển dụng cán bộ chủ yếu là từ cử nhân luật. Các cơ quan nhà
nước đang trong quá trình tích cực nghiên cứu pháp chế, áp dụng luật một cách đồng bộ
trong công tác quản lý điều hành. Theo khảo sát của Trường Đại học Kinh tế - Tài chính
Thành phố Hồ Chí Minh (UEF), nguyện vọng của phần lớn học sinh phổ thông trung học
là được học các ngành học theo xu hướng phát triển của nền kinh tế đất nước thiên về
lĩnh vực kinh tế, tài chính, ngành Luật,...trong đó ngành Luật được đặc biệt quan tâm, lựa
chọn (tỷ lệ chiếm 75,6 ) so với các ngành học khác.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam là một trong 16 trường đại học trọng điểm quốc
gia và Khoa Khoa học xã hội là một trong những khoa có bề dày phát triển của Học Viện.
Ngành Luật là một ngành không thể thiếu trong nền kinh tế, đặc biệt khi đất nước càng
phát triển thì yêu cầu về nhân lực ngành Luật càng trở nên lớn hơn.
Đội ngũ cán bộ giảng dạy của Khoa Khoa học xã hội đủ năng lực chuyên môn,
được đào tạo từ các nước phát triển như Mỹ, Hà Lan, Bỉ, Thái Lan, Nhật … và Trường
đại học Luật Hà Nội có thể đảm bảo chất lượng đào tạo trình độ Đại học ngành Luật
(chuyên ngành Luật kinh tế). Đào tạo Đại học Luật (chuyên ngành Luật kinh tế) tại Học
viện sẽ tập hợp được lực lượng để phát triển chuyên môn và phát huy được năng lực đào
tạo của đội ngũ cán bộ giảng dạy này.
Chính phủ đã có Quyết định số 873/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày
17/06/2015 về việc phê duyệt Đề án thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động của Học viện
6
Nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2015-2017, theo đó cho ph p Học viện Nông nghiệp
Việt Nam cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm. Đây là cơ sở pháp lý vững chắc để Học
viện tiếp tục thực hiện chiến lược phát triển, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội
trong lĩnh vực Luật.
1.3. Sự khác biệt của ngành Luật – chuyên ngành Luật kinh tế tại Học viện Nông
nghiệp Việt Nam với các chuyên ngành luật khác
Khác biệt về nội dung chương trình đào tạo
- Thứ nhất, cung cấp kiến thức chuyên sâu hơn về pháp luật kinh tế, đặc biệt là kinh tế
nông nghiệp. Trong chương trình giảng dạy ngành của Học viện có các môn học chuyên
sâu về: pháp luật đầu tư, pháp luật về đầu tư công, luật đầu tư quốc tế, pháp luật về đấu
thầu...
- Thứ hai, chương trình đào tạo thiết kế đảm bảo đủ kiến thức nền tảng về luật đồng thời
chọn lọc, bổ sung một số kiến thức cơ bản về kinh tế. Thực tiễn cho thấy những người
được đào tạo chuyên ngành luật kinh tế làm việc trong lĩnh vực kinh tế sẽ làm việc hiệu
quả hơn. Một số kiến thức cơ bản về kinh tế sẽ đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường
lao động, như Kinh tế vi mô, Kinh tế vĩ mô; Lý thuyết tài chính tiền tệ; Kinh tế đầu tư;
Thương mại điện tử; Thị trường chứng khoán…
- Thứ ba, trang bị nội dung về luật đồng thời với nội dung về chính sách trong chương
trình học. Điều này giúp sinh viên chuyên ngành Luật Kinh tế có cách nhìn toàn diện
thực tiễn pháp lý đang diễn ra.
Khác biệt về hình thức tổ chức trong đào tạo
Chương trình đào tạo chuyên ngành Luật Kinh tế tại Học viện sẽ giải quyết các
hạn chế trong cách thức triển khai đào tạo theo hướng bổ sung kiến thức thực tiễn đồng
thời tăng cường rèn luyện các kỹ năng thực hành thông qua các biện pháp:
- Tổ chức các hoạt động trải nghiệm thực tiễn cho sinh viên trong các môn học như
hướng dẫn kỹ năng làm việc như kỹ năng đàm phán và soạn thảo hợp đồng, liên kết với
các doanh nghiệp, cơ quan; tổ chức các hoạt động trải nghiệm thực tiễn và thực hành cho
sinh viên như tham quan các cơ quan trong bộ máy nhà nước, các doanh nghiệp, tổ chức
các cuộc thi tìm hiểu pháp luật...
- Tổ chức trao đổi với chuyên gia, cán bộ quản lý, chủ doanh nghiệp. Việc tiếp xúc, trao
đổi với các chuyên gia, cán bộ quản lý trực tiếp soạn thảo, thực thi các văn bản quy phạm
pháp luật trong lĩnh vực kinh tế giúp sinh viên có nhiều kiến thức thực tiễn và kỹ năng
làm việc sau khi tốt nghiệp.
- Rèn luyện năng lực diễn thuyết, lập luận và trình bày văn bản. Môn Phương pháp
nghiên cứu khoa học trang bị kỹ năng nghiên cứu cho sinh viên được chú trọng. Hình
thức tổ chức sinh viên thuyết trình sẽ góp phần rèn luyện kỹ năng trình bày vấn đề và
năng lực tư duy logic, xử lý tình huống.
7
1.4 Kết quả khảo sát, phân tích, đánh giá nhu cầu về nguồn nhân lực trình độ đại
học
Theo kết quả báo cáo điều tra công giới về nhu cầu thị trường lao động và việc
làm liên quan đến nguồn nhân lực đại học chuyên ngành luật kinh tế là rất lớn. Năm
2019, ngành Luật nằm trong TOP 8 ngành có số lượng thí sinh đăng ký x t tuyển cao
nhất cả nước, với hơn 69.000 thí sinh đăng ký nguyện vọng x t tuyển, trong khi đó, tổng
chỉ tiêu của các trường có ngành Luật là khoảng 12.000 sinh viên. Như vậy, nhu cầu học
so với chỉ tiêu là 5.65 lần (565 ) - Cầu học vượt cung chỉ tiêu. Hơn nữa, nhu cầu học
bằng 2, học hình thức VLVH của cán bộ địa phương và cơ sở là rất lớn. Chính vì vậy,
Khoa Khoa học xã hội xác định việc xây dựng chương trình đào tạo ngành Luật – chuyên
ngành Luật Kinh tế là cần thiết nhằm đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng về trình
độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp.
Để đảm bảo tính khách quan trong việc xây dựng chương trình đào tạo, Khoa
Khoa học xã hội tiến hành khảo sát nhu cầu của các đơn vị sử dụng lao động đối với lao
động trình độ đại học ngành Luật – chuyên ngành Luật Kinh tế. Kết quả điều tra từ 36 cơ
quan nhà nước, các doanh nghiệp, viện nghiên cứu...tại các tỉnh miền Bắc như sau:
i. Nhu cầu đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực có hiểu biết về luật Kinh tế bậc đại
học của các cơ quan nhà nước, viện nghiện cứu , trường đại học, doanh nghiệp,
văn phòng luật sư là rất lớn, vị trí công tác cũng rất đa dạng.
ii. Các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và năng lực tự chủ của ngành Luật - chuyên
ngành Luật Kinh tế sơ bộ được xác định, đây cũng là căn cứ quan trọng cho
việc thiết kế chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động.
1.5. Giới thiệu về Khoa Khoa học xã hội
Khoa Khoa học xã hội, tiền thân là Bộ môn Mác- Lênin trực thuộc Trường Đại
học Nông Lâm được thành lập vào ngày 12 tháng 10 năm 1956 theo Nghị định số 53NL-
CP-NĐ của Bộ Nông Lâm.
Tầm nhìn của Khoa Khoa học xã hội
Khoa Khoa học xã hội phấn đấu trở thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa
học chính trị và xã hội với chất lượng hàng đầu của Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Phấn đấu trở thành nhóm đầu các trường đại học có đào tạo ngành khoa học xã hội ở Việt
Nam.
Sứ mạng của Khoa khoa học xã hội
Khoa Khoa học xã hội có sứ mạng đào tạo nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức,
pháp luật cho người học; cung cấp nguồn nhân lực ngành xã hội học và các ngành khoa
học xã hội chất lượng cao; nghiên cứu phát triển các dịch vụ khoa học trong lĩnh vực
Nông nghiệp & PTNT nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và
hội nhập quốc tế.
8
Triết lý giáo dục của Khoa Khoa học xã hội
Khoa Khoa học xã hội, Học viện Nông nghiệp Việt Nam không ngừng phấn đấu
đóng góp vào sự phát triển chung của Học viện và của ngành chăn nuôi với các triết lý
giáo dục: Sáng tạo (Creation) và Chuyên nghiệp (Professional)
Đội ngũ cán bộ
Khoa Khoa học xã hội hiện có 36 cán bộ giảng dạy (01 phó giáo sư; 5 tiến sĩ; 29
thạc sĩ; 01 cử nhân). Hầu hết các cán bộ của Khoa đều tốt nghiệp từ các trường đại học uy
tín trong và ngoài nước. Đặc biệt, Bộ môn Pháp luật có 8 cán bộ giảng dạy (01 tiến sĩ, 01
NCS đào tạo tại Nhật Bản, 06 thạc sĩ trong đó có 01 Thạc sĩ được đào tạo tại Mỹ). Đây là
một nguồn lực rất quan trọng trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
Nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế
Trong những năm qua, Khoa được đánh giá là một trong những đơn vị mạnh về
hoạt động khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế, có nhiều đóng góp quan trọng cho
khoa học, đào tạo và sản xuất. Thành tích nghiên cứu khoa học được thể hiện bằng số
lượng các đề tài nghiên cứu cấp nhà nước, cấp bộ, địa phương và các đề tài hợp tác song
phương, đề tài do các Tổ chức quốc tế tài trợ. Tính từ khi thành lập đến nay, Khoa đã
thực hiện thành công hơn 150 đề tài, dự án nghiên cứu các cấp.. Từ năm 2013 trở lại đây,
cán bộ của Khoa đã có số lượng công bố khoa học khá lớn: 100 bài báo đăng trên các tạp
chí trong nước và bài báo đăng trên tạp chí Quốc tế. Ngày càng nhiều bài báo được đăng
trên trên các tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín trong và ngoài nước có chất lượng
được giới chuyên môn đánh giá cao. Ngoài ra, cán bộ trong khoa còn tham gia nhiều hội
thảo cấp quốc gia và quốc tế.
Trong năm 2018, thực hiện đề án Nhóm nghiên cứu mạnh của Học viện, Khoa đã
có nhiều công trình khoa học như 50 seminar của các cán bộ và các chuyên gia đầu
ngành, 73 bài đăng trên các kỷ yếu Hội thảo trong và ngoài nước , 21 đề xuất khoa học
các cấp, tổ chức 4 hội thảo trong đó có 1 hội thảo cấp quốc tế, 17 bài báo được đăng trên
tạp chí trong nước có chỉ số, 6 bài báo được đăng trên các tạp chí quốc tế trong đó có 2
bài được đăng trên tạp chí có chỉ số.
Thực hiện các nhiệm vụ của nhóm Nghiên cứu mạnh là môi trường để các giảng
viên nâng cao năng lực chuyên môn, cập nhập các tri thức mới để phục vụ cho việc giảng
dạy và nghiên cứu tốt hơn.
Ngoài ra có giảng viên đã tham gia biên soạn các Giáo trình, bài giảng với các
giảng viên thuộc đơn vị khác của Học viện như Giáo trình Sở hữu trí tuệ trong Công nghệ
sinh học… tạo nguồn xuất bản cho thời gian kế tiếp.
Trong những năm gần đây Khoa được sự hỗ trợ của HV và Ban HTQT trong việc
tìm kiếm học bổng, giới thiệu chuyên gia seminar và các hoạt động khác. Năm 2018, kết
hợp với đại học Gembloux, tổ chức Agro-BioTech, Rikolto Việt Nam, Khoa đã đấu thầu
9
và nghiệm thu thành công dự án “Capacity building for youth and gender mainstreaming
in agricultural value chain research and development projects”
1.6. Luận cứ khoa học mở ngành đào tạo đại học ngành Luật (chuyên ngành Luật
Kinh tế)
1.6.1. Căn cứ nhu cầu xã hội về nguồn nhân lực dự kiến đào tạo
Theo tinh thần Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế,
Việt Nam tiếp tục chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, trong đó hội nhập kinh tế quốc
tế giữ vai trò trọng tâm. Khi nền kinh tế nước ta hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế
giới, các doanh nghiệp trong nước sẽ đứng trước nhiều cơ hội và thách thức mới, lúc này
đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Trong đó, việc
nắm rõ “bộ khung” pháp luật là một trong những yếu tố quan trọng tạo ra lợi thế cạnh
tranh lành mạnh. Muốn làm được điều đó, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có đội ngũ
chuyên gia pháp lý, luật sư chuyên ngành về Luật kinh tế để tư vấn đường lối chính sách
cho doanh nghiệp. Giúp cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra
thuận lợi.
Như vậy, sinh viên theo học ngành Luật kinh tế, ngoài cơ hội làm việc trong các cơ quan
pháp luật của nhà nước, cơ hội trở thành các chuyên gia pháp lý cho các công ty, tập đoàn
trong nước và doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam là rất lớn.
Theo báo cáo của Trung tâm dự báo nguồn nhân lực, trong Theo báo cáo của
Trung tâm dự báo nguồn nhân lực, trong năm 2020, đất nước cần khoảng 13.000 luật sư,
2.300 thẩm phán, 2.000 công chứng viên, 3.000 chấp hành viên, 300 thẩm tra viên thi
hành án dân sự và thừa phát lại… Đó là chưa kể nhu cầu cán bộ pháp luật ở các Bộ,
ngành, địa phương. Tuy nhiên trên thực tế, hiện nay mỗi năm, nước ta chỉ đào tạo ra
khoảng 3.500 – 4.000 cử nhân luật.
1.6.2. Tình hình đào tạo đại học ngành Luật (chuyên ngành Luật Kinh tế)
1.6.2. 1 Các chương trình đào tạo tham khảo từ nước ngoài
Bảng 2. Danh mục cơ sở đào tạo nước ngoài
đang đào tạo ngành Luật Kinh doanh
Cơ sở
Tên ngành
đào tạo
Bậc đào
tạo
Danh hiệu tốt
nghiệp
TT
Địa chỉ website
đào tạo
ZHAW
Zurich
Universi
ty of
h/en/sml/study/bach
elor/business-
Luật Kinh
Đạihọc
Cử nhân
1
doanh
law/#c24604
Applied
10
Science
s
Nguồn: Tổng hợp từ chương trình đào tạo các trường
Các chương trình đào tạo tham khảo từ nước ngoài:
Ngành luật tại các quốc gia tiên tiến trên thế giới luôn là ngành học thu hút được
nhiều sinh viên theo học mỗi năm. Do đó, để xây dựng thành công chương trình đại học
ngành Luật – chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Lý luận chính trị và xã hội đã tham khảo
chương trình tương ứng của Đại học ZHAW Zurich University of Applied Sciences
(Thụy Sĩ).
Chương trình đào tạo được lựa chọn đối sánh với chương trình đào tạo chuyên
ngành Luật kinh tế là chương trình Luật Kinh doanh của trường ZHAW Zurich
University of Applied Sciences (Thụy Sĩ). (Lưu ý: trên thế giới không trường nào có
chương trình đào tạo có tên “Luật Kinh tế” mà chỉ có các chương trình đào tạo tương
đương như “Luật kinh doanh” (Business Law) hoặc “Luật Thương mại” (Commercial
Law).
- Điểm giống nhau trong chương trình đào tạo với chương trình đối sánh: Về cơ bản
chương trình đào tạo ngành Luật – chuyên ngành Luật Kinh tế và chương trình đào tạo
Luật Kinh doanh của trường ZHAW Zurich University of Applied Sciences có sự tương
đồng rất lớn
+ Cả hai chương trình đào tạo đều chia làm hai nội dung đào tạo chính về pháp luật
và kinh tế, trong đó các môn học về pháp luật chiếm ưu thế. Các môn học về pháp luật
đều bao gồm các môn học cơ sở ngành và các môn học chuyên ngành. Các môn cơ sở
ngành đều đề cập đến lý luận chung về nhà nước, pháp luật, đại cương về luật hành
chính, dân sự, hình sự, v.v.. Các môn học chuyên ngành tập trung vào các lĩnh vực đặc
thù về kinh tế như Luật Cạnh tranh, Luật Thương mại, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Lao
động, v.v..
+ Hệ thống các môn học đều chia thành các môn học tự chọn và bắt buộc, trong đó
các môn học tự chọn tương đối phong phú, đều phân bổ ở lĩnh vực pháp luật và kinh tế.
- Điểm khác nhau trong CTĐT ngành Luật – chuyên ngành Luật Kinh tế và chương
trình đối sánh: các CTĐT đối sánh:
+ Hệ thống tín chỉ có sự khác biệt do chương trình đối sánh sử dụng hệ thống tín
chỉ ECTS Châu Âu.
+ Chương trình đào tạo của trường ZHAW Zurich có các môn học kỹ năng độc lập
(ví dụ nghiên cứu tình huống, kỹ năng tranh luận và đàm phán, kỹ thuật pháp lý, kỹ năng
11
hùng biện và thuyết trình). Trong khi đó, chương trình đào tạo ngành Luật – chuyên
ngành Luật Kinh tế của Học viện lồng gh p các kỹ năng này trong chương trình thực tập.
1.6.2.2 Tình hình đào tạo đại học ngành Luật (chuyên ngành Luật Kinh tế) ở Việt
Nam
Cả nước có khoảng trên 50 trường đại học có đào tạo ngành Luật, trong đó có
trên 30 trường đào tạo ngành luật kinh tế, cụ thể:
Tên trường
Chuyên ngành
Luật kinh tế
Luật học
Luật thương mại quốc tế
Đại học Nội Vụ Hà Nội
Đại học Công Đoàn
Đại học Văn Hóa Hà Nội
Đại học Mở Hà Nội
Luật học
Luật học
Luật học
Luật kinh tế
Luật học
Luật quốc tế
Đại học Kiểm Sát Hà Nội
Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Luật học
Luật học
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Luật kinh doanh
Luật học
Học viện Phụ nữ Việt Nam
Học viện Ngoại giao
Đại học Lao động xã hội
Đại học Công nghệ và Quản lý hữu nghị
Học viện Ngân hàng
Đại học Đại Nam
Đại học Hòa Bình
Đại học Đông Đô
Đại học Thành Tây
Luật học
Luật quốc tế
Luật kinh tế
Luật kinh tế
Luật kinh tế
Luật kinh tế
Luật kinh tế
Luật kinh tế
Luật kinh tế
Luật kinh tế
Đại học Kinh doanhvà Công nghệ Hà Nội
Đại học Trưng Vương
Luật kinh tế
Đại học Kinh tế TP.HCM
Luật kinh doanh
Đại học Kinh tế – Luật
(Đại học Quốc gia TP.HCM)
Luật kinh doanh
Luật thương mại quốc tế
Luật dân sự
Luật tài chính
Đại học Sài Gòn
Luật thương mại
Luật dân sự
Luật hình sự
Luật hành chính
Luật quốc tế
Quản trị luật
Luật hành chính
Luật thương mại
12
Luật kinh doanh
Luật học
Luật kinh tế
Luật học
Đại học Tôn Đức Thắng
Đại học Ngoại ngữ Tin học
Đại học Mở TP.HCM
Đại học Công nghiệp TP.HCM
Luật kinh tế
Luật quốc tế
Đại học Kinh tế Tài chính TP.HCM
Luật kinh tế
Luật quốc tế
Luật học
Đại học Kinh Bắc
Đại học Ngân Hàng TP. HCM
Đại học Công nghệ
Luật kinh tế
Luật kinh tế
Luật kinh doanh
Luật thương mại quốc tế
Luật tài chính ngân hàng
Đại học Văn Lang
Luật kinh tế
Luật kinh tế
Luật kinh tế
Luật kinh tế
Luật kinh tế
Luật hành chính
Luật thương mại
Luật tư pháp
Đại học Nguyễn Tất Thành
Đại học Lao động Xã hội
Đại học Quốc tế Hồng Bàng
Đại học Chu Văn An
Đại học Cần Thơ
Đại học Hàng hải Việt Nam
Đại học Luật – Đại học Huế
Luật hàng hải
Luật dân sự
Luật hình sự
Luật kinh tế
Luật quốc tế
Luật hành chính
Đại học Duy Tân
Đại học Trà Vinh
Luật kinh tế
Luật học
Đại học Thái Bình Dương
Luật học
Luật kinh tế
Luật dân sự
Đại học Văn hóa Thể thaoDu lịch Thanh Hóa
Đại học Hà Tĩnh
Luật học
Luật học
Đại học Khoa học
Luật học
(Đại học Thái Nguyên)
Luật kinh tế
Luật kinh doanh quốc tế
Đại học Nam Cần Thơ
Đại học Vinh
Luật kinh tế
Luật học
Luật kinh tế
Đại học Thủ Dầu Một
Đại học Quy Nhơn
Luật học
Luật học
Đại học Kinh tế Đà Nẵng
Luật học
Luật học
Luật kinh tế
Luật kinh doanh
Đại học Thái Bình
Luật học
13
Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An
Đại học Cửu Long
Đại học Tài chính Kế toán
Đại học Thành Đông
Đại học Đông Á
Luật kinh tế
Luật kinh tế
Luật kinh tế
Luật kinh tế
Luật kinh tế
Luật kinh tế
Luật kinh tế
Đại học Phan Thiết
Đại học Tây Đô
Nguồn: Tổng hợp từ ngành đào tạo các trường Đại học tại Việt Nam
Số lượng trường Đại học có đào tạo ngành Luật và chuyên ngành luật kinh tế trên
phạm vi cả nước là tương đối lớn, điều này tạo cơ sở cho các trường đại học mở ngành
luật muộn hơn sẽ có nhiều kinh nghiệm đối sánh để xây dựng được chương trình đào tạo
hiện đại và thực sự phù hợp với nhu cầu của xã hội.
14
PHẦN 2: NĂNG LỰC CỦA CƠ SỞ ĐÀO TẠO
2.1. Khái quát chung về quá trình đào tạocủa Khoa Khoa học xã hội, Học viện Nông
nghiệp Việt Nam
Từ khi bắt đầu tuyển sinh, Khoa Khoa học xã hội đã đào tạo được khoảng 1000 cử
nhân ngành Xã hội học với 10 khóa sinh viên tốt nghiệp.
Quy mô tuyển sinh hằng năm: 100 sinh viên/năm.
2.2. Đội ngũ giảng viên, cán bộ cơ hữu, kỹ thuật viên và cán bộ hỗ trợ
Đội ngũ cán bộ tham gia giảng dạy chương trình đại học ngành Luật (chuyên
ngành Luật Kinh tế) của Khoa Khoa học xã hội gồm: 10 cán bộ (phụ lục IV), trong đó có:
01 tiến sĩ và 09 thạc sĩ trong đó 01 Thạc sĩ đang làm nghiên cứu sinh ở Nhật Bản (Bảng 3
– Danh sách giảng viên cơ hữu mở ngành Luật - chuyên ngành Luật Kinh tế trình độ đại
học).
Bảng 3. Danh sách cán bộ cơ hữu mở ngành Luật - chuyên ngành Luật Kinh tế
Chức danh khoa học,
Họ và tên, n m sinh, chức vụ
Ngành đƣợc
đào tạo
N m, nơi tham gia
TT
n m phong; Học vị,
nƣớc, n m tốt nghiệp
hiện tại
giảng dạy
1 Vũ Văn Tuấn,1973, Trưởng BM Tiến sĩ, 2019, Việt Nam
Luật Kinh tế 1997, Học viện Nông
nghiệp Việt Nam
Pháp luật, Phó Ban TCT&CTSV Thạc sĩ, 2003, Việt Nam
2 Nguyễn Thị Ngân, 1974,
Thạc sĩ, 2002, Việt Nam Luật Kinh tế 1996, Học viện Nông
nghiệp Việt Nam
Phó Bộ môn Pháp luật
3 Trịnh Thị Ngọc Anh,1972,
Thạc sĩ, 2007, Việt Nam Luật Kinh tế 1998, Học viện Nông
nghiệp Việt Nam
Giảng viên
4 Lê Thị Yến, 1982, giảng viên
Thạc sĩ, 2011, Việt Nam Luật Kinh tế 2004, Học viện Nông
nghiệp Việt Nam
5 Đỗ Thị Kim Hương, 1984, Bí thư Thạc sĩ, 2011, Việt Nam Luật Kinh tế 2006, Học viện Nông
Đoàn Thanh niên Học viện,
nghiệp Việt Nam
6 Nguyễn Thị Minh Hạnh,1981,
Tiến sĩ, 2020, Nhật Bản
Thạc sĩ, 2015,Việt Nam
Luật học
2006, Học viện Nông
nghiệp Việt Nam
Giảng viên
7 Tô Thái Hà, 1988, Bí thư LCĐ
Luật Kinh tế 2014, Học viện Nông
nghiệp Việt Nam
Khoa LLCT&XH
8 Phạm Vân Anh,1991, Giảng viên Thạc sĩ, 2018, Mỹ
Luật Kinh tế 2014, Học viện Nông
nghiệp Việt Nam
9 Nguyễn Đắc Dũng,1976, Phó Bộ Tiến sĩ, 2018, Việt Nam
Khoa học
chính trị
1999, Học viện Nông
nghiệp Việt Nam
môn Tư tưởng HCM
10 Hà Thị Hồng Yến, 1984,
Thạc sĩ, 2011, Việt Nam Lịch sử Đảng 2007, Học viện Nông
nghiệp Việt Nam
Giảng viên
- Cán bộ hỗ trợ: gồm có 03 người (02 thạc sĩ và 01 cử nhân). Các cán bộ hỗ trợ của
Khoa có kinh nghiệm tham gia công tác hỗ trợ, phục vụ đào tạo.
15
Bảng 4. Danh sách cán bộ hỗ trợ đào tạo
Chuyên
ngành đƣợc
đào tạo
Chức danh khoa học,
n m phong; Học vị,
nƣớc, n m tốt nghiệp
Họ và tên, n m sinh, chức vụ hiện
TT
tại
Nguyễn Minh Trang, 1991, Chuyên
1
2
3
Cử nhân, 2014, Việt nam
Thạc sĩ, 2017,Việt Nam
Thạc sĩ, 2013, Việt Nam
Tin học
viên
Trần Linh Chi, 1993, Chuyên viên
Phan Thu Hương, 1989, Chuyên
viên
Xã hội học
Công nghệ
thực phẩm
2.3. Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo
Học viện Nông nghiệp Việt Nam và Khoa Khoa học xã hội có cơ sở vật chất đảm
bảo cho đào tạo ngành Luật (chuyên ngành Luật Kinh tế). Đề án lấy cơ sở vật chất chung
của Học viện và của khoa để tổ chức đào tạo.
Lớp học lý thuyết và các phương tiện nghe nhìn trong phòng: Hệ thống giảng
đường và phương tiện hỗ trợ cho đào tạo sau đại học tại Học viện đang sử dụng.
Máy tính và thiết bị hỗ trợ cho giảng viên và trợ giảng: Hiện tại mỗi bộ môn có 1-
2 máy tính nối mạng internet. Các thiết bị hỗ trợ như máy in, máy fax, máy scan, điện
thoại, máy chiếu dự phòng, các phương tiện nghe nhìn được trang bị để hỗ trợ học tập và
giảng dạy tại phòng Hội trường của Khoa.
Hệ thống thư viện và phòng đọc: Sinh viên có thể sử dụng ở hai cơ sở: thư viện
Lương Định Của và phòng đọc của khoa.
2.3.1 h ng học, giảng đư ng, trang thiết b hỗ trợ giảng dạy
Loại phòng
học
Danh mục trang thiết bị chính
hỗ trợ giảng dạy
(Phòng học,
giảng đường,
Số phòng học đa
TT phương tiện,
phòng học
Diệ
Đúng/
Không
đúng
với hồ
sơ
Số
n
Phục vụ
Lượn tích
Số
Diện
tích
Ghi
học
g
(m2
)
Tên thiết bị
lượn
chú
phần/mô
n học
g
(m2)
ngoại
ngữ,phòng
máy tính…)
Máy chiếu đa
năng
Giảng đường
1
150
0
22
12
Máy tính để bàn
Thiết bị âm
thanh
22
22
22
10
Các
Nguyễn Đăng
môn học
lý thuyết
Các
2
Giảng đường
600 Máy chiếu đa
16
khu A
năng
Máy tính để bàn
Thiết bị âm
thanh
10
10
môn học
lý thuyết
Máy chiếu đa
năng
Giảng đường
3
4
5
6
7
18
12
18
6
900 Máy tính để bàn
Thiết bị âm
thanh
18
18
18
Các
khu B
môn học
lý thuyết
Máy chiếu đa
năng
Giảng đường
600 Máy tính để bàn
Thiết bị âm
thanh
12
12
6
Các
khu C
môn học
lý thuyết
Máy chiếu đa
năng
Giảng đường
600 Máy tính để bàn
Thiết bị âm
thanh
12
12
6
Các
khu E
môn học
lý thuyết
Máy chiếu đa
năng
Giảng đường T
420 Máy tính để bàn
Thiết bị âm
thanh
6
6
6
Các
môn học
lý thuyết
Máy chiếu đa
năng
Giảng đường
khoa Cơ Điện
10
700 Máy tính để bàn
Thiết bị âm
thanh
6
6
Các
môn học
lý thuyết
10
17
2.3. 2. h ng th nghiệm, cơ sở thực hành và trang thiết b phục vụ th nghiệm, thực
hành:
Danh mục trang thiết bị chính
Loại phòng
hỗ trợ giảng dạy
học
(Phòng học,
Đúng/
giảng đường,
Số phòng học đa
TT phương tiện,
phòng học
Số
Lượn
g
Diện
tích
Không
đúng
với hồ
sơ
Phục vụ
học
Diện
tích
Ghi
Số
(m2)
Tên thiết bị
chú
lượng phần/mô
n học
(m2)
ngoại
ngữ,phòng
máy tính…)
1
Phòng hội thảo
01
100
Bàn hội
thảo
50
khoa
- Ghế ngồi
- Bảng
100
03
phooc
- Máy chiếu
01
01
- Loa míc
2.3.3. Thư viện
* Thư viện Lương Định Của
- Tổng diện tích thư viện: 2000m2 ;Diện tích phòng đọc: 1000m2
- Số chỗ ngồi: 450; Số lượng máy tính phục vụ tra cứu: 10
- Phần mềm quản lý thư viện: Libol50-O.P.A.C
- Thư viện điện tử: Số lượng sách, giáo trình điện tử: 5000
* Thư viện Khoa
- Diện tích phòng: 25 m2
- Số chỗ ngồi: 15
2.4. Hoạt động nghiên cứu khoa học
Với bộ môn Pháp luật, Khoa Khoa học xã hội, luôn thực hiện các nghiên cứu
khoa học có tính ứng dụng, nghiên cứu ứng dụng lý luận vào giải quyết các vấn đề cấp
thiết trong thực tiễn, đặc biệt là các vấn đề nằm trong lĩnh vực chuyên môn như tham vấn
chính sách về đất đai, môi trường, kinh tế, sở hữu trí tuệ gắn với nông nghiệp, nông thôn
và nông dân.
18
2.4.1 Các công trình nghiên cứu tiêu biểu của bộ môn háp luật
Năm 2015: Trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại về môi trường theo Pháp luật
-
Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ Nhật Bản. Tạp chí Dân chủ - Pháp luật số 3(276) -
Trang 50-54.
-
Năm 2016: Chính sách, pháp luật đối với nông nghiệp, nông thôn trong lĩnh vực
thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện. Đề tài cấp bộ 2016
-
Năm 2017: Bảo hộ chỉ dẫn địa lý với việc đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ của người
nông dân trong thương mại nông sản. Tạp chí Giáo dục và Xã hội.
-
Năm 2017: Sửa đổi, bổ xung quy định về vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật
chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp Đồng tác giả. Hội thảo khoa học cấp quốc gia:
Đánh giá một số hạn chế trong việc thực hiện Luật đất đai năm 2013 và đề xuất giải pháp
khắc phục. Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam tổ chức
-
Năm 2017-2018: Giám sát của Quốc hội trong việc thực hiện pháp luật về cơ cấu
lại ngành nông nghiệp – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện. Đề tài cấp bộ 2018
-
Năm 2018: Thực hiện quyền tác giả trong việc sử dụng giáo trình, bài giảng của
sinh viên Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Đề tài cấp Học viện tại Học viện Nông
nghiệp Việt Nam
-
Năm 2019: Quan hệ giới trong gia đình nông thôn Việt Nam. Tạp chí Giáo dục và
Xã hội (Số Đặc biệt kỳ I - Tháng 3 năm 2019).
-
Năm 2019: Phân tầng xã hội trong các gia đình làm nghề thu gom phế liệu. Nghiên
cứu trường hợp tại xã Dị Sử, Mỹ Hào, Hưng Yên. Đề tài cấp Học viện 2019
-
Năm 2019: Quyền sao ch p của người học: Nhìn từ góc độ quyền sử dụng hợp lý.
Bài báo đăng trên tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, trang 45
2.5. Hợp tác quốc tế trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học
Khoa Khoa học xã hội đã và đang kế thừa và phát triển các mối quan hệ hợp tác
trong đào tạo và nghiên cứu khoa học với các cơ sở đào tạo, tổ chức quốc tế. Hiện tại
Khoa duy trì và tiếp tục phát triển hợp tác đào tạo, hướng tới xu hướng phát triển các
chương trình trao đổi sinh viên, hội thảo chuyên môn, hợp tác nghiên cứu với các trường
đại học trên thế giới như: Đại học Liege, Đại học Chiang Mai (Thái Lan), …
Ngoài ra trên cơ sở tham gia các đề tài nghiên cứu, các dự án phát triển, cán bộ
giảng viên trong khoa cũng gây dựng và phát triển mối quan hệ hợp tác với các tổ chức
quốc tế có uy tín như các trường đại học khối Pháp ngữ -Vương Quốc Bỉ (dự án Việt –
Bỉ), Ngân hàng thế giới WB, Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC), các tổ chức phi chính
phủ... Trên cơ sở hợp tác với các tổ chức trong và ngoài nước, năng lực đội ngũ cán bộ
19
được tăng cường và qua đó nhiều sinh viên, học viên được tham gia đề tài nghiên cứu có
ý nghĩa thực tiễn, phát triển chuyên môn và tăng cường tiếp cận với thực tế. Quá trình
hợp tác đã tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ công tác nghiên cứu khoa học và công bố
công trình nghiên cứu trong và ngoài nước.
PHẦN 3: CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề án mở ngành đào tạo trình độ Đại học - Ngành: Luật - Học viện Nông nghiệp Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
de_an_mo_nganh_dao_tao_trinh_do_dai_hoc_nganh_luat.pdf

