Đề án mở ngành đào tạo trình độ Đại học - Ngành: Luật - Học viện Nông nghiệp Việt Nam

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN  
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
ĐỀ ÁN  
MỞ NGÀNH ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC  
Ngành: Luật  
Chuyên ngành: Luật kinh tế  
Mã số: 7380101  
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
Trình độ: Đại học  
HÀ NỘI- NĂM 2020  
1
PHẦN I: SỰ CẦN THIẾT MỞ NGÀNH LUẬT KINH TẾ TẠI HỌC VIỆN  
NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
1.1Giới thiệu sơ lƣợc về Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
Học viện Nông nghiệp Việt Nam tiền thân là Trường Đại học Nông Lâm được thành  
lập ngày 12/10/1956 theo Nghị định số 53/NĐ-NL của Bộ Nông Lâm, là 1 trong 3 trường  
đại học đầu tiên của nước “Việt Nam Dân chủ Cộng hoà” được thành lập sau ngày hoà  
bình lập lại ở miền Bắc.  
Khi mới thành lập, Trường trực thuộc Bộ Nông Lâm, có 3 khoa với 4 chuyên ngành  
đào tạo: Khoa Nông học gồm hai ngành: trồng trọt và cơ khí hóa nông nghiệp; Khoa  
Chăn nuôi Thú y có ngành Chăn nuôi - Thú y; Khoa Lâm học có ngành Lâm học. Đội  
ngũ CBGD của trường lúc đó có 27 người. Thầy Bùi Huy Đáp được bổ nhiệm làm Giám  
đốc Trường cùng 2 thầy Phó Giám đốc là thầy Nguyễn Đăng và thầy Lương Định Của.  
Sau 2 năm thành lập, tháng 12/1958, Chính phủ ra Quyết định sáp nhập Viện Khảo  
cứu trồng trọt, Viện Khảo cứu chăn nuôi, Phòng Nghiên cứu gỗ, Phòng Nghiên cứu Lâm  
sinh với Trường Đại học Nông Lâm thành Học viện Nông Lâm nhằm tập trung sức lực,  
trí tuệ của cán bộ và khả năng sử dụng hiệu quả trang thiết bị, đồng thời gắn liền hoạt  
động đào tạo với nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất.  
Từ năm học 1959-1960, Học viện Nông Lâm được chuyển về cơ sở mới ở xã Trâu  
Quỳ, huyện Gia Lâm (tỉnh Bắc Ninh). Ngày 24/12/1960 Học viện đã tổ chức lễ tốt nghiệp  
cho sinh viên khóa I và vinh dự được Thủ tướng Phạm Văn Đồng về dự. Đến năm 1963,  
trước đòi hỏi mới của đất nước, Học viện Nông Lâm được tách ra thành Trường Đại học  
Nông nghiệp và Viện Khoa học Nông nghiệp. Đầu năm 1963, Trường Đại học Nông  
nghiệp đã có 5 khoa với 10 chuyên ngành đào tạo. Số lượng sinh viên đã lên tới trên  
3000.  
Ngày 14/8/1967, Chính phủ ra quyết định đổi tên Trường Đại học Nông nghiệp  
thành Trường Đại học Nông nghiệp I, đồng thời với việc san sẻ một phần lực lượng cán  
bộ và cơ sở vật chất của Trường để thành lập Trường Đại học Nông nghiệp II (đóng tại  
Hà Bắc). Năm 1969, Trường lại một lần nữa san sẻ lực lượng góp phần xây dựng Trường  
Đại học Nông nghiệp III (đóng tại Bắc Thái).  
Năm 1977, Trường được Chính phủ giao nhiệm vụ đào tạo Phó tiến sĩ, mở đầu cho  
việc đào tạo sau đại học của Trường. Đầu năm 1982, Trường Đại học Nông nghiệp I  
được mang tên người anh hùng dân tộc Cu Ba Hôxê Mácti như một sự ghi nhận của Nhà  
nước ta đối với sự ủng hộ và giúp đỡ chí tình chí nghĩa của Chính phủ và nhân dân Cu Ba  
đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam và xây dựng CNXH ở nước ta.  
Năm 1984, Trường Đại học Nông nghiệp I chuyển từ Bộ Nông nghiệp và Công  
nghiệp thực phẩm sang Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp quản lý.  
Ngày 6/9/2004, Trường Đại học Nông nghiệp I được Chính phủ công nhận là một  
trong 14 trường trọng điểm Quốc gia.  
2
Ngày 24/03/2008 Thủ tướng CP ra QĐ (283/QĐ-TTg) đổi tên Trường Đại học Nông  
nghiệp I thành Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.  
Ngày 28/3/2014, Học viện Nông nghiệp Việt Nam được thành lập trực thuộc Bộ  
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên cơ sở tổ chức lại Trường Đại học Nông nghiệp  
Hà Nội theo Quyết định 441/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Ngày 17/6/2015, Thủ  
tướng Chính phủ ký ban hành Quyết định số 873/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án thí  
điểm đổi mới cơ chế hoạt động của Học viện Nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2015 –  
2017 với mục tiêu chung là Học viện chủ động khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả các  
nguồn lực để đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo, phấn đấu trở thành Đại học nghiên  
cứu đa ngành, đa lĩnh vực theo các chuẩn mực khu vực và quốc tế; đồng thời bảo đảm  
các đối tượng chính sách, đối tượng thuộc hộ nghèo có cơ hội học tập tại Học viện.  
Tên trường: HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
Tên viết tắt: HVN  
Tên tiếng Anh: VIETNAM NATIONAL UNIVERSITY OF AGRICULTURE  
Tên viết tắt tiếng Anh: VNUA  
Cơ quan Bộ chủ quản: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn  
Địa chỉ: Thị trấn Trâu Quỳ, Huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội  
Số điện thoại: 024.62617586  
Fax: 024.62617586  
Năm thành lập: 1956 (theo Nghị định số 53/NĐ-NL của Bộ Nông Lâm, ngày 12  
tháng 10 năm 1956)  
Loại hình trường đào tạo: Trường trọng điểm quốc gia  
*Tầm nhìn  
Học viện Nông nghiệp Việt Nam trở thành Đại học tự chủ, đa ngành, đa phân hiệu  
theo mô hình của đại học nghiên cứu tiên tiến trong khu vực; trung tâm xuất sắc của quốc  
gia, khu vực về đổi mới sáng tạo trong đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học, ứng  
dụng tri thức và phát triển công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn.  
* Sứ mạng  
Sứ mạng của Học viện Nông nghiệp Việt Nam là đào tạo và cung cấp nguồn nhân  
lực chất lượng cao, nghiên cứu phát triển và chuyển giao khoa học và công nghệ, tri thức  
mới trong lĩnh vực nông nghiệp & phát triển nông thôn; đóng góp vào sự phát triển nền  
nông nghiệp và hội nhập quốc tế của đất nước.  
* Nhiệm vụ  
- Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ đại học, đại học, tiến sĩ và các trình độ khác;  
- Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;  
- Chuyển giao công nghệ và phục vụ xã hội.  
3
* Giá trị cốt lõi  
- Đoàn kết (Solidarity): “Đoàn kết chặt chẽ, cố gắng không ngừng để tiến bộ mãi”.  
- Đạo đức (Morality): trên nền tảng đạo đức tiến bộ và đậm bản sắc văn hoá Việt Nam.  
- Đi đầu (Advancement): phấn đấu đi đầu về đào tạo và khoa học công nghệ.  
- Đáp ứng (Response): nhằm đáp ứng nhu cầu không ngừng thay đổi của xã hội.  
- Đẳng cấp (Transcendence): bằng các sản phẩm có đẳng cấp vượt trội.  
Học viện Nông nghiệp Việt Nam là trường Đại học hàng đầu thuộc khối các trường  
nông nghiệp của Việt Nam. Với phương châm lấy người học làm trung tâm của quá trình  
đào tạo, luôn đưa ra mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo lên hàng đầu, Học viện là địa  
chỉ uy tín đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đạt chuẩn quốc tế. Mỗi năm Học viện  
cung cấp cho thị trường lao động, đặc biệt là các doanh nghiệp nông nghiệp, doanh  
nghiệp liên doanh với nước ngoài hàng nghìn thạc sĩ, kỹ sư, cử nhân có kiến thức, kỹ  
năng đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nông nghiệp –  
nông thôn. Học viện đã tiến hành cải thiện chương trình đào tạo theo định hướng nghề  
nghiệp, ký kết hợp đồng đào tạo và nghiên cứu khoa học với hàng trăm doanh nghiệp đào  
tạo kỹ năng mềm cho sinh viên, nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học, tăng thời lượng  
thực hành, thực tập để sinh viên học đi đôi với hành.  
1.2. Sự cần thiết mở ngành Luật – chuyên ngành Luật kinh tế đào tạo trình độ đại  
học  
Học viện Nông nghiệp Việt Nam quyết tâm phát triển ngành Luật – chuyên ngành  
Luật kinh tế, đào tạo trình độ đại học xuất phát từ những lý do sau:  
Mở ngành Luật là phù hợp với chiến lược phát triển của Học viện Nông nghiệp  
Việt Nam. Với bề dày 65 năm, có uy tín về chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chất  
lượng cao, bên cạnh các nhóm ngành về công nghệ, kỹ thuật nông nghiệp, nhóm ngành  
khoa học xã hội như kinh tế, quản trì kinh doanh… cũng đã có bề dày đào tạo từ bậc học  
đại học đến các bậc học thạc sĩ, tiến sĩ và đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần quan  
trọng vào đào tạo nguồn nhân lực về khoa học xã hội cho đất nước. Sự bổ sung của ngành  
Luật sẽ tiếp tục là định hướng quan trọng và cần thiết trong chiến lược phát triển đào tạo  
toàn diện của Học viện. Bên cạnh việc đa dạng hóa ngành đào tạo, khi mở ngành Luật,  
Học viện sẽ tiếp tục mở rộng quan hệ đào tạo với các tổ chức, cá nhân trong nước và  
quốc tế, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao ngành Luật cho các công ty, doanh  
nghiệp trong nước cũng như quốc tế, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Việt  
Nam.  
Trong chiến lược phát triển của Học viện xác định rõ đào tạo trên cơ sở nhu cầu xã  
hội do đó ngành Luật ra đời sẽ góp phần quan trọng đáp ứng nhu cầu xã hội đối với đội  
ngũ Luật sư và cán bộ pháp chế ngày càng lớn, nhất là đối với nền kinh tế phát triển trong  
4
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Sự phát triển kinh tế đòi hỏi ngày  
càng tăng cường nhân lực ngành Luật, do đó sự thiếu hụt đội ngũ Luật sư và tư vấn pháp  
lý sẽ ảnh hưởng không nhỏ đối với sự phát triển kinh tế.  
Ngành Luật được xây dựng và do Khoa Khoa học xã hội phụ trách nhằm khai thác  
nguồn lực đội ngũ cán bộ giảng viên về ngành Luật của Học viện. Đây là đội ngũ giảng  
viên giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực giảng dạy, đào tạo, trình độ chuyên môn cao, tốt  
nghiệp từ các trường đại học danh tiếng trên thế giới và trong nước…Đội ngũ giảng viên  
của Khoa phụ trách giảng dạy ngành học về Luật hoàn toàn có đầy đủ khả năng để đào  
tạo những cư nhân luật chất lượng cao, đóng góp vào sự phát triển đào tạo của Học viện  
nói riêng cũng như sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.  
Là cơ sở đào tạo hàng đầu về lĩnh vực nông nghiệp, chương trình đào tạo ngành  
Luật của Học viện được thiết kế theo hướng đào tạo cư nhân Luật một mặt đáp ứng nhu  
cầu phát triển chung của xã hội đồng thời coi trọng phục vụ cho sự phát triển nông  
nghiệp, nông thôn, lĩnh vực hiện đang được Đảng, Nhà nước và xã hội hết sức quan tâm.  
Đây được xem như là một thế mạnh, n t đặc thù của Học viện trong vai trò cung cấp  
nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển nông nghiệp, nông thôn, các  
công ty, doanh nghiệp đầu tư, khai thác trong lĩnh vực nông nghiệp, địa bàn nông thôn.  
Trong quá trình đào tạo, sinh viên học ngành Luật sẽ được đào tạo chuyên môn về ngành  
Luật, đồng thời được trang bị những kiến thức cần thiết về nông nghiệp, nông dân, nông  
thôn, từ đó có thể vận dụng tốt nhất vào thực tiễn, góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình  
phát triển nông nghiệp, nông thôn.  
Với tầm nhìn trở thành trường đại học Việt Nam tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế và  
khu vực, chiến lược phát triển của Học viện, lộ trình phát triển của ngành Luật từ chương  
trình đào tạo đại học, tiếp đến sẽ phát triển trình độ đào tạo thạc sĩ chất lượng cao, và  
hướng tới xây dựng chương trình đào tạo tiến sĩ trong những năm tới đây. Trong bối cảnh  
hội nhập toàn cầu của nền kinh tế thế giới, việc xây dựng chương trình đào tạo đại học  
ngành Luật là một tiền đề cần thiết để Học viện Nông nghiệp Việt Nam đóng góp cho xã  
hội lực lượng cử nhân chất lượng cao, với kiến thức và kỹ năng đáp ứng yêu cầu nền kinh  
tế hội nhập.  
Nhu cầu của xã hội đối với ngành Luật  
Luật là những tiêu chuẩn, quy phạm, quy tắc mà nhà nước ban hành, có tính bắt  
buộc, mọi công dân phải chấp hành và tuân theo, nhằm đảm bảo các quyền của công dân,  
bảo đảm trật tự xã hội và an ninh quốc gia. Ngành luật do đó có vai trò vô cùng quan  
trọng và không thể thiếu đối với sự phát triển của mỗi quốc gia trên thế giới. Trước yêu  
cầu phát triển của nền kinh tế thị trường, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội  
nhập quốc tế, Việt Nam có thể phải đối mặt với một sự thiếu hụt lớn về số lượng cán bộ  
pháp luật, cũng như chất lượng cán bộ. Để vượt qua thách thức không nhỏ này, tích cực  
triển khai đào tạo đội ngũ cán bộ pháp luật với chất lượng cao là hết sức bức thiết.  
5
Nhu cầu về cán bộ pháp luật của Việt Nam là rất lớn. Chỉ tính riêng các chức  
danh tư pháp, đến năm 2020, cần phát triển hệ thống cơ sở đào tạo luật để có đủ sức đào  
tạo ước tính 13.000 luật sư, 2.300 thẩm phán, 2.000 công chứng viên, 3.000 chấp hành  
viên, 300 thẩm tra viên thi hành án dân sự và thừa phát lại... (hiện cả nước có khoảng  
6.000 luật sư, 5.000 thẩm phán, 4.000 điều tra viên, 400 công chứng viên). Nhu cầu cán  
bộ pháp luật ở các bộ, ngành cũng rất lớn... Trong khi đó, năng lực đào tạo pháp luật hiện  
có còn nhiều hạn chế.  
Pháp luật là một công cụ bảo hộ ưu việt, góp phần duy trì sự ổn định an toàn đồng  
thời là cơ sở cần thiết đối với kỳ vọng về hiệu quả trong hoạt động kinh doanh. Trang bị  
kiến thức về luật pháp có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi cơ sở  
doanh nghiệp, cũng như mỗi cơ quan, tổ chức. Khi quan hệ dân sự giữa con người và con  
người được mở rộng tối đa và ngày càng phức tạp, cũng như sự đan xen, chồng ch o  
trong các mối quan hệ thì vai trò của Luật sư, cán bộ pháp chế là đặc biệt quan trọng đối  
với giải quyết các mối quan hệ trên đây. Đối với các cơ quan Nhà nước, trên cơ sở nhận  
thức đầy đủ quy định Hiến pháp và pháp luật, đội ngũ cán bộ, viên chức có kỹ năng thực  
thi nhiệm vụ, giải quyết các tình huống trong nội bộ, cũng như giữa các cơ quan, đơn vị  
với đối tác chuẩn mực, hiệu quả.  
Theo khảo sát của Trường Đại học Luật - Đại học Huế, các ngành Tư pháp như  
Viện kiểm sát, Tòa án…, tuyển dụng cán bộ chủ yếu là từ cử nhân luật. Các cơ quan nhà  
nước đang trong quá trình tích cực nghiên cứu pháp chế, áp dụng luật một cách đồng bộ  
trong công tác quản lý điều hành. Theo khảo sát của Trường Đại học Kinh tế - Tài chính  
Thành phố Hồ Chí Minh (UEF), nguyện vọng của phần lớn học sinh phổ thông trung học  
là được học các ngành học theo xu hướng phát triển của nền kinh tế đất nước thiên về  
lĩnh vực kinh tế, tài chính, ngành Luật,...trong đó ngành Luật được đặc biệt quan tâm, lựa  
chọn (tỷ lệ chiếm 75,6 ) so với các ngành học khác.  
Học viện Nông nghiệp Việt Nam là một trong 16 trường đại học trọng điểm quốc  
gia và Khoa Khoa học xã hội là một trong những khoa có bề dày phát triển của Học Viện.  
Ngành Luật là một ngành không thể thiếu trong nền kinh tế, đặc biệt khi đất nước càng  
phát triển thì yêu cầu về nhân lực ngành Luật càng trở nên lớn hơn.  
Đội ngũ cán bộ giảng dạy của Khoa Khoa học xã hội đủ năng lực chuyên môn,  
được đào tạo từ các nước phát triển như Mỹ, Hà Lan, Bỉ, Thái Lan, Nhật … và Trường  
đại học Luật Hà Nội có thể đảm bảo chất lượng đào tạo trình độ Đại học ngành Luật  
(chuyên ngành Luật kinh tế). Đào tạo Đại học Luật (chuyên ngành Luật kinh tế) tại Học  
viện sẽ tập hợp được lực lượng để phát triển chuyên môn và phát huy được năng lực đào  
tạo của đội ngũ cán bộ giảng dạy này.  
Chính phủ đã có Quyết định số 873/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày  
17/06/2015 về việc phê duyệt Đề án thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động của Học viện  
6
Nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2015-2017, theo đó cho ph p Học viện Nông nghiệp  
Việt Nam cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm. Đây là cơ sở pháp lý vững chắc để Học  
viện tiếp tục thực hiện chiến lược phát triển, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội  
trong lĩnh vực Luật.  
1.3. Sự khác biệt của ngành Luật – chuyên ngành Luật kinh tế tại Học viện Nông  
nghiệp Việt Nam với các chuyên ngành luật khác  
Khác biệt về nội dung chương trình đào tạo  
- Thứ nhất, cung cấp kiến thức chuyên sâu hơn về pháp luật kinh tế, đặc biệt là kinh tế  
nông nghiệp. Trong chương trình giảng dạy ngành của Học viện có các môn học chuyên  
sâu về: pháp luật đầu tư, pháp luật về đầu tư công, luật đầu tư quốc tế, pháp luật về đấu  
thầu...  
- Thứ hai, chương trình đào tạo thiết kế đảm bảo đủ kiến thức nền tảng về luật đồng thời  
chọn lọc, bổ sung một số kiến thức cơ bản về kinh tế. Thực tiễn cho thấy những người  
được đào tạo chuyên ngành luật kinh tế làm việc trong lĩnh vực kinh tế sẽ làm việc hiệu  
quả hơn. Một số kiến thức cơ bản về kinh tế sẽ đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường  
lao động, như Kinh tế vi mô, Kinh tế vĩ mô; Lý thuyết tài chính tiền tệ; Kinh tế đầu tư;  
Thương mại điện tử; Thị trường chứng khoán…  
- Thứ ba, trang bị nội dung về luật đồng thời với nội dung về chính sách trong chương  
trình học. Điều này giúp sinh viên chuyên ngành Luật Kinh tế có cách nhìn toàn diện  
thực tiễn pháp lý đang diễn ra.  
Khác biệt về hình thức tổ chức trong đào tạo  
Chương trình đào tạo chuyên ngành Luật Kinh tế tại Học viện sẽ giải quyết các  
hạn chế trong cách thức triển khai đào tạo theo hướng bổ sung kiến thức thực tiễn đồng  
thời tăng cường rèn luyện các kỹ năng thực hành thông qua các biện pháp:  
- Tổ chức các hoạt động trải nghiệm thực tiễn cho sinh viên trong các môn học như  
hướng dẫn kỹ năng làm việc như kỹ năng đàm phán và soạn thảo hợp đồng, liên kết với  
các doanh nghiệp, cơ quan; tổ chức các hoạt động trải nghiệm thực tiễn và thực hành cho  
sinh viên như tham quan các cơ quan trong bộ máy nhà nước, các doanh nghiệp, tổ chức  
các cuộc thi tìm hiểu pháp luật...  
- Tổ chức trao đổi với chuyên gia, cán bộ quản lý, chủ doanh nghiệp. Việc tiếp xúc, trao  
đổi với các chuyên gia, cán bộ quản lý trực tiếp soạn thảo, thực thi các văn bản quy phạm  
pháp luật trong lĩnh vực kinh tế giúp sinh viên có nhiều kiến thức thực tiễn và kỹ năng  
làm việc sau khi tốt nghiệp.  
- Rèn luyện năng lực diễn thuyết, lập luận và trình bày văn bản. Môn Phương pháp  
nghiên cứu khoa học trang bị kỹ năng nghiên cứu cho sinh viên được chú trọng. Hình  
thức tổ chức sinh viên thuyết trình sẽ góp phần rèn luyện kỹ năng trình bày vấn đề và  
năng lực tư duy logic, xử lý tình huống.  
7
1.4 Kết quả khảo sát, phân tích, đánh giá nhu cầu về nguồn nhân lực trình độ đại  
học  
Theo kết quả báo cáo điều tra công giới về nhu cầu thị trường lao động và việc  
làm liên quan đến nguồn nhân lực đại học chuyên ngành luật kinh tế là rất lớn. Năm  
2019, ngành Luật nằm trong TOP 8 ngành có số lượng thí sinh đăng ký x t tuyển cao  
nhất cả nước, với hơn 69.000 thí sinh đăng ký nguyện vọng x t tuyển, trong khi đó, tổng  
chỉ tiêu của các trường có ngành Luật là khoảng 12.000 sinh viên. Như vậy, nhu cầu học  
so với chỉ tiêu là 5.65 lần (565 ) - Cầu học vượt cung chỉ tiêu. Hơn nữa, nhu cầu học  
bằng 2, học hình thức VLVH của cán bộ địa phương và cơ sở là rất lớn. Chính vì vậy,  
Khoa Khoa học xã hội xác định việc xây dựng chương trình đào tạo ngành Luật – chuyên  
ngành Luật Kinh tế là cần thiết nhằm đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng về trình  
độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp.  
Để đảm bảo tính khách quan trong việc xây dựng chương trình đào tạo, Khoa  
Khoa học xã hội tiến hành khảo sát nhu cầu của các đơn vị sử dụng lao động đối với lao  
động trình độ đại học ngành Luật – chuyên ngành Luật Kinh tế. Kết quả điều tra từ 36 cơ  
quan nhà nước, các doanh nghiệp, viện nghiên cứu...tại các tỉnh miền Bắc như sau:  
i. Nhu cầu đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực có hiểu biết về luật Kinh tế bậc đại  
học của các cơ quan nhà nước, viện nghiện cứu , trường đại học, doanh nghiệp,  
văn phòng luật sư là rất lớn, vị trí công tác cũng rất đa dạng.  
ii. Các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và năng lực tự chủ của ngành Luật - chuyên  
ngành Luật Kinh tế sơ bộ được xác định, đây cũng là căn cứ quan trọng cho  
việc thiết kế chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động.  
1.5. Giới thiệu về Khoa Khoa học xã hội  
Khoa Khoa học xã hội, tiền thân là Bộ môn Mác- Lênin trực thuộc Trường Đại  
học Nông Lâm được thành lập vào ngày 12 tháng 10 năm 1956 theo Nghị định số 53NL-  
CP-NĐ của Bộ Nông Lâm.  
Tầm nhìn của Khoa Khoa học xã hội  
Khoa Khoa học xã hội phấn đấu trở thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa  
học chính trị và xã hội với chất lượng hàng đầu của Học viện Nông nghiệp Việt Nam.  
Phấn đấu trở thành nhóm đầu các trường đại học có đào tạo ngành khoa học xã hội ở Việt  
Nam.  
Sứ mạng của Khoa khoa học xã hội  
Khoa Khoa học xã hội có sứ mạng đào tạo nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức,  
pháp luật cho người học; cung cấp nguồn nhân lực ngành xã hội học và các ngành khoa  
học xã hội chất lượng cao; nghiên cứu phát triển các dịch vụ khoa học trong lĩnh vực  
Nông nghiệp & PTNT nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và  
hội nhập quốc tế.  
8
Triết lý giáo dục của Khoa Khoa học xã hội  
Khoa Khoa học xã hội, Học viện Nông nghiệp Việt Nam không ngừng phấn đấu  
đóng góp vào sự phát triển chung của Học viện và của ngành chăn nuôi với các triết lý  
giáo dục: Sáng tạo (Creation) và Chuyên nghiệp (Professional)  
Đội ngũ cán bộ  
Khoa Khoa học xã hội hiện có 36 cán bộ giảng dạy (01 phó giáo sư; 5 tiến sĩ; 29  
thạc sĩ; 01 cử nhân). Hầu hết các cán bộ của Khoa đều tốt nghiệp từ các trường đại học uy  
tín trong và ngoài nước. Đặc biệt, Bộ môn Pháp luật có 8 cán bộ giảng dạy (01 tiến sĩ, 01  
NCS đào tạo tại Nhật Bản, 06 thạc sĩ trong đó có 01 Thạc sĩ được đào tạo tại Mỹ). Đây là  
một nguồn lực rất quan trọng trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học.  
Nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế  
Trong những năm qua, Khoa được đánh giá là một trong những đơn vị mạnh về  
hoạt động khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế, có nhiều đóng góp quan trọng cho  
khoa học, đào tạo và sản xuất. Thành tích nghiên cứu khoa học được thể hiện bằng số  
lượng các đề tài nghiên cứu cấp nhà nước, cấp bộ, địa phương và các đề tài hợp tác song  
phương, đề tài do các Tổ chức quốc tế tài trợ. Tính từ khi thành lập đến nay, Khoa đã  
thực hiện thành công hơn 150 đề tài, dự án nghiên cứu các cấp.. Từ năm 2013 trở lại đây,  
cán bộ của Khoa đã có số lượng công bố khoa học khá lớn: 100 bài báo đăng trên các tạp  
chí trong nước và bài báo đăng trên tạp chí Quốc tế. Ngày càng nhiều bài báo được đăng  
trên trên các tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín trong và ngoài nước có chất lượng  
được giới chuyên môn đánh giá cao. Ngoài ra, cán bộ trong khoa còn tham gia nhiều hội  
thảo cấp quốc gia và quốc tế.  
Trong năm 2018, thực hiện đề án Nhóm nghiên cứu mạnh của Học viện, Khoa đã  
có nhiều công trình khoa học như 50 seminar của các cán bộ và các chuyên gia đầu  
ngành, 73 bài đăng trên các kỷ yếu Hội thảo trong và ngoài nước , 21 đề xuất khoa học  
các cấp, tổ chức 4 hội thảo trong đó có 1 hội thảo cấp quốc tế, 17 bài báo được đăng trên  
tạp chí trong nước có chỉ số, 6 bài báo được đăng trên các tạp chí quốc tế trong đó có 2  
bài được đăng trên tạp chí có chỉ số.  
Thực hiện các nhiệm vụ của nhóm Nghiên cứu mạnh là môi trường để các giảng  
viên nâng cao năng lực chuyên môn, cập nhập các tri thức mới để phục vụ cho việc giảng  
dạy và nghiên cứu tốt hơn.  
Ngoài ra có giảng viên đã tham gia biên soạn các Giáo trình, bài giảng với các  
giảng viên thuộc đơn vị khác của Học viện như Giáo trình Sở hữu trí tuệ trong Công nghệ  
sinh học… tạo nguồn xuất bản cho thời gian kế tiếp.  
Trong những năm gần đây Khoa được sự hỗ trợ của HV và Ban HTQT trong việc  
tìm kiếm học bổng, giới thiệu chuyên gia seminar và các hoạt động khác. Năm 2018, kết  
hợp với đại học Gembloux, tổ chức Agro-BioTech, Rikolto Việt Nam, Khoa đã đấu thầu  
9
và nghiệm thu thành công dự án “Capacity building for youth and gender mainstreaming  
in agricultural value chain research and development projects”  
1.6. Luận cứ khoa học mở ngành đào tạo đại học ngành Luật (chuyên ngành Luật  
Kinh tế)  
1.6.1. Căn cứ nhu cầu xã hội về nguồn nhân lực dự kiến đào tạo  
Theo tinh thần Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế,  
Việt Nam tiếp tục chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, trong đó hội nhập kinh tế quốc  
tế giữ vai trò trọng tâm. Khi nền kinh tế nước ta hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế  
giới, các doanh nghiệp trong nước sẽ đứng trước nhiều cơ hội và thách thức mới, lúc này  
đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Trong đó, việc  
nắm rõ “bộ khung” pháp luật là một trong những yếu tố quan trọng tạo ra lợi thế cạnh  
tranh lành mạnh. Muốn làm được điều đó, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có đội ngũ  
chuyên gia pháp lý, luật sư chuyên ngành về Luật kinh tế để tư vấn đường lối chính sách  
cho doanh nghiệp. Giúp cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra  
thuận lợi.  
Như vậy, sinh viên theo học ngành Luật kinh tế, ngoài cơ hội làm việc trong các cơ quan  
pháp luật của nhà nước, cơ hội trở thành các chuyên gia pháp lý cho các công ty, tập đoàn  
trong nước và doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam là rất lớn.  
Theo báo cáo của Trung tâm dự báo nguồn nhân lực, trong Theo báo cáo của  
Trung tâm dự báo nguồn nhân lực, trong năm 2020, đất nước cần khoảng 13.000 luật sư,  
2.300 thẩm phán, 2.000 công chứng viên, 3.000 chấp hành viên, 300 thẩm tra viên thi  
hành án dân sự và thừa phát lại… Đó là chưa kể nhu cầu cán bộ pháp luật ở các Bộ,  
ngành, địa phương. Tuy nhiên trên thực tế, hiện nay mỗi năm, nước ta chỉ đào tạo ra  
khoảng 3.500 – 4.000 cử nhân luật.  
1.6.2. Tình hình đào tạo đại học ngành Luật (chuyên ngành Luật Kinh tế)  
1.6.2. 1 Các chương trình đào tạo tham khảo từ nước ngoài  
Bảng 2. Danh mục cơ sở đào tạo nước ngoài  
đang đào tạo ngành Luật Kinh doanh  
Cơ sở  
Tên ngành  
đào tạo  
Bậc đào  
tạo  
Danh hiệu tốt  
nghiệp  
TT  
Địa chỉ website  
đào tạo  
ZHAW  
Zurich  
Universi  
ty of  
h/en/sml/study/bach  
elor/business-  
Luật Kinh  
Đạihọc  
Cử nhân  
1
doanh  
law/#c24604  
Applied  
10  
Science  
s
Nguồn: Tổng hợp từ chương trình đào tạo các trường  
Các chương trình đào tạo tham khảo từ nước ngoài:  
Ngành luật tại các quốc gia tiên tiến trên thế giới luôn là ngành học thu hút được  
nhiều sinh viên theo học mỗi năm. Do đó, để xây dựng thành công chương trình đại học  
ngành Luật – chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Lý luận chính trị và xã hội đã tham khảo  
chương trình tương ứng của Đại học ZHAW Zurich University of Applied Sciences  
(Thụy Sĩ).  
Chương trình đào tạo được lựa chọn đối sánh với chương trình đào tạo chuyên  
ngành Luật kinh tế là chương trình Luật Kinh doanh của trường ZHAW Zurich  
University of Applied Sciences (Thụy Sĩ). (Lưu ý: trên thế giới không trường nào có  
chương trình đào tạo có tên “Luật Kinh tế” mà chỉ có các chương trình đào tạo tương  
đương như “Luật kinh doanh” (Business Law) hoặc “Luật Thương mại” (Commercial  
Law).  
- Điểm giống nhau trong chương trình đào tạo với chương trình đối sánh: Về cơ bản  
chương trình đào tạo ngành Luật – chuyên ngành Luật Kinh tế và chương trình đào tạo  
Luật Kinh doanh của trường ZHAW Zurich University of Applied Sciences có sự tương  
đồng rất lớn  
+ Cả hai chương trình đào tạo đều chia làm hai nội dung đào tạo chính về pháp luật  
và kinh tế, trong đó các môn học về pháp luật chiếm ưu thế. Các môn học về pháp luật  
đều bao gồm các môn học cơ sở ngành và các môn học chuyên ngành. Các môn cơ sở  
ngành đều đề cập đến lý luận chung về nhà nước, pháp luật, đại cương về luật hành  
chính, dân sự, hình sự, v.v.. Các môn học chuyên ngành tập trung vào các lĩnh vực đặc  
thù về kinh tế như Luật Cạnh tranh, Luật Thương mại, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Lao  
động, v.v..  
+ Hệ thống các môn học đều chia thành các môn học tự chọn và bắt buộc, trong đó  
các môn học tự chọn tương đối phong phú, đều phân bổ ở lĩnh vực pháp luật và kinh tế.  
- Điểm khác nhau trong CTĐT ngành Luật – chuyên ngành Luật Kinh tế và chương  
trình đối sánh: các CTĐT đối sánh:  
+ Hệ thống tín chỉ có sự khác biệt do chương trình đối sánh sử dụng hệ thống tín  
chỉ ECTS Châu Âu.  
+ Chương trình đào tạo của trường ZHAW Zurich có các môn học kỹ năng độc lập  
(ví dụ nghiên cứu tình huống, kỹ năng tranh luận và đàm phán, kỹ thuật pháp lý, kỹ năng  
11  
hùng biện và thuyết trình). Trong khi đó, chương trình đào tạo ngành Luật – chuyên  
ngành Luật Kinh tế của Học viện lồng gh p các kỹ năng này trong chương trình thực tập.  
1.6.2.2 Tình hình đào tạo đại học ngành Luật (chuyên ngành Luật Kinh tế) ở Việt  
Nam  
Cả nước có khoảng trên 50 trường đại học có đào tạo ngành Luật, trong đó có  
trên 30 trường đào tạo ngành luật kinh tế, cụ thể:  
Tên trường  
Chuyên ngành  
Luật kinh tế  
Luật học  
Luật thương mại quốc tế  
Đại học Nội Vụ Hà Nội  
Đại học Công Đoàn  
Đại học Văn Hóa Hà Nội  
Đại học Mở Hà Nội  
Luật học  
Luật học  
Luật học  
Luật kinh tế  
Luật học  
Luật quốc tế  
Đại học Kiểm Sát Hà Nội  
Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội  
Luật học  
Luật học  
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội  
Luật kinh doanh  
Luật học  
Học viện Phụ nữ Việt Nam  
Học viện Ngoại giao  
Đại học Lao động xã hội  
Đại học Công nghệ và Quản lý hữu nghị  
Học viện Ngân hàng  
Đại học Đại Nam  
Đại học Hòa Bình  
Đại học Đông Đô  
Đại học Thành Tây  
Luật học  
Luật quốc tế  
Luật kinh tế  
Luật kinh tế  
Luật kinh tế  
Luật kinh tế  
Luật kinh tế  
Luật kinh tế  
Luật kinh tế  
Luật kinh tế  
Đại học Kinh doanhvà Công nghệ Hà Nội  
Đại học Trưng Vương  
Luật kinh tế  
Đại học Kinh tế TP.HCM  
Luật kinh doanh  
Đại học Kinh tế – Luật  
(Đại học Quốc gia TP.HCM)  
Luật kinh doanh  
Luật thương mại quốc tế  
Luật dân sự  
Luật tài chính  
Đại học Sài Gòn  
Luật thương mại  
Luật dân sự  
Luật hình sự  
Luật hành chính  
Luật quốc tế  
Quản trị luật  
Luật hành chính  
Luật thương mại  
12  
Luật kinh doanh  
Luật học  
Luật kinh tế  
Luật học  
Đại học Tôn Đức Thắng  
Đại học Ngoại ngữ Tin học  
Đại học Mở TP.HCM  
Đại học Công nghiệp TP.HCM  
Luật kinh tế  
Luật quốc tế  
Đại học Kinh tế Tài chính TP.HCM  
Luật kinh tế  
Luật quốc tế  
Luật học  
Đại học Kinh Bắc  
Đại học Ngân Hàng TP. HCM  
Đại học Công nghệ  
Luật kinh tế  
Luật kinh tế  
Luật kinh doanh  
Luật thương mại quốc tế  
Luật tài chính ngân hàng  
Đại học Văn Lang  
Luật kinh tế  
Luật kinh tế  
Luật kinh tế  
Luật kinh tế  
Luật kinh tế  
Luật hành chính  
Luật thương mại  
Luật tư pháp  
Đại học Nguyễn Tất Thành  
Đại học Lao động Xã hội  
Đại học Quốc tế Hồng Bàng  
Đại học Chu Văn An  
Đại học Cần Thơ  
Đại học Hàng hải Việt Nam  
Đại học Luật – Đại học Huế  
Luật hàng hải  
Luật dân sự  
Luật hình sự  
Luật kinh tế  
Luật quốc tế  
Luật hành chính  
Đại học Duy Tân  
Đại học Trà Vinh  
Luật kinh tế  
Luật học  
Đại học Thái Bình Dương  
Luật học  
Luật kinh tế  
Luật dân sự  
Đại học Văn hóa Thể thaoDu lịch Thanh Hóa  
Đại học Hà Tĩnh  
Luật học  
Luật học  
Đại học Khoa học  
Luật học  
(Đại học Thái Nguyên)  
Luật kinh tế  
Luật kinh doanh quốc tế  
Đại học Nam Cần Thơ  
Đại học Vinh  
Luật kinh tế  
Luật học  
Luật kinh tế  
Đại học Thủ Dầu Một  
Đại học Quy Nhơn  
Luật học  
Luật học  
Đại học Kinh tế Đà Nẵng  
Luật học  
Luật học  
Luật kinh tế  
Luật kinh doanh  
Đại học Thái Bình  
Luật học  
13  
Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An  
Đại học Cửu Long  
Đại học Tài chính Kế toán  
Đại học Thành Đông  
Đại học Đông Á  
Luật kinh tế  
Luật kinh tế  
Luật kinh tế  
Luật kinh tế  
Luật kinh tế  
Luật kinh tế  
Luật kinh tế  
Đại học Phan Thiết  
Đại học Tây Đô  
Nguồn: Tổng hợp từ ngành đào tạo các trường Đại học tại Việt Nam  
Số lượng trường Đại học có đào tạo ngành Luật và chuyên ngành luật kinh tế trên  
phạm vi cả nước là tương đối lớn, điều này tạo cơ sở cho các trường đại học mở ngành  
luật muộn hơn sẽ có nhiều kinh nghiệm đối sánh để xây dựng được chương trình đào tạo  
hiện đại và thực sự phù hợp với nhu cầu của xã hội.  
14  
PHẦN 2: NĂNG LỰC CỦA CƠ SỞ ĐÀO TẠO  
2.1. Khái quát chung về quá trình đào tạocủa Khoa Khoa học xã hội, Học viện Nông  
nghiệp Việt Nam  
Từ khi bắt đầu tuyển sinh, Khoa Khoa học xã hội đã đào tạo được khoảng 1000 cử  
nhân ngành Xã hội học với 10 khóa sinh viên tốt nghiệp.  
Quy mô tuyển sinh hằng năm: 100 sinh viên/năm.  
2.2. Đội ngũ giảng viên, cán bộ cơ hữu, kỹ thuật viên và cán bộ hỗ trợ  
Đội ngũ cán bộ tham gia giảng dạy chương trình đại học ngành Luật (chuyên  
ngành Luật Kinh tế) của Khoa Khoa học xã hội gồm: 10 cán bộ (phụ lục IV), trong đó có:  
01 tiến sĩ và 09 thạc sĩ trong đó 01 Thạc sĩ đang làm nghiên cứu sinh ở Nhật Bản (Bảng 3  
– Danh sách giảng viên cơ hữu mở ngành Luật - chuyên ngành Luật Kinh tế trình độ đại  
học).  
Bảng 3. Danh sách cán bộ cơ hữu mở ngành Luật - chuyên ngành Luật Kinh tế  
Chức danh khoa học,  
Họ và tên, n m sinh, chức vụ  
Ngành đƣợc  
đào tạo  
N m, nơi tham gia  
TT  
n m phong; Học vị,  
nƣớc, n m tốt nghiệp  
hiện tại  
giảng dạy  
1 Vũ Văn Tuấn,1973, Trưởng BM Tiến sĩ, 2019, Việt Nam  
Luật Kinh tế 1997, Học viện Nông  
nghiệp Việt Nam  
Pháp luật, Phó Ban TCT&CTSV Thạc sĩ, 2003, Việt Nam  
2 Nguyễn Thị Ngân, 1974,  
Thạc sĩ, 2002, Việt Nam Luật Kinh tế 1996, Học viện Nông  
nghiệp Việt Nam  
Phó Bộ môn Pháp luật  
3 Trịnh Thị Ngọc Anh,1972,  
Thạc sĩ, 2007, Việt Nam Luật Kinh tế 1998, Học viện Nông  
nghiệp Việt Nam  
Giảng viên  
4 Lê Thị Yến, 1982, giảng viên  
Thạc sĩ, 2011, Việt Nam Luật Kinh tế 2004, Học viện Nông  
nghiệp Việt Nam  
5 Đỗ Thị Kim Hương, 1984, Bí thư Thạc sĩ, 2011, Việt Nam Luật Kinh tế 2006, Học viện Nông  
Đoàn Thanh niên Học viện,  
nghiệp Việt Nam  
6 Nguyễn Thị Minh Hạnh,1981,  
Tiến sĩ, 2020, Nhật Bản  
Thạc sĩ, 2015,Việt Nam  
Luật học  
2006, Học viện Nông  
nghiệp Việt Nam  
Giảng viên  
7 Tô Thái Hà, 1988, Bí thư LCĐ  
Luật Kinh tế 2014, Học viện Nông  
nghiệp Việt Nam  
Khoa LLCT&XH  
8 Phạm Vân Anh,1991, Giảng viên Thạc sĩ, 2018, Mỹ  
Luật Kinh tế 2014, Học viện Nông  
nghiệp Việt Nam  
9 Nguyễn Đắc Dũng,1976, Phó Bộ Tiến sĩ, 2018, Việt Nam  
Khoa học  
chính trị  
1999, Học viện Nông  
nghiệp Việt Nam  
môn Tư tưởng HCM  
10 Hà Thị Hồng Yến, 1984,  
Thạc sĩ, 2011, Việt Nam Lịch sử Đảng 2007, Học viện Nông  
nghiệp Việt Nam  
Giảng viên  
- Cán bộ hỗ trợ: gồm có 03 người (02 thạc sĩ và 01 cử nhân). Các cán bộ hỗ trợ của  
Khoa có kinh nghiệm tham gia công tác hỗ trợ, phục vụ đào tạo.  
15  
Bảng 4. Danh sách cán bộ hỗ trợ đào tạo  
Chuyên  
ngành đƣợc  
đào tạo  
Chức danh khoa học,  
n m phong; Học vị,  
nƣớc, n m tốt nghiệp  
Họ và tên, n m sinh, chức vụ hiện  
TT  
tại  
Nguyễn Minh Trang, 1991, Chuyên  
1
2
3
Cử nhân, 2014, Việt nam  
Thạc sĩ, 2017,Việt Nam  
Thạc sĩ, 2013, Việt Nam  
Tin học  
viên  
Trần Linh Chi, 1993, Chuyên viên  
Phan Thu Hương, 1989, Chuyên  
viên  
Xã hội học  
Công nghệ  
thực phẩm  
2.3. Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo  
Học viện Nông nghiệp Việt Nam và Khoa Khoa học xã hội có cơ sở vật chất đảm  
bảo cho đào tạo ngành Luật (chuyên ngành Luật Kinh tế). Đề án lấy cơ sở vật chất chung  
của Học viện và của khoa để tổ chức đào tạo.  
Lớp học lý thuyết và các phương tiện nghe nhìn trong phòng: Hệ thống giảng  
đường và phương tiện hỗ trợ cho đào tạo sau đại học tại Học viện đang sử dụng.  
Máy tính và thiết bị hỗ trợ cho giảng viên và trợ giảng: Hiện tại mỗi bộ môn có 1-  
2 máy tính nối mạng internet. Các thiết bị hỗ trợ như máy in, máy fax, máy scan, điện  
thoại, máy chiếu dự phòng, các phương tiện nghe nhìn được trang bị để hỗ trợ học tập và  
giảng dạy tại phòng Hội trường của Khoa.  
Hệ thống thư viện và phòng đọc: Sinh viên có thể sử dụng ở hai cơ sở: thư viện  
Lương Định Của và phòng đọc của khoa.  
2.3.1  h ng học, giảng đư ng, trang thiết b  hỗ trợ giảng dạy  
Loại phòng  
học  
Danh mục trang thiết bị chính  
hỗ trợ giảng dạy  
(Phòng học,  
giảng đường,  
Số phòng học đa  
TT phương tiện,  
phòng học  
Diệ  
Đúng/  
Không  
đúng  
với hồ  
sơ  
Số  
n
Phục vụ  
Lượn tích  
Số  
Diện  
tích  
Ghi  
học  
g
(m2  
)
Tên thiết bị  
lượn  
chú  
phần/mô  
n học  
g
(m2)  
ngoại  
ngữ,phòng  
máy tính…)  
Máy chiếu đa  
năng  
Giảng đường  
1
150  
0
22  
12  
Máy tính để bàn  
Thiết bị âm  
thanh  
22  
22  
22  
10  
Các  
Nguyễn Đăng  
môn học  
lý thuyết  
Các  
2
Giảng đường  
600 Máy chiếu đa  
16  
khu A  
năng  
Máy tính để bàn  
Thiết bị âm  
thanh  
10  
10  
môn học  
lý thuyết  
Máy chiếu đa  
năng  
Giảng đường  
3
4
5
6
7
18  
12  
18  
6
900 Máy tính để bàn  
Thiết bị âm  
thanh  
18  
18  
18  
Các  
khu B  
môn học  
lý thuyết  
Máy chiếu đa  
năng  
Giảng đường  
600 Máy tính để bàn  
Thiết bị âm  
thanh  
12  
12  
6
Các  
khu C  
môn học  
lý thuyết  
Máy chiếu đa  
năng  
Giảng đường  
600 Máy tính để bàn  
Thiết bị âm  
thanh  
12  
12  
6
Các  
khu E  
môn học  
lý thuyết  
Máy chiếu đa  
năng  
Giảng đường T  
420 Máy tính để bàn  
Thiết bị âm  
thanh  
6
6
6
Các  
môn học  
lý thuyết  
Máy chiếu đa  
năng  
Giảng đường  
khoa Cơ Điện  
10  
700 Máy tính để bàn  
Thiết bị âm  
thanh  
6
6
Các  
môn học  
lý thuyết  
10  
17  
2.3. 2.  h ng th  nghiệm, cơ sở thực hành và trang thiết b  phục vụ th  nghiệm, thực  
hành:  
Danh mục trang thiết bị chính  
Loại phòng  
hỗ trợ giảng dạy  
học  
(Phòng học,  
Đúng/  
giảng đường,  
Số phòng học đa  
TT phương tiện,  
phòng học  
Số  
Lượn  
g
Diện  
tích  
Không  
đúng  
với hồ  
sơ  
Phục vụ  
học  
Diện  
tích  
Ghi  
Số  
(m2)  
Tên thiết bị  
chú  
lượng phần/mô  
n học  
(m2)  
ngoại  
ngữ,phòng  
máy tính…)  
1
Phòng hội thảo  
01  
100  
Bàn hội  
thảo  
50  
khoa  
- Ghế ngồi  
- Bảng  
100  
03  
phooc  
- Máy chiếu  
01  
01  
- Loa míc  
2.3.3. Thư viện  
* Thư viện Lương Định Của  
- Tổng diện tích thư viện: 2000m2 ;Diện tích phòng đọc: 1000m2  
- Số chỗ ngồi: 450; Số lượng máy tính phục vụ tra cứu: 10  
- Phần mềm quản lý thư viện: Libol50-O.P.A.C  
- Thư viện điện tử: Số lượng sách, giáo trình điện tử: 5000  
* Thư viện Khoa  
- Diện tích phòng: 25 m2  
- Số chỗ ngồi: 15  
2.4. Hoạt động nghiên cứu khoa học  
Với bộ môn Pháp luật, Khoa Khoa học xã hội, luôn thực hiện các nghiên cứu  
khoa học có tính ứng dụng, nghiên cứu ứng dụng lý luận vào giải quyết các vấn đề cấp  
thiết trong thực tiễn, đặc biệt là các vấn đề nằm trong lĩnh vực chuyên môn như tham vấn  
chính sách về đất đai, môi trường, kinh tế, sở hữu trí tuệ gắn với nông nghiệp, nông thôn  
và nông dân.  
18  
2.4.1 Các công trình nghiên cứu tiêu biểu của bộ môn  háp luật  
Năm 2015: Trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại về môi trường theo Pháp luật  
-
Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ Nhật Bản. Tạp chí Dân chủ - Pháp luật số 3(276) -  
Trang 50-54.  
-
Năm 2016: Chính sách, pháp luật đối với nông nghiệp, nông thôn trong lĩnh vực  
thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện. Đề tài cấp bộ 2016  
-
Năm 2017: Bảo hộ chỉ dẫn địa lý với việc đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ của người  
nông dân trong thương mại nông sản. Tạp chí Giáo dục và Xã hội.  
-
Năm 2017: Sửa đổi, bổ xung quy định về vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật  
chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp Đồng tác giả. Hội thảo khoa học cấp quốc gia:  
Đánh giá một số hạn chế trong việc thực hiện Luật đất đai năm 2013 và đề xuất giải pháp  
khắc phục. Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam tổ chức  
-
Năm 2017-2018: Giám sát của Quốc hội trong việc thực hiện pháp luật về cơ cấu  
lại ngành nông nghiệp – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện. Đề tài cấp bộ 2018  
-
Năm 2018: Thực hiện quyền tác giả trong việc sử dụng giáo trình, bài giảng của  
sinh viên Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Đề tài cấp Học viện tại Học viện Nông  
nghiệp Việt Nam  
-
Năm 2019: Quan hệ giới trong gia đình nông thôn Việt Nam. Tạp chí Giáo dục và  
Xã hội (Số Đặc biệt kỳ I - Tháng 3 năm 2019).  
-
Năm 2019: Phân tầng xã hội trong các gia đình làm nghề thu gom phế liệu. Nghiên  
cứu trường hợp tại xã Dị Sử, Mỹ Hào, Hưng Yên. Đề tài cấp Học viện 2019  
-
Năm 2019: Quyền sao ch p của người học: Nhìn từ góc độ quyền sử dụng hợp lý.  
Bài báo đăng trên tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, trang 45  
2.5. Hợp tác quốc tế trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học  
Khoa Khoa học xã hội đã và đang kế thừa và phát triển các mối quan hệ hợp tác  
trong đào tạo và nghiên cứu khoa học với các cơ sở đào tạo, tổ chức quốc tế. Hiện tại  
Khoa duy trì và tiếp tục phát triển hợp tác đào tạo, hướng tới xu hướng phát triển các  
chương trình trao đổi sinh viên, hội thảo chuyên môn, hợp tác nghiên cứu với các trường  
đại học trên thế giới như: Đại học Liege, Đại học Chiang Mai (Thái Lan), …  
Ngoài ra trên cơ sở tham gia các đề tài nghiên cứu, các dự án phát triển, cán bộ  
giảng viên trong khoa cũng gây dựng và phát triển mối quan hệ hợp tác với các tổ chức  
quốc tế có uy tín như các trường đại học khối Pháp ngữ -Vương Quốc Bỉ (dự án Việt –  
Bỉ), Ngân hàng thế giới WB, Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC), các tổ chức phi chính  
phủ... Trên cơ sở hợp tác với các tổ chức trong và ngoài nước, năng lực đội ngũ cán bộ  
19  
được tăng cường và qua đó nhiều sinh viên, học viên được tham gia đề tài nghiên cứu có  
ý nghĩa thực tiễn, phát triển chuyên môn và tăng cường tiếp cận với thực tế. Quá trình  
hợp tác đã tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ công tác nghiên cứu khoa học và công bố  
công trình nghiên cứu trong và ngoài nước.  
PHẦN 3: CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 45 trang myanh 26420 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề án mở ngành đào tạo trình độ Đại học - Ngành: Luật - Học viện Nông nghiệp Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfde_an_mo_nganh_dao_tao_trinh_do_dai_hoc_nganh_luat.pdf