Hát triển bền vững ngành dệt may Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM TRONG BỐI
CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
NGUYỄN MINH NGUYỆT
TÓM TẮT
Trong các ngành nghề hiện đang phát triển ở Việt Nam, Dệt may là một trong
những ngành công nghiệp mũi nhọn, luôn có tỷ trọng tăng trưởng đều đặn qua từng
năm. Tuy nhiên, nếu phân tích cả một quá trình phát triển và các con số Việt Nam đã
đạt được, dệt may Việt Nam thu hút các nhà đầu tư nước ngoài chủ yếu do giá nhân
công thấp và môi trường kinh doanh nhiều ưu đãi từ chính phủ. Xuất khẩu dệt may
có cao nhưng giá trị thu về lại thấp, thu ngân sách nhà nước từ ngành dệt may chưa
tương xứng với thực trạng và vị thế của ngành trong toàn bộ nền kinh tế của Việt
Nam. Cùng với xu hướng chung của tất cả các ngành nghề, ngành dệt may thế giới
đang hướng tới sự phát triển bền vững, nhằm củng cố vị thế cạnh tranh và đảm bảo
sự phát triển lâu dài trong tương lai của quốc gia mình. Nếu chúng ta không có những
giải pháp kịp thời nhằm theo kịp xu hướng chung của thế giới, Việt Nam sẽ mất dần
vị thế trên bản đồ các quốc gia phát triển ngành dệt may của thế giới.
Chính vì vậy, việc định hướng ngành dệt may Việt Nam phát triển theo xu
hướng bền vững là tất yếu.
Từ khóa: phát triển bền vững ngành dệt may Việt Nam, phát triển bền vững,
hội nhập kinh tế quốc tế.
ABSTRACT
Textile and Apparels is one of the key industries in Vietnam, with a steady
growth rate for recent years. Statistical data and recent analysis show that, Vietnam's
textile and garment industry attracts foreign investors mainly due to competitive labor
costs, favorable business benefits from government and stable political status. Even
though Textile and apparel exports shows the reasonable up trend, still it does not
contribute the expectation of state revenue. The Competitors across the globe moves
towards sustainable developments to consolidate the productivity, and to ensure long
term development of Textile and Apparel industry.
Timely and effective solutions are required to keep up with the general trend
towards the progress of textile and Apparel industry, failing to do so Vietnam will
gradually lose its position of the world ranking this potential industry.
It is certain that Vietnam's textile and Apparel industry need further progress
towards sustainable development.
Key word: Sustainable development of Vietnam's Textile and Apparel
industry, international economic integration Vietnam's textile and Apparel industry,
sustainable development.
I. Thực tiễn ngành dệt may Việt Nam cần phải phát triển bền vững
Ngành dệt may Việt Nam trong nhiều năm qua luôn là một trong những ngành
xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Với sự phát triển của công nghệ kĩ thuật, đội ngũ
lao động có tay nghề ngày càng chiếm tỉ lệ lớn và sự ưu đãi từ các chính sách nhà
nước, ngành dệt may đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ, vừa tạo ra giá trị hàng
hóa xuất khẩu, vừa đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Vì vậy, việc
tiếp tục phát triển ngành dệt may là rất cần thiết.
Bên cạnh đó, xu hướng về thời trang trên thế giới hiện nay hướng tới giá trị hoàn
hảo nhất của sản phẩm, trong đó có vấn đề tài nguyên và bảo vệ môi trường. Tất cả
các nhãn hàng lớn hiện nay đều thay đổi và đi theo 1 xu hướng chung là phát triển
bền vững.
Từ đó cho thấy phát triển bền vững (PTBV) là xu hướng ngành dệt may VN
hiện nay, phù hợp với thực tiễn, theo kịp xu hướng chung của thế giới và được sự
đồng thuận của chính phủ. Ngành dệt may Việt Nam hướng tới PTBV còn nhằm đáp
ứng các nhu cầu từ thực tiễn:
Vấn đề giải quyết việc làm: Hiện tại khi đất nước còn đang nghèo, các ngành
sản xuất nói chung và ngành dệt may nói riêng vẫn còn lạc hậu thì phương thức gia
công vẫn còn có ý nghĩa rất to lớn trong vai trò giải quyết việc làm cho một lực lượng
lớn lao động trong xã hội.
Các đối thủ cạnh tranh: Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng hiện nay, ngành dệt
may Việt Nam đang phải cạnh tranh khốc liệt với các đối thủ làm hàng xuất khẩu như
Bangladesh, Pakistan, Ấn Độ… Bởi các nước này đang nhận được sự hỗ trợ từ chính
phủ của họ khi giảm thuế thu nhập DN, giảm thuế nhập khẩu, miễn thuế nguyên liệu
và năng lượng cho hàng dệt may xuất khẩu. Tận dụng các thế mạnh về dân số trẻ, chi
phí lao động thấp và nguồn tài nguyên dồi dào, các quốc gia như Lào, Campuchia,
Myanmar cũng đang đẩy mạnh các chính sách đầu tư và đang trở thành các đối thủ
cạnh tranh trên thị trường dệt may hiện nay.
Yêu cầu về các tiêu chuẩn chung: Việt Nam đứng hạng cao trong danh sách
các quốc gia xuất khẩu hàng may mặc lớn nhất trên thế giới nhưng lại nổi tiếng hơn
về chi phí sản xuất thấp và tiêu chuẩn môi trường kém. Quá trình sản xuất của ngành
từ giai đoạn xử lý nguyên liệu thô đến sản xuất thành phẩm tiêu tốn nhiều năng lượng,
khai thác, sử dụng và xả nguồn chất thải lớn vào môi trường. Việc sử dụng quá mức
cũng xảy ra trong giai đoạn vận chuyển, bán hàng và truyền thông sản phẩm. Nhiều
yếu tố khác cũng có thể ảnh hưởng đến viêc tiêu thụ nước và năng lượng. Chẳng hạn,
các loại sợi khác nhau được làm từ nguyên liệu có thể tái tạo như cotton, tre và lụa
hay các nguyên liệu không thể tái tạo như dầu mỏ thì lượng tiêu thụ nước và năng
lượng cũng không giống nhau.
Qui định trong các hiệp định thương mại: VN hiện nay tham gia kí kết nhiều
hiệp định thương mại tự do, trong đó, các điều khoản quy định ngày một khắt khe,
đặc biệt là quy định về nguồn gốc xuất xứ trong CPTPP: quy định từ sợi trở đi.
Nếu không thay đổi các cách thức hoạt động, Việt Nam có thể sẽ đánh mất vị
thế cạnh tranh. Việc hướng đến PTBV của ngành dệt may là một quyết định đúng đắn
để VN giữ vững vị thế và gia tăng giá trị cho toàn ngành đối với toàn nền kinh tế của
quốc gia, đồng thời giúp nâng cao trình độ và chất lượng cuộc sống cho người lao
động, giảm khoảng cách giàu – nghèo trong xã hội.
Nguồn lao động giá rẻ của VN sẽ không còn là lợi thế: Ngành dệt may VN
phát triển như ngày nay cũng một phần do lợi thế về nguồn nhân công giá rẻ. Tuy
nhiên, xu hướng lương của công nhân dệt may đang có xu hướng tăng và thời gian
tới sẽ không còn là thế mạnh cạnh tranh của ngành dệt may VN nữa. Chính vì vậy,
việc ngành dệt may VN hướng đến PTBV là vấn đề tất yếu.
II. Thực trạng phát triển ngành dệt may Việt Nam theo hướng bền vững
1. Những thành quả đã đạt được
- Về mặt kinh tế:
• Ngành dệt may VN có vị trí cao trên thế giới trong các nước xuất khẩu
hàng dệt may. Kim ngạch xuất khẩu dệt may duy trì tăng đều qua các năm.
Biểu đồ 1. Kim ngạch xuất khẩu dệt may qua các năm (2013-2017)
(tỷ USD) (Nguồn: Tổng cục thống kê)
• Ngành dệt may VN đã có nhiều bước phát triển về công nghệ, kỹ thuật. Từ
các máy móc thô sơ đã từng bước trang bị các dây chuyền hiện đại. Chẳng hạn như
công ty may Nhà Bè, công ty may Việt Tiến đã trang bị chuyền treo thay cho chuyền
may truyền thống. Hệ thống chuyền treo giúp tăng năng suất và giảm nhân công tham
gia vận chuyển giữa các công đoạn. Hoặc công ty giặt nhuộm Sài Gòn 3, đã trang bị
hệ thống máy tạo hiệu ứng tự động thay cho việc công nhân phải tạo hiệu ứng bằng
tay, vừa độc hại lại tốn rất nhiều thời gian để tạo ra sản phẩm.
Hình 1. Xưởng may sử dụng chuyền may truyền thống
(Công ty may Việt Tiến vào những năm 1990)
Hình 2. Xưởng may sử dụng chuyền treo tự động
(Công ty may Việt Tiến vào năm 2015)
• Đã có một số thương hiệu thời trang VN đứng vững tại thị trường nội địa
và đã thâm nhập một số thị trường nước ngoài. Ví dụ như nhãn hiệu thời trang Việt
Tiến, Việt Thắng, Vigamex, Nhà Bè, Dệt may Thái Tuấn, Sợi Phong Phú,…
• Rất nhiều các doanh nghiệp dệt may có đủ năng lực săn xuất các đơn hàng
lớn, đòi hỏi chất lượng cao, có đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trong
cùng khu vực và một số nước trên thế giới.
Biểu đồ 2. Kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may, dày dép của các nước Đông
Nam Á (tỷ USD) (1995-2013) (Nguồn: UNCTAD,2016)
- Về mặt xã hội:
• Tạo thêm việc làm ổn định cho người lao động: Giải quyết được công ăn
việc làm cho phần lớn người lao động, đặc biệt là khu vực nông thôn. Ngành dệt may
phát triển trong nhiều năm đã góp phần làm thay đổi nền kinh tế của VN. Giúp ổn
định cuộc sống của một phần lớn người lao động. Từ đó gián tiếp kích thích tiêu dùng
và một số ngành nghề, dịch vụ khác phát triển theo.
Biểu đồ 3. Tổng số lao động trong ngành dệt may, dày dép và tỷ lệ % trong
tổng số lao động tại các nước Đông Nam Á (Nguồn: ASEAN,2015)
2. Những tồn tại và nguyên nhân
- Những vấn đề tồn tại
• Về mặt kinh tế:
Kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may VN tuy cao nhưng giá trị đem về
chưa tương xứng, do phần lớn kim ngạch xuất khẩu thực hiện theo phương thức gia
công. Trong đó ngành dệt may vẫn chưa chủ động được nguồn nguyên vật liệu đầu
vào mà phần lớn phải nhập từ nước ngoài.
Thị trường xuất khẩu còn nhỏ bé, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có,
còn bị phụ thuộc vào hạn ngạch, chưa tận dụng hết khả năng khai thác thị trường và
mặt hàng xuất khẩu không hạn ngạch, chưa thâm nhập được vào mạng lưới phân phối
của các thị trường lớn, thường phải xuất khẩu qua trung gian.
Thị trường nội địa với sức mua ngày càng tăng đang bị bỏ ngỏ chưa được
quan tâm đúng mức.
Năng lực sản xuất tuy đã được nâng cao nhưng mức sản xuất thực tế vẫn
thấp hơn năng lực sản xuất thiết kế.
Thương hiệu yếu, khả năng tiếp cận thị trường quốc tế kém, không tiếp cận
trực tiếp nhà bán lẻ mà phải thông qua các nhà xuất nhập khẩu, thậm chí là các nhà
môi giới xuất nhập khẩu.
Hạn chế về khả năng tự chủ nguyên phụ liệu trong sản xuất, hầu hết những
nguyên liệu sản xuất phải nhập khẩu đẩy các doanh nghiệp may xuất khẩu của Việt
Nam vào thế bị động trong kinh doanh. Liên kết dọc theo chiều hoàn thiện sản phẩm
may mặc và liên kết giữa các doanh nghiệp may xuất khẩu nhằm tạo ra sức mạnh
chưa chặt chẽ và chưa hiệu quả.
• Về mặt xã hội:
Bên cạnh các thành quả đạt được của ngành dệt may trong việc giải quyết
việc làm cho một lượng lớn lao động của VN, ngành dệt may VN còn tồn tại một số
vấn đề về mặt xã hội như sau:
Công nhân trong các doanh nghiệp dệt may, dù làm việc lâu năm cũng chỉ
thành thạo một vài công đoạn, không có khả năng may hoàn chỉnh 1 sản phẩm.
Công nhân ngành dệt may ý thức lao động và trách nhiệm còn thấp, năng
suất làm việc chưa cao, chưa đáp ứng được với công nghệ máy móc hiện đại và các
quy trình mới. Tinh thần trách nhiệm trong công việc, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức
công dân, văn hoá doanh nghiệp, ý thức tuân thủ kỷ luật lao động của một bộ phận
đáng kể người lao động chưa cao
Trình độ của người lao động còn thấp, các quản lý cấp trung và cấp cao
phần lớn được phát triển từ công nhân nên còn thiếu các kỹ năng mềm: quản lý nhân
sự, tự sáng tạo, kỹ năng đàm phán và giải quyết vấn đề, …
Nguồn nhân lực được qua đào tạo thì chỉ giỏi lý thuyết với các mô hình dệt
may đã lạc hậu, kém về năng lực thực hành và ứng dụng công nghệ cao vào quá trình
lao động, kém về ngoại ngữ và hạn chế trong việc thích nghi môi trường có áp lực
cạnh tranh cao.
VN hiện nay đã có nhiều trường, trung tâm đào tạo nhân lực cho ngành dệt
may, tuy nhiên, phần lớn sinh viên ra trường đều tập trung vào làm cho các doanh
nghiệp nước ngoài.
• Về mặt môi trường:
Chưa có các chế tài phù hợp để hạn chế các doanh nghiệp nước ngoài đầu
tư vào lĩnh vực có sản sinh chất thải độc hại.
Các công nghệ truyền thống hiện nay được áp dụng trong việc xử lý nước
thải dệt nhuộm còn nhiều bất cập, tính hiệu quả không gcao do quy trình xử lý phức
tạp, tốn diện tích xử lý các thành phần ô nhiễm.
Quy hoạch phát triển ngành may ở từng vùng, từng địa phương chưa có sự
thống nhất và đồng bộ. Phần lớn vẫn tập trung ở các thành phố lớn, tạo ra sức ép về
dân số và môi trường sống.
- Nguyên nhân của những vấn đề tồn tại
• Vấn đề về nguồn nhân lực ngành dệt may:
Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực còn nhiều vấn đề bất cập
so với yêu cầu. Chưa có một chiến lược phát triển nguồn nhân lực toàn diện và dài
hạn, mang tầm quốc gia để định hướng các cơ quan, đoàn thể cùng phối hợp hành
động.
Hệ thống giáo dục từ cấp phổ thông, đến đào tạo nghề, đại học, sau đại
học là lực lượng nòng cốt trong quá trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực còn
bộc lộ nhiều hạn chế, dù đã trải qua rất nhiều cải cách, đổi mới.
Quá trình hợp tác và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân
lực chưa theo kịp quá trình hội nhập kinh tế, văn hoá, xã hội ngày càng sâu rộng của
Việt nam. Hệ thống giáo dục chưa bắt kịp với mô hình hệ thống giáo dục và đào tạo
nhân lực phổ biến của các nước trong khu vực và thế giới. Đào tạo ngoại ngữ của
Việt Nam còn nặng tính hình thức, lý thuyết nhưng lại yếu kém trong thực hành.
Nguồn lực quốc gia và khả năng đầu tư cho phát triển nhân lực của phần
lớn các gia đình còn hạn chế, chưa đáp ứng điều kiện tối thiểu để bảo đảm chất lượng
các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao.
• Vấn đề về nguồn nguyên vật liệu đầu vào và khoa học công nghệ:
Chưa có quy hoạch phát triển cụ thể cho các cụm công nghiệp hỗ trợ, vấn
đề đầu tư vẫn còn dàn trải và không tập trung vào những ngành thiết yếu, vấn đề đầu
tư và ưu đãi còn dàn trải.
Khả năng tiếp cận nguồn vốn của các doanh nghiệp dệt may rất hạn chế, bị
rang buộc bởi các quy định kiềm chế của chính phủ. Chính vì năng lực tài chính hạn
chế, trình độ quản trị doanh nghiệp bất cập, thiếu phương án kinh doanh khả thi,
không có khả năng chọn lựa phương án đầu tư khoa học công nghệ thích hợp nên các
doanh nghiệp dệt may không có được chiến lược tối ưu cho sản xuất kinh doanh.
• Vấn đề về các chính sách hỗ trợ của chính phủ:
Chưa có giải pháp vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ: là loại doanh
nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của toàn ngành nhưng khối các
doanh nghiệp dệt may có quy mô nhỏ và vừa rất khó tiếp cận nguồn vốn vay từ chính
phủ. Đây chính là nút thắt hạn chế đà phát triển của doanh nghiệp. Buộc họ phải tập
trung vào hình thức sản xuất tốn ít vốn nhất, đó là thâm dụng lao động vào các khâu
gia công.
Chưa có các đơn vị đầy đủ chức năng thẩm định tính khả thi của các dự án
đầu tư trong lĩnh vực dệt may.
Chưa có sự triển khai đồng bộ và phối hợp chặt chẽ giữa các chương trình
hỗ trợ doanh nghiệp của các bộ, ngành, địa phương.
Chính sách bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ còn tồn tại
nhiều bất cập, chưa phát huy được hiệu quả trong trợ giúp doanh nghiệp tiếp cận vốn
tín dụng ngân hàng.
III. Mục tiêu và xu hướng phát triển ngành dệt may Việt Nam trong thời gian
tới
Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp Dệt May
Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 theo quan điểm như sau:
-
Phát triển ngành dệt may theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững;
chuyển mạnh sản xuất từ gia công sang mua nguyên liệu, bán thành phẩm, đảm bảo
nâng cao chất lượng, đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu;
-
Lấy xuất khẩu làm phương thức cơ sở cho sự phát triển của ngành, đồng
thời đáp ứng tối đa nhu cầu thị trường nội địa. Tập trung phát triển mạnh các sản
phẩm công nghiệp hỗ trợ, sản xuất nguyên phụ liệu, nâng cao giá trị gia tăng của các
sản phẩm trong ngành;
-
Phát triển ngành dệt may phải gắn với bảo vệ môi trường và xu thế dịch
chuyển lao động nông nghiệp, nông thôn. Phát triển các khu, cụm công nghiệp sợi
dệt nhuộm tập trung để tạo điều kiện xử lý môi trường. Chuyển các doanh nghiệp dệt
may sử dụng nhiều lao động về các vùng nông thôn, đồng thời phát triển thị trường
thời trang dệt may tại các đô thị và thành phố lớn;
-
Phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng cho sự phát triển
bền vững của ngành dệt may, trong đó chú trọng đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ kỹ
thuật, công nhân lành nghề nhằm tạo ra đội ngũ doanh nhân giỏi, cán bộ, công nhân
lành nghề, chuyên sâu;
-
Huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển dệt may, kêu gọi những nhà
đầu tư nước ngoài đầu tư vào những lĩnh vực mà các doanh nghiệp trong nước còn
yếu và thiếu kinh nghiệm.
Từ các quan điểm trên, chính phủ dự kiến quy hoạch phát triển ngành dệt may
VN thành 7 vùng chiến lược:
- Khu vực 1: Vùng Đồng bằng sông Hồng
- Khu vực 2: Vùng Trung du và miền núi phía Bắc
- Khu vực 3: Vùng Bắc Trung Bộ
- Khu vực 4: Vùng Duyên hải Nam Trung bộ
- Khu vực 5: Vùng Đông Nam Bộ
- Khu vực 6: Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
- Khu vực 7: Vùng Tây nguyên
IV. Một số giải pháp phát triển bền vững ngành dệt may Việt Nam
1. Giải pháp PTBV về mặt kinh tế
Thứ nhất, các doanh nghiệp dệt may phải nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn
vốn: Minh bạch hoạt động và báo cáo tài chính. Nâng cao chất lượng đào tạo nhân
viên cho doanh nghiệp. Thiết kế các kế hoạch và tài liệu hướng dẫn quản lý rủi ro,
các chi phí quản lý doanh nghiệp. Đào tạo nhân viên chuyên sâu về quản lý tài
chính/vốn…
Thứ hai, ngành dệt may VN cần phải tạo chuỗi giá trị: Khảo sát và dự đoán thị
trường, thiết kế sản phẩm mới dẫn đầu và định hình xu hướng trang phục trong nước
và quốc tế. Tăng cường quản lý chất lượng, thử nghiệm, chứng nhận phù hợp với tiêu
chuẩn quốc tế và khu vực; xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật sản
phẩm dệt may phù hợp và hài hòa với quốc tế; nâng cao năng lực tư vấn, nghiên cứu
triển khai, chuyển giao công nghệ, khả năng thiết kế và sáng tác mẫu của các Viện
nghiên cứu. Phải xây dựng tiêu chuẩn và gia tăng gia trị cho từng bước công đoạn,
có như thế mới tạo được giá trị tốt nhất cho sản phẩm cuối cùng.
Thứ ba, Giải pháp về thị trường: Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, mở rộng
thị trường nội địa. Tiếp tục xuất khẩu tại các thị trường truyền thống như: Hoa Kỳ,
Châu Âu, Nhật Bản và gia tăng xuất khẩu vào các thị trường mới, những thị trường
ngách như Hàn Quốc, khối BRIC, khối ASEAN, khối châu Phi, Canada, Thổ Nhĩ Kỳ,
...
Thứ tư, Tiếp tục nâng cao năng suất lao động: Hiện tại năng suất lao động kỹ
thuật của Dệt may Việt Nam đã đạt tương đương các quốc gia cạnh tranh chính như
Ấn Độ, Bangladesh, Mexico, Indonesia. Cao hơn các quốc gia Trung mỹ - Caribe,
Myanma, Campuchia. Đạt 80% năng suất của Trung Quốc với đơn hàng lớn, và trên
90% với đơn hàng vừa và nhỏ. Mục tiêu, năng suất lao động kỹ thuật của Việt Nam
phải đạt trong top 3 quốc gia đứng đầu thế giới để đảm bảo duy trì và đạt được vị trí
là quốc gia xuất khẩu Dệt may lớn từ thứ 3- 5 trên thế giới. Đây cũng là giải pháp căn
bản để hạn chế bớt ảnh hưởng của việc giảm giá đồng tiền của các quốc gia canh
tranh chính như Trung Quốc (giảm 6% năm 2015), Malaysia (giảm 17%), Ấn độ
(giảm 4%), Pakistan (giảm trên 6%), Indonesia (14%), đồng euro và đồng Yên yếu
cũng làm giảm nhu cầu nhập khẩu của 2 thị trường này.
Thứ năm, giải pháp về sản phẩm mới: Tập trung nghiên cứu thiết kế sản phẩm
mới cho nhiều phân khúc tiêu dùng khác nhau. Xây dựng các trung tâm thiết kế thời
trang ở các thành phố lớn, nơi tập trung nhiều đối tác nước ngoài và nguồn nhân sự
chất lượng cao.
Thứ sáu, giải pháp về chuỗi cung ứng: Ngành dệt may VN phải tham gia được
chuỗi cung ứng toàn cầu bằng cách thúc đẩy phát triển ngành trồng bông vải, khuyến
khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư vào lĩnh vực dệt, sợi, chỉ, cúc, dây kéo,…
Xây dựng mô hình kho bãi theo tiêu chuẩn quốc tế, ứng dụng công nghệ thông tin
vào quản lý vật tư và hàng hóa. Đẩy mạnh phát triển các dịch vụ vận tải, rút ngắn thời
gian luân chuyển hàng hóa và bán thành phẩm nhằm giảm chi phí và đáp ứng tốt nhất
thị trường.
2. Giải pháp PTBV về mặt xã hội
Một là, Đào tạo nhân sự chất lượng cao: Tiếp tục thực hiện Chương trình đào
tạo nguồn nhân lực cho ngành dệt may. Nội dung bao gồm đào tạo về kỹ thuật, công
nghệ và các kỹ năng mềm trong lĩnh vực quản trị, phát triển sản phẩm, thiết kế và
nghiên cứu thị trường, đào tạo nghề. Xây dựng kế hoạch đào tạo lao động ngành dệt
may theo hướng hình thành cụm để phục vụ chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh
của toàn ngành. Củng cố hệ thống đào tạo chuyên ngành dệt may, thành lập trường
đại học chuyên ngành về công nghệ dệt may và thời trang;
Hai là, Đảm bảo đầy đủ chế độ bảo hiểm cho người lao động: Ngành dệt may
là ngành sử dụng phần lớn lực lượng lao động trong xã hội. Trong đó, rất nhiều vị trí
làm việc có khả năng gây tổn hại đến sức khỏe của người lao động trong một thời
gian dài. Chính vì vậy, các doanh nghiệp cần phân tích và sử dụng lao động cho từng
vị trí làm việc phù hợp. Có chế độ nghỉ ngơi và phụ cấp đầy đủ để đảm bảo sức khỏe
của người lao động. Ngoài các chế độ bảo hiểm sức khỏe thông thường, chủ doanh
nghiệp phải tổ chức cho người lao động khám bệnh định kì để phát hiện và chữa trị
kịp thời nếu có phát sinh bệnh, điều này giúp họ yên tâm sản xuất. Đây cũng chính là
việc làm góp phần nâng cao đời sống của người lao động.
Ba là, xây dựng văn hóa, đạo đức trong doanh nghiệp: Nhìn một cách khái
quát, Ngành dệt may còn tồn tại nhiều vấn đề về văn hóa và đạo đức. Chẳng hạn, ý
thức người lao động còn thấp trong việc bảo vệ môi trường, còn vứt bỏ chất thải,
phung phí nguồn điện, nước sinh hoạt. Tất cả những điều đó làm lợi cho doanh nghiệp
không bao nhiêu nhưng ảnh hưởng đến môi trường sống của địa phương, văn hóa và
ý thức bảo vệ môi trường của cộng đồng. Khi bị phát hiện, sản phẩm của họ sẽ bị
khách hàng từ chối, lúc bấy giờ sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh.
Vì vậy, cần phải xây dựng văn hóa, đạo đức trong các doanh nghiệp dệt may. Các tổ
chức như chính quyền, đoàn thể, hiệp hội cũng cần phải vào cuộc, thường xuyên có
các phong trào vận động để xây dựng văn hóa, đạo đức của người lao động nhằm giữ
gìn môi trường sống không ô nhiễm và môi trường kinh doanh lành lạnh.
Bốn là, Xây dựng văn minh và tác phong công nghiệp, nhất là ở khu vực nông
thôn để đáp ứng sẵn sàng cho việc chuyển đổi sang làm việc trong khu vực công
nghiệp. Việc xây dựng văn minh và tác phong công nghiệp phải được bắt đầu từ các
cấp quản lý cao nhất, để từ đó xây dựng chuẩn mực và hình mẫu cho nhân viên noi
theo.
3. Giải pháp PTBV về mặt môi trường
Một là, Tăng cường hoạt động kiểm tra giám sát môi trường trong ngành dệt
may. Giáo dục ý thức chủ doanh nghiệp, người lao động bảo vệ môi trường
Hai là, Hướng dẫn và hỗ trợ xử lý chất thải bằng các công nghệ tiên tiến nhất,
nhằm đảm bảo nguồn xả không chứa chất độc hại ra môi trường.
Ba là, Nghiên cứu áp dụng các công nghệ mới, các nguyên liệu mới để tạo ra
các sản phẩm dệt có tính năng khác biệt, triển khai các chương trình sản xuất sạch
hơn, tiết kiệm năng lượng, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn
và bảo vệ cho người tiêu dùng; áp dụng các phần mềm trong thiết kế, quản lý sản xuất
và chất lượng sản phẩm dệt may.
Bốn là, Xây dựng và thực hiện lộ trình đổi mới công nghệ trong ngành dệt may
theo hướng sản xuất “thân thiện với môi trường”, sản xuất sạch hơn, sử dụng hợp lý,
tiết kiệm và đạt hiệu quả cao các hóa chất, chất phụ trợ, thuốc nhuộm, hơi, điện, nước,
...
Năm là, Tăng cường năng lực nghiên cứu khoa học công nghệ về môi trường
để đáp ứng các yêu cầu về môi trường và rào cản kỹ thuật trong hội nhập kinh tế quốc
tế.
Sáu là, Để tăng tính cạnh tranh, các doanh nghiệp dệt may VN cần cải thiện
việc tiêu thụ nhiên liệu. Triệt để thực hiện chủ trương tiết kiệm 10% chi phí của các
doanh nghiệp, coi đó như là cơ sở để tăng khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt
Nam so với hàng dệt may Trung Quốc. Chỉ có làm như vậy, các doanh nghiệp dệt
may mới tạo được giá cả sản phẩm có tính cạnh tranh trên thị trường và được nhiều
người tiêu dùng chấp nhận.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tham khảo tiếng Việt
1. Đinh Phi Hổ và nhóm tác giả.(2015). Kinh tế phát triển – Căn bản và nâng
cao. Hồ Chí Minh: NxB Kinh tế.
2. Đoàn Thị Hương Li. (2008). Luận văn thạc sỹ kinh tế “ Công nghiệp hỗ trợ
ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu” . Đại học Ngoại thương Hà
Nội.
3. Lê Hồng Thuận. (12/2017) . Báo cáo ngành dệt may. Công ty cổ phần chứng
khoán FPT.
4. IUCN, UNEP và WWF soạn thảo và công bố. (1991). Cứu lấy Trái đất – Chiến
lược cho cuộc sống bền vững.
5. Nguyễn Hồng Chỉnh. (2017). Luận án Tiến sỹ kinh tế “Nâng cao năng lực
cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam trong bối cảnh tham gia Hiệp định đối tác
xuyên Thái Bình Dương”. Hà Nội (LA03.058)
6. Phạm Anh Đức. (2009). Luận văn “ Thực trạng và phương hướng phát triển
hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam”. Đại học Kinh tế Quốc dân – Khoa Thương Mại.
7. Rachel Carson. (1962), Nhóm dịch Khánh An. “The Silent Spring – Mùa xuân
vắng lặng “. NxB Thế giới (2018).
8. Trương Thành Long. (2006). Luận văn thạc sỹ “ Phát triển ngành nguyên liệu
dệt may Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”. Đại học Ngoại thương
Hà Nội.
9. Quyết định của Chính phủ Số: 432/QĐ-TTg, 2012, Phê duyệt Chiến lược Phát
triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020. Truy cập 12 01 2019, từ
10. Túc Mạnh. (14-11-2018). “Dệt may Việt Nam sẽ tăng gấp đôi thị phần tại các
thị trường CPTPP sau năm 2019”. Truy cập 12 01 2019, từ CafeF:
11. Câu lạc bộ Rome. Truy cập 12 01 2019 từ Wikipedia:
12. Mai Anh. (2014). “Lịch sử và ý nghĩa ngày Môi trường Thế giới”. Truy cập
13. Anh Vũ. (2009). “Biến đổi khí hậu: Những điều cần biết”. Truy cập 12 01
Tài liệu tham khảo tiếng Anh
1. Peter P.Rogers, Kazi F.Jalal and John A.Boyd. (2007). An Introduction to
Sustainable Development
2. A. K. M. Ayatullah Hosne Asif. (2017). An Overview of Sustainability on
Apparel Manufacturing Industry in Bangladesh. Science Journal of Energy
Engineering.Vol.5,No.1,2017,pp.1-12 -
Hướng dẫn khoa học
TS. Vòng Thình Nam
Bạn đang xem tài liệu "Hát triển bền vững ngành dệt may Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hat_trien_ben_vung_nganh_det_may_viet_nam_trong_boi_canh_hoi.pdf

