Phát triển khu du lịch núi sam Thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang
PHÁT TRIỂN KHU DU LỊCH NÚI SAM
THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
DEVELOPMENT OF MOUNTAIN TRAVEL AREA IN CHAU DOC CITY,
AN GIANG PROVINCE
Phạm Thanh Cường
Học viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh
TÓM TẮT
Khu du lịch Núi Sam Châu Đốc có nhiều tiềm năng về thiên nhiên, các di tích lịch sử, văn
hóa, lễ hội độc đáo, mang tính đặc thù riêng. Núi sam là điểm đến có tiềm năng phát triển du lịch
tâm linh đặc sắc, vượt ra khỏi ranh giới của tỉnh An Giang, mang tính đại diện cho vùng đồng
bằng sông Cửu Long. Đây là yếu tố quan trọng để Núi Sam có thể phát triển để trở thành một
điểm đến du lịch không chỉ có ý nghĩa địa phương mà còn có ý nghĩa quốc gia và khu vực.
Thông qua hoạt động của ngành du lịch đã đóng góp vào nguồn thu ngân sách của thành phố
ngày càng lớn hơn. Tuy nhiên, du lịch Châu Đốc vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần khắc phục,
như: ứng xử của một số hộ kinh doanh chưa thân thiện, chuyên nghiệp. Dù chính quyền địa
phương đã kiên quyết thực hiện nhiều giải pháp, song tình trạng chèo kéo du khách vẫn còn diễn
ra. Mặt khác, các loại hình du lịch, chưa đủ sức giữ chân du khách; môi trường du lịch, sản phẩm
và các dịch vụ du lịch chưa đáp ứng được nhu cầu của khách tham quan. Đặc biệt, nguồn nhân
lực phục vụ du lịch còn yếu và thiếu, cán bộ quản lý du lịch chưa được đào tạo chuyên sâu. Từ
thực trạng trên tác giả đề xuất giải pháp góp phần phát triển khu du lịch núi sam thành phố Châu
Đốc, tỉnh An Giang trong thời gian tới.
Từ khóa: Du lịch; Du lịch bền vững; Đồng bằng sông cửu long; Tổng sản phẩm quốc nội; Khu du lịch;
Kinh tế xã hội; Sản phẩm du lịch; Tổ chức lãnh thổ du lịch.
ABSTRACT
Sam Chau Doc Mountain tourist site has a lot of potentials for nature, historical sites and
cultural relics, and unique festivals. Sam mountain is a potential tourism development
destination, beyond the borders of An Giang province, which is representatie the Mekong Delta.
This is an important factor for the development of Sam Mountain to become a tourist destination
of not only local significance but also national and regional significance. Through the tourism
industry has contributed to the increasing budget of the city. However, Chau Doc tourism still
has some limitations that need to be overcome, such as the conduct of some business households
is not friendly and professional. Although the local government has firmly implemented many
solutions, the situation of attracting tourists is still happening. On the other hand, the type of
tourism, not enough to retain visitors; The tourism environment, products and tourism services
do not meet the needs of visitors. In particular, human resources for tourism are weak and
lacking, tourism managers have not received intensive training. From the above situation, the
author proposes solutions to contribute to the development of Sam Mountain mountain tourist
area of Chau Doc city, An Giang province in the coming time.
Keywords: Travel; Sustainable Tourism; Mekong River Delta; Gross domestic product; Tourist
area; Socioeconomic; Tourism products; Tourism territory organization.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Du lịch An Giang đặc biệt là Thành bằng đã tạo nên một vùng đất mang lại cho
phố Châu Đốc với các đặc tính về du lịch tâm người dân khắp mọi miền đất mước một niềm
linh tín ngưỡng và sinh thái núi giữa đồng tin vào cuộc sống hạnh phúc, an lành và thịnh
vượng. Từ những đặc tính về lịch sử để lại và
vị trí kinh tế thuận lợi xét trong phạm vi các
nước tiểu vùng sông Mekong (GMS), Châu
Đốc được đánh giá là một trong bốn trục chiến
lược phát triển kinh tế du lịch của vùng Đồng
Bằng Sông Cửu Long và GMS là Cần Thơ-
Kiên Giang (Phú Quốc)-An Giang(Châu
Đốc)-Cambodia(Sihanoukville–Phnomphenh).
Tiêu biểu là Núi Sam (với tên gọi khác là
Vĩnh Tế Sơn hay Ngọc Lãnh Sơn), một ngọn
núi cao 284m trong quần thể Bảy Núi (Thất
Sơn) thuộc xã Vĩnh Tế (nay là phường Núi
Sam, Thành phố Châu Đốc), cách thành phố
Châu Đốc khoảng 5 km về phía Tây Nam.
II. LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN
KDL NÚI SAM TP CHÂU ĐỐC
Du lịch xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử
loài người. Mỗi thời đại, quan niệm về du lịch
khác nhau, buổi ban đầu thường đi kèm với
hoạt động truyền giáo, buôn bán hoặc thám
hiểm các vùng đất mới. Việc cung ứng các
dịch vụ cho du khách để thu lợi nhuận với
mục tiêu ưu tiên hàng đầu là thương mại hoá
các sản phẩm du lịch. Từ đó xuất hiện hình
thức du lịch đầu tiên và tồn tại cho đến ngày
nay.
Khu du lịch được định nghĩa tại Khoản 6
sau: Khu du lịch là khu vực có ưu thế về tài
nguyên du lịch, được quy hoạch, đầu tư phát
triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của
khách du lịch. Khu du lịch bao gồm khu du
lịch cấp tỉnh và khu du lịch quốc gia.
Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam
đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (được
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định
số 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011) và Quy
hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam
đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
(được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại
Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/01/2013)
đã khẳng định vai trò của Núi Sam Châu Đốc
đối với phát triển du lịch Việt Nam, theo đó
Núi Sam nằm trong danh sách các điểm đến
có tiềm năng phát triển để trở thành điểm du
lịch Quốc Gia. Điều này là minh chứng, khẳng
định về những giá trị đặc biệt ở tầm quốc gia
của Núi Sam với lễ hội “Vía Bà Chúa Xứ” từ
góc độ du lịch.
Bên cạnh đó tại Điều này còn có định
nghĩa về tài nguyên du lịch như sau: Tài
nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu
tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để
hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch,
điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch.
Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch
tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa.
III. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KHU
DU LỊCH NÚI SAM TP CHÂU ĐỐC
Tuy nhiên, so với lợi thế về tiềm năng,
thì mức độ khai thác, phát triển vẫn chưa
tương xứng. Công tác quản lý còn nhiều bất
cập, nội dung chương trình du lịch chưa
phong phú, sản phẩm du lịch còn đơn điệu,
chất lượng phục vụ chưa cao, nguồn nhân lực
phục vụ du lịch còn thấp và khả năng cạnh
tranh còn nhiều hạn chế.
- Vị trí địa lý:
Khu vực nghiên cứu có vị trí địa lý ở
phía Tây của tỉnh An Giang, có đường biên
giới tiếp giáp của Việt Nam với Campuchia;
thuộc địa phận hành chính phường Núi Sam,
thành phố Châu Đốc. Diện tích khu vực nghiên
cứu lập quy hoạch khu du lịch Núi Sam bao
gồm diện tích Núi Sam và khu vực phụ cận với
tổng diện tích rộng 1.487 ha. Phường Núi Sam
được thành lập năm 2002 được tách ra từ xã
Vĩnh Tế (Theo Nghị định số 29/2002/NĐ-CP
ngày 22 tháng 03 năm 2002 của Chính phủ về
việc điều chỉnh địa giới hành chính để thành
lập phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc - nay là
thành phố Châu Đốc).
Vì vậy, cần phải có những nghiên cứu,
đánh giá cụ thể và có những định hướng và
giải pháp hợp lý, nhằm phát triển bền vững
KDL Núi Sam, nhằm đem lại hiệu quả cao,
tương xứng với tiềm năng. Với mong muốn
được đóng góp công sức của mình vào phát
triển quê hương, tôi đã chọn đề tài: “Phát
triển khu du lịch Núi Sam thành phố Châu
Đốc, tỉnh An Giang”: giải pháp cho đề tài luận
văn của mình hiệu quả nhất. Hy vọng kết quả
từ đề tài nghiên cứu sẽ đóng góp cho việc phát
triển du lịch của địa phương.
- Diện tích: 14.870.000 m²
- Địa giới hành chính phường Núi Sam:
+ Phía Đông Bắc giáp phường Châu Phú A.
+ Phía Đông Nam giáp phường Châu Phú B.
+ Phía Tây Bắc giáp xã Vĩnh Tế.
+ Phía Tây Nam giáp phường đất nông nghiệp. chậm được đổi mới; Luật du lịch và các luật,
pháp lệnh liên quan, hệ thống văn bản pháp
quy hướng dẫn thi hành còn thiếu đồng bộ và
- Đặc điểm tự nhiên
Theo quan điểm lãnh thổ và quan điểm
hệ thống tổng hợp ta xem xét điều kiện tự
nhiên của khu du lịch Núi Sam trên phương
diện toàn thành phố Châu Đốc:
chưa huy động được các nguồn lực cho phát
triển du lịch. Nhiều chính sách còn chồng
chéo. Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật
chuyên ngành chưa được hình thành; thủ tục
hành chính còn rườm rà và quy trình quản lý
chất lượng dịch vụ còn nhiều yếu kém.
- Về địa hình
Thành phố Châu Đốc thuộc vùng đồng
bằng của tỉnh An Giang do phù sa sông Hậu
bồi đắp. Địa hình chia cắt bởi các kênh rạch
ngang dọc. Với địa hình đa dạng, Châu Đốc có
điều kiện phát triển về thương mại, dịch vụ và
đặc biệt là du lịch.
- Tổ chức bộ máy của ngành có nhiều
thay đổi, chưa thực sự ổn định để phát huy
hiệu lực, hiệu quả; quản lý liên ngành, liên
vùng rất yếu. Công tác quản lý và thực hiện
quy hoạch du lịch còn nhiều bất cập, hiệu quả
chưa được như mong muốn.
- Về khí hậu
- Công tác quản lý đảm bảo phát triển
bền vững, an ninh, an toàn, văn minh du lịch
còn thiếu kinh nghiệm và chưa có tầm nhìn
dài hạn nên kém hiệu quả và thiếu tính bền
vững; quản lý bảo tồn và phát huy giá trị di
sản, bảo vệ môi trường chưa đáp ứng yêu cầu.
An Giang mang một đặc thù của khu vực
thuộc vùng nhiệt đới cận xích đạo, chịu ảnh
hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, với 2
mùa mưa, nắng rất rõ rệt, nhiệt độ trung bình
hàng năm khoảng 25oC - 29oC, nhiệt độ cao
nhất từ 36oC - 38oC, nhiệt độ thấp nhất dưới
180C. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10.
Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.500
mm. Khí hậu thành phố Châu Đốc có nhiều
điều kiện thuận lợi cho các hoạt động du lịch.
- Nhận thức về du lịch cả ở cấp quản lý
nhà nước, quản lý kinh doanh và trong nhân
dân còn thấp, chưa đầy đủ và đồng bộ, tầm
nhìn ngắn hạn trong tư duy chịu tác động của
nhóm lợi ích cục bộ do vậy vẫn còn khoảng
cách xa so với yêu cầu phát triển.
- Về thủy văn
Trữ lượng nguồn nước của TP. Châu
Đốc khá dồi dào, có thể khai thác và phục vụ
sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt từ sông Hậu
và kênh rạch chằng chịt.
3.2. Về quy hoạch, bảo vệ và khai thác tài
nguyên du lịch
- Mặc dù KDL Núi sam Châu Đốc sở
hữu nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân
văn phong phú và đa dạng nhưng cho tới nay
chưa khai thác tương xứng với tiềm năng đó,
thể hiện hệ thống sản phẩm du lịch vẫn còn
nghèo nàn, đơn điệu.
- Đặc điểm kinh tế - xã hội
- Khu du lịch Núi Sam nằm trên địa phận
đường Núi Sam, TP. Châu Đốc, cách trung
tâm thành phố khoảng 5,5 km. Phường Núi
Sam có 10 khóm - ấp: Vĩnh Đông, Vĩnh Đông
- Cho đến nay tài nguyên du lịch cả tự
1, Vĩnh Đông 2, Vĩnh Phước 1, Vĩnh Phước 2, nhiên và nhân văn chưa được thống kê, đánh
Vĩnh Xuyên, Vĩnh Tây, Vĩnh Tây 1, Vĩnh Tây giá, phân loại và xếp hạng để quản lý khai
2, Vĩnh Tây 3.
thác một cách bền vững, hiệu quả. Dẫn tới tài
nguyên du lịch thì nhiều nhưng khai thác bừa
bãi, mới dừng ở bề nổi, khai thác cái sẵn có
chưa phát huy giá trị của tài nguyên.
- Tổng số dân: 26.450 người (năm 2018)
- Mật độ dân số: 1.830 người/km2
- Sự khai thác bừa bãi, cạn kiệt tài
nguyên du lịch gắn với quá trình cạnh tranh và
trách nhiệm của các bên không rõ ràng dẫn tới
nguy cơ suy thoái nhanh giá trị của tài nguyên.
Sự xung đột về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể
kinh tế và các ngành, tầm nhìn ngắn hạn và
hạn chế về công nghệ dẫn tới một số tài
nguyên du lịch bị tàn phá, sử dụng sai mục
đích...tác động tiêu cực tới phát triển du lịch
Thành phần dân tộc: có 4 dân tộc Kinh,
Hoa, Chăm và Khmer. Trong đó người Kinh
chiếm đa số với hơn 95% dân số của phường.
Đa số các dân tộc đều hòa nhập với sự phát
triển kinh tế - xã hội chung của địa phương.
3.1.Về quản lý du lịch và vai trò của nhà
nước
- Công tác quản lý nhà nước về du lịch
bền vững.
phía đối tác liên doanh liên kết bên ngoài.
3.5. Về thị trường và sản phẩm du lịch
- Sản phẩm du lịch chậm đổi mới; phần
3.3. Về nguồn nhân lực du lịch
- Đây cũng vẫn là điểm yếu trường kỳ.
Mặc dù có nhiều cố gắng trong công tác phát lớn các doanh nghiệp du lịch có quy mô vừa
triển nguồn nhân lực du lịch thời gian qua và nhỏ, thiếu vốn, công nghệ nên khai thác
nhưng so với yêu cầu về tính chuyên nghiệp những tài nguyên có sẵn hoặc sao chép để hình
của ngành dịch vụ hiện đại và hội nhập, toàn thành sản phẩm du lịch. Vì vậy tính chất độc
cầu hóa thì nhân lực du lịch chưa đáp ứng kịp đáo, giá trị nguyên bản và ý tưởng của sản
về kỹ năng chuyên nghiệp, hội nhập, liên kết phẩm du lịch rất nghèo nàn và trùng lắp giữa
toàn cầu.
các vùng miền. Quá trình phát triển sản phẩm
chưa được nghiên cứu bài bản vì vậy chất
lượng và giá trị hàm chứa trong sản phẩm
thấp. Sự nghèo nàn, ít sáng tạo, thiếu tính độc
đáo, đặc sắc; thiếu đồng bộ và thiếu liên kết là
thuộc tính phổ biến của sản phẩm du lịch hiện
nay và là điểm yếu chính của khu du lịch Núi
sam Châu Đốc. Kết quả là sản phẩm, dịch vụ
du lịch có hàm lượng giá trị gia tăng thấp, sản
phẩm trùng lắp.
- Lực lượng lao động du lịch tuy đông
đảo nhưng tỷ lệ được đào tạo bài bản chuyên
nghiệp du lịch thấp, hơn nữa chất lượng đào
tạo du lịch vẫn còn nhiều hạn chế, chưa thích
ứng kịp với xu hướng hội nhập, cạnh tranh
toàn cầu.
- Đánh giá mặt bằng chung chất lượng
nhân lực du lịch vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đòi
hỏi về tính chuyên nghiệp, kỹ năng quản lý,
giao tiếp và chất lượng phục vụ. Ngành du
lịch thực sự thiếu đội ngũ lãnh đạo doanh
nghiệp du lịch kiểu mẫu của thời đại với yêu
cầu cạnh tranh và hội nhập cao. Đội ngũ
hướng dẫn viên chuyên nghiệp với nhiều loại
hình du lịch và ứng với các ngôn ngữ thuộc thị
trường mục tiêu vẫn chưa sẵn sàng đầy đủ.
- Sự hạn chế, yếu kém trong nghiên cứu
thị trường du lịch cả ở tầm vĩ mô và ở cấp
doanh nghiệp. Việc nghiên cứu phân đoạn thị
trường để xác định thị trường mục tiêu chưa
thực sự đi trước một bước và thường thụ động.
Kết quả nghiên cứu thị trường chưa được ứng
dụng, theo đuổi triệt để, dẫn tới các chính sách
thị trường rất cảm tính, thiếu cơ sở và bị nhiễu
loạn thông tin, biểu hiện trong sự a rua, bày
đàn trong đầu tư và cạnh tranh trên thị trường.
3.4. Về nguồn lực đầu tư cho phát triển sản
phẩm du lịch và công nghệ
- Nhu cầu đầu tư vào khu du lịch là rất
lớn trong khi đó nguồn lực về vốn và công
nghệ của khu du lịch Núi sam Châu Đốc còn
rất hạn chế. Thị trường vốn của thành phố
Châu Đốc mới được hình thành nhưng tiềm
lực còn yếu và vì vậy chưa ổn định và chưa
phát huy được vai trò điều tiết.
- Xúc tiến quảng bá du lịch chưa chuyên
nghiệp, chưa bài bản, chưa hiệu quả; mới
dừng ở quảng bá hình ảnh chung, chưa tạo
được tiếng vang và sức hấp dẫn đặc thù cho
từng sản phẩm, thương hiệu du lịch. Một số
địa danh du lịch được du khách biết đến như:
Chùa Tây An, Chùa Hang, Lăng Thoại Ngọc
Hầu, Đình Châu Phú, Đình Vĩnh Nguơn, Chùa
Huỳnh Đạo,… nhưng hình ảnh vẫn chưa đậm
nét.
- Mặc dù đạt được nhiều kết quả đáng
khích lệ, tuy nhiên, hiện nay sản phẩm du lịch
vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao
của du khách, các khu vui chơi giải trí ít về số
lượng, đơn điệu về chất lượng và nghèo nàn về
chủng loại, chưa tạo được ấn tượng sâu sắc về
sản phẩm đặc thù của du lịch Châu Đốc.
Những nỗ lực nâng cao chất lượng sản phẩm
3.6. Về chất lượng cơ sở lưu trú và ẩm thực
du lịch
* Cơ sở lưu trú:
- Lưu trú du lịch là sản phẩm không thể
du lịch thông qua việc nâng chất lượng khách thiếu trong chuỗi dịch vụ du lịch, có vị trí
sản, nhà hàng, đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng, quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng du
dịch vụ vui chơi, giải trí mới chưa thực sự hiệu lịch, thu hút du khách. Chỉ dịch vụ có chất
quả do nguồn lực đầu tư của thành phố Châu lượng mới tạo ra được uy tín, góp phần nâng
Đốc còn hạn hẹp.
- Sự tự lực khánh sinh về công nghệ, kỹ
thuật và nguồn nhân lực bậc cao của thành phố
cao tính cạnh tranh và tạo nên thương hiệu
cho từng đơn vị và toàn ngành.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả khu du lịch
Châu Đốc còn rất hạn chế và phụ thuộc vào Núi Sam Châu Đốc, hoạt động lưu trú du lịch
cũng còn nhiều hạn chế, bất cập. Theo đánh Sam Châu Đốc nói riêng, tình trạng trên đã
giá sơ bộ, ngoài hệ thống khách sạn cao cấp, khiến nhiều người dân phẫn nộ.
các cơ sở lưu trú khối nhà nghỉ du lịch, nhà có
phòng cho thuê (home-stay) và các cơ sở lưu
3.7. Về cơ sở hạ tầng du lịch
- Hệ thống cơ sở hạ tầng tiếp cận điểm
đến còn nghèo nàn, thiếu đồng bộ. Hiện tại chỉ
có số ít các bến xe đón khách bằng đường bộ;
chưa có bến tàu đáp ứng yêu cầu đón tàu du
lịch; hệ thống đường bộ, đường sắt, đường
sông đến các điểm du lịch chưa đồng bộ và
chất lượng thấp, chưa kết nối thành mạng lưới.
Vì vậy những trở ngại về cơ sở hạ tầng tiếp tục
là điểm yếu cần đầu tư dài hơi.
trú chưa xếp loại còn bộc lộ nhiều hạn chế.
Nhiều cơ sở lưu trú chưa chú trọng đầu tư
nâng cấp cơ sở vật chất, đào tạo nhân lực,
đáng lưu ý là khối khách sạn 2 sao trở xuống.
Đặc biệt nhiều cơ sở lưu trú hoạt động tự phát,
chưa được xếp loại, cơ sở vật chất, nhân lực
hạn chế gây ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ,
thương hiệu của điểm đến.
Công tác quản lý hoạt động lưu trú của
địa phương đã được phân cấp chưa thực sự
hiệu quả, nhiều cơ sở hoạt động tự phát. Dễ
thấy hoạt động còn bộc lộ những hạn chế như:
Lao động chưa qua đào tạo nghiệp vụ chiếm
cao, chạy theo lợi nhuận trước mắt, thiếu
ngoại ngữ đặc biệt là ngoại ngữ hiếm như:
Hàn, Nhật, Nga; chất lượng cơ sở lưu trú
không đồng đều ...
IV. NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI
PHÁP PHÁT TRIỂN KHU DU LỊCH NÚI
SAM TP.CHÂU ĐỐC ĐẾN NĂM 2025
Để đưa ra các giải pháp tác giả còn phải
thu thập thông tin, phỏng vấn trực tiếp đối với
những người quản lý trực tiếp Khu du lịch Núi
Sam Châu Đốc như:
1. Bà Lê Thị Tuyết Em - Trưởng ban Quản
lý Khu di tích văn hóa, lịch sử và Du lịch núi
Sam.
Công tác thanh kiểm tra chưa thường
xuyên, để rà soát cải thiện và chấn chỉnh các
cơ sở lưu trú về đảm bảo các tiêu chuẩn về
trang thiết bị, chất lượng dịch vụ, chất lượng
đội ngũ…
2. Ông Trần Lê Kiên Tâm - Phó Trưởng
Ban Quản lý Khu di tích văn hóa, lịch sử
và Du lịch núi Sam.
* Ẩm thực:
3. Ông Huỳnh Văn Đường - Trưởng ban
Những nét đặc trưng trong văn hóa ẩm
thực ở từng vùng miền khác nhau sẽ thể hiện
thói quen, phong tục tập quán, lịch sử, văn hóa
của vùng miền ấy. Sẽ là một thiếu sót lớn
trong hành trình du lịch khám phá mà không
có dấu ấn của một món ăn, thức uống nơi vùng
đất mình đã đi qua. Nhiều quốc gia trên thế
giới đã và đang nhận thức rất rõ vai trò của
văn hóa ẩm thực trong sự phát triển của ngành
du lịch. Ở một số quốc gia như Hàn Quốc,
Nhật Bản, Thái Lan, Pháp, Ý... ẩm thực được
định vị như một thế mạnh góp phần tạo nên sự
khác biệt, thu hút du khách.
Quản trị Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam.
4. Ông Đào Minh Tâm - Phó Trưởng ban
quản trị Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam.
5. Bà Vũ Thanh Trúc - Trưởng phòng Văn
hóa và Thông tin thành phố Châu Đốc.
Thực trạng quản lý du lịch, quy hoạch
tổng thể, xúc tiến đầu tư, quảng bá du lịch,
kinh doanh du lịch, cơ sở hạ tầng du
lịch…trong thời gian qua. Nhằm khai thác
những thế mạnh và khắc phục hạn chế trong
công tác quản lý khu du lịch Núi sam tại thành
phố Châu Đốc trong thời gian tới cụ thể như:
Thế nhưng trong lĩnh vực cung ứng dịch
vụ thức ăn, đồ uống và những lĩnh vực liên
quan còn chưa được chú trọng, vấn đề vệ sinh
an toàn thực phẩm và dinh dưỡng trong việc
chế biến và cung cấp thức ăn và đồ uống cho
khách, đặc biệt là khách nước ngoài. Đây là
một vấn đề lớn không chỉ ảnh hưởng tới sức
khoẻ của khách mà ảnh hưởng tới toàn bộ
cộng đồng trong xã hội.
4.1. Giải pháp quản lý du lịch và vai trò của
nhà nước
- Rà soát các quy định pháp luật về du
lịch và dịch vụ liên quan; bãi bỏ hoặc kiến
nghị bãi bỏ các quy định không hợp lý, không
còn phù hợp; cải cách mạnh mẽ các thủ tục
hành chính; cải thiện hơn quyền tự do kinh
doanh, tăng mức độ an toàn và giảm chi phí
kinh doanh.
Đặc biệt hơn là hành vi “chặt chém”,
“móc túi” du khách, ảnh hưởng xấu đến nền du
lịch trong nước nói chung và khu du lịch Núi
- Hình thành cơ chế phối hợp hữu hiệu
giữa cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch với
các cấp trong hệ thống quản lý du lịch của tỉnh thời các tình huống. Cấp và thu hồi phép, giấy
(thành phố), thành phố Châu Đốc.
hoạt động trong hoạt động du lịch.
- Phối hợp với các cơ quan cấp tỉnh: Sở
- Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận
Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Giao thức cho cộng đồng về bảo vệ tài nguyên, giá
thông Vận tải, Sở Văn hóa, Thể thao và Du trị của thương hiệu điểm đến để bảo đảm hiệu
lịch và các cơ quan liên quan nghiên cứu, đề quả bền vững từ hoạt động du lịch; thực hiện
xuất các chính sách ưu đãi đầu tư đối với phát đúng nguyên tắc tham vấn cộng đồng với các
triển hạ tầng du lịch. Thu hút đầu tư phát triển kế hoạch phát triển du lịch và dịch vụ trong
sản phẩm du lịch quy mô lớn, chất lượng cao khu vực.
tại các địa bàn thành phố động lực phát triển
- Nghiên cứu thuê tư vấn (có thể tư vấn
du lịch.
chuyên nghiệp nước ngoài) xây dựng quy
- Xem xét tiến độ đầu tư phát triển các hoạch sử dụng các tài nguyên du lịch (thiên
trung tâm, công trình hạ tầng du lịch hiện có; nhiên và văn hóa); xây dựng các trung tâm,
xác định những khó khăn, vướng mắc; trực điểm du lịch; thực hiện đấu thầu xây dựng, sử
tiếp hỗ trợ giải quyết, đồng thời, khuyến khích dụng và phát triển tài nguyên du lịch theo hình
đẩy nhanh tiến độ đầu tư mở rộng.
thức hợp tác công - tư (PPP),...
- Tiêu chuẩn hóa và kiểm soát chất
lượng sản phẩm, dịch vụ và các điều kiện, tiện
nghi phục vụ du lịch, bảo đảm an toàn, an
ninh, vệ sinh môi trường và phát triển bền
vững.
4.2. Giải pháp quy hoạch, bảo vệ và khai
thác tài nguyên du lịch
- Đề xuất mô hình quản lý khu du lịch
Quốc gia Núi Sam theo quy định của Luật du
lịch và pháp luật liên quan để thống nhất quản
- Tiếp tục rà soát, xây dựng hệ thống lý các hoạt động đầu tư, phát triển du lịch, bảo
nhà vệ sinh (hiện nay trên địa bàn thành phố tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích, thắng
chỉ có 4 nhà vệ sinh), trạm dừng nghỉ, nhà cảnh Núi Sam; bảo vệ môi trường và ứng phó
hàng, cơ sở mua sắm bảo đảm yêu cầu phục biến đổi khí hậu.
vụ khách du lịch.
- Nghiên cứu, lập quy hoạch xây dựng
- Tăng cường tính kết nối và đảm bảo sự khu du lịch Quốc gia, quy hoạch chi tiết các
đồng bộ về chất lượng trong chuỗi cung ứng phân khu chức năng trong khu du lịch Quốc
sản phẩm du lịch.
gia. Tiến hành rà soát các dự án đã được phê
duyệt trong khu du lịch Quốc gia để bảo đảm
theo đúng định hướng của quy hoạch này.
- Phổ biến và tuyên truyền Bộ Quy tắc
ứng xử trong hoạt động du lịch trong địa bàn
tỉnh An Giang được (Quyết định số 2255/QĐ-
UBND ngày 10/08/2016 của ủy ban nhân dân
tỉnh An Giang), đây là những quy định mang
tính chuẩn mực nhằm định hướng hành vi, thái
độ, thói quen, cách thức ứng xử văn minh của
tổ chức và cá nhân khi tham gia các hoạt động
du lịch. Nội dung bộ quy tắc tập trung tuyên
truyền các vấn đề về cách ứng xử văn minh,
lịch sự của những người làm du lịch, cộng
đồng địa phương và cả du khách trong việc
tuân thủ các nội quy, quy định của điểm đến
du lịch góp phần xây dựng môi trường du lịch
thân thiện, hấp dẫn và chuyên nghiệp; đẩy
mạnh công tác bảo vệ môi trường tự nhiên, gìn
giữ giá trị bản sắc văn hóa địa phương.
- Tập trung phát triển khu du lịch với 8
phân khu chức năng chính như:
+ Phân khu đô thị cũ để bảo tồn kiến trúc, văn
hóa truyền thống Châu Đốc:
Trục đường Nguyễn Văn Thoại, tiếp giáp
sông Châu Đốc thuộc, phường Châu Phú A.
+ Phân khu công trình công cộng, nhà ở kết
hợp dịch vụ, du lịch:
Trục Châu Đốc - Núi Sam và trục đường
Nguyễn Văn Thoại.
- Phân khu công viên văn hóa du lịch, vui chơi
giải trí, thể thao, nghỉ dưỡng phục vụ khách
du lịch:
- Quản lý chặt chẽ các hoạt động kinh
doanh dịch vụ du lịch, nắm bắt kịp thời các
vấn đề liên quan đến hoạt động của khách du
lịch qua lại biên giới, có phương án xử lý kịp
Giáp phân khu công trình công cộng, nhà ở
kết hợp, dịch vụ, du lịch.
+ Phân khu du lịch sinh thái kết hợp dịch vụ
phục vụ khách du lịch:
Giáp trục Châu Đốc - Núi Sam, giáp phân trường; sử dụng năng lượng tái tạo và áp dụng
khu công trình công cộng, nhà ở kết hợp dịch các công nghệ để tiết kiệm năng lượng trong
vụ, du lịch.
các cơ sở dịch vụ du lịch trong phạm vi Khu
du lịch Quốc gia.
+ Phân khu cơ sở lưu trú nghỉ dưỡng của
khách du lịch:
- Tập trung triển khai các giải pháp thu
gom, xử lý nước thải đáp ứng quy chuẩn trước
khi xả thải vào môi trường để phòng, chống ô
nhiễm, suy thoái nguồn nước.
Giáp khu công viên văn hóa du lịch, vui
chơi giải trí, thể thao.
+ Phân khu du lịch nghỉ dưỡng sinh thái:
- Các dự án đầu tư cụ thể trong khuôn
khổ quy hoạch phải tuân thủ các quy đinh về
đánh giá tác động môi trường, kế hoạch bảo vệ
môi trường theo quy định của pháp luật hiện
hành. Ưu tiên các dự án đầu tư du lịch có các
giải pháp cụ thể giảm thiểu và xử lý ô nhiễm
môi trường, mang lại các hiệu quả trực tiếp
cho cộng đồng và lâu dài cho toàn xã hội,
Giáp phân khu du lịch sinh thái kết hợp dịch
vụ phục vụ khách du lịch.
+ Phân khu nghỉ dưỡng kết hợp nông nghiệp
sạch (Eco-Farm):
Giáp khu du lịch nghỉ dưỡng sinh thái.
+ Phân khu du lịch văn hóa - tâm linh, lễ hội
Núi Sam:
- Xây dựng và lựa chọn các giải pháp
phù hợp nhằm ứng phó với ảnh hưởng bất lợi
như: cạn kiệt nguồn nước, phòng chống xâm
nhập mặn... và khắc phục giảm thiểu những
hậu quả do biến đổi khí hậu gây ra; tăng cường
công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận
thức và trách nhiệm cộng đồng, về biến đổi khí
hậu.
Tại khu Núi Sam, phường Núi Sam.
- Việc đầu tư xây dựng, quản lý đầu tư xây
dựng trong phạm vi khu du lịch Quốc gia Núi
Sam tuân thủ theo quy định của pháp luật về
xây dựng, quy hoạch xây dựng được duyệt,
quy chế quản lý khu du lịch Quốc gia Núi
Sam, các quy định pháp luật khác có liên
quan. Tuyệt đối chấp hành khu vực khoanh
vùng bảo vệ khu di tích Núi Sam theo quy
định của pháp luật về di sản văn hóa và các
quy định có liên quan.
4.3. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực du
lịch
- Nhà nước hỗ trợ một phần từ ngân sách
để tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, phát triển
nhân lực, đặc biệt tập trung vào đội ngũ quản
lý, quản trị và lao động nghiệp vụ bậc cao.
- Chuyển giao đất quốc phòng về địa
phương quản lý (khu vực: giáp biên giới, đỉnh
Núi Sam, đường kênh Hòa Bình…) sử dụng
trong phạm vi Quy hoạch này thực hiện theo
đúng quy định tại Điều 148 Luật đất đai.
- Nâng cấp các cơ sở giáo dục nghề
nghiệp địa phương, đồng thời tăng cường liên
kết với các cơ sở đào tạo chuyên ngành về du
lịch để đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng.
Chú trọng dạy nghề nhằm trang bị kiến thức,
kỹ năng căn bản về du lịch cho lao động gián
tiếp, người dân địa phương tham gia kinh
doanh du lịch.
- Bảo đảm hành lang bảo vệ nguồn nước;
thực hiện đúng các quy định của pháp luật về
bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ và phát triển
rừng và các quy định pháp luật liên quan khác
trong phạm vi Quy hoạch.
- Tăng cường năng lực đào tạo của hệ
thống các cơ sở đào tạo du lịch trên địa bàn
thành phố Châu Đốc. Phát triển đội ngũ giáo
viên, giảng viên và đào tạo viên du lịch. Hiện
nay Trường trung cấp nghề Châu Đốc đang
thực hiện Đề án ủy ban nhân dân tỉnh về đào
tạo nghề trọng điểm “Nghiệp vụ nhà hàng”
trình độ trung cấp, được nhà nước miễn thu
học phí toàn khóa học.
- Thực hiện nghiêm túc công tác bảo tồn,
tôn tạo các di tích trong phạm vi Khu du lịch
Quốc gia; xây dựng các chính sách phù họp để
du lịch đóng góp tích cực và trách nhiệm cho
hoạt động bảo tồn, tôn tạo di sản, bảo vệ đa
dạng sinh học.
- Xây dựng kế hoạch quản lý môi trường
đối với Khu du lịch Quốc gia và thực hiện
nghiêm các biện pháp bảo vệ môi trường theo
quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường,
đặc biệt là các quy định về thu gom, xử lý
nước thải và chất thải rắn; khuyến khích phát
triển các sản phẩm du lịch thân thiện môi
- Tăng cường hợp tác quốc tế về phát
triển nguồn nhân lực du lịch, tiếp thu trình độ
công nghệ tiên tiến quốc tế.
Núi Sam. Tập trung thu hút phân đoạn thị
trường du lịch gắn với mục đích lễ hội kết hợp
với hành hương; thi trường khách trẻ tuổi yêu
thích khám phá, thể thao, sinh thái trải nghiệm
nông nghiệp, tham quan vườn ươm, trang trại.
4.4. Giải pháp về nguồn lực đầu tư cho phát
triển sản phẩm du lịch và công nghệ
- Nghiên cứu và đề xuất ban hành cơ
chế thu hút đầu tư, chính sách ưu đãi cho các
nhà đầu tư (cơ sở chế biến, các làng nghề
truyền thống, doanh nghiệp,…) theo hướng
+ Đối với thị trường khách du lịch quốc
khuyến khích các dự án đầu tư đa năng kết tế: Chú trọng phát triển thị trường khách quốc
hợp dịch vụ du lịch để thu hút các nhà đầu tư tế đi đường bộ từ Thái Lan và Campuchia qua
chiến lược, hỗ trợ các nhà đầu tư trong công các cửa khẩu quốc tế của An Giang. Phát triển
tác bảo đảm hiệu quả đầu tư.
thị trường khách quốc tế khác thông qua các
hãng lữ hành tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Xây dựng, quảng bá và cung cấp sản
phẩm có trách nhiệm đến với người tiêu dùng.
Nâng cao sự hiểu biết và hiệu quả của cơ sở,
doanh nghiệp sẽ hỗ trợ họ thực hiện các vai
trò như là “nhà cung cấp” sản phẩm du lịch có
trách nhiệm và đóng quan trọng vào sự phát
triển chung, nâng cao chất lượng sản phẩm du
lịch cũng như xây dựng hình ảnh khu du lịch
Núi Sam Châu Đốc như là điểm đến du lịch có
trách nhiệm.
- Về phát triển sản phẩm:
Cần đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao
chất lượng sản phẩm du lịch An Giang.
+ Ưu tiên nâng cao chất lượng sản phẩm
du lịch kế các tuyến du lịch khám phá Núi
Sam kết hợp với chương trình tìm hiểu vườn
thực vật; xây dựng trung tâm diễn giải môi
trường và thông tin du lịch, hệ thống đường
mòn, chòi vọng cảnh, điểm dừng chân, nhà vệ
sinh và lắp đặt hệ thống biển chỉ dẫn.
- Tạo điều kiện cho các làng nghề thủ
công truyền thống phát triển như: nghề mộc
chạm trổ, nghề trồng dâu nuôi tằm, nghề rèn,
nghề dệt, nghề gạch ngói, nghề vẽ tranh trên
kiếng… Nhu cầu về du lịch sẽ định hướng cho
sự phát triển của ngành, và đóng góp vai trò
ảnh hưởng lớn trong việc định hình xây dựng
các sản phẩm và dịch vụ có trách nhiệm. Qua
cách lực chọn các sản phẩm, dịch vụ các hoạt
động tham gia và chi tiêu của mình, khách du
lịch có thể mang tạo nên những tác động
mang lại lợi ích kinh tế cho địa phương.
+ Phát triển sản phẩm du lịch nghỉ
dưỡng, vui chơi giải trí: xây dựng hệ thống các
cơ sở lưu trú đa dạng hướng tới các phân đoạn
thị trường khác nhau; đầu tư xây dựng các khu
vui chơi giải trí với các tính chất, hình thức đa
dạng.
+ Phát triển sản phẩm du lịch thể thao và
tổ chức các sự kiện thể thao nhằm thu hút sự
quan tâm của khách du lịch.
+ Phát triển sản phẩm dòng du lịch sinh
thái ngậm nước (tại rừng tràm Trà Sư), du lịch
cộng đồng (Mỹ Hòa Hưng nằm trên Cù lao Hổ
giữa sông Hậu), du lịch thể thao sông nước
(Đua ghe ngo trên kênh Trà Sư - Lễ hội của
người Khmer), du lịch biên giới (Campuchia).
- Khuyến khích sự tham gia của địa
phương, phát triển sản phẩm du lịch có trách
nhiệm sẽ giúp giảm thiểu các tác động tiêu cực
về kinh tế, xã hội và môi trường, mang lại
nhiều lợi ích hơn cho người dân tham gia vào
quá trình quyết định những vấn đề ảnh hưởng
tới kinh tế của họ, từ đó tác động đến ý thức
cộng đồng của địa phương. Giảm thiểu các tác
động đối với xã hội như: thương mại hóa các
nền văn hóa truyền thống, đánh mất các kỹ
năng và giá trị truyền thống, khai tác quá mức
nguồn tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi
trường do rác thải du lịch.
+ Phát triển sản phẩm du lịch ẩm thực:
trong xu thế phát triển du lịch, ẩm thực không
chỉ đóng vai trò phục vụ về ăn uống đơn thuần
mà đã trở thành mục đích của du khách trong
các tuyến du lịch. Chính vì thế, để phát huy
tiềm năng và khai thác thế mạnh của ẩm thực,
góp phần phát triển du lịch, từng bước đáp
ứng nhu cầu hưởng thụ của du khách. Do vậy
cần nâng cao kỹ năng nghề pha chế, quan tâm
đến chất lượng phục vụ, nội dung trình bay
bắt mắt… và thõa mãn nhu cầu thưởng thức
ẩm thực của du khách.
4.5. Giải pháp phát triển thị trường và sản
phẩm du lịch
- Về thu hút thị trường:
+ Đối với thị trường khách du lịch nội
địa: Có chính sách kích cầu vào mùa thấp
điểm nhằm khắc phục tính thời vụ của du lịch
Khai - Lê Hồng Phong (đoạn từ 955A-N1) để
điều tiết giao thông khu vực Núi Sam.
4.6. Giải pháp phát triển dịch vụ lưu trú và
ẩm thực du lịch
Nghiên cứu phân bố các cơ sở lưu trú ở
cả trong Khu du lịch Quốc gia và các khu vực
lân cận phù hợp quy hoạch sử dụng đất, bảo
đảm mật độ xây dựng và sức chứa của Khu du
lịch Quốc gia. Hình thành các khu lưu trú du
lịch có chất lượng cao gắn với không gian
sinh thái (khu biệt thự cao cấp, khu nghỉ
dưỡng sinh thái), gắn với sông nước hướng tới
dòng khách có khả năng chi trả cao. Ưu tiên
phát triển loại hình cơ sở lưu trú tại nhà dân
(homestays).
- Hệ thống cầu cảng, bãi đỗ xe, trạm
dừng chân:
+ Xây dựng trạm dừng chân ở Núi Sam
phục vụ khách du lịch, cầu Châu Đốc để kết
nối với tuyến N1 vào Khu du lịch Núi Sam
nhằm điều tiết các phương tiện giao thông của
du khách.
+ Nâng cấp bến tàu cao tốc Châu Đốc
phục vụ khách du lịch đường sông; xây dựng
mới cảng hành hành khách - dịch vụ du lịch.
+ Bãi đỗ xe và bến thuyền: xây dựng
mới các bãi đỗ xe đạt chuẩn phục vụ khách du
lịch. Xây dựng bến thuyền, bến tàu du lịch trên
kênh Vĩnh Tế, kênh Bờ Sáng, kênh đào du
lịch.
Để thu hút khách các điểm lưu trú cần
phải đầu tư nâng chất cả phần "cứng" và
"mềm". Phần "cứng" là cơ sở hạ tầng, vật chất
của khách sạn cần phải đầu tư, nâng chất
thường xuyên; phần "mềm" chính là con
người, nhân viên phục vụ phải là những người
được đào tạo bài bản, kỹ năng chuyên nghiệp,
tận tâm trong phục vụ khách có như vậy mới
giữ chân được khách dài lâu.
V. KẾT LUẬN
1. Núi sam là điểm đến có tiềm năng
phát triển du lịch tâm linh đặc sắc, vượt ra
khỏi ranh giới của tỉnh An Giang, mang tính
đại diện cho vùng đồng bằng sông Cửa Long.
Đây là yếu tố quan trọng để Núi Sam có thể
phát triển để trở thành một điểm đến du lịch
không chỉ có ý nghĩa địa phương mà còn có ý
nghĩa quốc gia và khu vực.
Một trong những cơ sở quan trọng quyết
định thành công trong một chuyến du lịch là
chỗ lưu trú của du khách. Do vậy, việc nâng
chất cơ sở hạ tầng, chất lượng phục vụ của các
cơ sở lưu trú cũng là một trong những yếu tố
phát triển cho ngành du lịch của địa phương.
2. Núi Sam đã được xác định là điểm du
lịch quốc gia trong Chiến lược phát triển du
lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến
năm 2030. Điều này cũng phù hợp với vai trò
của Núi Sam là một trung tâm du lịch của An
Giang và vùng ĐBSCL, là yếu tố tiền đề để
phát triển thành KDL Quốc gia.
4.7. Giải pháp phát triển cơ sở hạ tầng
phục vụ du lịch
- Hệ thống giao thông:
+ Tuyến giao thông đối ngoại: nâng cấp
tuyến tránh Quốc lộ 91, tỉnh lộ 55A chạy dọc
theo kênh Vĩnh Tế, đường đê kênh Hòa Bình,
tuyến đường kênh đào, đường dẫn cầu Cồn
Tiên đến khu công viên văn hóa Núi Sam,
đường trục chính nối đường Tôn Đức Thắng
với khu du lịch sinh thái bãị bồi Vĩnh Mỹ. Nạo
vét tuyến kênh Vĩnh Tế từ Châu Đốc đến Kiên
Giang phục vụ phát triển du lịch.
3. Thời gian qua, kết cấu hạ tầng xã hội
của Núi Sam đã có những bước phát triển
đáng kể tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển
kinh tế - xã hội, đặc biệt là tạo điều kiện thúc
đẩy phát triển du lịch. Tuy nhiên sự phát triển
của hệ thống kết cấu hạ tầng này còn hạn chế,
chưa tương xứng với vai trò và khả năng phát
triển của Khu du lịch Núi Sam.
+ Đường tránh quốc lộ 91 (tại phường
Vĩnh Mỹ, TP.Châu Đốc) cụ thể:
4. Bước vào giai đoạn phát triển mới, du
lịch Núi Sam sẽ có nhiều thuận lợi và cơ hội
khi có được sự quan tâm của Chính phủ,
. Giáp với các tuyến đường như: Nguyễn
Tri Phương, Tôn Đức Thắng, Thủ Khoa Huân.
+ Tuyến giao thông đối nội: nâng cấp, UBND tỉnh An Giang để tạo sự quan tâm và
cải tạo đường lên đỉnh Núi Sam; tuyến đường sức hút của du khách, đặc biệt là khách du lịch
vòng công viên văn hóa Núi Sam, đường quốc tế khi được định hướng phát triển thành
Nguyễn Văn Thoại; nâng cấp, mở rộng đường Khu du lịch Quốc gia.
Hoàng Đạo Cật, đường Nguyễn Thị Minh
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi và
cơ hội, du lịch Núi Sam sẽ phải đối mặt với
nhiều khó khăn về năng lực phát triển khi những thuận lợi – cơ hội, khó khăn - thách
nhiều điều kiện còn chưa sẵn sàng và trong thức đặc ra đối với phát triển du lịch của Núi
bối cảnh cạnh tranh giữa các điểm đến du lịch Sam với vai trò là Khu du lịch Quốc gia,
ngày càng gay gắt.
những định hướng phát triển cơ bản theo
ngành và lãnh thổ của du lịch Núi Sam đã
được xác định. Đây là yếu tố để định hướng
phát triển Khu du lịch Núi Sam thành phố
Châu Đốc, tỉnh An Giang trong tương lai./.
5. Trên cơ sở phân tích một cách tổng
quan và có hệ thống về nguồn lực phát triển du
lịch; những kết quả và hạn chế của Khu du lịch
Núi Sam thời gian qua; xu thế và bối cảnh phát
triển du lịch trong giai đoạn phát triển mới với
TÀI LIỆU THAM KHẢO
. Phòng kinh tế thành phố Châu Đốc, các báo cáo phát triển kinh tế hàng năm của thành
phố.
. Theo báo cáo tình hình KT-XH năm 2018 của UBND tỉnh An Giang.
. Luật Du lịch Việt Nam (2017), thông qua kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 19/6/2017 có hiệu
lực thi hành 01/01/2018.
. UBND tỉnh An Giang (2005), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh An Giang
đến năm 2010 và tầm nhìn 2020, An Giang.
Tác giả chịu trách nhiệm bài viết:
Họ tên
: Phạm Thanh Cường
Đơn vị
Điện thoại
Email
: Trường Trung cấp nghề Châu Đốc
: 0966010029
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
TS.Nguyễn Thị Thanh Vân
Bạn đang xem tài liệu "Phát triển khu du lịch núi sam Thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phat_trien_khu_du_lich_nui_sam_thanh_pho_chau_doc_tinh_an_gi.pdf

