Tài liệu Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam - Bằng chứng từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009

Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam  
Tầng 1, khu căn hộ LHQ  
2E Vạn Phúc, Ba Đình  
Hà Nội, Việt Nam  
Tel: +84 - 4 - 3823 6632  
Fax: +84 - 4 - 3823 2822  
Email: unfpa-fo@unfpa.org.vn  
Hà Nội, 8-2010  
Mục lục  
1. giới thiệu  
2
2. giới thiệu hiện tượng nam hóa  
ở Việt nam và tổng điều tra  
dân số và nhà ở năm 2009  
3
5
3. tsgtks ở Việt nam: mức độ, so sánh  
và các xu hướng  
4. tsgtks: sự thay đổi theo các đặc trưng  
nhân khẩu học và theo vùng  
10  
16  
5. tsgtks và thứ tự sinh  
6. sự khác biệt của tsgtks theo đặc điểm  
kinh tế xã hội  
19  
7. Mô phỏng tác động nhân khẩu học  
của tsgtks  
24  
29  
31  
8. kết luận  
9. Phụ lục  
tài liệu tham khảo  
34  
1. Giới thiệu  
Tỷ số giới tính khi sinh  
(TSGTKS) được tính  
bằng số trẻ em trai  
sinh ra trên 100 trẻ  
em gái. Ở Việt Nam, từ  
những năm 2000, số  
liệu thống kê và các  
nghiên cứu cho thấy  
có xu hướng mất cân  
bằng giới tính khi sinh,  
thể hiện qua số trẻ em  
trai sinh ra so với trẻ  
em gái đang tăng lên.  
Kể từ năm 2006, với  
sự hỗ trợ kỹ thuật của  
Quỹ Dân số Liên hợp  
quốc (UNFPA), Tổng cục  
Thống kê (TCTK) đã thu  
thập, phân tích và xuất bản hàng năm số liệu TSGTKS và kết quả  
thu được cho thấy tỷ số này khá cao, dao động xung quanh mức  
110. Tài liệu này do Tiến sỹ Christophe Z. Guilmoto, nhà nhân  
khẩu học có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu về TSGTKS ở Trung  
Quốc, Ấn Độ và Việt Nam, phân tích từ số liệu mẫu 15% của  
Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 (TĐTDS 2009). Đây là  
xuất bản phẩm thứ sáu trong tập hợp các ấn phẩm được UNFPA  
công bố trong những năm gần đây. Một chuyên khảo phân tích  
toàn diện do Tiến sỹ Guilmoto thực hiện dự kiến sẽ xuất bản  
trong thời gian tới. Tuy nhiên, với ấn phẩm này, UNFPA muốn  
cung cấp những thông tin mới nhất về xu hướng nhân khẩu  
học hiện nay của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở  
Việt Nam để bạn đọc có thể hiểu rõ hơn về vấn đề dân số quan  
trọng này.  
2
Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam: Bằng chứng từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009  
2. Giới thiệu hiện tượng  
nam hóa ở Việt Nam và  
Tổng điều tra dân số và  
nhà ở năm 2009  
Mặc dù ngày càng có nhiều nguồn thông tin rút ra từ các cuộc  
điều tra định tính và định lượng được tiến hành trong nước,  
nhưng các cuộc TĐTDS, được tiến hành theo chu kỳ mười năm  
một lần, vẫn là công cụ chủ yếu cho việc giám sát các xu hướng  
nhân khẩu học không chỉ trên phạm vi cả nước, mà còn ở cấp  
vùng và theo các thành phần kinh tế-xã hội ở Việt Nam. Một nội  
dung phân tích của TĐTDS 2009 đang rất được trông chờ là cơ  
cấu giới tính của dân số. Cơ cấu này vốn đã nhiều năm lệch về  
phía nữ giới. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là tỷ lệ trẻ em trai sinh  
ra so với trẻ em gái đã tăng lên đáng kể từ sau năm 1999.  
3
Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam: Bằng chứng từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009  
Tháng 4 năm 2009, số liệu sơ bộ của TĐTDS cho thấy nữ giới vẫn  
chiếm số lượng nhiều hơn nam giới trong dân số, 43,3 triệu nữ  
so với 42,5 triệu nam, mặc dù tỷ số giới tính (TSGT) của toàn bộ  
dân số - được tính bằng số nam trên 100 nữ - đã tăng liên tục  
trong suốt ba thập kỷ qua, từ 94 vào năm 1979, lên đến 96,7 vào  
năm 1999, và đạt mức 98,1 vào năm 2009.  
Sự thay đổi dần dần tỷ số giới tính ở Việt Nam là một hiện tượng  
phức tạp, chịu tác động của nhiều yếu tố bao gồm tỷ suất chết  
của nữ thấp hơn, thay đổi cơ cấu tuổi của dân số và di cư quốc  
tế. Tuy nhiên, sự thay đổi TSGT nói chung liên quan chủ yếu đến  
sự gia tăng TSGTKS kể từ sau cuộc TĐTDS năm 1999. Sự gia tăng  
này liên quan đến việc lựa chọn giới tính trước sinh, phản ánh sự  
ưa thích con trai hơn con gái. Được xem là chỉ báo về “bất bình  
đẳng giới”, nên TSGTKS cao gây nên mối quan ngại lớn vì các lý  
do nhân khẩu học và xã hội.  
Phần lớn các quần thể dân cư trên thế giới có TSGTKS dao động  
xung quanh mức 105 và giới hạn trong khoảng 104 -106. Tuy  
nhiên, cần phải lưu ý rằng từ những năm 1980, một vài quốc  
gia ở châu Á đã chứng kiến sự gia tăng bất thường của tỷ trọng  
trẻ trai sinh ra, có thể do thực hành chọn lọc giới tính trước sinh  
(Miller, 2001; Attané và Guilmoto, 2007). Với sự hỗ trợ của các  
công cụ chẩn đoán giới tính trước sinh như siêu âm, một bộ  
phận các cặp vợ chồng ở châu Á đã đình chỉ thai nghén khi phát  
hiện giới tính của thai là gái. Hậu quả là TSGTKS của một số nước  
ở châu lục này đã tăng lên trên mức 110, thậm chí trên mức 120  
ở một vài khu vực.  
Tại Việt Nam, TĐTDS 1999 cho thấy không có sự mất cân bằng  
đáng kể về TSGTKS (Bélanger và cộng sự, 2003). Tuy nhiên trong  
những năm tiếp theo sau TĐTDS này, sự gia tăng TSGTKS bắt  
đầu được phát hiện dần thông qua các cuộc điều tra mẫu do  
TCTK tiến hành hàng năm.1 Sự gia tăng của TSGTKS này được  
xem là một trong các vấn đề nhân khẩu học quan trọng nhất  
cần làm sáng tỏ thông qua số liệu của cuộc TĐTDS 2009.  
1
Các cuộc điều tra biến động dân số hàng năm được thực hiện trên cả nước dựa vào dàn  
mẫu của cuộc tĐtDs. Phân tích chi tiết các kết quả liên quan đến tsgtks của các cuộc  
điều tra này có thể tìm thấy trong xuất bản phẩm của UnFPa (2009)  
4
Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam: Bằng chứng từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009  
3. TSGTKS ở Việt Nam:  
mức độ, so sánh và các  
xu hướng  
Sau khi kết thúc điều tra thực địa của TĐTDS vào tháng 4 năm  
2009, TCTK đã từng bước chia sẻ kết quả theo tiến trình xử lý  
và phân tích số liệu. Bộ số liệu toàn diện phân theo tuổi và giới  
tính của 100% dân số sẽ sớm được công bố và sẽ cho thấy một  
bức tranh đầy đủ về tình trạng mất cân bằng giới tính ở trẻ em.  
Ấn phẩm này sử dụng số liệu mẫu của TĐTDS 2009 với cỡ mẫu  
15% dân số. Mẫu này cho phép tiến hành phân tích sâu một số  
chiều cạnh kinh tế xã hội bởi vì câu hỏi của điều tra mẫu cung  
cấp thông tin khá chi tiết về cá nhân và hộ gia đình.2  
2
Vì các lý do kỹ thuật, kết quả thu được có sự khác biệt nhỏ so với các số liệu đã được công  
bố của cuộc tĐtDs (xem Ban Chỉ đạo Điều tra Dân số và nhà ở, 2010). Xem Phụ lục a về  
chi tiết số liệu mẫu.  
5
Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam: Bằng chứng từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009  
TĐTDS 2009 thu thập những thông tin chi tiết về phân bố và  
đặc trưng của dân cư, từ các đặc điểm nhân khẩu học của cá  
nhân, đến hộ gia đình và thông tin về nhà ở. Bảng hỏi của cuộc  
TĐTDS lần này cũng bao gồm các câu hỏi về lịch sử sinh sản của  
phụ nữ nhằm làm sáng tỏ hành vi sinh sản hiện tại. Cụ thể là tất  
cả phụ nữ ở nhóm tuổi 15-49 được hỏi về lần sinh cuối cùng:  
giới tính của trẻ, ngày sinh, số con đã có từ các lần sinh trước.  
Những thông tin này rất có giá trị khi Việt Nam còn thiếu số liệu  
thống kê đăng ký khai sinh đáng tin cậy. Khi phân tích số sinh  
của 12 tháng trước ngày 1 tháng 4 năm 2009 (mốc tiến hành  
TĐTDS), số liệu mẫu của cuộc TĐTDS cung cấp một bức tranh  
chính xác về TSGTKS hiện nay.  
Dựa trên tổng số sinh 247.603 do các bà mẹ báo cáo trong mẫu  
TĐTDS, TSGTKS của Việt Nam là 110,6, tính cho giai đoạn từ  
tháng 4/2008 đến tháng 3/2009. Khi xem xét khoảng biến thiên  
của TSGTKS theo cỡ mẫu cho thấy tỷ số này dao động trong  
phạm vi khá hẹp, 109,7-111,5 (với khoảng tin cậy 95%). Như  
trình bày trong Bảng 1, TSGTKS này tương tự những ước lượng  
trước đây được rút ra từ các nguồn số liệu khác. Cần lưu ý rằng  
với kích thước mẫu lớn, TĐTDS là nguồn số liệu có tính đại diện  
cao nhất cho ước lượng TSGTKS.  
Bảng 1: Ước lượng tỷ số giới tính khi sinh theo  
nguồn số liệu  
Bản chất  
số liệu  
TSGTKS Giai đoạn  
Số sinh Nguồn số liệu  
TĐTDS 2009:  
số sinh trong  
12 tháng  
110,6  
01/04/08-  
31/03/09  
247.603  
TĐTDS 2009  
trước khi  
điều tra  
Số sinh tại  
các cơ sở y tế  
110,8  
112  
2008  
1.458.537  
23.475  
Bộ Y tế  
Điều tra hàng  
năm: số sinh  
trong năm  
trước  
01/04/07-  
31/03/08  
Điều tra BĐ  
DS & KHHGĐ  
2008  
6
Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam: Bằng chứng từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009  
TSGTKS hiện nay của Việt Nam là 110,6 cao hơn đáng kể so với  
mức chuẩn sinh học bình thường là 105. Khoảng cách giữa giá  
trị tính toán được và mức chuẩn sinh học là 5,6 điểm phần trăm,  
tương đương với 2,6% tổng số sinh, hay 5,3% tổng số trẻ em  
trai. Điều này hàm ý rằng một sự thay đổi nhỏ của số trẻ em trai  
sinh ra cũng làm thay đổi đáng kể TSGTKS. So sánh TSGTKS của  
Việt Nam với các quốc gia khác được phản ánh ở bảng Bảng 2.  
Theo ước lượng của TCTK Trung Quốc, nước này có TSGTKS ở  
mức 121 vào năm 2008.3 Kết quả điều tra năm 2005 của Trung  
Quốc đã chỉ ra một vài tỉnh có TSGTKS trên mức 130. Tỷ số này ở  
khu vực Tây Bắc Ấn Độ cũng ở mức 120. Một số quốc gia trong  
khu vực Caucasus (Armenia, Azerbaijan, và Georgia) hoặc thậm  
chí tại Châu Âu (Albania) cũng có TSGTKS xấp xỉ hoặc cao hơn  
Việt Nam.  
Bảng 2: Tỷ số giới tính khi sinh ở một số quốc gia,  
2004-2009  
Quốc gia/ vùng  
TSGTKS  
Giai đoạn  
Loại số liệu  
Albania  
113,6  
115,8  
117,2  
2007  
2008  
2007  
Đăng ký sinh  
Đăng ký sinh  
Đăng ký sinh  
Armenia  
Azerbaijan  
Trung Quốc  
(Đại lục)  
Ước lượng quốc gia  
120,6  
137,1  
132,2  
132,1  
111,9  
112,1  
118,0  
106,4  
2008  
2004  
Tỉnh Giang Tây  
Tỉnh An Huy  
Tỉnh Thiểm Tây  
Georgia  
TĐTDS mẫu 1%  
TĐTDS mẫu 1%  
TĐTDS mẫu 1%  
Đăng ký sinh  
2004  
2004  
2006  
Ấn Độ  
2004-06  
2007  
Đăng ký sinh mẫu  
Đăng ký sinh  
Bang Delhi  
Hàn Quốc  
2008  
Đăng ký sinh  
nguồn: tổng cục thống kê, Eurstat  
3
số liệu này của trung Quốc cũng có thể bị phóng đại một phần do tình trạng báo cáo  
thiếu số sinh nữ.  
7
Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam: Bằng chứng từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009  
Mặc dù TSGTKS ở Việt Nam mới chỉ tăng ở mức độ vừa phải so  
với các khu vực khác, nhưng mức gia tăng này cũng đã hàm  
chứa những mối quan ngại lớn vì một số lý do. Thứ nhất, cần  
nhấn mạnh rằng các quốc gia láng giềng trong khu vực Đông  
Nam Á như Campuchia, Thái Lan, hoặc Inđônêxia, với trình độ  
phát triển kinh tế-xã hội và đặc trưng nhân khẩu học tương tự  
với Việt Nam, đã không trải qua bất kỳ một sự gia tăng TSGTKS  
nào trong những thập kỷ qua. Thứ hai, tất cả các quốc gia trình  
bày trong Bảng 2 đều trải qua sự gia tăng TSGTKS từ cách đây 10  
năm, thậm chí là trên 20 năm như Trung Quốc hay Ấn Độ, trong  
khi sự gia tăng TSGTKS ở Việt Nam chỉ mới xảy ra gần đây, có thể  
bắt đầu từ năm 2003. Dựa trên kinh nghiệm của các nước khác,  
chúng ta có thể dự đoán rằng TSGTKS của Việt Nam có thể tiếp  
tục gia tăng trước khi có dấu hiệu chững lại hoặc thậm chí giảm  
(Das Gupta và cộng sự, 2009; Guilmoto, 2009). Trường hợp điển  
hình của xu hướng này là Hàn Quốc, sau khi TSGTKS ở mức 115  
vào những năm đầu của thập kỷ 90 thế kỷ trước, sau đó đã giảm  
dần và hiện nay trở về mức bình thường.  
Câu hỏi mà TĐTDS lần này không thể trả lời là cơ chế nào đã  
dẫn đến tình trạng gia tăng TSGTKS ở Việt Nam, đặc biệt là vai  
trò của tâm lý ưa thích con trai và việc lựa chọn giới tính trước  
sinh. Theo nghiên cứu trước đây (Viện nghiên cứu Phát triển Xã  
hội, 2007), nguyên nhân được đề cập nhiều nhất là tình trạng  
phá thai chọn lọc giới tính của một số cặp vợ chồng sau khi đã  
biết giới tính bào thai thông qua chẩn đoán giới tính trước sinh.  
Ở Việt Nam, thực hành chọn lọc giới tính trước sinh là bất hợp  
pháp nên những thông tin này không thể được thu thập một  
cách đầy đủ hoặc chính xác trong các cuộc điều tra cũng như  
TĐTDS. Về mặt lý thuyết, ngoài việc lựa chọn giới tính trước sinh,  
có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự gia tăng TSGTKS như đăng  
ký khai sinh thiếu số trẻ em gái, tỷ suất chết lưu thai gái cao hơn,  
hoặc các yếu tố sinh học khác. Trong khi các yếu tố này được  
xem là không ảnh hưởng đáng kể đến sự gia tăng TSGTKS ở Việt  
Nam, cho nên lựa chọn giới tính trước sinh cần phải được xem  
là yếu tố chính dẫn đến tình trạng gia tăng TSGTKS ở Việt Nam  
(UNFPA, 2009, Bằng và cộng sự, 2008).  
8
Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam: Bằng chứng từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009  
Để hiểu được nguyên nhân ẩn đằng sau tâm lý ưa thích con trai  
và nhu cầu lựa chọn giới tính trước sinh, chúng ta cần xem xét  
ba điều kiện cần thiết (Guilmoto, 2009). thứ nhất và là điều kiện  
tiên quyết là sự hiện hữu của tâm lý ưa thích con trai trong xã  
hội. Điều này giải thích tại sao trong các môi trường sống khác  
nhau mà các bậc cha mẹ đều muốn có con trai. Đây là một chiều  
cạnh phức tạp, bao hàm cả quan niệm truyền thống kế thừa từ  
quá khứ và các giá trị hiện đại hình thành từ sự chuyển đổi nền  
kinh tế trong thời gian qua. Điều kiệnthứ hai là sự có mặt của các  
cơ sở chăm sóc y tế hiện đại đáp ứng cho việc chẩn đoán và lựa  
chọn giới tính trước sinh. Cũng cần lưu ý rằng một vài quốc gia  
châu Á không có các cơ sở y tế chẩn đoán giới tính trước sinh  
và phá thai an toàn. Điều kiện cuối cùng là mức sinh thấp, bởi vì  
có ít con đồng nghĩa với tăng nguy cơ không có con trai. Mặc  
dù không được thiết kế để nghiên cứu các yếu tố độc lập này,  
số liệu của TĐTDS đã giúp xác định đặc điểm kinh tế, xã hội và  
khu vực của các nhóm dân cư có xu hướng thực hành lựa chọn  
giới tính trước sinh.  
9
Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam: Bằng chứng từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009  
4. TSGTKS: sự thay đổi  
theo các đặc trưng  
nhân khẩu học và vùng  
Số liệu TĐTDS 2009 cho phép phân tích chi tiết phân bố mất cân  
bằng giới tính khi sinh của cả nước. Kinh nghiệm ở các quốc gia  
đã từng trải qua sự gia tăng TSGTKS trong hai thập kỷ vừa qua  
cho thấy mức độ chịu ảnh hưởng không giống nhau giữa các  
nhóm xã hội và các khu vực. Như vậy, cần phải xác định những  
khu vực, những cộng đồng hoặc nhóm xã hội nào đã đóng vai  
trò “ngòi nổ” cho quá trình lan truyền thực hành lựa chọn giới  
tính trước sinh.  
Phân tích TSGTKS theo vùng địa lý ở Việt Nam cũng cho kết quả  
tương tự. Đồ thị 1 tóm tắt sự khác biệt của TSGTKS quan sát  
được theo sáu vùng của cả nước và cho thấy sự dư thừa số trẻ  
em trai không đồng nhất trong cả nước. Tây Nguyên có mật độ  
dân số và trình độ phát triển thấp hơn các các vùng khác, có  
10  
Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam: Bằng chứng từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009  
TSGTKS là 105,6, tương đương với mức sinh học bình thường.  
Nhưng năm vùng còn lại có TSGTKS cao hơn, làm cho tỷ số này  
của toàn quốc tăng lên và ở mức 110,6. Trong số đó, vùng đồng  
bằng sông Hồng có TSGTKS vào khoảng 115,4 cao hơn hẳn so  
với mức trung bình cả nước.  
Đồ thị 1: Tỷ số giới tính khi sinh theo vùng  
115,4  
116  
114  
112  
110,0  
110,1  
109,8  
110  
108  
106  
104  
102  
108,4  
Toàn quốc = 110,6  
105,6  
TSGTKS bình thường ≈ 105  
Trung du và  
miền núi phía  
Bắc  
Đồng bằng sông Bắc Trung Bộ và  
Tây Nguyên  
Đông Nam Bộ  
Đồng bằng Sông  
Cửu Long  
Hồng  
Duyên hải miền  
Trung  
Sự khác biệt giữa khu vực nông thôn-thành thị của từng vùng  
nêu bật một đặc điểm đáng chú ý về sự khác biệt theo vùng ở  
Việt Nam. Mặc dù ở cấp quốc gia, không có sự khác biệt nào  
đáng kể về TSGTKS giữa khu vực nông thôn (110,6) và thành thị  
(110,7), nhưng khi xem xét ở cấp vùng cho thấy TSGTKS ở khu  
vực nông thôn cao hơn đáng kể so với khu vực thành thị, như ở  
vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ và Duyên hải miền  
Trung ít nhất là 5 điểm phần trăm (xem Đồ thị 2). Ngược lại, ở  
các vùng khác, bao gồm cả Tây Nguyên, nơi mà lựa chọn giới  
tính trước sinh có thể còn hiếm, tỷ lệ sinh trẻ em trai ở khu vực  
thành thị lại cao hơn ở khu vực nông thôn. Những phát hiện này  
đã chỉ ra tính chất phức tạp về xã hội của hiện tượng này.  
11  
Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam: Bằng chứng từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009  
Đồ thị 2: Tỷ số giới tính khi sinh theo vùng và  
nông thôn/thành thị  
118  
117,1  
116  
113,8  
114  
112,4  
111,5  
111,8  
112  
110  
108  
106  
104  
102  
111,1  
109,1  
Toàn quốc = 110,6  
107,8  
107,9  
107,1  
105,9  
105,1  
TSGTKS bình thường = 105  
Trung du và  
miền núi phía  
Bắc  
Đồng bằng sông Bắc Trung Bộ và  
Tây Nguyên  
Nông thôn  
Đông Nam Bộ  
Đồng bằng Sông  
Cửu Long  
Hồng  
Duyên hải miền  
Trung  
Thành thị  
Do sự khác biệt của TSGTKS theo vùng khá rõ nét, nên việc xem  
xét sự mất cân bằng giới tính khi sinh ở cấp tỉnh là cần thiết. Tuy  
nhiên, do số ca sinh gần đây thu thập được trong TĐTDS 2009  
của nhiều tỉnh/thành trong số 63 tỉnh/thành phố của cả nước  
khá nhỏ, cho nên các ước lượng thu được có thể không đáng  
tin cậy. Vì lý do này, báo cáo đã khai thác sự khác biệt theo tỉnh  
bằng cách sử dụng tỷ số giới tính của trẻ em, tính cho nhóm dân  
số dưới 5 tuổi, mẫu của nhóm dân số này lớn gấp khoảng năm  
lần và cung cấp các ước lượng chính xác hơn so với mẫu của số  
trẻ sinh ra trong vòng 12 tháng trước thời điểm điều tra.4 Chỉ số  
này chịu sự tác động của tình trạng mất cân bằng giới tính khi  
sinh trong năm năm trước đó (2004-2009), nhưng nó cũng có  
thể bị ảnh hưởng bởi sự khác biệt của tỷ suất chết trẻ em và tỷ  
suất chết trẻ em dưới một tuổi theo giới và những sai số khác.  
Bản đồ 1 trình bày kết quả phân tích tỷ số giới tính trẻ em dưới  
5 tuổi (TSGTTE). TSGTTE dao động từ mức thấp nhất là104 (tỉnh  
Hà Giang) đến mức cao nhất là 124 (tỉnh Hưng Yên).  
Kết quả thu được cho thấy 17 trong số 63 tỉnh/thành phố cả  
nước có TSGTTE không khác biệt so với mức 105. Những tỉnh  
4
Ước lượng tsgtks cấp tỉnh đã có trong Báo cáo Một số chỉ tiêu chủ yếu (2010). Bản đồ  
này xây dựng trên tỷ số giới tính của trẻ em  
12  
Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam: Bằng chứng từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009  
này phần lớn ở vùng Tây Nguyên, hoặc vùng trung du và miền  
núi phía Bắc - tức là các khu vực miền núi có nhiều các dân tộc  
thiểu số sinh sống. Trong khi đó, 46 tỉnh/thành phố còn lại có  
TSGTTE cao bất thường, đặc biệt có 8 tỉnh vượt mức 115, và  
thậm chí 2 tỉnh Bắc Giang và Hưng Yên vượt trên mức 120.  
Bản đồ 1: Tỷ số giới tính trẻ em dưới 5 tuổi phân  
theo tỉnh  
Mã  
tỉnh  
Tên tỉnh  
Mã  
tỉnh  
Tên tỉnh  
Mã  
tỉnh  
Tên tỉnh  
1
Hà Nội  
34  
35  
36  
37  
38  
40  
42  
44  
45  
46  
48  
49  
51  
52  
54  
56  
58  
60  
62  
64  
66  
Thái Bình  
Hà Nam  
67  
68  
70  
72  
74  
75  
77  
79  
80  
82  
83  
84  
86  
87  
89  
91  
92  
93  
94  
95  
96  
Đắk Nông  
Lâm Đồng  
Bình Phước  
Tây Ninh  
2
Hà Giang  
Cao Bằng  
Bắc Kạn  
4
Nam Định  
Ninh Bình  
Thanh Hóa  
Nghệ An  
6
8
Tuyên Quang  
Lào Cai  
Bình Dương  
Đồng Nai  
Bà Rịa-Vũng Tàu  
TP. Hồ Chí Minh  
Long An  
10  
11  
12  
14  
15  
17  
19  
20  
22  
24  
25  
26  
27  
30  
31  
33  
Điện Biên  
Lai Châu  
Sơn La  
Hà Tĩnh  
Quảng Bình  
Quảng Trị  
Thừa Thiên-Huế  
Đà Nẵng  
Yên Bái  
Tiền Giang  
Bến Tre  
Hòa Bình  
Thái Nguyên  
Lạng Sơn  
Quảng Ninh  
Bắc Giang  
Phú Thọ  
Quảng Nam  
Quảng Ngãi  
Bình Định  
Phú Yên  
Trà Vinh  
Vĩnh Long  
Đồng Tháp  
An Giang  
Kiên Giang  
Cần Thơ  
Khánh Hòa  
Ninh Thuận  
Bình Thuận  
Kon Tum  
Vĩnh Phúc  
Bắc Ninh  
Hải Dương  
Hải Phòng  
Hưng Yên  
Hậu Giang  
Sóc Trăng  
Bạc Liêu  
Gia Lai  
Đắk Lắk  
Cà Mau  
13  
Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam: Bằng chứng từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009  
222  
222  
222  
444  
444  
444  
111000  
111000  
111000  
666  
666  
666  
111222  
111222  
111222  
888  
888  
888  
222000  
222000  
222000  
111555  
111555  
111555  
111999  
111999  
111999  
111111  
111111  
111111  
222444  
222444  
222444  
222666  
222555 222666  
222555 222666  
222555  
111444  
111444  
111444  
222222  
222222  
222222  
222777  
222777  
222777  
111  
111  
111  
333000  
333000  
333000  
333333  
333333  
333333  
333555  
333555  
333111  
333111  
333111  
111777  
111777  
111777  
333555 333444  
333444  
333444  
333666  
333777 333666  
333777 333666  
333777  
333888  
333888  
333888  
444000  
444000  
444000  
444222  
444222  
444222  
444444  
444444  
444444  
444555  
444555  
444555  
444666  
444666  
444666  
444888  
444888  
444888  
444999  
444999  
444999  
Tỷ số giới tính trẻ em năm 2009  
Số trẻ em trai trên 100 trẻ em  
gái dưới 5 tuổi  
555111  
555111  
555111  
666222  
666222  
666222  
555222  
555222  
555222  
từ 120 đến 125  
từ 115 đến 120  
từ 110 đến 115  
từ 105 đến 110  
từ 50 đến 105  
666444  
666444  
666444  
555444  
555444  
555444  
666666  
666666  
666666  
555666  
555666  
555666  
666777  
666777  
666777  
777000  
777000  
777000  
666888  
666888  
666888  
555888  
555888  
555888  
777222  
777222  
777222  
777444  
777444  
777444  
666000  
666000  
666000  
777555  
777555  
777555  
888000  
888000  
888000  
777999  
777999  
777999  
888999  
888999  
888999  
777777  
777777  
777777  
888777  
888777  
888777  
888222  
888222  
888222  
999222 888666  
999222 888666  
999222 888666 888333  
888333  
888333  
999111 999333  
999111 999333  
999111 999333  
888444  
888444  
888444  
999444  
999444  
999444  
999555  
999555  
999555  
999666  
999666  
999666  
14  
Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam: Bằng chứng từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009  
Một vài‘điểm nóng’về TSGTTE (những số tỉnh có TSGTTE cao) có  
thể quan sát trên bản đồ, ví dụ khu vực xung quanh thành phố  
Hồ Chí Minh thuộc vùng Đông Nam Bộ. Tuy nhiên phần lớn các  
điểm có TSGTTE cao nằm ở khu vực đồng bằng miền Bắc. Các  
tỉnh nằm trong tam giác hình thành bởi các điểm: Vĩnh Phúc ở  
phía Tây, Hưng Yên ở phía Nam, Quảng Ninh ở phía Đông, đều  
có TSGTTE trên 115. Một điểm thú vị là tỷ số cao nhất lại không  
quan sát thấy tại các thành phố có mức đô thị hóa cao như Hà  
Nội và Hải Phòng, mà tập trung chủ yếu ở các tỉnh nông nghiệp  
như Bắc Giang và Hưng Yên. Quan sát này cũng đã được đưa ra  
từ các nguồn số liệu khác (UNFPA, 2009; Guilmoto và cộng sự,  
2009) và có thể những tỉnh này là những nơi đầu tiên trên cả  
nước xuất hiện hiện tượng gia tăng TSGTKS vào những năm đầu  
của thế kỷ này.  
Xem xét vấn đề từ góc độ địa lý nói chung, bản đồ TSGTTE của  
Việt Nam cho thấy xu hướng phân bố theo không gian khá nhất  
quán, các tỉnh có tỷ số cao (hoặc thấp) thường liền kề với nhau.  
Phân bố không gian về mức độ thay đổi của TSGTKS cho thấy  
rằng hành vi lựa chọn giới tính trước sinh có lẽ bắt đầu từ một  
vài khu vực nông thôn thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, và  
một số ở các khu vực đô thị khác trên cả nước. Đặc điểm địa lý  
này cũng cho thấy trong tương lai gần, tình trạng mất cân bằng  
giới tính khi sinh có thể ảnh hưởng đến các tỉnh mà hiện nay  
chưa xuất hiện hành vi lựa chọn giới tính trước sinh, điều này sẽ  
dẫn đến sự gia tăng hơn nữa TSGTKS chung của cả nước.  
15  
Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam: Bằng chứng từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009  
5. TSGTKS và thứ tự sinh  
TSGTKS ở châu Á có xu hướng thay đổi theo thứ tự sinh (hay số  
lần mang thai). Ở phần lớn các quốc gia có TSGTKS cao, nhìn  
chung tỷ trọng trẻ em trai được sinh ra ở lần sinh thứ nhất là  
bình thường, và tăng lên nhanh chóng ở những lần sinh sau,  
điều này hàm ý rằng các bậc cha mẹ đã áp dụng các biện pháp  
lựa chọn giới tính trước sinh để đảm bảo sinh được con trai.  
TSGTKS tăng ở những lần sinh sau chịu tác động của mức sinh  
chung với mức gia tăng cao nhất ở lần sinh thứ hai, ví dụ như ở  
Trung Quốc, nước quy định chỉ một số ít phụ nữ có thể sinh hơn  
một con. Ở Việt Nam, cho đến trước TĐTDS 2009, chưa có các  
ước lượng đáng tin cậy về TSGTKS theo thứ tự sinh.  
Đồ thị 3 cho thấy diễn biến TSGTKS của Việt Nam không hoàn  
toàn giống như các xu hướng đã quan sát thấy ở các khu vực  
khác trên thế giới như đã từng nhận định trong các phân tích  
trước đây (UNFPA, 2009). Cần lưu ý rằng ở hai lần sinh đầu  
tiên, TSGTKS đã cao hơn mức chuẩn sinh học một cách đáng  
kể. Điều này có nghĩa là một số cặp vợ chồng đã thực hiện lựa  
chọn giới tính trước sinh ngay trong lần mang thai thứ nhất,  
16  
Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam: Bằng chứng từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009  
điều này hiếm khi được ghi nhận ở các quốc gia khác. Đúng  
như dự đoán, TSGTKS là 115,5 cho các lần sinh từ lần thứ 3 trở  
lên - số sinh ở các lần sinh này chỉ chiếm 16% trong tổng số sinh  
của tất cả các lần sinh - cao hơn các lần sinh trước đó. Điều này  
không có gì là ngạc nhiên trong bối cảnh mức sinh thấp ở Việt  
Nam: mong ước có được con trai sau khi đã sinh con gái thông  
thường là một lý do chính để các cặp vợ chồng sinh thêm con.  
Khi so sánh với một số quốc gia châu Á khác có TSGTKS ở những  
lần sinh sau vượt mức 140,5 thì mức gia tăng TSGTKS ở Việt Nam  
theo thứ tự sinh vẫn còn khá khiêm tốn. Điều này có thể là do  
một số cặp vợ chồng ở Việt Nam đã thực hiện lựa chọn giới tính  
trước sinh ở hai lần sinh đầu.  
Đồ thị 3: Tỷ số giới tính khi sinh theo thứ tự sinh  
119  
117  
115,5  
115  
113  
110,2  
111  
109  
107  
105  
109  
Lần sinh  
thứ nhất  
Lần sinh  
thứ hai  
Lần sinh  
thứ ba trở lên  
Ở cấp quốc gia, TSGTKS theo thứ tự sinh không có sự khác biệt  
đáng kể giữa nông thôn-thành thị. Phân tích theo vùng, một  
lần nữa đã làm sáng tỏ những quan sát thú vị khi phân tách hai  
lần sinh đầu (số sinh ở lần thứ nhất và lần thứ hai) ra khỏi các lần  
sinh sau (số sinh ở lần sinh thứ ba hoặc cao hơn). Sự khác biệt  
theo thứ tự sinh là không đáng kể giữa các vùng, ngoại trừ vùng  
đồng bằng sông Hồng. Kết quả thu được cho thấy TSGTKS tăng  
vọt từ mức 110 cho các lần sinh thứ nhất và thứ hai, và lên mức  
5
tsgtks của lần sinh thứ 2 là 143 nam trên 100 nữ ở trung Quốc theo số liệu tĐtDs năm  
2005 mẫu 1%.  
17  
Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam: Bằng chứng từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 40 trang myanh 22220 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam - Bằng chứng từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_mat_can_bang_gioi_tinh_khi_sinh_o_viet_nam_bang_chu.pdf